Được công diễn lần đầu bởi Đoàn kịch Provincetown tại Nhà hát Wharf, Provincetown, Mass., ngày 8 tháng 8 năm 1916.
GEORGE HENDERSON (Công tố viên hạt)
HENRY PETERS (Cảnh sát trưởng)
LEWIS HALE, một nông dân hàng xóm
BÀ PETERS
BÀ HALE
BỐI CẢNH: Căn bếp trong ngôi nhà trang trại nay đã bỏ hoang của JOHN WRIGHT. Đó là một căn bếp u ám, bừa bãi chưa được dọn dẹp—những chiếc chảo chưa rửa nằm dưới bồn rửa chén, ổ bánh mì đặt ngoài hộp đựng bánh, chiếc khăn lau chén trên bàn—cùng nhiều dấu hiệu cho thấy công việc dang dở. Phía cuối phòng, cửa ngoài mở ra và CẢNH SÁT TRƯỞNG bước vào, theo sau là CÔNG TỐ VIÊN và HALE. Cảnh sát trưởng và Hale là những người đàn ông trung niên, còn Công tố viên là một thanh niên; tất cả đều mặc quần áo dày cộm và tiến thẳng về phía lò sưởi. Theo sau họ là hai người phụ nữ—vợ của Cảnh sát trưởng bước trước; bà là một phụ nữ mảnh khảnh, gân guốc với khuôn mặt gầy gò, lộ vẻ lo lắng. Bà Hale to đậm người hơn và thông thường trông có vẻ phúc hậu hơn, nhưng giờ đây bà đang bồn chồn, vừa bước vào vừa lo sợ nhìn quanh. Hai người phụ nữ bước vào chậm rãi, đứng sát nhau gần cửa.
CÔNG TỐ VIÊN: (xoa hai bàn tay) Dễ chịu thật đấy. Lại đây sưởi ấm đi các bà.
BÀ PETERS: (sau khi bước lên một bước) Tôi... tôi không lạnh.
CẢNH SÁT TRƯỞNG: (cởi cúc áo khoác ngoài và bước ra khỏi lò sưởi như để ra hiệu bắt đầu công việc chính thức) Này ông Hale, trước khi chúng ta động chạm đến đồ đạc, ông hãy giải thích cho ông Henderson nghe chính xác những gì ông đã thấy khi đến đây vào sáng hôm qua.
CÔNG TỐ VIÊN: Nhân tiện, có thứ gì bị di chuyển chưa? Mọi thứ vẫn y nguyên như lúc ông rời đi hôm qua chứ?
CẢNH SÁT TRƯỞNG: (nhìn quanh) Vẫn y nguyên. Khi nhiệt độ xuống dưới không độ vào đêm qua, tôi nghĩ tốt hơn nên bảo thằng Frank đến đây nhóm lửa vào sáng nay—có khối lượng án lớn thế này mà để bị viêm phổi thì chẳng ích gì, nhưng tôi đã dặn nó là không được chạm vào bất cứ thứ gì ngoài lò sưởi—và các ông cũng biết tính thằng Frank rồi đấy.
CÔNG TỐ VIÊN: Lẽ ra nên để lại ai đó ở đây từ hôm qua.
CẢNH SÁT TRƯỞNG: Ồ—hôm qua ấy à. Khi tôi phải sai Frank đi Morris Center để đón kẻ phát điên đó—tôi muốn ông biết rằng hôm qua tôi bận rộn ngập đầu ngập cổ. Tôi thừa biết ông có thể từ Omaha trở về kịp trong hôm nay và dù sao thì tôi cũng đã tự mình kiểm tra mọi ngóc ngách ở đây rồi—
CÔNG TỐ VIÊN: Thôi được, ông Hale, hãy kể lại chính xác chuyện gì đã xảy ra khi ông đến đây vào sáng hôm qua.
HALE: Harry và tôi đánh xe chở một xe khoai tây định vào thị trấn. Chúng tôi đi dọc con đường từ nhà tôi đến đây, và khi tới chỗ này, tôi tự nhủ: "Mình phải ghé vào xem có rủ được John Wright cùng hùn tiền lắp chung một đường điện thoại được không". Tôi đã bàn với Wright về chuyện này một lần trước đó rồi, nhưng hắn gạt đi, bảo rằng dằng nào thì người ta cũng tám chuyện quá nhiều, điều hắn muốn chỉ là sự bình yên tĩnh lặng—tôi đoán ông cũng biết bản thân hắn ta kiệm lời đến mức nào rồi đấy; nhưng tôi nghĩ biết đâu nếu mình đến tận nhà và bàn chuyện đó trước mặt vợ hắn, mặc dù tôi có nói với Harry rằng tôi chẳng biết ý muốn của vợ hắn có ảnh hưởng gì được đến John hay không—
CÔNG TỐ VIÊN: Chuyện đó để lát nữa chúng ta bàn sau đi, ông Hale. Tôi rất muốn nghe về chuyện đó, nhưng bây giờ hãy kể xem chuyện gì đã xảy ra khi ông đến ngôi nhà này.
HALE: Tôi chẳng nghe thấy hay nhìn thấy gì cả; tôi gõ cửa, nhưng bên trong vẫn hoàn toàn im lặng. Tôi biết chắc họ phải thức rồi, vì lúc đó đã quá tám giờ. Thế là tôi gõ cửa lần nữa, và hình như tôi nghe thấy có tiếng ai đó nói: "Vào đi". Tôi không chắc lắm, đến giờ vẫn chưa chắc, nhưng tôi đã đẩy cửa bước vào—cánh cửa này đây (chỉ vào cánh cửa mà hai người phụ nữ vẫn đang đứng cạnh) và kìa, ngồi trên chiếc ghế bập bênh đó—(chỉ tay về phía chiếc ghế) chính là bà Wright.
(Tất cả cùng nhìn về phía chiếc ghế bập bênh.)
CÔNG TỐ VIÊN: Thế... bà ấy đang làm gì?
HALE: Bà ấy cứ ngồi đưa qua đưa lại trên ghế. Bà ấy cầm chiếc tạp dề trên tay và cứ thế... vò nó lại.
CÔNG TỐ VIÊN: Và trông bà ấy... thế nào?
HALE: À, trông bà ấy kỳ lạ lắm.
CÔNG TỐ VIÊN: Ý ông thế nào là... kỳ lạ?
HALE: Thì, trông như thể bà ấy không biết tiếp theo mình phải làm gì vậy. Và có vẻ như phờ phạc, kiệt sức.
CÔNG TỐ VIÊN: Bà ấy có vẻ cảm thấy thế nào về việc ông đến?
HALE: Chà, tôi không nghĩ là bà ấy bận tâm—dù theo chiều hướng nào đi nữa. Bà ấy chẳng thèm chú ý lắm. Tôi chào: "Chào bà Wright, trời lạnh quá nhỉ?" Và bà ấy đáp: "Thế à?"—rồi lại tiếp tục vò vò chiếc tạp dề. Thú thực là tôi thấy ngạc nhiên; bà ấy chẳng mời tôi lại lò sưởi sưởi ấm hay ngồi xuống ghế, mà cứ ngồi ì ra đó, thậm chí còn chẳng thèm nhìn tôi, thế là tôi nói: "Tôi muốn gặp John". Và rồi bà ấy... cười. Tôi đoán ông sẽ gọi đó là một nụ cười. Tôi chợt nghĩ đến Harry và con ngựa đang đứng đợi ngoài kia, nên bèn nói hơi gay gắt một chút: "Tôi không gặp John được sao?" "Không", bà ấy đáp, giọng buồn thiu. "Hắn không có nhà à?" tôi hỏi. "Có", bà ấy đáp, "hắn ở nhà". "Vậy sao tôi lại không gặp được hắn?" tôi hỏi với vẻ mất kiên nhẫn. "Vì hắn chết rồi", bà ấy đáp. "Chết á?" tôi thốt lên. Bà ấy chỉ gật đầu, chẳng hề tỏ ra chút hoảng hốt nào mà vẫn cứ ngồi đưa qua đưa lại trên ghế. "Sao... hắn chết ở đâu?" tôi hỏi, chẳng biết phải nói gì nữa. Bà ấy chỉ tay lên lầu—cứ thế đấy (chính ông ta đang đưa tay chỉ lên căn phòng phía trên). Tôi đứng dậy với ý định lên trên đó. Tôi đi từ đây đến chỗ kia—rồi tôi hỏi: "Ơ, thế hắn chết vì bệnh gì?" "Hắn chết vì một sợi dây thừng quấn quanh cổ", bà ấy nói, rồi lại thản nhiên vò chiếc tạp dề. Thế là tôi đi ra ngoài gọi Harry. Tôi nghĩ mình có thể... cần sự giúp đỡ. Chúng tôi đi lên lầu và hắn đang nằm ở đó—
CÔNG TỐ VIÊN: Tôi nghĩ tốt hơn là ông nên kể chi tiết khúc trên lầu đó khi chúng ta lên trên, nơi ông có thể chỉ rõ mọi thứ. Giờ hãy tiếp tục phần còn lại của câu chuyện đi.
HALE: Vâng, ý nghĩ đầu tiên của tôi là gỡ sợi dây thừng đó ra. Trông nó... (dừng lại, cơ mặt co giật)... nhưng Harry đã bước lại gần hắn và nói: "Thôi, hắn chết hẳn rồi, tốt nhất chúng ta đừng chạm vào cái gì cả". Thế là chúng tôi quay xuống nhà dưới. Bà ấy vẫn ngồi ở tư thế đó. "Đã có ai được thông báo chưa?" tôi hỏi. "Chưa", bà ấy đáp một cách dửng dưng. "Ai làm chuyện này hả bà Wright?" Harry hỏi. Cậu ấy hỏi với giọng điệu rất nghiêm túc—và bà ấy ngừng vò chiếc tạp dề. "Tôi không biết", bà ấy đáp. "Cô không biết á?" Harry hỏi. "Không", bà ấy đáp. "Cô không ngủ chung giường với hắn à?" Harry hỏi. "Có", bà ấy đáp, "nhưng tôi nằm phía trong". "Có kẻ luồn dây thừng qua cổ siết chết hắn mà cô không thức giấc sao?" Harry hỏi. "Tôi không thức giấc", bà ấy lặp lại lời cậu ấy. Chắc là lúc đó vẻ mặt chúng tôi ngạc nhiên đến mức khó tin, bởi vì chỉ một phút sau bà ấy liền nói: "Tôi ngủ say lắm". Harry định hỏi thêm mấy câu nữa nhưng tôi bảo có lẽ chúng ta nên để bà ấy kể câu chuyện của mình trước cho bên pháp y hoặc cảnh sát trưởng nghe đã, thế là Harry chạy thục mạng đến nhà Rivers, nơi có điện thoại.
CÔNG TỐ VIÊN: Và bà Wright đã làm gì khi biết các ông đã đi gọi người khám nghiệm tử thi?
HALE: Bà ấy chuyển từ chiếc ghế đó sang chiếc ghế này ở đằng này (chỉ vào một chiếc ghế nhỏ ở góc phòng) và cứ ngồi đó, hai tay đan vào nhau và cúi gằm mặt xuống. Tôi có cảm giác mình phải nói câu chuyện trò gì đó, thế nên tôi bèn lên tiếng bảo rằng tôi ghé qua để xem John có muốn lắp điện thoại không, và nghe vậy bà ấy liền bật cười, rồi đột nhiên im bặt và nhìn tôi với vẻ hoảng sợ (CÔNG TỐ VIÊN, nãy giờ vẫn cầm sổ ghi chép, liền ghi lại một dòng) Tôi cũng không rõ nữa, biết đâu không phải là sợ. Tôi không dám chắc chắn điều đó. Chẳng mấy chốc Harry quay lại, rồi bác sĩ Lloyd đến, và cả ông nữa, ngài Peters, thế nên tôi đoán mình chỉ biết chừng đó là những gì các ông chưa rõ thôi.
CÔNG TỐ VIÊN: (nhìn quanh) Tôi nghĩ chúng ta sẽ lên lầu trước—rồi sau đó ra chuồng ngựa và xung quanh xem xét sau. (nói với CẢNH SÁT TRƯỞNG) Ông chắc chắn là ở đây không có gì quan trọng chứ—không có thứ gì có thể hé lộ động cơ gây án sao.
CẢNH SÁT TRƯỞNG: Chẳng có gì ngoài đồ đạc trong bếp.
(CÔNG TỐ VIÊN, sau khi nhìn quanh nhà bếp một lần nữa, liền mở cửa một chiếc tủ đựng chén bát. Ông trèo lên ghế và nhìn lên một chiếc kệ. Rụt tay lại vì dính thứ gì đó nhầy nhụa.)
CÔNG TỐ VIÊN: Một đống bừa bộn ra trò đây.
(Hai người phụ nữ bước lại gần hơn.)
BÀ PETERS: (nói với người phụ nữ kia) Ồ, lọ hoa quả của bà ấy; chúng bị đông cứng cả rồi, (nói với CÔNG TỐ VIÊN) Bà ấy đã lo lắng về điều đó khi trời trở lạnh đột ngột. Bà ấy bảo lò sưởi mà tắt thì các hũ đựng sẽ vỡ mất.
CẢNH SÁT TRƯỞNG: Chà, chịu thua mấy bà phụ nữ luôn! Bị giam vì tội giết người mà vẫn còn lo lắng cho đám đồ ngâm giấm của mình cơ chứ.
CÔNG TỐ VIÊN: Tôi đoán trước khi mọi chuyện ngã ngũ, có lẽ cô ta sẽ còn nhiều thứ nghiêm trọng hơn đám đồ muối chua đó để mà lo đấy.
HALE: Thì đấy, phụ nữ vốn quen lo lắng về mấy chuyện vụn vặt mà.
(Hai người phụ nữ xích lại gần nhau hơn một chút.)
CÔNG TỐ VIÊN: (với vẻ lịch thiệp của một chính trị gia trẻ tuổi) Thế mà, dẫu cho họ có lắm mối bận tâm đi nữa, chúng ta sẽ ra sao nếu thiếu đi những bóng hồng nhỉ? (hai người phụ nữ vẫn giữ nguyên vẻ mặt lạnh lùng, không chút động lòng. Ông tiến đến bồn rửa chén, múc một gáo nước từ chiếc xô đổ vào chậu rồi rửa tay. Định lấy chiếc khăn treo dọc để lau tay, ông liền xoay nó tìm một đoạn sạch hơn) Khăn bẩn quá! (đá chân vào đống chảo dưới bồn rửa) Không phải là một người tề gia nội trợ giỏi giang cho lắm nhỉ, thưa các bà?
BÀ HALE: (đáp lại một cách cứng nhắc) Làm nông thì có vô số việc phải làm.
CÔNG TỐ VIÊN: Chắc chắn rồi. Thế mà (hơi cúi đầu chào bà) tôi biết có những ngôi nhà nông trại ở hạt Dickson không hề dùng loại khăn treo thế này. (Ông kéo mạnh khăn ra để kiểm tra chiều dài của nó.)
BÀ HALE: Mấy chiếc khăn đó bẩn nhanh lắm. Tay đàn ông thì đâu phải lúc nào cũng sạch sẽ cho được.
CÔNG TỐ VIÊN: À, xem ra bà rất bênh vực giới của mình nhỉ. Nhưng bà và bà Wright vốn là hàng xóm. Chắc hẳn hai người cũng là bạn bè thân thiết.
BÀ HALE: (lắc đầu) Những năm gần đây tôi ít khi gặp bà ấy. Tôi đã không bước chân vào ngôi nhà này... cũng phải hơn một năm rồi.
CÔNG TỐ VIÊN: Và lý do là gì vậy? Bà không thích cô ta sao?
BÀ HALE: Tôi thấy bà ấy bình thường chẳng có gì ghét cả. Vợ nông dân thì lúc nào cũng bận rộn tối mặt tối mày thôi, thưa ông Henderson. Và lại—
CÔNG TỐ VIÊN: Lại sao—?
BÀ HALE: (nhìn quanh) Nơi này trông chưa bao giờ giống một chốn vui vẻ cả.
CÔNG TỐ VIÊN: Không—nó chẳng vui vẻ gì. Tôi dám cá là cô ta không có bản năng vun vén gia đình.
BÀ HALE: Chà, tôi cũng chẳng biết là bản thân ông Wright có bản năng ấy hay không nữa.
CÔNG TỐ VIÊN: Ý bà là họ sống không hòa thuận với nhau cho lắm?
BÀ HALE: Không, ý tôi chẳng có gì cả. Nhưng tôi không nghĩ một nơi nào đó có thể vui vẻ hơn khi John Wright bước chân vào đó đâu.
CÔNG TỐ VIÊN: Tôi muốn bàn thêm về chuyện đó vào lát nữa. Bây giờ tôi muốn đi khảo sát tình hình trên gác đã. (Ông đi về phía bên trái, nơi có ba bậc thang dẫn đến một cánh cửa cầu thang.)
CẢNH SÁT TRƯỞNG: Chắc là bà Peters làm gì cũng được thôi. Dù sao thì bà ấy cũng đến để lấy ít quần áo cho cô ta và vài thứ lặt vặt. Hôm qua chúng ta rời đi vội vàng quá mà.
CÔNG TỐ VIÊN: Vâng, nhưng tôi muốn xem những thứ bà mang đi đấy, bà Peters, và hãy để mắt đến bất cứ thứ gì có thể hữu ích cho chúng ta.
BÀ PETERS: Vâng, thưa ông Henderson.
(Hai người phụ nữ lắng nghe tiếng bước chân của đàn ông trên cầu thang, rồi đưa mắt nhìn quanh nhà bếp.)
BÀ HALE: Tôi mà bị đàn ông vào bếp lục sọi soi mói rồi chê bai thế này thì ghét phải biết.
(Bà sắp xếp lại đống chảo dưới bồn rửa chén mà viên công tố viên vừa đá lệch vị trí.)
BÀ PETERS: Đương nhiên đó chỉ là nhiệm vụ của họ thôi mà.
BÀ HALE: Nhiệm vụ gì thì nhiệm vụ, nhưng tôi đoán cái cậu phó cảnh sát trưởng được cử đến nhóm lửa lúc trước lẽ ra cũng nên dọn dẹp chút ít chỗ này. (kéo mạnh chiếc khăn treo) Ước gì mình nghĩ ra điều đó sớm hơn. Nghĩ cũng tội, người ta phải vội vã rời đi thế kia mà lại đi bàn tán chê bai chuyện nhà cửa không gọn gàng thì thật quá nhẫn tâm.
BÀ PETERS: (người vừa đi đến chiếc bàn nhỏ ở góc trái phía sau căn phòng, nhấc một đầu chiếc khăn che một cái chảo lên) Bà ấy đã chuẩn bị bột để làm bánh mỳ rồi này. (Đứng lặng người.)
BÀ HALE: (ánh mắt dán chặt vào ổ bánh mỳ đặt cạnh hộp đựng bánh trên chiếc kệ thấp ở phía bên kia căn phòng. Chậm rãi tiến lại gần) Bà ấy định cất cái này vào trong đó, (nhầm ổ bánh mỳ lên rồi đột ngột đặt xuống. Với thái độ như đang quay trở lại với những quen thuộc thường ngày) Thật đáng tiếc cho đám hoa quả của bà ấy. Không biết chúng đã hỏng hết chưa nhỉ. (trèo lên ghế và ngó nhìn) Tôi nghĩ ở đây vẫn còn vài hũ dùng được đấy, bà Peters. Vâng—ở đây này; (giơ về phía cửa sổ) cái này là anh đào nữa. (nhìn lại lần nữa) Tôi dám cá là chỉ còn mỗi hũ này thôi. (bước xuống, trên tay cầm chiếc bình. Đi đến bồn rửa và lau sạch phần bên ngoài) Bà ấy hẳn sẽ đau lòng lắm sau bao nhiêu công sức vất vả trong tiết trời nóng bức thế này. Tôi vẫn nhớ cái buổi chiều tôi làm mứt anh đào vào mùa hè năm ngoái.
(Bà đặt chiếc lọ lên chiếc bàn lớn giữa nhà bếp. Thở dài một tiếng, bà định ngồi xuống chiếc ghế bập bênh. Nhưng chưa kịp ngồi xuống thì bà nhận ra đó là chiếc ghế nào; với một cái nhìn chậm chạp hướng về nó, bà bước lùi lại. Chiếc ghế mà bà vừa chạm vào liền bập bênh qua lại.)
BÀ PETERS: Thôi, tôi phải đi lấy mấy thứ đồ trong tủ phòng khách đã, (bà đi về phía cánh cửa bên phải, nhưng sau khi nghía vào căn phòng bên kia, liền bước lùi lại) Bà đi cùng tôi chứ, bà Hale? Bà có thể giúp tôi xách đồ.
(Họ bước vào căn phòng bên kia; rồi quay ra, bà Peters cầm một chiếc áo đầm và chân váy, bà Hale theo sau với một đôi giày.)
BÀ PETERS: Trời ơi, trong đó lạnh quá.
(Bà đặt quần áo lên chiếc bàn lớn, rồi vội vã chạy lại lò sưởi.)
BÀ HALE: (xem xét chiếc chân váy) Wright là kẻ keo kiệt. Tôi nghĩ có lẽ vì thế mà bà ấy mới sống khép kín như vậy. Bà ấy thậm chí còn chẳng gia nhập Hội Từ thiện Phụ nữ. Chắc bà ấy cảm thấy mình không thể đóng góp phần việc của mình, mà khi ăn mặc tơi tả thì người ta cũng chẳng thấy vui thú gì với các hoạt động nữa. Hồi còn là Minnie Foster, một trong những cô gái trong thị trấn tham gia hát hợp xướng, bà ấy từng hay mặc những bộ đồ xinh xắn và rất hoạt bát. Nhưng chuyện đó... ôi, chuyện đó từ ba mươi năm trước rồi. Chỉ có bấy nhiêu thứ này thôi sao, bà định mang đi à?
BÀ PETERS: Bà ấy bảo muốn lấy một chiếc tạp dề. Nghe thật buồn cười, vì Chúa mới biết ở tù thì có mấy khi làm vấy bẩn quần áo đâu. Nhưng chắc là để bản thân thấy tự nhiên hơn thôi. Bà ấy bảo chúng nằm ở ngăn kéo trên cùng của chiếc tủ này. Đúng rồi, ở đây. Và cả chiếc khăn choàng nhỏ của bà ấy lúc nào cũng treo đằng sau cửa nữa. (mở cửa cầu thang rồi nhìn vào) Vâng, đây rồi.
(Nhanh chóng đóng cánh cửa dẫn lên gác lại.)
BÀ HALE: (đột ngột bước về phía bà) Bà Peters?
BÀ PETERS: Vâng, thưa bà Hale?
BÀ HALE: Bà có nghĩ chính cô ấy làm không?
BÀ PETERS: (với giọng sợ hãi) Ôi, tôi không biết nữa.
BÀ HALE: Chà, tôi thì không nghĩ cô ấy làm vậy. Lại đi đòi tạp dề với khăn choàng nhỏ cơ chứ. Lại còn lo lắng cho đám hoa quả của mình nữa chứ.
BÀ PETERS: (định nói gì đó, ngước nhìn lên khi nghe thấy tiếng bước chân vọng xuống từ căn phòng phía trên. Hạ thấp giọng) Ông Peters bảo tình hình đối với cô ấy có vẻ không ổn. Ông Henderson ăn nói rất châm chọc và ông ấy sẽ chế giễu việc cô ấy nói rằng mình không thức giấc cho mà xem.
BÀ HALE: Chà, tôi đoán lúc kẻ nào đó luồn sợi dây thừng quanh cổ thì John Wright cũng có thức dậy đâu.
BÀ PETERS: Không, lạ thật đấy. Chắc chắn việc đó đã được thực hiện một cách cực kỳ tinh vi và lặng lẽ. Người ta bảo đó là một cách giết người kỳ quặc làm sao, dàn dựng mọi thứ như thế.
BÀ HALE: Đúng là điều ông Hale đã nói. Trong nhà có sẵn một khẩu súng cơ mà. Ông ấy bảo đó là điều ông ấy không tài nào hiểu nổi.
BÀ PETERS: Lúc bước ra, ông Henderson có nói rằng điều cần thiết cho vụ án này là động cơ; một cái gì đó thể hiện sự tức giận, hoặc... cảm xúc bột phát.
BÀ HALE: (đang đứng cạnh bàn) Chà, tôi chẳng thấy dấu hiệu giận dữ nào quanh đây cả, (bà đặt tay lên chiếc khăn lau chén đặt trên bàn, đứng nhìn đăm đăm xuống mặt bàn, một nửa đã được lau sạch còn nửa kia thì bừa bộn) Nó được lau đến đây này, (làm động tác như muốn làm nốt công việc dang dở, rồi quay sang nhìn ổ bánh mỳ đặt ngoài hộp đựng. Thả chiếc khăn xuống. Với giọng điệu như tìm lại được những thân thuộc ngày thường) Không biết trên lầu họ đang tìm kiếm thế nào rồi nhỉ. Mong là trên đó cô ấy dọn dẹp ngăn nắp hơn một chút. Bà biết không, làm thế này cứ có vẻ lén lút thế nào ấy. Bắt giam người ta ở thị trấn rồi lại mò về đây tìm cách khiến chính ngôi nhà của cô ấy quay lưng lại với cô ấy!
BÀ PETERS: Nhưng thưa bà Hale, luật pháp là luật pháp mà.
BÀ HALE: Tôi đoán là vậy, (cởi cúc áo khoác) Cởi bớt áo ra cho thoải mái đi bà Peters. Lát nữa ra ngoài bà sẽ không thấy lạnh đâu.
(BÀ PETERS cởi chiếc khăn choàng lông thú, đi đến treo nó lên chiếc móc ở phía sau phòng, đứng nhìn phần phía dưới của chiếc bàn góc nhỏ.)
BÀ PETERS: Bà ấy đang chắp vá một chiếc chăn bông. (Bà mang chiếc giỏ đựng đồ khâu lớn tới và họ cùng ngắm những mảnh vải rực rỡ màu sắc.)
BÀ HALE: Họa tiết nhà gỗ. Đẹp thật đấy, phải không? Không biết là cô ấy định chần bông hay chỉ buộc nút đây?
(Tiếng bước chân đi xuống cầu thang vang lên. CẢNH SÁT TRƯỞNG bước vào, theo sau là HALE và CÔNG TỐ VIÊN.)
CẢNH SÁT TRƯỞNG: Bọn họ đang thắc mắc không biết cô ta định chần bông hay chỉ buộc nút kìa! (Đàn ông cười lớn, phụ nữ bẽn lẽn cúi đầu.)
CÔNG TỐ VIÊN: (xoa hai tay bên lò sưởi) Lò sưởi thằng Frank nhóm chẳng có tác dụng mấy trên đó nhỉ? Thôi, chúng ta ra chuồng ngựa để giải quyết dứt điểm chỗ đó nào. (Đàn ông bước ra ngoài.)
BÀ HALE: (với vẻ bực bội) Tôi không thấy có gì là kỳ lạ khi chúng ta dành thời gian cho những chuyện vặt vãnh trong lúc chờ bọn họ thu thập chứng cứ cả. (bà ngồi xuống chiếc bàn lớn, kiên quyết vuốt phẳng một mảnh vải) Tôi chẳng thấy có gì đáng cười cả.
BÀ PETERS: (với vẻ phân trần) Đương nhiên là trong đầu họ đang bận tâm những chuyện cực kỳ quan trọng mà.
(Kéo ghế lại và nhập hội với BÀ HALE bên bàn.)
BÀ HALE: (xem xét một mảnh vải khác) Bà Peters, hãy nhìn mảnh này xem. Kia kìa, đây chính là mảnh mà cô ấy đang làm dở, và hãy nhìn đường kim mũi chỉ kìa! Tất cả những phần còn lại đều rất đẹp và đều đặn. Còn nhìn cái này xem! Nó rối tung lên hết cả thế này! Trông cứ như thể cô ấy chẳng biết mình đang làm gì vậy!
(Nói xong, họ nhìn nhau, rồi lại liếc ra cửa. Chỉ một thoáng sau, bà Hale đã kéo một nút chỉ và rạch đứt đường may.)
BÀ PETERS: Ơ, bà đang làm gì thế, bà Hale?
BÀ HALE: (điềm đạm) Chỉ tháo ra một hai mũi khâu may chưa được đẹp lắm thôi mà. (xâu kim qua lỗ) May vá cẩu thả lúc nào cũng làm tôi thấy bứt rứt không yên.
BÀ PETERS: (lo lắng) Tôi không nghĩ chúng ta nên táy máy đồ đạc của người ta đâu.
BÀ HALE: Tôi làm nốt đoạn này là xong thôi. (đột ngột dừng lại và chồm người về phía trước) Bà Peters?
BÀ PETERS: Vâng, thưa bà Hale?
BÀ HALE: Bà đoán xem vì sao mà cô ấy lại lo lắng đến thế?
BÀ PETERS: Ôi—tôi không biết nữa. Tôi cũng chẳng rõ là cô ấy có lo lắng thật không. Đôi lúc mệt mỏi quá tôi cũng may vá kỳ cục lắm. (BÀ HALE định nói gì đó, nhìn bà Peters, rồi lại tiếp tục cặm cụi may vá) Thôi tôi phải gói ghém mấy món đồ này lại mới được. Bọn họ có thể xong việc sớm hơn chúng ta tưởng đấy, (vừa gom chiếc tạp dề và mấy thứ khác lại với nhau) Không biết tôi có thể tìm đâu ra một mẩu giấy với sợi dây thừng nhỉ.
BÀ HALE: Chắc là trong cái tủ đó có đấy.
BÀ PETERS: (nhìn vào trong tủ) Ơ kìa, có một cái lồng chim ở đây này, (giơ cao lên) Cô ấy có nuôi chim hả bà Hale?
BÀ HALE: Ơ, tôi cũng không biết cô ấy có nuôi hay không nữa—tôi đã đến đây từ đời nào đâu. Năm ngoái có một tay đi bán chim hoàng yến giá rẻ dạo quanh đây, nhưng không biết cô ấy có mua con nào không; có lẽ là có đấy. Hồi trước chính cô ấy cũng hay cất tiếng ca rất hay.
BÀ PETERS: (nhìn xung quanh) Nghĩ đến chuyện có một con chim ở đây sao thấy lạ lùng thế nhỉ. Nhưng chắc chắn cô ấy phải có chứ, bằng không sao lại có cái lồng chim được? Không biết nó đã đi đâu mất rồi nhỉ.
BÀ HALE: Tôi đoán chắc con mèo nhà ai bắt mất rồi.
BÀ PETERS: Không, cô ấy có nuôi mèo đâu. Cô ấy cũng giống một số người có ác cảm với loài mèo—rất sợ chúng. Hồi con mèo của tôi chạy sang phòng cô ấy, cô ấy đã hoảng hốt thật sự và nhờ tôi đưa nó ra ngoài.
BÀ HALE: Chị Bessie nhà tôi cũng thế đấy. Lạ thật, phải không?
BÀ PETERS: (xem xét chiếc lồng) Ơ, nhìn cánh cửa này xem. Nó bị hỏng rồi. Một bên bản lề đã bị giật đứt ra.
BÀ HALE: (cũng nhìn vào) Trông như thể ai đó đã đối xử với nó rất thô bạo vậy.
BÀ PETERS: Ôi, đúng thế thật.
(Bà mang chiếc lồng ra phía trước và đặt nó lên bàn.)
BÀ HALE: Ước gì bọn họ mau chóng tìm ra chứng cứ đi cho rồi. Tôi không thích chốn này chút nào.
BÀ PETERS: Nhưng tôi cực kỳ mừng vì bà đã đi cùng tôi đấy, bà Hale. Ngồi thui thủi ở đây một mình thế này buồn tủi chết đi được.
BÀ HALE: Chắc chắn thế rồi, phải không? (thả công việc may vá xuống) Nhưng này bà Peters, có chuyện này thực sự ước gì tôi đã làm. Ước gì hồi đó thỉnh thoảng tôi cứ sang thăm cô ấy. Tôi—(nhìn quanh căn phòng)—giá như tôi đã làm thế.
BÀ PETERS: Nhưng đương nhiên là hồi đó bà bận trăm công nghì việc mà, bà Hale—nào là nhà cửa rồi con cái nữa.
BÀ HALE: Tôi hoàn toàn có thể sang mà. Tôi đã tránh đến đây chỉ vì nơi này chẳng có lấy chút niềm vui—và đó chính là lý do tại sao tôi lẽ ra phải đến. Tôi... tôi chưa bao giờ thích cái nơi này. Có lẽ vì nó nằm trũng dưới cái trũng nên chẳng nhìn thấy con đường nào cả. Tôi chẳng biết vì sao nữa, nhưng đây quả là một nơi quạnh quẽ và xưa nay vẫn thế. Ước gì hồi đó thỉnh thoảng tôi cứ sang thăm Minnie Foster. Bây giờ thì tôi hiểu rồi—(lắc đầu)
BÀ PETERS: Thôi, bà đừng tự dằn vặt mình nữa, bà Hale. Đôi khi chúng ta chẳng thể thấu hiểu hoàn cảnh của người khác cho đến khi... có biến cố xảy ra.
BÀ HALE: Không vướng con cái thì đỡ việc thật đấy—nhưng nó làm cho ngôi nhà trở nên lạnh lẽo, vắng lặng, lại thêm ông Wright đi làm suốt cả ngày, lúc về nhà cũng chẳng có lấy một tiếng cười nói, bầu bạn. Bà có biết John Wright không, bà Peters?
BÀ PETERS: Không rành lắm; tôi từng thấy ông ta ở thị trấn. Người ta bảo ông ta là một người tốt.
BÀ HALE: Vâng—tốt; ông ta không rượu chè, giữ lời hứa cũng ngang ngửa khối người khác, tôi đoán thế, lại trả nợ sòng phẳng. Nhưng ông ta là một kẻ tàn nhẫn, bà Peters ạ. Chỉ cần nói vài câu giao thiệp bình thường với ông ta thôi cũng đủ—(rùng mình) Cảm giác như một cơn gió lạnh buốt thấu xương vậy, (dừng lại, ánh mắt dừng lại trên chiếc lồng chim) Lẽ ra tôi phải nghĩ là cô ấy rất cần một chú chim làm bạn chứ. Nhưng không biết điều gì đã xảy ra với nó nhỉ?
BÀ PETERS: Tôi chịu, trừ khi nó bị ốm rồi chết.
(Bà với tay qua đẩy cánh cửa bị hỏng cho nó đong đưa, rồi lại đẩy thêm lần nữa, cả hai người phụ nữ lặng lẽ nhìn theo.)
BÀ HALE: Hồi nhỏ bà không lớn lên ở vùng này phải không? (BÀ PETERS lắc đầu) Thế bà có biết... cô ấy không?
BÀ PETERS: Không, cho đến tận khi họ đưa cô ấy đến đây hôm qua.
BÀ HALE: Cô ấy... ngẫm lại xem, bản thân cô ấy cũng giống như một chú chim vậy—vừa ngọt ngào vừa xinh xắn, nhưng lại có phần rụt rè và... hay hoảng hốt. Thế mà... cô ấy... lại thay đổi nhiều đến thế. (im lặng; rồi như chợt lóe lên một ý nghĩ vui vẻ và nhẹ nhõm vì được quay lại với những chuyện thường ngày) Này bà Peters, sao bà không mang tấm chăn bông này theo nhỉ? Nó có thể giúp cô ấy khuây khỏa phần nào tâm trí đấy.
BÀ PETERS: Ơ, tôi nghĩ đó là một ý kiến tuyệt vời đấy chứ, bà Hale. Chắc chắn sẽ chẳng ai có thể phản đối điều gì đâu nhỉ? Giờ thì tôi nên mang theo cái gì đây ta? Không biết những mảnh vải vụn của cô ấy có ở trong này không—cả mấy thứ đồ của cô ấy nữa.
(Họ nhìn vào chiếc giỏ đựng đồ khâu.)
BÀ HALE: Có vài mảnh vải đỏ ở đây này. Chắc là trong này đựng đồ khâu vá đây. (lấy ra một chiếc hộp trang trí đẹp mắt) Chiếc hộp đẹp thật đấy. Trông cứ như quà tặng của ai đó dành cho vậy. Biết đâu kéo của cô ấy ở trong này thì sao. (Mở hộp. Đột ngột đưa tay lên mũi) Ơ kìa—(BÀ PETERS chồm người lại gần hơn, rồi quay mặt đi) Có cái gì đó được bọc trong mảnh lụa này này.
BÀ PETERS: Ơ, đây đâu phải kéo của cô ấy.
BÀ HALE: (nhấc tấm lụa lên) Ôi, bà Peters—đó là—
(BÀ PETERS cúi sát hơn nữa.)
BÀ PETERS: Là con chim.
BÀ HALE: (chợt đứng phắt dậy) Nhưng, bà Peters—nhìn nó kìa! Cái cổ của nó! Nhìn cái cổ của nó đi!
Nó bị... vặn ngược ra đằng sau rồi.
BÀ PETERS: Ai đó đã... vặn cổ... nó.
(Ánh mắt họ chạm nhau. Một vẻ bàng hoàng, kinh hãi dần hiện lên. Tiếng bước chân vang lên ngoài cửa. Bà Hale nhanh trí giấu chiếc hộp dưới những mảnh chăn bông rồi sụp xuống ghế ngồi. Cảnh sát trưởng và Công tố viên bước vào. Bà Peters đứng dậy.)
CÔNG TỐ VIÊN: (với giọng điệu của một kẻ vừa rời bỏ những vấn đề nghiêm trọng để quay sang những trò đùa vui nhộn) Nào các bà, các bà đã quyết định được là cô ta định chần bông hay chỉ buộc nút chưa?
BÀ PETERS: Chúng tôi nghĩ là cô ấy định... buộc nút.
CÔNG TỐ VIÊN: Chà, thú vị đấy chứ. (nhìn thấy chiếc lồng chim) Con chim bay mất tiêu rồi à?
BÀ HALE: (kéo thêm những mảnh chăn che kín chiếc hộp) Chúng tôi nghĩ là... con mèo bắt mất rồi.
CÔNG TỐ VIÊN: (với vẻ đăm chiêu) Ở đây có nuôi mèo cơ à?
(BÀ HALE liếc nhìn nhanh một cách kín đáo về phía BÀ PETERS.)
BÀ PETERS: À, hiện tại thì không. Các bà biết đấy, chúng vốn hay có điềm gở mà. Nên chúng bỏ đi ấy mà.
CÔNG TỐ VIÊN: (nói với CẢNH SÁT TRƯỞNG PETERS, tiếp tục câu chuyện bị ngắt quãng) Hoàn toàn không có dấu hiệu có kẻ đột bén từ bên ngoài vào. Chính là dây thừng của nhà bọn họ. Giờ chúng ta lại lên trên đó kiểm tra lại từng chút một xem nào. (họ bắt đầu bước lên cầu thang) Chắc chắn phải là kẻ nắm rõ tường tận—
(BÀ PETERS ngồi xuống. Hai người phụ nữ ngồi đó, không nhìn nhau mà như đang đăm đăm nhìn thấu vào một điều gì đó, đồng thời cũng đang kìm nén lại. Khi họ cất lời lúc này, đó là giọng điệu dò dẫm trên một vùng đất lạ lẫm, như thể sợ hãi những gì mình đang thốt ra, nhưng đồng thời cũng không thể kìm nén việc phải nói ra điều đó.)
BÀ HALE: Cô ấy rất thích con chim đó. Cô ấy định chôn nó trong chiếc hộp xinh xắn kia.
BÀ PETERS: (thì thầm) Hồi tôi còn là một cô bé... con mèo nhỏ của tôi... có một thằng bé đã cầm chiếc rìu, và ngay trước mắt tôi... trước khi tôi kịp chạy đến ngăn lại—(che mặt một thoáng) Giá mà lúc đó họ không giữ tôi lại thì tôi đã... (chợt khựng lại, nhìn lên cầu thang nơi tiếng bước chân đang vang vọng, chùng xuống một cách yếu ớt)—đánh cho nó một trận tơi bời rồi.
BÀ HALE: (với cái nhìn chậm rãi xung quanh) Không biết cảm giác sống mà không có lấy một đứa trẻ nào xung quanh sẽ thế nào nhỉ, (khoảng lặng) Không, Wright sẽ chẳng đời nào thích con chim đó—một sinh vật biết cất tiếng hót. Hồi trước cô ấy cũng hay hát. Và hắn ta cũng đã giết chết điều đó rồi.
BÀ PETERS: (cựa quậy đầy bồn chồn) Chúng ta đâu có biết ai là kẻ đã giết con chim.
BÀ HALE: Tôi thừa biết John Wright là kẻ thế nào.
BÀ HALE: (tiếp nối dòng cảm xúc không bị ngắt quãng) Nếu người ta phải trải qua hết năm này qua năm khác trong sự tĩnh mịch tuyệt đối, rồi bỗng có một chú chim cất tiếng hót cho mình nghe, để rồi sau đó khi chú chim ấy chết đi, mọi thứ còn lại sẽ trở nên tĩnh lặng đến đáng sợ biết nhường nào.
BÀ PETERS: (tiếng lòng thổn thức) Tôi thừa biết sự tĩnh lặng ấy là thế nào. Hồi chúng tôi đến khai hoang lập nghiệp ở Dakota, và đứa con đầu lòng của tôi qua đời—khi nó mới được hai tuổi, trong khi tôi chẳng còn đứa con nào khác bên cạnh lúc đó—
BÀ HALE: (cử động) Bà đoán xem bao lâu nữa bọn họ mới lục soát xong đống chứng cứ kia?
BÀ PETERS: Tôi biết thế nào là tĩnh lặng chứ. (gượng kìm nén bản thân lại) Dù thế nào thì luật pháp cũng phải trừng trị tội ác chứ, bà Hale.
BÀ HALE: (không phải đáp lại câu đó) Ước gì bà từng nhìn thấy Minnie Foster khi cô ấy mặc chiếc váy trắng thắt ruy băng xanh đứng trên dàn đồng ca cất cao tiếng hát. (đưa mắt nhìn quanh phòng) Ôi, giá mà thỉnh thoảng tôi cứ sang đây chơi! Đó mới chính là tội ác! Đó mới là tội ác! Ai sẽ đứng ra trừng trị chuyện đó đây?
BÀ PETERS: (nhìn lên lầu) Chúng ta không được... để cảm xúc lấn át đâu.
BÀ HALE: Lẽ ra tôi phải nhận ra cô ấy đang cần được giúp đỡ chứ! Tôi thừa hiểu mọi chuyện có thể tồi tệ thế nào... đối với phụ nữ chúng ta. Tôi nói thật đấy, mọi thứ thật kỳ quặc, bà Peters ạ. Chúng ta sống gần nhau đấy nhưng cũng cách xa nhau chẳng khác nào thiên lý. Tất cả chúng ta đều phải trải qua những bi kịch giống nhau thôi—chỉ là dưới những hình thái khác nhau mà thôi, (đưa tay lau mắt, nhận ra lọ hoa quả, bèn với tay lấy nó) Nếu tôi là bà, tôi sẽ không nói cho cô ấy biết là đám hoa quả đã hỏng hết đâu. Cứ bảo là chúng vẫn còn nguyên vẹn ấy. Hãy nói là mọi thứ vẫn ổn đi. Mang cái này theo làm bằng chứng cho cô ấy thấy. Cô ấy... có lẽ sẽ chẳng bao giờ biết được chúng bị vỡ hay chưa đâu.
BÀ PETERS: (cầm lấy lọ hoa quả, nhìn quanh tìm thứ gì đó để gói lại; lấy chiếc váy lót từ đống quần áo mang từ căn phòng bên kia ra, vô cùng hoảng hốt bắt đầu quấn nó quanh chiếc lọ. Với giọng điệu giả vờ) Ôi trời, thật may là đám đàn ông không nghe thấy chúng ta nói gì. Bọn họ mà nghe thấy thì thể nào cũng cười vào mặt chúng ta cho xem! Lại đi phát hoảng lên vì một chuyện cỏn con như... một con chim hoàng yến chết. Cứ làm như chuyện đó có thể dính líu gì đến... đến... bọn họ thể nào cũng cười toác miệng cho mà xem!
(Tiếng đàn ông đang đi xuống cầu thang vọng lại.)
BÀ HALE: (nói nhỏ trong lồng ngực) Có thể họ sẽ cười—mà cũng có thể không.
CÔNG TỐ VIÊN: Không, Peters, mọi chuyện hoàn toàn sáng tỏ ngoại trừ động cơ gây ra hành động đó. Nhưng ông thừa biết thái độ của bồi thẩm đoàn khi đối diện với phụ nữ rồi đấy. Nếu có một điều gì đó rõ ràng. Một thứ gì đó làm bằng chứng—một thứ để có thể dựng thành câu chuyện—một thứ có thể liên kết với cách thức thực hiện kỳ quặc này—
(Ánh mắt hai người phụ nữ chạm nhau trong khoảng khắc. HALE từ cửa ngoài bước vào.)
HALE: Này, tôi đánh xe ra cửa rồi đấy. Ngoài đó trời lạnh phết đấy.
CÔNG TỐ VIÊN: Tôi muốn ở lại đây một mình một lúc, (nói với CẢNH SÁT TRƯỞNG) Ông sai Frank ra đây đón tôi được chứ? Tôi muốn kiểm tra lại toàn bộ mọi thứ. Tôi vẫn chưa thỏa mãn với việc chúng ta không thể làm tốt hơn thế này.
CẢNH SÁT TRƯỞNG: Ông có muốn xem những thứ mà bà Peters định mang đi không?
(Viên CÔNG TỐ VIÊN bước tới bàn, cầm chiếc tạp dề lên và cười lớn.)
CÔNG TỐ VIÊN: Ồ, tôi đoán mấy món đồ mà các quý bà chọn chẳng có gì nguy hiểm đâu nhỉ. (Di chuyển vài món đồ, làm xáo trộn những mảnh chăn bông đang che đậy chiếc hộp. Lùi lại một bước) Không, bà Peters chẳng cần ai giám sát đâu. Mà xét cho cùng, vợ của cảnh sát trưởng thì cũng đã kết hôn với luật pháp rồi. Bà đã bao giờ nghĩ theo hướng đó chưa, bà Peters?
BÀ PETERS: Không... chưa bao giờ nghĩ theo hướng đó cả.
CẢNH SÁT TRƯỞNG: (cười khúc khích) Kết hôn với luật pháp cơ à. (bước về phía căn phòng bên kia) Tôi muốn ông vào đây một phút xem cái này, George. Chúng ta nên ghé mắt qua mấy ô cửa sổ này xem sao.
CÔNG TỐ VIÊN: (với giọng cười nhạo) Ôi dào, cửa sổ với cửa sủng!
CẢNH SÁT TRƯỞNG: Chúng tôi ra ngay đây, ông Hale.
(HALE bước ra ngoài. CẢNH SÁT TRƯỞNG đi theo CÔNG TỐ VIÊN vào căn phòng bên kia. Lúc này BÀ HALE đứng phắt dậy, hai tay đan chặt vào nhau, nhìn chằm chằm đầy căng thẳng vào BÀ PETERS, người đang chậm rãi quay đầu lại để ánh mắt chạm vào ánh mắt bà Hale. Khoảng khắc bà Hale dùng ánh mắt níu giữ, rồi chính ánh mắt bà lại hướng về phía chiếc hộp đang được giấu kín. Ngay lập tức BÀ PETERS hất tung những mảnh chăn bông ra và cố nhét chiếc hộp vào chiếc túi xách đang đeo bên mình. Nó quá lớn. Bà mở hộp ra, định lấy con chim ra, nhưng không dám chạm vào nó, liền suy sụp hoàn toàn, đứng chôn chân bất lực ở đó. Âm thanh tiếng núm vặn cửa xoay chuyển ở căn phòng bên kia vang lên. BÀ HALE chộp lấy chiếc hộp và giấu nó vào túi chiếc áo khoác rộng thùng thình của mình. CÔNG TỐ VIÊN và CẢNH SÁT TRƯỞNG bước vào.)
CÔNG TỐ VIÊN: (với vẻ pha trò) Nào Henry, ít nhất thì chúng ta cũng phát hiện ra là cô ta không định chần bông chiếc chăn nữa. Cô ta định... người ta gọi là gì nhỉ, thưa các bà?
BÀ HALE: (tay áp chặt vào túi áo) Chúng tôi gọi đó là... buộc nút, thưa ông Henderson.
(HẠ MÀN)