[TIÊU ĐỀ CHƯƠNG]: NONE
Trong vài năm qua, mọi sự kiện trong cuộc đời của Edgar Poe đã được đem ra mổ xẻ dưới kính hiển vi. Kết quả thu được không hẳn đã làm hài lòng tất cả. Một mặt, lòng đố kỵ và thành kiến đã phóng đại mọi tì vết trong tính cách của ông thành tội lỗi; mặt khác, sự ngưỡng mộ mù quáng lại muốn tô vẽ ông trở thành một con người quá đỗi thanh cao, vượt xa những phàm trần tục tử. Chúng ta hãy cố gắng đánh giá ông một cách vô tư, thừa nhận rằng với tư cách là một con người, ông cũng mang những điểm yếu tầm thường của nhân thế, nhưng đồng thời ông cũng phải chịu đựng những cám dỗ cay đắng, sự đối xử bất công và những nỗi đau tận cùng.
Gia thế và cội nguồn của nhà thơ chủ yếu chỉ gây tò mò ở chỗ chúng phần nào giải thích được sự phức tạp trong tính cách của ông. Cha ông, David Poe, mang dòng máu Anglo-Ireland. Được định hướng theo đuổi ngành luật, ông lại quyết định từ bỏ để bước lên sân khấu kịch. Trong một chuyến lưu diễn qua các thị trấn lớn ở Hoa Kỳ, ông đã gặp và kết hôn với một nữ diễn viên trẻ tên là Elizabeth Arnold, thành viên của một gia đình người Anh nổi tiếng với năng khiếu âm nhạc. Với tư cách là một diễn viên, Elizabeth Poe cũng tạo được ít nhiều tiếng tăm, nhưng bà còn được biết đến nhiều hơn nhờ phẩm hạnh gia đình. Thời bấy giờ, nước Mỹ không có nhiều đất diễn cho nghệ thuật kịch trường, thế nên không có gì ngạc nhiên khi chồng bà qua đời chỉ sau vài năm chung sống, người góa phụ trẻ tuổi đã phải vật lộn trong vô vọng để nuôi sống bản thân và ba đứa con nhỏ là William Henry, Edgar và Rosalie. Trước khi qua đời sớm vào tháng 12 năm 1811, mẹ của nhà thơ đã rơi vào cảnh khốn cùng, phải sống nhờ vào lòng hảo tâm của những người hàng xóm.
Edgar, người con thứ hai của David và Elizabeth Poe, sinh ra tại Boston, Hoa Kỳ, vào ngày 19 tháng 1 năm 1809. Sau khi mẹ qua đời tại Richmond, Virginia, cậu bé Edgar được nhận nuôi bởi John Allan, một thương gia người Scotland giàu có. Ông Allan, người đã kết hôn với một phụ nữ Mỹ và định cư ở Virginia, lại không có con nối dõi. Do đó, ông tự nhiên cưng chiều cậu bé thông minh và khôi ngô, đối xử với cậu như con đẻ và cho cậu mang họ của mình. Edgar Allan, tên gọi của cậu từ đó, sau khi học qua các lớp vỡ lòng ở Richmond, đã được cha mẹ nuôi đưa sang Anh vào năm 1816 và gửi vào Trường Manor House ở Stoke-Newington.
Dưới sự dìu dắt của Mục sư Tiến sĩ Bransby, vị nhà thơ tương lai đã trải qua quãng thời gian năm năm không hề vô bổ hay tẻ nhạt. Tiến sĩ Bransby, người được miêu tả một cách đầy thú vị trong truyện ngắn William Wilson của Poe, đã nhận xét "Edgar Allan" — cái tên duy nhất mà ông dùng để gọi cậu thiếu niên — là "một cậu bé nhanh nhẹn và thông minh," lẽ ra "đã là một đứa trẻ rất ngoan nếu không bị cha mẹ nuông chiều," đương nhiên ý ông muốn nói đến vợ chồng nhà Allan. Họ "đã cho cậu một khoản tiền tiêu vặt quá mức, tạo điều kiện để cậu vướng vào đủ thứ trò nghịch ngợm. Dù vậy, tôi vẫn quý cậu bé ấy," vị gia sư nói thêm, "nhưng tội nghiệp thay, cha mẹ đã hư hỏng cậu."
Poe đã mô tả một vài khía cạnh thời đi học của mình trong tác phẩm William Wilson thường được nhắc đến hồi lâu. Có lẽ những hồi tưởng này cũng chứa đựng lượng phóng đại mang tính thơ ca thông thường, nhưng chúng lại là tư liệu duy nhất chúng ta có về giai đoạn đó trong cuộc đời ông, và vì thế, bên cạnh giá trị văn học, chúng mang lại sự hứng thú sâu sắc. Miêu tả về vùng ngoại ô Luân Đôn yên bình thuở ấy vô cùng chuẩn xác, nhưng những lần chỉnh sửa mà câu chuyện William Wilson trải qua trước khi đạt đến hình thức hoàn mỹ như hiện tại đã khiến nhiều chi tiết của tác giả chệch hướng khá xa so với tính chân thực ban đầu. Ngôi trường của cậu trong bản thảo đầu tiên được miêu tả một cách trung thực là một tòa nhà "cổ kính, bất đối xứng và được xây theo kiểu nhà tranh," và nó vẫn giữ nguyên hình dạng ấy cho đến khi bị phá hủy cách đây vài năm.
Nhân vật tự xưng là William Wilson, khi nhắc đến những ngày tháng hạnh phúc đã qua tại ngôi trường Anh quốc ấy, đã nói rằng: "Bộ não tràn đầy sinh lực của tuổi thơ không đòi hỏi bất kỳ thế giới sự kiện ngoại cảnh nào để chiếm lĩnh hay giải trí cho nó. Sự tỉnh giấc buổi sáng, tiếng gọi đi học về đêm; những bài học thuộc lòng, những buổi ngâm thơ, những giờ nghỉ nửa buổi định kỳ và những chuyến đi dạo, sân trường với những cuộc cãi vã, những trò tiêu khiển, những âm mưu — tất cả những điều đó, nhờ một thứ ma thuật tâm trí từ lâu đã bị lãng quên, đã tạo ra một khoảng không gian ngập tràn cảm giác, một thế giới đầy ắp sự kiện phong phú, một vũ trụ với vô vàn cung bậc cảm xúc, của sự kích thích nồng nhiệt và sôi nổi nhất, 'Oh, le bon temps, que ce siècle de fer!'"
Từ thế giới tưởng tượng của tuổi thơ ấy, Poe được gọi trở về mái nhà của cha mẹ nuôi tại Hoa Kỳ. Cậu trở lại châu Mỹ vào năm 1821 và nhanh chóng được gửi vào một học viện ở Richmond, Virginia, nơi gia đình Allan tiếp tục sinh sống. Đã nắm vững nền tảng kiến thức cơ bản, lại mang chút tiếng tăm nhờ thời gian sống ở châu Âu, khôi ngô, kiêu hãnh và được xem là người thừa kế của một người giàu có, Poe hẳn đã được các bạn học nhìn bằng ánh mắt đầy nể trọng. Cậu nhanh chóng tạo dựng cho mình một vị trí nổi bật trong trường, không chỉ nhờ thành tích học tập kinh điển mà còn qua những chiến tích thể thao — những kỹ năng vốn biến cậu thành thủ lĩnh của đám trẻ.
"Trong những môn thể thao học đường giản dị thời bấy giờ, khi mà phòng tập thể hình vẫn là một khái niệm xa lạ, cậu ta là người dẫn đầu tuyệt đối,"
đó là ký ức của bạn học cũ của cậu, Đại tá T. L. Preston. Ông nhớ lại Poe là
"một vận động viên chạy nhanh, một người nhảy xa tuyệt vời, và hiếm có hơn là một võ sĩ quyền Anh được huấn luyện bài bản... Cậu ấy cho phép đứa khỏe nhất trường đấm thẳng toàn lực vào ngực mình. Cậu ấy đã dạy tôi bí quyết đó, và tôi đã bắt chước theo khả năng của mình. Đó là hít đầy không khí vào lợc, và đúng khoảnh khắc nhận cú đấm thì thở ra. Trông có vẻ đáng ngạc nhiên và thực ra cũng hơi thô bạo một chút; nhưng với một khung xương ức khỏe mạnh và chút gan dạ, chịu đựng điều đó không phải là chuyện khó. Về bơi lội, cậu ấy nổi tiếng chẳng kém ai, với nhiều năng khiếu vận động khiến người ta liên tưởng đến Lord Byron thời niên thiếu."
Trong một thử thách, Poe chỉ về nhì.
"Một lời thách đấu chạy đua," Đại tá Preston kể lại, "đã diễn ra giữa hai trường cổ điển trong thành phố; chúng tôi chọn Poe làm đại diện. Cuộc đua diễn ra vào một buổi sáng tháng Năm đầy nắng tại Quảng trường Capitol. Sự thật lịch sử buộc tôi phải thừa nhận rằng nhân dịp này trường chúng tôi đã thua, và chúng tôi phải trả những khoản cược nhỏ. Poe chạy rất tốt, nhưng đối thủ của cậu ấy là một gã chân dài trông giống người da đỏ, kẻ có thể đánh bại cả Atalanta mà chẳng cần đến những quả táo vàng."
"Trong các bài tập tiếng La-tinh ở trường," đại tá tiếp lời, "Poe luôn đứng trong top đầu — dù vị trí đứng đầu ấy không phải không có tranh chấp. Chúng tôi có những đối thủ xứng tầm thực sự, đặc biệt là Nat Howard, người sau này được biết đến như một trong những học giả uyên bác nhất Virginia, đồng thời nổi danh là một luật sư uyên thâm. Nếu Howard kém phần rực rỡ hơn Poe, thì anh ta lại chăm chỉ hơn nhiều; bởi ngay từ lúc đó, mầm mống của sự ngang bướng đã bắt đầu nảy nở trong tâm hồn nhà thơ trẻ, và ngay khi ấy, một phần không nhỏ thời gian của Poe đã dành cho việc làm thơ. Nhưng nếu tôi xếp Howard ngang hàng với Poe về khả năng tiếng La-tinh, thì tôi hoàn toàn công bằng với cậu ấy."
"Poe," đại tá cho biết, "rất thích các Thơ ca ngợi của Horace, và đã đọc lại nhiều lần trước mặt tôi đến nỗi tôi thuộc lòng vần điệu của rất nhiều bài từ trước khi hiểu nghĩa của chúng. Cậu ấy đặc biệt say mê nhịp điệu rộn ràng của thể thơ Sappho và Iambus, khi tai cậu chưa quen với những hòa âm phức tạp hơn. Cụ thể là có hai bài thơ cứ vang vọng trong tai tôi suốt quãng đời còn lại, gắn liền với giai điệu giọng đọc của cậu ấy:
'Jam satis terris nivis atque dirce
Grandinis misit Pater, et rubente,'
và
'Non ebur neque aureum
Mea renidet in dono lacu ar,' v.v."
"Tôi nhớ rằng Poe cũng là một học sinh tiếng Pháp xuất sắc. Thế nhưng, dù sở hữu bao ưu điểm vượt trội, cậu ấy không phải là linh hồn hay thậm chí là người được yêu thích nhất trường. Theo ký ức của tôi, vị trí đó thuộc về Howard. Nhớ lại ấn tượng ngày trước, Poe là kẻ bướng bỉnh, thất thường, có xu hướng hống hách, và dù mang bản tính hào phóng, cậu lại không phải lúc nào cũng ân cần hay dễ mến; thế nên những gì cậu muốn đòi hỏi đã bị khước từ. Tôi xin kể thêm một điều chắc chắn đã có ảnh hưởng lớn. Vào thời điểm tôi đang nhắc đến, Richmond là một trong những thành phố quý tộc nhất ở phía tây Đại Tây Dương... Bản chất của trường học vốn mang tính dân chủ; nhưng trẻ con vẫn vô thức mang theo ảnh hưởng từ tư tưởng của cha mẹ chúng, dù tốt hay xấu." Về phần Edgar Poe — người lúc đó đã lấy lại họ cha đẻ — "mọi người đều biết cha mẹ cậu từng là diễn viên, và cậu phải sống nhờ vào lòng thương hại dành cho một người con nuôi. Tất cả những điều đó khiến lũ trẻ từ chối tôn cậu làm thủ lĩnh; và ngẫm lại chuyện cũ, tôi nghĩ điều đó đã tạo cho cậu sự gai góc mà lẽ ra cậu đã không có."
Đoạn cuối trong hồi ức của Đại tá Preston đã soi sáng những nguyên nhân khiến cuộc đời tuổi trẻ của cậu thiếu niên trở nên bất hạnh và làm cùn mòn những hy vọng tương lai của cậu. Dù được hòa nhập với con cháu của các gia đình danh giá bậc nhất trong vùng, và vốn mang sẵn niềm kiêu hãnh dòng tộc lẫn bản năng — được nuôi dưỡng bởi sự nuông chiều của sự giàu có và ý thức về sự vượt trội trí tuệ — Edgar Poe vẫn buộc phải cảm nhận rằng xuất thân của mình thật khiêm tốn, và bản thân cậu chỉ là kẻ ăn nhờ ở ở nhờ lòng bố thí và sự thất thường của một kẻ khác dòng máu. Đối với nhiều thiếu niên khác, những điều này có lẽ chẳng có mấy ý nghĩa, nhưng với một tâm hồn kiêu hãnh như Poe, đó hẳn là nguồn cơn của sự dằn vặt khôn nguôi, và mọi lời nhắc đến nó chẳng khác nào mật đắng. Bản thân ông Allan lại không phải là người giúp Poe rũ bỏ những suy nghĩ gặm nhấm ấy: thông thường, ông tự hào về cậu con trai khôi ngô tài giỏi và chiều chuộng cậu trong mọi thứ tiền bạc có thể mua được, nhưng đôi khi ông lại đối xử với cậu bằng sự khinh miệt, khiến cậu thấm thía vị đắng chát trong hoàn cảnh của mình.
Dù vậy, Poe vẫn duy trì vị thế dẫn đầu trong số các học sinh tại học viện Virginia đó, và một vài người còn sống vẫn chia sẻ với chúng ta những kỷ niệm về cậu. Những chiến tích bơi lội mà Đại tá Preston nhắc đến thực sự là nét nổi bật trong thời niên thiếu của cậu. Đại tá Mayo ghi lại một màn bơi lội đầy táo bạo mang đậm bản chất của cậu thiếu niên này. Một ngày giữa mùa đông, khi đang đứng bên bờ sông James, Poe thách người bạn đồng hành nhảy xuống để cùng bơi đến một điểm định sẵn. Sau một hồi ngụp lặn trong dòng nước lạnh ngắt, họ cũng đến được những cột trụ chống Cầu Mayo khi ấy, rồi cố gắng nghỉ ngơi và tìm đường lên bờ bằng cách bám vào mố gỗ của cầu. Tuy nhiên, khi lên đến cầu, họ vô cùng hoảng hốt nhận ra phần sàn ván nhô ra khỏi mố cầu tới vài thước, khiến việc trèo lên là bất thể. Không còn cách nào khác, họ đành buông tay khỏi chỗ bám trơn trượt và bơi ngược trở lại bờ. Poe lên đến bờ trong trạng thái kiệt sức và tê cóng, trong khi Mayo được một chiếc thuyền cứu vớt ngay lúc sắp ngất lựng. Vừa lên bờ, Poe đã nôn mửa dữ dội, và cả hai chàng trai đều đổ bệnh suốt mấy tuần liền.
Nhắc đến một chiến tích bơi lội nổi tiếng khác của chính mình, nhà thơ từng nhận xét,
"Bất kỳ 'kẻ bơi lội nào ở vùng thác' thời tôi đều có thể bơi qua biển Hellespont mà chẳng buồn bận tâm. Tôi đã bơi từ Cầu cảng Ludlam đến Warwick (sáu dặm), dưới cái nắng gay gắt tháng Sáu, ngược dòng nước triều xiết nhất từng được biết đến trên con sông này. Việc bơi hai mươi dặm trong vùng nước phẳng lặng thực ra dễ dàng hơn nhiều. Tôi chẳng ngại ngần gì," Poe nói thêm với giọng điệu phóng đại quen thuộc của mình, "khi thử sức bơi qua eo biển Anh từ Dover đến Calais."
Đại tá Mayo, người đã cố gắng đồng hành cùng cậu trong thử thách này, phải dừng lại giữa chừng và kể lại rằng khi Poe chạm đích, da cổ, mặt và lưng cậu đều bị phồng rộp vì nắng. Sự thật về chiến tích này, vốn được thực hiện vì một lời cá cược, đã bị hoài nghi, khiến Poe — kẻ vốn không tài nào chịu nổi sự mâu thuẫn — phải thu thập và công bố lời khai có tuyên thệ của một số quý ông từng chứng kiến sự việc. Họ cũng xác nhận rằng Poe trông hoàn toàn không hề mệt mỏi và đã đi bộ trở lại Richmond ngay sau khi hoàn thành thử thách.
Nhà thơ trong giai đoạn này thường được nhớ đến với vóc dáng mảnh khảnh nhưng cân đối, nhanh nhẹn, săn chắc và duyên dáng. Bất chấp thực tế là cậu rất nổi bật giữa các bạn học và được nuông chiều ở nhà, cậu dường như không tìm thấy sự đồng điệu với môi trường xung quanh. Đã sẵn mang trong mình "căm ghét kẻ thù ghét, khinh miệt kẻ khinh miệt," cậu dường như gây thù chuốc oán cả với những kẻ ghen tị lẫn những người bị cậu đối xử bằng sự khinh miệt đầy hiếu chiến do niềm kiêu hãnh trí tuệ mang lại. Tuy nhiên, đằng sau vẻ bề ngoài ngạo mạn ấy lại là một trái tim ấm áp và nồng nhiệt, chỉ chờ hoàn cảnh khơi gợi để bùng lên thứ tình cảm nồng nàn đến mức cuồng nhiệt. Một minh chứng xác thực cho điều này đã được bà Whitman kể lại như sau:
"Khi còn theo học tại học viện ở Richmond, cậu có lần theo một bạn học về nhà và lần đầu tiên gặp bà Helen Stannard, mẹ của người bạn trẻ ấy. Vừa bước vào phòng, phu nhân liền cầm lấy tay cậu và cất lời chào đón dịu dàng, ân cần, khiến trái tim nhạy cảm của cậu thiếu niên mồ côi xúc động đến mức nghẹn lời, và chốc lát gần như mất cả ý thức. Cậu trở về nhà trong cơn mơ màng, chỉ giữ lại một suy nghĩ, một niềm hy vọng duy nhất trong đời — được nghe lại những lời ngọt ngào ân cần đã biến thế giới hoang tàn trở nên tươi đẹp biết bao, và lấp đầy trái tim cô độc của cậu bằng niềm vui mới ngập tràn. Người phụ nữ này sau đó đã trở thành người tâm sự cho mọi nỗi buồn tuổi trẻ của cậu, và ảnh hưởng cứu rỗi duy nhất của bà chính là thứ đã gìn giữ, dẫn dắt cậu trong những ngày đầu của tuổi trẻ đầy bão tố và cuồng nhiệt."
Những khi Edgar bất hạnh ở nhà, mà theo lời dì của cậu, bà Clemm, là "rất thường xuyên xảy ra, cậu lại tìm đến bà Stannard để tìm sự đồng cảm, an ủi và lời khuyên." Đáng tiếc thay, bất hạnh trớ trêu từng nhiều lần bóp nghẹt hy vọng của cậu lại chấm dứt tình bạn này. Người phụ nữ ấy bị gục ngã bởi một tai họa kinh hoàng, và vào thời điểm tiếng nói dẫn dắt của bà là thiết yếu nhất, bà lại rơi vào cảnh mất trí. Bà qua đời và được an táng tại một nghĩa trang gần đó, nhưng người ái mộ trẻ tuổi tội nghiệp không sao chịu đựng nổi ý nghĩ bà phải nằm cô đơn lạnh lẽo trong lăng mộ lạnh giá, nên cứ đêm đến cậu lại lẻn khỏi nhà để viếng thăm ngôi mộ. Những khi đêm về lạnh lẽo, "khi những cơn mưa mùa thu rơi xuống và gió rít thê lương qua những nấm mồ, cậu lưu luyến ở lại lâu nhất và ra về với tâm trạng tiếc nuối khôn nguôi."
Kỷ niệm về người phụ nữ ấy, về "mối tình duy nhất đầy tôn sùng và thuần túy lý tưởng" thời niên thiếu, được cậu trân trọng mãi cho đến cuối đời. Cái tên Helen thường xuyên xuất hiện trong những vần thơ tuổi trẻ của ông; "The Pæan," lần đầu tiên được đưa vào tuyển tập thơ của ông, chính là để nhắc về bà; và ông đã đề tặng bà những khúc ca cổ điển đẹp đẽ tuyệt trần bắt đầu bằng câu "Helen, thy beauty is to me."
Một chi tiết quan trọng khác cần lưu ý trong cột mốc cuộc đời này là ông lúc đó đã là một nhà thơ. Giữa đám bạn học, cậu dường như đã tạo dựng được ít nhiều tiếng tăm với tư cách là một người viết thơ châm biếm; nhưng đối với những sáng tác thực sự của mình — thứ mà như ông từng tuyên bố, đối với ông không phải là mục đích mà là một niềm đam mê — cậu có lẽ đã giữ kín như bưng, nhất là khi ta biết rằng tại mái nhà nhận nuôi cậu, thi ca là một điều cấm kỵ. Ngay từ năm 1821, cậu dường như đã thử sức với nhiều tác phẩm khác nhau, và một số trong số đó cuối cùng đã được đưa vào tập sách đầu tay của ông. Đối với Poe, thi ca là chuyện cá nhân — một kênh để những xúc cảm cuồng nộ trong tim tìm lối thoát. Với những tâm tư như thế, việc chàng thi sĩ trẻ tuổi sa vào lưới tình là điều tất yếu. Mối tình đầu tiên của cậu, không còn nghi ngờ gì nữa, được khắc họa lại qua những gì cậu nói về thần tượng tuổi thơ của mình, Byron. Đam mê này, theo ông nhận xét, "nếu thực sự có thể gọi là đam mê, thì mang tính lãng mạn, mơ hồ và tưởng tượng sâu sắc nhất. Nó sinh ra từ thời khắc và từ nhu cầu yêu đương của tuổi trẻ. Nó hoàn toàn không bận tâm đến dung mạo, tính cách hay sự đáp lại tình cảm... Bất kỳ thiếu nữ nào, miễn là không trực tiếp và rõ ràng gây ác cảm," đều có thể trở thành đối tượng phù hợp cho những cuộc gặp gỡ thường xuyên và không bị ràng buộc với một thiếu niên giàu trí tưởng tượng và thi vị như thế. "Kết quả," theo ông, "không chỉ đơn thuần là tự nhiên hay dễ xảy ra; nó tất yếu như chính định mệnh."
Đọc giữa những dòng chữ, ta có thể thấy cả câu chuyện tình yêu của chính ông. "Nàng Egeria trong những giấc mơ của ông — vị nữ thần Venus Aphrodite bước ra từ lớp bọt sáng ngời giữa đại dương cuộn sóng giông bão của tâm tưởng ông" — chính là một thiếu nữ, Elmira Royster, sống cùng cha trong ngôi nhà đối diện nhà gia đình Allan ở Richmond. Hai người trẻ gặp nhau lần này qua lần khác, và người phụ nữ ấy, người chỉ mới qua đời cách đây chưa lâu, vẫn nhớ về Edgar như một "cậu thiếu niên khôi ngô," cực kỳ yêu âm nhạc, nhiệt huyết và bốc đồng, nhưng mang những định kiến đã sớm hình thành sâu sắc. Giữa họ đã diễn ra một số chuyện tình cảm lãng mạn, và trước khi rời nhà để đến Đại học, Poe với sự nhiệt thành bốc lửa quen thuộc đã thuyết phục được người tình đính ước với mình. Poe rời nhà để đến Đại học Virginia ở Charlottesville vào đầu năm 1825. Cậu viết thư đều đặn cho cô Royster, nhưng cha cô không chấp thuận mối quan hệ này, và theo lời kể, ông đã chặn mọi thư từ qua lại cho đến khi chúng chấm dứt hẳn. Ở tuổi mười bảy, Elmira trở thành vợ của một người đàn ông tên Shelton, và phải một thời gian khá lâu sau đó Poe mới phát hiện ra lý do vì sao những lời kêu gọi thiết tha của mình lại không hề nhận được bất kỳ hồi âm nào từ đối tượng của mối tình tuổi trẻ.
Khoảng thời gian ngắn ngủi học đại học của Poe về nhiều mặt là sự lặp lại chuỗi ngày ở Học viện Richmond. Cậu nổi danh tại Charlottesville cả về những chiến tích thể thao lẫn thành tích học thuật. Cậu nhập học vào ngày 1 tháng 2 năm 1826 và ở lại cho đến khi kết thúc học kỳ thứ hai vào tháng 12 năm đó. "Cậu ấy theo học các lớp ngôn ngữ cổ đại và hiện đại, tham gia các bài giảng tiếng La-tinh, Hy Lạp, Pháp, Tây Ban Nha và Ý. Tôi là thành viên của ba lớp học sau," ông William Wertenbaker, vị cựu thủ thư vừa qua đời cho biết, "và có thể làm chứng rằng cậu ấy khá chuyên cần và là một sinh viên xuất sắc, từng giành danh hiệu xuất sắc trong kỳ thi tốt nghiệp môn tiếng La-tinh và tiếng Pháp, và đó vào thời điểm ấy là vinh dự lớn nhất mà một sinh viên có thể đạt được. Các quy định hiện hành về văn bằng khi đó vẫn chưa được ban hành. Dưới các quy định hiện hành, cậu ấy đã tốt nghiệp hai ngôn ngữ kể trên và hoàn toàn xứng đáng nhận văn bằng."
Những lời khẳng định này từ bạn học của Poe được củng cố bởi Tiến sĩ Harrison, chủ tịch Hội đồng Khoa, người nhận xét rằng nhà thơ là một học trò rất được yêu mến và nổi tiếng với tốc độ chuẩn bị bài vở nhanh đến kinh ngạc cùng độ chính xác cao, trong đó các bản dịch từ ngoại ngữ của cậu đặc biệt đáng chú ý.
Một số bạn học của Poe tại Charlottesville đã ca ngợi "những phẩm chất cao quý" cùng các tài năng khác của cậu, nhưng họ cũng nhớ rằng "tính tình cậu khá khép kín và có rất ít bạn thân." Ông Thomas Bolling, một trong những bạn học từng chia sẻ hồi ức về nhà thơ, cho biết: "Tôi có quen biết cậu ấy, nhưng chỉ dừng lại ở mức đó. Ấn tượng của tôi khi ấy và bây giờ là không ai dám nhận là thực sự hiểu cậu ấy. Lúc nào nét mặt cậu cũng đượm buồn, và ngay cả nụ cười của cậu — vì tôi chưa từng thấy cậu cười thành tiếng — cũng có vẻ gượng gạo. Đôi khi tham gia cùng mọi người trong các môn thể thao, lĩnh vực mà tôi tin cậu vượt trội hơn tất cả về khoản nhảy cao hay nhảy xa, Poe với gương mặt u sầu ấy vẫn tham gia vào trò chơi giải trí của người khác cứ như đang làm nghĩa vụ hơn là tận hưởng."
Poe có năng khiếu vẽ không tồi, và ông John Willis cho biết tường phòng ký túc xá của ông ngập tràn những bức phác họa bằng phấn màu, trong khi ông Bolling đề cập đến một số chi tiết thú vị liên quan đến tài nghệ hội họa của nhà thơ. Hai thanh niên đã mua các bản in của một ấn bản thơ Byron được minh họa đẹp mắt, và khi đến thăm Poe vài ngày sau đó, ông Bolling phát hiện cậu đang say sưa sao chép một trong các hình khắc bằng phấn màu trực tiếp lên trần phòng ký túc xá. Cậu tiếp tục tự tiêu khiển theo cách này từ thời gian này qua thời gian khác cho đến khi lấp đầy mọi khoảng trống trong phòng bằng những bức tranh kích thước như người thật — mà theo trí nhớ của những ai từng tận mắt chứng kiến — vô cùng tinh xảo và có tính trang trí cao.
Trong lúc ông Bolling trò chuyện với bạn mình, Poe vẫn tiếp tục hí hoáy viết lách bằng bút chì như đang ghi chép, và khi người khách đùa cợt trách móc sự thiếu lịch sự của cậu, cậu liền đáp rằng bản thân đã chú ý toàn bộ, đồng thời chứng minh điều đó bằng những lời bình luận hợp lý, và giải thích cho sự thiếu tế nhị bề ngoài của mình rằng cậu đang cố gắng phân bổ tâm trí, vừa trò chuyện vừa viết một cách mạch lạc về một chủ đề hoàn toàn khác cùng một lúc.
Ông Wertenbaker, trong những dòng hồi ức thú vị về nhà thơ, kể lại rằng: "Với tư cách là thủ thư, tôi thường xuyên có dịp giao tiếp công việc với Poe, nhưng phải đến gần cuối học kỳ tôi mới có dịp gặp cậu ấy trong các buổi tụ họp xã giao. Sau khi cùng nhau trải qua buổi tối tại một nhà riêng, cậu ấy mời tôi vào phòng mình trên đường về. Đó là một đêm tháng Mười Hai lạnh giá, ngọn lửa trong lò sưởi đã gần tắt, thế là nhờ vào mấy cây nến mỡ và những mảnh bàn nhỏ mà cậu đập ra để làm củi, cậu nhanh chóng nhóm lại ngọn lửa, và trong ánh sáng ấm áp đó tôi đã trải qua một giờ đồng hồ vô cùng dễ chịu bên cậu. Nhân dịp này, cậu đã bày tỏ sự tiếc nuối về số tiền lớn mình đã ném qua cửa sổ và những khoản nợ đã chồng chất trong suốt học kỳ. Nếu trí nhớ không đánh lừa tôi, cậu ước tính số nợ của mình lên tới 2.000 đô la, và dù đó là những khoản nợ cờ bạc, cậu vẫn khẳng định một cách quả quyết và đầy nhiệt thành rằng danh dự buộc cậu phải trả chúng vào cơ hội sớm nhất."
Đây có vẻ là đêm cuối cùng của Poe tại trường đại học. Cậu rời đi mà không bao giờ quay lại nữa, thế nhưng, dẫu khoảng thời gian lưu lại nơi đây ngắn ngủi đến thế, cậu vẫn để lại những ký ức đáng tự hào đến mức ngôi trường cũ giờ đây vô cùng hãnh diện khi ghi tên cậu vào danh sách những học trò đáng kính nhất. Tuy nhiên, cha nuôi của Poe lại không nhìn nhận chặng đường đại học của đứa con nuôi bằng niềm vui tương tự: bất kể ông đánh giá thế nào về những thành công học thuật của cậu thiếu niên, ông kiên quyết từ chối thanh toán các khoản nợ cờ bạc mà cậu — giống như quá nhiều bạn học khác — đã vướng vào. Một cuộc cãi vã dữ dội diễn ra giữa ông Allan và chàng thanh niên, và Poe vội vã rời khỏi mái ấm gia đình để tự bươn chải giữa dòng đời.
Mang theo những bài thơ đã hoàn thiện, Poe tiến về Boston và tìm gặp một vài người bạn cũ làm nghệ thuật sân khấu của mẹ. Cho dù cậu có nghĩ đến việc theo đuổi nghiệp diễn xuất hay nuôi hy vọng nhờ sự giúp đỡ của họ để đưa một vở kịch do chính mình viết lên sân khấu — giấc mơ của mọi nhà văn trẻ — thì đến nay vẫn là điều ẩn số. Cậu dường như lang thang suốt một khoảng thời gian và bằng cách này hay cách khác đã cho in được một tập thơ mỏng "chỉ dành cho lưu hành nội bộ." Đó là vào cuối năm 1827, khi cậu sắp bước sang tuổi mười chín. Chắc chắn Poe đã kỳ vọng bán được tập sách qua hình thức đặt ốc trước giữa những người quen, nhưng các bản in chẳng tài nào bán nổi, để rồi cuối cùng cuốn sách bị thu hồi và phần còn lại của ấn bản bị tiêu hủy vì "những lý do mang tính cá nhân."
Chuyện gì đã xảy ra với chàng thi sĩ trẻ, và làm thế nào cậu sinh tồn được trong suốt năm trời sau đó vẫn là một ẩn số chưa có lời giải. Người ta vẫn luôn tin rằng cậu đã tìm đường sang châu Âu và trải qua một vài cuộc phiêu lưu kỳ thú tại đó, bản thân Poe cũng từng quả quyết sự việc là như vậy. Vô số câu chuyện thần thoại đã được thêu dệt để lấp đầy khoảng trống này trong cuộc đời nhà thơ, và phần lớn trong số đó tự chúng đã phơi bày bản chất hoang đường. Trong một cuốn tiểu sử gần đây về Poe, người ta đã cố gắng chứng minh rằng cậu đã gia nhập quân đội dưới một cái tên giả, phục vụ khoảng mười tám tháng trong binh chủng pháo binh với thành tích đáng nể, trước khi được giải ngũ danh dự theo thỉnh cầu của ông Allan. Lời kể này nghe có vẻ xuôi tai, nhưng sẽ cần thêm sự giải thích cho hàng loạt điểm bất nhất về mặt thời gian cũng như việc xác thực các văn bản khác nhau được viện dẫn làm bằng chứng trước khi công chúng có thể chấp nhận nó như một sự thật. Quá nhiều giai thoại đã được ấn hành về Poe, thậm chí cả những tài liệu giả mạo được trích dẫn, khiến những ai giữ cái đầu vô tư bắt buộc phải cẩn trọng khi tiếp nhận bất kỳ tuyên bố mới nào về ông chưa qua kiểm chứng kỹ càng.
Vào ngày 28 tháng 2 năm 1829, bà Allan qua đời, và sự ra đi ấy cắt đứt sợi dây liên kết cuối cùng níu giữ Poe với chồng bà. Người con nuôi trở về quá muộn để kịp nói lời tiễn biệt cuối cùng với người phụ nữ mà ảnh hưởng của bà chính là lý do duy nhất khiến dinh thự nhà Allan chiếm được cảm tình trong tim nhà thơ. Một kiểu đình chiến tạm bợ được thiết lập trên nấm mồ của người quá cố, nhưng kể từ đó về sau, Poe nhận ra nhà không còn là nhà nữa.
Chàng thanh niên lại quay về với thi ca, không chỉ như một niềm khuây khỏa mà còn là phương tiện kiếm sống. Cậu lại cho ấn hành một tập thơ mỏng, bao gồm tác phẩm dài nhất của mình mang tên "Al Aaraaf" và vài bài khác giờ đây được xem là kinh điển. Cuốn sách là một bước tiến lớn so với tập thơ trước, nhưng vẫn thất bại trong việc mang lại bất kỳ lời khen ngợi lớn lao từ công chúng hay lợi ích tài chính nào cho tác giả.
Thấm thía nỗi khó khăn khi sống bằng nghề viết văn đồng thời nhận ra bản thân phải dựa dẫm phần lớn vào sức lao động cá nhân để mưu sinh, Poe bày tỏ mong muốn gia nhập quân đội. Sau không ít khó khăn, một suất học viên sỹ quan đã được tìm thấy cho cậu tại Học viện Quân sự West Point, một ngôi trường quân sự có nhiều mặt sánh ngang với những cơ sở ưu tú nhất châu Âu trong việc đào tạo sĩ quan quân đội. Vào thời điểm Poe bước chân vào Học viện, nơi đây hoàn toàn không có vẻ gì là hấp dẫn, với kỷ luật vô cùng khắc nghiệt và cơ sở vật chất ở nhiều khía cạnh không phù hợp cho những thiếu niên đang tuổi phát triển.
Nhà thơ dường như bước vào chặng đường đời mới này với sự nhiệt tình quen thuộc và trong một khoảng thời gian đã tuân thủ những quy định nghiêm ngặt của nơi đây với sự điềm đạm hiếm thấy. Cậu nhập học vào ngày 1 tháng 7 năm 1830, và đến tháng 3 năm sau đã bị đuổi học vì tội cố ý chống lệnh. Dù người ta có nhìn nhận hành vi của Poe trong sự cố này theo cách nào đi nữa, rõ ràng việc bị trục xuất khỏi West Point chính là điều cậu chủ động tìm kiếm. Những bức tranh tô vẽ đầy màu sắc đã được vẽ nên về hành vi kỳ quặc của cậu tại Học viện, nhưng sự thật vẫn là cậu đã phũ phàng vứt bỏ, hoặc ít ra là cố tình vứt bỏ, chiếc áo học viên của mình. Người ta suy đoán một cách có cơ sở rằng cuộc hôn nhân thứ hai của ông Allan cùng tuyên bố rõ ý định cắt đứt trợ cấp, không phân chia tài sản hay để lại bất kỳ phần nào trong khối gia tài của mình cho người con nuôi chính là ngòi nổ cho hành động của Poe. Tin rằng không thể tiếp tục bám trụ mà không có sự hậu thuận trong một nghề nghiệp đắt đỏ như đời sống quân ngũ, cậu quyết định từ bỏ nó và quay trở lại với nỗ lực theo đuổi sự nghiệp cầm bút từ lâu hằng ấp ủ.
Bị đuổi khỏi cơ sở cung cấp chỗ ăn ở, lại bị khước từ bởi người bảo hộ cũ, chàng trai trẻ bất hạnh và khốn cùng một lần nữa — lần thứ ba — lại mưu cầu một bước đệm trong thế giới văn chương thông qua một tập thơ. Nếu quả thực như người ta đồn đại rằng một vài học viên cùng trường đã tiếp sức cho nỗ lực của cậu bằng cách đặt mua tác phẩm nhỏ bé ấy, thì có chút khả năng là vài đồng đô la đã bù đắp cho mạo hiểm mới nhất này. Dù kết quả từ sự trợ giúp được đồn đoán ấy ra sao đi nữa, có một điều chắc chắn là chẳng bao lâu sau khi rời Học viện Quân sự, Poe lại rơi vào cảnh túng quẫn bi thảm. Cậu biến mất khỏi tầm mắt công chúng gần hai năm trời, và cách thức cậu sinh tồn trong khoảng thời gian đó chưa từng được giải thích thỏa đáng. Đến năm 1833, cậu trở lại trang sử cuộc đời dưới tư cách là người giành giải thưởng trị giá một trăm đô la do một tờ báo trao tặng cho câu chuyện hay nhất.
Giải thưởng được ban giám khảo nhất trí trao cho Poe, và ông Kennedy, một nhà văn có chút tiếng tăm, sau khi cảm mến trước thiên tài hiển h hiện của chàng thanh niên, đã rộng lượng giúp đỡ cậu kiếm sống bằng nghề viết lách. Nhờ lời giới thiệu của người bạn mới tới chủ biên tờ Southern Literary Messenger, một tạp chí đang hấp hối xuất bản ngắt quãng, Poe trước tiên trở thành cộng tác viên nhận nhuận bút, và cuối cùng lên làm biên tập viên cho ấn phẩm này — thứ mà sau đó ông đã biến thành một trong những định kỳ được kính trọng và mang lại lợi nhuận cao nhất thời bấy giờ. Thành công này hoàn toàn nhờ vào sự rực rỡ và sức mạnh từ chính các bài viết của Poe đóng góp cho tạp chí.
Vào tháng 3 năm 1834, ông Allan qua đời, và nếu nhà thơ của chúng ta vẫn nhen nhóm bất kỳ hy vọng nào về sự hỗ trợ tiếp theo từ ông, thì mọi nghi ngờ đã được định đoạt qua di chúc, khi toàn bộ tài sản của người quá cố được để lại cho người vợ thứ hai và ba người con trai của bà. Tên của Poe hoàn toàn không xuất hiện.
Vào ngày 6 tháng 5 năm 1836, Poe — người lúc này chẳng còn gì để bấu víu ngoài cây bút — kết hôn với người em họ Virginia Clemm, một đứa trẻ mới tròn mười bốn tuổi, và cùng mẹ vợ đóng vai trò quản gia, ông bắt đầu tổ chức một mái ấm cho riêng mình. Trong khi đó, những bài viết khác nhau của ông trên tờ Messenger bắt đầu thu hút sự chú ý và mở rộng danh tiếng của ông vào các vòng tròn văn học, nhưng ngoài tiền lương biên tập khoảng 520 đô la, nó không mang lại phần thưởng vật chất nào khác.
Vào tháng 1 năm 1837, vì những lý do chưa bao giờ được giải thích triệt để, Poe chấm dứt mối quan hệ hợp tác với tờ Messenger và dọn dẹp toàn bộ gia đương từ Richmond chuyển đến New York. Những người bạn miền Nam cho biết Poe lúc đó khao khát hoặc được nhận làm đối tác với chủ của mình, hoặc được chia phần lợi nhuận lớn hơn từ thành quả lao động chính tay ông tạo ra. Tại New York, thu nhập của ông có vẻ bấp bênh và nhỏ giọt, trong đó tác phẩm quan trọng nhất là việc tái bản cuốn tiểu thuyết mang phong cách Defoe mang tựa đề Arthur Gordon Pym vốn từng đăng trên tờ Messenger. Bầu không khí chân thực của "Bản tường thuật" cùng các ưu điểm khác đã khơi gợi trí tò mò của công chúng ở cả Anh lẫn Mỹ; nhưng thù lao Poe nhận được dường như không tương xứng với thành công của tác phẩm, và ông cũng chẳng thu về xu nào từ vô số ấn bản tại châu Âu mà cuốn sách nhanh chóng trải qua.
Năm 1838, Poe được một người bạn văn chương thuyết phục từ bỏ mái nhà ở New York để cùng vợ và dì (mẹ của vợ) chuyển đến Philadelphia. Thành phố của những tín đồ Quaker lúc bấy giờ là một mảnh đất màu mỡ cho các dự án tạp chí, và giữa vô số ấn phẩm định kỳ mới mẻ, Poe phần nào kiếm được kế sinh nhai. Cho tờ Tạp chí Quý ông Burton (Burton's Gentleman's Magazine) năm 1837, ông từng đóng góp vài bài viết, nhưng đến năm 1840, ông đã đạt thỏa thuận với chủ sở hữu để nhận nhậm chức chủ biên. Poe từ lâu đã khao khát khởi lập một tờ tạp chí riêng, và có lẽ nhằm mục đích hướng tới viễn cảnh đó nên một trong những điều kiện để ông nhận lời làm biên tập viên cho Tạp chí Quý ông chính là tên của ông phải xuất hiện trên trang bìa.
Poe làm việc cật lực cho tờ Gentleman's trong một thời gian, cống hiến cho các trang báo những tác phẩm xuất sắc nhất của mình; tuy nhiên, cuối cùng ông lại húc đầu vào tường với chủ bút Burton, kẻ đã bán lại tạp chí cho một đối thủ cạnh tranh là ông Graham. Vào giai đoạn này, Poe tập hợp hai mươi lăm truyện ngắn của mình thành hai tập và cho xuất bản dưới tựa đề Những câu chuyện kỳ quái và đậm chất Ả Rập (Tales of the Grotesque and Arabesque), thế nhưng ngoài vài cuốn sách biếu, ông chưa bao giờ nhận được bất kỳ thù lao nào cho công sức của mình. Suốt một thời gian dài, nhà thơ đã nỗ lực hết sức để tự lập một tờ tạp chí cho riêng mình, nhưng mọi cố gắng đều đổ vỡ do thiếu vốn.
Người mua lại tạp chí của Burton đã sáp nhập nó với một tờ khác và phát hành dưới tên gọi Tạp chí Graham (Graham's Magazine). Poe trở thành cộng tác viên cho dự án mới này, và vào tháng 11 năm 1840, ông nhận lời đảm đương vị trí chủ biên. Dưới sự điều hành của Poe, với sự hỗ trợ từ lòng hào phóng của ông Graham, Tạp chí Graham đã gặt hái thành công vang dội. Đóng góp cho các trang báo này là một số truyện ngắn xuất sắc và phổ biến nhất của Poe, đồng thời thu hút ngòi bút của nhiều nhà văn đương đại tên tuổi. Công chúng không chậm trễ trong việc thể hiện sự trân trọng đối với món ăn tinh thần dọn ra trước mặt họ, và theo lời các giám đốc tờ báo khẳng định, chưa đầy hai năm, số lượng phát hành đã vọt từ năm nghìn lên tới năm mươi hai nghìn bản.
Phần lớn thành công đó nhờ vào những câu chuyện kỳ bí và tuyệt diệu của Poe; thậm chí còn nhiều hơn thế, có lẽ nhờ vào những bài phê bình sắc sảo cùng các học thuyết đáng kinh ngạc của ông về mật mã học. Xét về các truyện ngắn xuất bản trên Graham's lúc bấy giờ, cần đặc biệt lưu ý kiệt tác nổi danh toàn cầu "Những án mạng ở phố Morgue," mở đầu cho một loạt tác phẩm — "một dạng tam liên kịch" (une espèce de trilogie) như Baudelaire gọi tên — minh họa cho một khía cạnh phân tích trong tư duy độc đáo của Poe. Bộ ba truyện ngắn này, trong đó hai tác phẩm sau là "Bức thư bị đánh cắp" và "Bí ẩn về Marie Rogêt," được viết một cách có chủ ý nhằm chứng minh khả năng giải mã những câu đố hóc búa của cuộc đời bằng cách đồng hóa tâm trí người khác với tâm trí chính chúng ta. Bằng cách cố gắng đi theo những tiến trình mà qua đó một người sẽ suy luận ra một điều gì đó, Poe đưa ra lý thuyết rằng một người hoàn toàn có thể đạt đến kết luận của người kia, thậm chí thâm nhập vào chốn thâm nghiêm nhất trong bộ óc họ và đọc được những suy nghĩ thầm kín nhất. Trong khi công chúng vẫn đang trầm ngâm suy ngẫm về mệnh đề giật gân đó và tận hưởng việc đọc những bằng chứng hiển hiện của nó, Poe lại tiếp tục gia tăng độ nổi tiếng và thu hút sự chú ý vào tác phẩm của mình bằng cách đưa ra định lý hấp dẫn nhưng ít nguy hiểm hơn rằng: "Sự khéo léo của con người không thể tạo ra bất kỳ loại mật mã nào mà chính sự khéo léo của con người không thể giải mã."
Khẳng định về mật mã này được đưa ra liên quan đến điều mà công chúng coi như một lời thách thức, và Poe bị ngập lụt trong các loại mật mã với mức độ hóc búa khác nhau yêu cầu được giải đáp. Trong chuỗi thư từ trao đổi xuất hiện trên Tạp chí Graham và các ấn phẩm khác, Poe được công nhận rộng rãi là đã chứng minh được luận điểm của mình, xét trên phương diện năng lực cá nhân trong việc giải mã những điều kỳ bí đó. Dù chưa từng chủ động nhận lấy một nhiệm vụ như vậy, ông vẫn xuất sắc giải quyết mọi bức mật mã gửi đến cho mình, ngoại trừ một trường hợp duy nhất, và trường hợp ngoại lệ đó được ông chứng minh rành mạch chỉ là một trò lừa bịp hoàn toàn không có lời giải.
Kết quả của công cuộc lao động kiệt sức và vô lợi nhuận này chính là câu chuyện lôi cuốn mang tên "Bọ hung vàng" (The Gold Bug), một tác phẩm trong đó việc phát hiện kho báu ẩn giấu được thực hiện thông qua việc giải mã một hệ thống mật mã phức tạp.
Năm 1841 có thể được xem là năm rực rỡ nhất trong cuộc đời nhiều thăng trầm của Poe. Được công nhận khắp nơi là một luồng gió văn học mới mẻ và rực rỡ, là tổng biên tập của một tờ tạp chí thế lực, được ngưỡng mộ, kính sợ và đố kỵ, với danh tiếng lan rộng chóng mặt ở cả châu Âu lẫn lục địa quê nhà, nhà thơ hoàn toàn có quyền hy vọng vào sự thịnh vượng và hạnh phúc. Nhưng những khối u độc ác đen tối đang gặm nhấm trái tim ông. Hoàn cảnh tài chính của ông vẫn đầy bế tắc. Những tác phẩm vốn là thành quả của quá trình lao động chậm rãi và cẩn trọng lại nhận được mức thù lao rẻ mạt, và tiền công với tư cách đồng chủ biên tờ Graham's vô cùng khiêm tốn. Ông không được phép nắm quyền kiểm soát toàn diện và chỉ nhận được một phần rất nhỏ lợi nhuận từ tờ tạp chí do chính tay ông làm cho nổi tiếng toàn cầu, trong khi một thảm kịch gia đình kinh hoàng đã vùi dập mọi hy vọng của ông, đẩy ông tìm đến chỗ nợ nần của những kẻ tan nát cõi lòng — thứ rượu chè cuối cùng đã thiêu rụi tương lai và cuộc đời ông.
Lời kể của chính Edgar Poe về căn bệnh khủng khiếp cùng nguyên nhân của nó được đưa ra vào giai đoạn cuối đời. Tính chân thực của nó chưa từng bị bác bỏ và ở những điểm quan trọng nhất, nó đã được chứng thực hoàn toàn. Trong bức thư gửi một người quen vào tháng 1 năm 1848, ông viết:
"Anh hỏi rằng: 'Anh có thể hé lộ cho tôi biết "căn bệnh khủng khiếp" nào đã gây ra những "sự bất thường" từng khiến bao người vô cùng thương xót ấy không?' Vâng, tôi có thể làm nhiều hơn thế ngoài việc hé lộ. 'Căn bệnh' này chính là điều tồi tệ nhất có thể giáng xuống đời một người đàn ông. Sáu năm trước, người vợ mà tôi yêu thương như chưa từng có ai yêu trên đời đã bị vỡ mạch máu khi đang hát. Người ta đã tuyệt vọng về tính mạng của cô ấy. Tôi đã vĩnh biệt cô ấy và trải qua mọi đớn đau của cái chết. Cô ấy hồi phục phần nào và tôi lại nhen nhóm hy vọng. Đến cuối năm, mạch máu ấy lại vỡ. Tôi phải trải qua y hệt kịch bản cũ... Rồi lại — lại — và thậm chí thêm một lần nữa cách những khoảng thời gian khác nhau. Mỗi lần như thế, tôi đều nếm trải mọi đớn đau của cái chết — và mỗi khi cơn bệnh tái phát, tôi lại yêu cô ấy sâu sắc hơn và bám víu vào sự sống của cô ấy với sự lì lợm tuyệt vọng hơn. Nhưng tôi vốn mang thể chất nhạy cảm — thần kinh suy nhược ở mức độ vô cùng bất thường. Tôi đã phát điên, xen kẽ với những khoảng thời gian tỉnh táo đến rợn người. Trong những cơn mất ý thức hoàn toàn ấy, tôi đã uống — chỉ Chúa mới biết bao nhiêu lần và bao nhiêu nhiều. Đương nhiên, kẻ thù của tôi quy kết căn bệnh điên loạn là do rượu thay vì quy kết rượu là do căn bệnh điên loạn. Quả thực tôi gần như đã từ bỏ mọi hy vọng về một sự chữa lành vĩnh viễn, cho đến khi tìm thấy nó trong cái chết của vợ mình. Tôi có thể và đang kiên cường đón nhận điều đó như một người đàn ông. Chính cái sự dao động khủng khiếp không bao giờ dứt giữa hy vọng và tuyệt vọng mới là thứ tôi không thể chịu đựng thêm dù chỉ một ngày nếu không muốn mất đi hoàn toàn lý trí."
Nhà thơ vào thời điểm này đang sinh sống trong một tổ ấm nhỏ bé nhưng trang nhã, được chăm lo bởi người giám hộ luôn trung thành của ông — mẹ của vợ ông, cũng chính là dì ruột của ông, bà Clemm, người phụ nữ mà những năm tháng sau này ông đã vô cùng biết ơn khi gọi trong bài son-nết nổi tiếng là "hơn cả một người mẹ đối với tôi." Nhưng gió đổi chiều! Việc ông rời khỏi tờ Graham's, do những nguyên nhân nào chúng ta không tài nào biết được, đã diễn ra, và những ảo ảnh mỏng manh về hạnh phúc của ông phai tàn nhanh chẳng khác nào ánh hoàng hôn. Tiền bạc tan biến, và những rắc rối tinh thần cùng sức khỏe kém khiến ông không còn đủ khả năng kiếm thêm. Tình cảnh khốn cùng đến mức cùng cực mà ông cùng những người thân yêu bất hạnh phải gánh chịu có thể được thấu hiểu sau khi đọc qua những dòng này từ hồi ức của ông A. B. Harris.
Nhắc đến nơi ở của nhà thơ tại Spring Gardens, Philadelphia, tác giả này viết rằng:
"Chính trong thời gian lưu lại đó, bà Poe, trong một buổi tối cất tiếng hát, đã bị vỡ mạch máu, và kể từ khoảnh khắc ấy, bà phải chịu đựng cái chết trăm lần. Bà không thể chịu nổi dù chỉ một luồng gió nhẹ và cần được chăm sóc tối đa; cùng với tất cả những tiện nghi về phòng ốc và môi trường xung quanh vốn vô cùng quan trọng đối với một bệnh nhân, chúng mang ý nghĩa sống còn đối với bà. Thế nhưng căn phòng nơi bà nằm liệt giường suốt nhiều tuần liền, hầu như không thể thở nổi nếu không có người quạt mát, lại là một không gian chật hẹp, với trần nhà thấp lè tè sà ngay sát chiếc giường hẹp đến mức đầu bà chạm suýt chạm vào đó. Nhưng chẳng ai dám cất lời to tiếng, bởi ông Poe quá nhạy cảm và dễ cáu gắt; 'nhanh như thép và đá lửa,' lời nhận xét của một người từng quen biết ông thời đó. Và ông tuyệt đối không cho phép bất kỳ ai nhắc đến nguy cơ cái chết của vợ: chỉ cần nghe thoảng qua thôi cũng đủ khiến ông phát điên lên được."
Có gì đáng ngạc nhiên, hay đúng hơn là có nên tha thứ cho ông không, khi mà bị thôi thúc bởi những âu lo và thiếu thốn nơi chốn khuê phòng, nhà thơ bất hạnh bị đẩy đến bờ vực điên dại lại càng lún sâu hơn vào Vũng lầy Tuyệt vọng? Không thể lo nổi những nhu cầu thiết bách cho người vợ kính yêu, người đàn ông quẫn trí ấy
"thường lẻn ra khỏi nhà vào ban đêm, lang thang ngoài đường phố suốt hàng giờ liền, kiêu hãnh, đau đớn đến tột cùng, tuyệt vọng, chẳng biết nên quay bước về đâu hay phải làm gì, trong khi bà Clemm phải chịu đựng sự lo lắng ở nhà chừng nào còn có thể, rồi lại tất tả lên đường tìm kiếm ông."
Trong những khoảnh khắc bình tĩnh hơn, Poe dồn hết mọi nỗ lực để tiếp tục công việc văn chương. Ông tiếp tục gửi bài cho Tạp chí Graham, vị chủ nhân của tờ định kỳ ấy vẫn mãi là bạn của ông cho đến cuối đời, đồng thời cộng tác với một vài ấn phẩm hàng đầu khác tại Philadelphia và New York. Sau khi nhận được lời gợi ý từ N. P. Willis ở thành phố thứ hai, ông quyết định một lần nữa lang thang trở lại nơi đó, vì ông nhận ra việc kiếm sống bằng nghề viết lách tại chốn cũ là điều bất khả thi.
Theo đó, vào khoảng giữa năm 1845, Poe chuyển đến New York và chẳng bao lâu sau được thuê bởi Willis cùng đối tác Morris để làm phó biên tập cho tờ Evening Mirror. Willis cho biết, ông
"được chúng tôi tuyển dụng suốt vài tháng với tư cách nhà phê bình kiêm phó biên tập... Ông ấy sinh sống cùng vợ và mẹ vợ tại Fordham, cách trung tâm thành phố vài dặm, nhưng luôn túc trực tại bàn làm việc ở văn phòng từ chín giờ sáng cho đến khi tờ báo chiều được ấn hành. Dù dành sự ngưỡng mộ cao nhất cho thiên tài của ông, và sẵn sàng bỏ qua những thói thất thường vượt mức bình thường, chúng tôi vẫn bị những lời đồn đại chung dắt mũi, dự đoán rằng ông sẽ thể hiện sự xao lãng vô cùng thất thường đối với công việc, đôi khi là những cảnh tượng bạo lực và rắc rối. Tuy nhiên, thời gian cứ thế trôi đi, và ông luôn luôn đúng giờ cùng sự chăm chỉ đáng kinh ngạc. Với gương mặt xanh xao, xinh đẹp và đậm chất trí tuệ gợi nhắc về thiên tài tiềm ẩn trong con người ông, đương nhiên chúng tôi chẳng tài nào đối xử với ông bằng thái độ nào khác ngoài sự kính trọng đầy cung kính... Với viễn cảnh nắm giữ vị trí chủ chốt tại một ấn phẩm định kỳ khác, cuối cùng ông đã tự nguyện từ bỏ công việc gắn bó với chúng tôi."
Vài tuần trước khi Poe từ bỏ công việc lao động vất vả và ít ỏi thù lao trên tờ Evening Mirror, bài thơ kỳ diệu mang tên "Con quạ" (The Raven) của ông được ấn hành. Hiệu ứng tạo ra thật kỳ diệu. Chưa bao giờ trước đó, và thực ra cũng chẳng bao giờ sau này, một bài thơ ngắn độc lập lại tạo ra tiếng vang lớn và tức thì đến thế. Nó làm được nhiều điều hơn bất kỳ tác phẩm nào khác cộng lại để đưa tên tuổi tác giả vụt sáng thành danh. Nó biến ông thành nhân vật văn chương tiêu điểm của mùa; khơi nguồn cho vô số các bản chế; được dịch ra nhiều thứ tiếng và thực ra đã tự kiến tạo nên một dòng văn học của riêng nó. Poe tự nhiên vô cùng hoan hỉ trước thành công mà bài thơ đạt được, và thỉnh thoảng lại cất giọng ngân nga ngâm đọc nó tại các sảnh đường công cộng hoặc trong các buổi tiếp tân văn học. Mặc dù vậy, ông vẫn làm bộ xem nó đơn thuần là một tác phẩm nghệ thuật, và viết bài tiểu luận mang tựa đề "Triết lý sáng tác" (Philosophy of Composition) nhằm chứng minh rằng đó chỉ là một sản phẩm cơ khí được tạo ra tuân theo những quy tắc cứng nhắc nhất định.
Dù danh tiếng của nhà thơ lúc này đã được củng cố vững chắc, ông vẫn thấy việc mưu sinh bằng ngòi bút là một thử thách khó khăn. Ngay cả khi sức khỏe dồi dào, ông vẫn viết rất chậm với sự tỉ mỉ đến mức câu nệ, và khi hoàn thành tác phẩm rồi lại chật vật tìm kiếm các nhà xuất bản chịu nhận nó. Kể từ sau khi ông qua đời, người ta mới chứng minh được rằng nhiều tháng trời thường trôi qua trước khi ông có thể cho xuất bản dù chỉ là những vần thơ hay câu chuyện được ngợi ca nhất.
Poe rời khỏi Evening Mirror để tham gia vào tờ Broadway Journal, nơi ông lần lượt tái bản hầu như toàn bộ các tác phẩm văn xuôi lẫn thơ ca của mình. Cuối cùng ông cũng giành được quyền sở hữu tờ định kỳ này, nhưng vì không có nguồn tài chính để duy trì, sau vài tháng lao động đến nát cõi lòng, ông đành phải buông tay. Kiệt quệ cả về thể xác lẫn tinh thần, người đàn ông bất hạnh lúc này lui về căn nhà tranh nhỏ bé kỳ quặc tại Fordham, vùng ngoại ô New York, cùng người vợ đang hấp hối và mẹ vợ. Tại đây, sau một thời gian, gia đình khốn khổ ấy rơi vào cảnh túng quấn tận cùng, thậm chí chẳng còn nổi thứ gì để mua những nhu yếu phẩm cho sự sống. Đúng vào thời điểm bi đát này, một bàn tay thiện chí nào đó, giữa sự phẫn nộ và bàng hoàng của chính Poe, đã đứng ra quyên góp công khai sự giúp đỡ cho gia đình bất hạnh.
Lời kêu gọi mang lại hiệu quả như mong muốn. Những người bạn cũ lẫn mới đều tề tựu giải cứu, và nhờ có họ, đặc biệt là bà Shew, nhân vật "Marie Louise" trong các sáng tác hậu kỳ của Poe, những khoảnh khắc cuối đời của người vợ được xoa dịu đồng thời những nhu cầu trước mắt của bản thân nhà thơ cũng được đáp ứng. Vào tháng 1 năm 1846, Virginia Poe qua đời; và suốt một khoảng thời gian sau sự ra đi ấy, nhà thơ chìm đắm trong trạng thái đờ đẫn vô hồn, và thực ra người ta có thể nói đúng sự thật rằng năng lực tinh thần của ông chưa bao giờ tìm lại được sức mạnh thuở ban đầu.
Thêm khoảng một năm trời, Poe sống lặng lẽ tại Fordham dưới sự chăm sóc canh chừng của bà Clemm — ít viết lách hơn, nhưng dồn tâm sức suy ngẫm về bài thơ văn xuôi triết học "Eureka," tác phẩm mà ông coi là đỉnh cao sự nghiệp đời mình. Cuộc sống của ông chừng mực và đều đặn tương ứng với nguồn tài chính eo hẹp. Dần dần, khi các mối giao thiệp với giới văn nhân khơi dậy trở lại năng lượng ngủ quên bên trong, ông bắt đầu ấp ủ dự định làm lại từ đầu. Kế hoạch cũ và chưa bao giờ từ bỏ hoàn toàn về việc tự lập một tờ tạp chí riêng nhằm tuyên ngôn những quan điểm văn chương của bản thân giờ đây chiếm trọn tâm trí ông. Nhằm gom góp nguồn vốn cần thiết để đặt ấn phẩm của mình lên một nền tảng vững chắc, ông quyết định thực hiện một chuỗi các bài thuyết trình tại nhiều tiểu bang khác nhau.
Sự tái xuất hiện của ông trước công chúng chỉ kéo theo một chuỗi những bất hạnh. Từng có khoảng thời gian ông đính hôn với bà Whitman, một góa phụ sở hữu trí tuệ và học thức văn chương đáng nể; nhưng sau nhiều sự kiện mang đậm chất lãng mạn, cuộc hôn nhân ấy đã tan vỡ. Đến năm 1849, Poe tái ngắm miền Nam, và giữa những khung cảnh cùng những người bạn thuở niên thiếu, ông trải qua khoảng thời gian không hẳn là không dễ chịu. Tại Richmond, Virginia, ông tái ngộ mối tình đầu Elmira, lúc này đã là một góa phụ giàu có, và sau một thời gian ngắn nối lại quan hệ, ông một lần nữa đính ước cùng bà. Nhưng vận rủi vẫn tiếp tục đeo bám từng bước chân ông.
Một vụ việc liên quan đến xuất bản gọi ông trở về New York. Ông rời Richmond bằng tàu thủy để hướng đến Baltimore, đặt chân đến thành phố này vào ngày 3 tháng 10 và giao chiếc va li cho một người phu khuân vác để mang lên chuyến tàu đi Philadelphia. Chuyện gì xảy ra sau đó chưa bao giờ được giải thích rành mạch. Trước khi khởi hành chuyến đi, Poe từng phàn nàn về tình trạng khó ở — về cảm giác lạnh cót và kiệt sức — và không loại trừ khả năng sự gia tăng hoặc tiếp diễn của những triệu chứng ấy đã cám dỗ ông uống rượu, hoặc tìm đến một số loại ma túy mà người ta biết rõ ông từng lạm dụng vào giai đoạn cuối đời. Dù nguyên nhân của sự trì hoãn là gì đi nữa, hậu quả để lại vô cùng thảm khốc. Khi đang trong trạng thái điên loạn tạm thời hoặc bất tỉnh, ông rơi vào tay một băng nhóm côn đồ đang tung hoành ngoài đường phố để tìm kiếm đồng bọn hoặc nạn nhân.
Những kẻ bắt cóc đã kéo nhà thơ bất hạnh vào một sào huyệt bầu cử và chuốc cho ông đầy whisky. Hôm đó là ngày bầu cử hạ nghị sĩ Quốc hội, và Poe cùng những nạn nhân khác bị lôi từ điểm bỏ phiếu này sang điểm bỏ phiếu khác, bị ép buộc phải bỏ lá phiếu nhét sẵn trong tay. Kỳ cục làm sao khi các quan chức giám sát thời điểm đó lại ghi nhận những lá phiếu được chìa ra ấy, hoàn toàn phớt lờ tình trạng của kẻ đang đóng giả cử tri. Cuộc bầu cử kết thúc, nhà thơ đang hấp hối bị vứt lại trên đường phố cho đến chết, nhưng may mắn được tìm thấy trước khi tắt thở, ông được đưa đến Bệnh viện Đại học Washington, nơi ông trút hơi thở cuối cùng vào ngày 7 tháng 10 năm 1849, khi mới bước sang tuổi bốn mươi mốt.
Edgar Poe được an táng tại phần mộ gia đình của ông nội ông, Tướng Poe, trước sự chứng kiến của một số ít bạn bè và họ hàng. Vào ngày 17 tháng 11 năm 1875, thi hài ông được di dời khỏi nơi an nghỉ đầu tiên và dưới sự chứng kiến của đông đảo quần chúng, được đặt dưới một đài tưởng niệm bằng đá cẩm thạch do một số lượng lớn những người ái mộ đóng góp kinh phí xây dựng. Thi hài vợ ông vừa qua cũng đã được đặt nằm cạnh bên ông.
Câu chuyện về "cơn sốt chập chờn" cấu thành nên cuộc đời Edgar Poe để lại trong tâm trí người đọc sự xác tín rằng ông thực sự chính là hiện thân của:
"Unhappy master, whom unmerciful disaster
Followed fast and followed faster till his songs one burden bore—
Till the dirges of his hope that melancholy burden bore
Of 'Never—nevermore.'"
John H. Ingram.