Thưa Đức Ngài, liệu thế gian có buộc tội tôi là kẻ hư vinh hay không khi cả gan dâng tặng vở hài kịch này lên Đức Ngài, điều ấy vẫn khiến tôi còn hoài nghi; dẫu rằng, biết đâu, chính sự hoài nghi đó cũng đã là một phần của thói hư vinh rồi.
Kẻ nào từng có vinh dự được đàm đạo cùng Đức Ngài, hẳn không thể có cái nhìn thấp kém về tác phẩm mà chính hắn muốn dâng lên cho Đức Ngài thưởng lãm. Tuy nhiên, nếu cho rằng tác phẩm này xứng đáng vượt qua sự đánh giá khắt khe của Đức Ngài, thì thật là tự phụ quá đỗi.
Những giá trị còn khiếm khuyết nơi vở kịch này khi nó còn thuộc về tôi, sẽ được bù đắp trọn vẹn một khi nó trở thành của Đức Ngài. Tôi tin chắc rằng, việc tôi dâng tặng vở kịch không thể làm nó trở nên quá giá trị so với sự cao quý mà Đức Ngài sẽ ban tặng cho nó bằng sự bảo trợ của mình.
Vở kịch thành công trên sân khấu là điều nằm ngoài mong đợi của tôi; bởi lẽ, chẳng có mấy phần trong đó được soạn ra để chiều theo thị hiếu phổ biến, thứ dường như đang thống trị khẩu vị của khán giả thời nay.
Những nhân vật bị đem ra chế giễu trong phần lớn các vở hài kịch của chúng ta thường là những kẻ khờ khạo một cách thô thiển; theo thiển ý của tôi, họ đáng lẽ phải khiến những khán giả lương thiện và có tư duy cảm thấy khó chịu hơn là buồn cười. Họ là đối tượng cần lòng thương cảm hơn là sự khinh rẻ; và thay vì khơi gợi niềm vui, họ thường chỉ khiến chúng ta thấy xót xa.
Suy ngẫm ấy thôi thúc tôi khắc họa nên những nhân vật nực cười, không phải bởi sự ngu ngốc tự nhiên (thứ vốn không thể sửa chữa và chẳng phù hợp để đưa lên sân khấu), mà bởi thứ trí tuệ giả tạo: một loại trí tuệ vừa gượng ép, lại vừa giả dối. Xây dựng một nhân vật như vậy quả không dễ dàng, và thành công của nó trên sân khấu cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro; bởi nhiều khán giả đến xem kịch với tâm thế quá chú trọng phê bình, nên họ thường vội vàng buông lời chỉ trích mà chẳng hề hay biết mình đã nhắm sai mục tiêu vì sự hấp tấp. Tôi đã có dịp quan sát điều này gần đây: vở kịch này đã công diễn được hai, ba ngày, trước khi vài vị quan tòa vội vã ấy kịp dành thời gian để phân biệt giữa một kẻ "Witwoud" (kẻ tỏ ra thông minh) và một kẻ "Truewit" (người thông minh thực thụ).
Xin Đức Ngài thứ lỗi cho đoạn lan man này ngoài nội dung chính của bức thư; nhưng để tránh cho nó khỏi vẻ lạc lõng, tôi xin được viện dẫn lý do này như một phần lời biện bạch cho việc tôi cần phải mạo muội tiến cử vở hài kịch này để được Đức Ngài bảo trợ. Chỉ nhờ vào sự ưu ái của Đức Ngài, và của vài người có tư cách tương tự, những kẻ viết lách bằng tâm huyết và khổ công mới có hy vọng được ghi nhận; bởi danh xưng thi sĩ hiện nay đã bị rẻ rúng đến mức đánh đồng tất cả những ai mang lấy nó.
Terence, cây bút chuẩn mực nhất trên thế gian, đã có Scipio và Lelius, nếu không phải để hỗ trợ, thì ít nhất cũng là để nâng đỡ danh tiếng cho ông. Và bất chấp tài năng xuất chúng của ông, có lẽ sự ủng hộ từ họ cũng là điều không thể thiếu.
Sự thuần khiết trong văn phong, những nét tinh tế trong cách diễn đạt, và sự chân thực nơi các nhân vật của ông, tất cả đều là những vẻ đẹp mà phần đông khán giả đương thời không sao thưởng thức nổi. Một vài nét vẽ thô kệch của Plautus, vốn bị Horace phê phán nghiêm khắc, lại dễ dàng lay động đám đông hơn; những người đến xem kịch với kỳ vọng được cười ở màn cuối, và thấy hài lòng với vài câu đùa vô duyên hơn là với cách thắt nút, mở nút đầy nghệ thuật của câu chuyện.
Như Terence đã xuất chúng trong các tác phẩm của mình, ông cũng có những lợi thế lớn để khuyến khích sự nghiệp, bởi ông chủ yếu xây dựng dựa trên nền tảng của Menander: cốt truyện của ông thường được mô phỏng, và các nhân vật thì đã có sẵn khuôn mẫu trong tay. Ông mô phỏng Menander; và Menander cũng không kém phần sáng suốt khi xây dựng nhân vật nhờ những quan sát của Theophrastus, người thầy của ông; còn Theophrastus, như đã biết, không chỉ là đệ tử mà còn là người kế tục trực tiếp của Aristotle, nhà phê bình thi ca đầu tiên và vĩ đại nhất. Đó là những hình mẫu tuyệt vời để noi theo; và lợi thế thêm nữa mà Terence có được để tô điểm cho các vở kịch bằng sự thuần khiết trong văn phong và sự chuẩn mực trong lối ứng xử, chính là nhờ sự tự do đàm đạo mà ông được hưởng cùng Lelius và Scipio, hai trong số những con người vĩ đại và lịch thiệp nhất thời bấy giờ. Và quả thực, đặc ân được đàm đạo như vậy là phương cách chắc chắn duy nhất để đạt tới sự hoàn mỹ trong nghệ thuật đối thoại.
Nếu trong bất kỳ phần nào của vở hài kịch này, tôi có được lối diễn đạt hay cách hành văn chuẩn xác hơn, hay ít nhất là dễ sửa chữa hơn, so với những gì tôi từng viết trước đây, thì tôi phải, với niềm kiêu hãnh và lòng biết ơn tương xứng, quy điều đó cho vinh dự được Đức Ngài cho phép tham gia vào những buổi đàm đạo của Ngài, và trong một hội nhóm mà ai nấy đều xứng tầm với Ngài, tại nơi Ngài lui về ẩn dật mùa hè năm ngoái; bởi ngay sau đó, vở hài kịch này đã được viết ra. Nếu tôi thất bại trong tác phẩm này, thì chỉ đáng tiếc là, nơi có quá nhiều người không thua kém gì một Scipio hay một Lelius, lại thiếu vắng một người có tài năng ngang tầm với một Terence.
Nếu tôi không lầm, thi ca gần như là nghệ thuật duy nhất chưa từng cậy nhờ đến sự bảo trợ của Đức Ngài. Kiến trúc và hội họa, làm rạng danh đất nước ta, đã khởi sắc dưới ảnh hưởng và sự che chở của Ngài. Trong khi đó, thi ca, người chị cả của mọi loại hình nghệ thuật, và là cha đẻ của hầu hết chúng, dường như đã từ bỏ quyền thừa kế của mình vì bỏ bê việc tỏ lòng kính trọng với Đức Ngài, và vì để cho những môn nghệ thuật ra đời sau chiếm mất vị trí trong lòng quý mến của Ngài, vị trí mà chẳng ai có thể đòi hỏi quyền xứng đáng hơn thi ca. Bản chất của thi ca là thiêng liêng đối với những bậc hiền tài và cao quý: mối quan hệ giữa chúng là tương hỗ, và họ luôn tỏ ra ưu ái với thi ca. Thi ca có đặc quyền được ngợi ca họ, và chỉ họ mới có đặc quyền ban sự che chở cho thi ca.
Châm ngôn được thừa nhận này là lời tạ lỗi chung cho tất cả các tác giả dâng hiến công sức của mình cho những bậc đại nhân: nhưng tôi ước rằng, lần này, lời đề từ này sẽ được miễn trừ khỏi sự giả dối thông thường của mọi bài tựa; và rằng, như cách tôi có thể nhận ra Đức Ngài giữa những người xứng đáng nhất, thì lễ vật này có thể trở nên đáng nhớ bởi một sự kính trọng đặc biệt, điều sẽ khẳng định với Đức Ngài rằng tôi, với tất cả sự nhận thức về phẩm giá cao quý và lòng nhân từ vô hạn của Ngài, xin được là, thưa Đức Ngài, kẻ bề tôi khiêm cung, tận tụy và mang ơn Đức Ngài sâu sắc nhất, WILL. CONGREVE.