Tuyển Tập Truyện Ngắn Nguyên Bản Hoàn Chỉnh Của Guy De Maupassant

Lượt đọc: 2976 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Một Gia Đình

❊ ❊ ❊

Tôi đến thăm người bạn cũ, Simon Radevin, người mà tôi đã mất liên lạc từ mười lăm năm nay. Đã có lúc anh là người bạn thân thiết nhất của tôi, người hiểu thấu những suy nghĩ của tôi, cùng tôi trải qua những buổi tối dài yên bình và hạnh phúc, người mà tôi thổ lộ những mối tình thầm kín, và là người dường như khơi gợi được những suy nghĩ hiếm hoi, tinh tế sinh ra từ sự đồng cảm mang lại cảm giác tĩnh lặng.

Trong nhiều năm, chúng tôi hầu như không rời nhau; chúng tôi đã sống, du hành, suy nghĩ và mơ mộng cùng nhau; cùng thích một thứ, ngưỡng mộ những cuốn sách giống nhau, thấu hiểu những tác giả như nhau, rung động trước cùng một cảm giác, và rất thường xuyên bật cười trước cùng những con người mà chúng tôi hiểu thấu chỉ qua một ánh nhìn trao đổi.

Rồi anh kết hôn. Anh cưới, hoàn toàn đột ngột, một cô tiểu thư nhà quê vừa lên Paris tìm chồng. Làm sao mà một cô gái gầy gò, nhạt nhẽo với mái tóc vàng vô hồn, đôi bàn tay yếu ớt, đôi mắt lờ đờ, nhạt nhẽo cùng giọng nói trong trẻo mà ngốc nghếch, trông chẳng khác gì hàng trăm ngàn con búp bê mang ra chợ gả chồng, lại có thể tóm được một chàng trai thông minh và tài năng nhường ấy nhỉ? Ai mà hiểu nổi những chuyện này chứ? Chắc hẳn anh đã hy vọng về một hạnh phúc, sự hạnh phúc giản dị, yên bình và dài lâu trong vòng tay của một người phụ nữ hiền thục, dịu dàng và chung thủy; anh đã nhìn thấy tất cả những điều ấy trong ánh mắt trong veo của cô nữ sinh tóc vàng đó.

Anh đã không mảy may nghĩ đến thực tế rằng một người đàn ông năng động, tràn trề nhựa sống và nhạy cảm sẽ nhanh chóng thấy mệt mỏi với vạn vật ngay khi anh ta nhận ra thực tại tẻ nhạt, trừ khi anh ta trở nên trơ lì đến mức chẳng còn nhận thức được điều gì nữa.

Liệu anh ấy sẽ thế nào khi tôi gặp lại? Vẫn hoạt bát, hóm hỉnh, vui tươi và đầy nhiệt huyết, hay đã rơi vào trạng thái trì trệ tâm trí do cuộc sống tỉnh lẻ đem lại? Con người ta có thể thay đổi rất nhiều trong khoảng thời gian mười lăm năm!

Con tàu dừng lại ở một ga nhỏ, và khi tôi vừa bước xuống toa, một người đàn ông mập mạp, vô cùng mập mạp với đôi má đỏ hây cùng chiếc bụng bự đã lao về phía tôi rộng mở vòng tay, thốt lên: “George!” Tôi ôm chầm lấy anh, nhưng tôi đã chẳng thể nhận ra anh nổi, rồi tôi kinh ngạc thốt lên: “Trời đất! Cậu chẳng gầy đi tẹo nào cả!” Và anh vừa cười vừa đáp lời:

“Cậu còn mong gì nữa chứ? Ăn ngon, mâm cao cỗ đầy và những giấc ngủ ngon! Ăn với ngủ, đời tớ là thế đấy!”

Tôi nhìn kỹ anh, cố tìm kiếm trên gương mặt tròn trịa ấy những đường nét mà tôi từng vô cùng trân quý. Chỉ có đôi mắt là không thay đổi, nhưng tôi không còn thấy ở đó biểu cảm quen thuộc ngày nào, và tôi tự nhủ: “Nếu ánh mắt là tấm gương phản chiếu tâm hồn, thì những suy nghĩ trong cái đầu kia đã chẳng còn như trước nữa; những suy nghĩ mà tôi từng hiểu rõ đến nhường nào.”

Tuy vậy, đôi mắt anh vẫn sáng ngời, đong đầy hạnh phúc và tình bạn, nhưng lại thiếu đi vẻ trong sáng, thông minh vốn thể hiện rõ sự minh mẫn của trí tuệ chẳng kém gì lời nói. Đột nhiên anh bảo:

“Đây là hai đứa lớn nhà tớ.” Một cô bé mười bốn tuổi đã phổng phao như thiếu nữ, và một cậu nhóc mười ba tuổi mặc đồng phục học sinh trường Lycée, bước đến với vẻ ngập ngừng, lúng túng, và tôi thì thầm hỏi: “Chúng là con cậu à?” “Tất nhiên rồi,” anh vừa cười vừa đáp. “Cậu có mấy đứa?” “Năm! Ở nhà còn ba đứa nữa cơ.”

Anh nói điều này với vẻ tự hào, mãn nguyện, suýt chút nữa là đắc thắng, còn trong tôi dâng lên niềm thương hại sâu sắc, lẫn lộn với chút khinh miệt mơ hồ dành cho kẻ chỉ biết sinh sôi nảy nở một cách tự mãn và đơn thuần này.

Tôi lên một chiếc xe ngựa do chính tay anh điều khiển, và chúng tôi khởi hành băng qua thị trấn, một thị trấn buồn tẻ, ngái ngủ và ảm đạm nơi chẳng có gì chuyển động trên đường phố ngoài vài con chó và hai ba đứa ở gái. Thỉnh thoảng, một chủ tiệm đứng trước thềm nhà lại ngả mũ chào, và Simon gật đầu đáp lễ rồi kể cho tôi nghe tên của người đàn ông đó; chắc là để khoe với tôi rằng anh quen biết cá nhân tất cả mọi cư dân nơi đây, và ý nghĩ chợt lóe lên trong đầu tôi rằng anh đang ấp ủ dự định ra tranh cử vào Hạ viện, giấc mơ của tất cả những kẻ chôn vùi cuộc đời mình chốn tỉnh lẻ.

Chẳng mấy chốc chúng tôi đã ra khỏi thị trấn, chiếc xe rẽ vào một khu vườn được bài trí mô phỏng theo kiểu công viên, và dừng lại trước một ngôi nhà có tháp pháo, đang cố bày ra vẻ ngoài của một dinh thự quý tộc.

“Hang ổ của tớ đấy,” Simon nói, cốt để tôi cất lời khen ngợi. “Thật là mê ly,” tôi đáp.

Một phu nhân xuất hiện trên bậc thềm, diện đồ trang trọng để tiếp khách với những câu chào xã giao đã được chuẩn bị sẵn sàng. Bà không còn là cô tiểu thư tóc vàng nhạt nhẽo mà tôi từng thấy trong nhà thờ mười lăm năm trước, mà đã trở thành một người phụ nữ đẫy đà với những lọn tóc uốn xoăn và váy vóc diêm dúa, một trong những người phụ nữ ở cái tuổi lỡ cỡ, chẳng có lấy chút trí tuệ, chẳng có lấy nổi bất kỳ phẩm chất nào làm nên nét duyên của một người phụ nữ. Tóm lại, bà ấy là một người mẹ, một người mẹ béo ú, tầm thường, một cỗ máy sinh sản con người chẳng màng đến điều gì khác ngoài bầy con cái và cuốn sách nấu ăn.

Bà chào đón tôi, và tôi bước vào sảnh, nơi ba đứa trẻ đứng xếp hàng theo chiều cao trông như thể đang chờ duyệt binh, giống như đám lính cứu hỏa đứng trước ngài thị trưởng, và tôi thốt lên: “À! Ồ! hóa ra là mấy đứa trẻ khác nữa ư?” Simon nở nụ cười rạng rỡ niềm vui, lần lượt giới thiệu chúng: “Jean, Sophie và Gontran.”

Cửa phòng khách đang mở rộng. Tôi bước vào, và ở sâu trong góc chiếc ghế bành, tôi nhìn thấy một sinh thể đang run rẩy, một người đàn ông già cỗi, bại liệt. Phu nhân Radevin bước đến và cất lời: “Thưa ông, đây là ông ngoại tôi, cụ năm mươi bảy tuổi.” Rồi bà hét lớn vào đôi tai đang run lẩy bẩy của ông cụ: “Thưa bố, đây là bạn của Simon ạ.” Cụ ông cố gắng nói lời “chào” với tôi, lẩm bẩm: “Oua, oua, oua,” và khua khua tay, còn tôi thì an tọa và cất lời: “Ngài thật khách sáo quá.”

Simon vừa bước vào, anh vừa cười vừa nói: “Thế nào! Cậu đã làm quen với ông ngoại rồi chứ. Cụ là một báu vật đấy, ông già ấy chính là niềm vui của lũ trẻ. Nhưng cụ ham ăn đến mức suýt tự sát sau mỗi bữa ăn; cậu chẳng thể tưởng tượng nổi cụ sẽ ngốn những gì nếu được phép làm theo ý thích đâu. Nhưng rồi cậu sẽ thấy, sẽ thấy thôi. Cụ nhìn tất cả mấy món ngọt cứ như thể chúng là mấy cô thiếu nữ vậy. Cậu chưa từng thấy cảnh nào buồn cười thế đâu; lát nữa cậu sẽ được mục sở thị.”

Sau đó, tôi được dẫn về phòng để thay trang phục chuẩn bị dùng bữa tối, và khi nghe thấy tiếng động ồn ào ở phía sau lưng trên cầu thang, tôi quay lại và thấy tất cả lũ trẻ đang lẽo đẽo nối đuôi theo sau cha chúng; chắc là để bày tỏ lòng kính trọng với tôi đây mà.

Cửa sổ phòng tôi nhìn ra một đồng bằng buồn tẻ, bất tận, một đại dương cỏ xanh, lúa mì và yến mạch, chẳng có lấy một cụm cây hay một gò đất cao nào, một bức tranh thật nổi bật và u sầu về cuộc sống mà hẳn họ đang phải trải qua trong ngôi nhà này.

Một hồi chuông reo lên; đó là giờ ăn tối, và tôi bước xuống nhà. Phu nhân Radevin tay trong tay vịn lấy cánh tay tôi với vẻ trang trọng, và chúng tôi bước vào phòng ăn. Một tên đầy tớ đẩy chiếc xe lăn chở ông cụ vào. Cụ đưa ánh mắt thèm thuồng và tò mò nhìn chằm chằm vào bàn tráng miệng, khi khó nhọc quay cái đầu đang run rẩy của mình từ đĩa thức ăn này sang đĩa thức ăn khác.

Simon xoa xoa hai bàn tay vào nhau: “Cậu sẽ thấy thú vị cho mà xem,” anh nói; và lũ trẻ hiểu ngay rằng tôi sắp được chiêm ngưỡng ông cố ham ăn của chúng, liền bắt đầu khúc khích cười, trong khi mẹ chúng chỉ mỉm cười và nhún vai, còn Simon thì chụm hai tay làm loa phóng thanh rồi hét lớn vào tai ông cụ: “Tối nay có món cơm nếp ngọt đấy nhé!” Khuôn mặt nhăn nheo của ông cụ bỗng bừng sáng, và cụ run lẩy bẩy dữ dội hơn từ đầu đến chân, cho thấy cụ đã hiểu và vô cùng sung sướng. Bữa tối bắt đầu.

“Cậu cứ nhìn mà xem!” Simon thì thầm. Ông cụ không thích món súp và nguầy nguậy từ chối ăn; nhưng cụ buộc phải nuốt vì sức khỏe của chính mình, và gã đầy tớ thô bạo nhét chiếc thìa vào miệng cụ, trong khi ông cụ dùng dằng thổi phì phì thật mạnh để chống lại việc nuốt món súp, khiến nó văng tứ tung như nước bắn khắp bàn ăn và dính cả lên người những người ngồi bên cạnh. Lũ trẻ quằn quại cười bò trước cảnh tượng đó, trong khi người cha, cũng tỏ ra vô cùng thích thú, cất lời: “Ông già có buồn cười không cơ chứ?”

Trong suốt bữa ăn, sự chú ý của họ hoàn toàn đổ dồn vào cụ. Cụ ngấu nghiến nuốt trọn các món ăn trên bàn bằng ánh mắt, và cố với lấy để kéo chúng về phía mình bằng đôi bàn tay run rẩy. Họ cố tình đặt chúng sát tầm với của cụ, chỉ để ngắm nhìn những nỗ lực vô vọng, những cái với tay run rẩy, sự van nài thảm hại toát lên từ toàn bộ con người cụ, từ đôi mắt, khóe miệng cho đến chiếc mũi đang hít hà mùi thơm, và cụ chảy cả dãi dớt lên chiếc khăn ăn vì quá thèm thuồng, miệng phát ra những thứ âm thanh gừ gừ không rõ lời. Và cả gia đình được một trận cười thỏa thích trước cảnh tượng vừa kinh hãi vừa kệch cỡm này.

Rồi họ đặt một mẩu nhỏ xíu lên đĩa của cụ, và cụ ăn với vẻ thèm thuồng cuồng nhiệt, cốt để được cho ăn thêm một chút nữa càng nhanh càng tốt, và khi món cơm ngọt được mang lên, cụ suýt lên cơn đau tim, rên rỉ vì thèm khát, và Gontran hét lớn vào mặt cụ:

“Ông ăn quá nhiều rồi đấy; ông không được ăn nữa đâu.” Và họ làm bộ không cho cụ ăn nữa. Lúc ấy cụ bắt đầu khóc; cụ khóc và run lẩy bẩy dữ dội hơn bao giờ hết, trong khi lũ trẻ cười rộ lên. Cuối cùng thì họ cũng bố trí cho cụ một phần ăn, một nhúm thật nhỏ; và vừa nuốt miếng đầu tiên, cụ liền phát ra một âm thanh kỳ cục trong cổ họng, kèm theo cái động tác vươn cổ giống hệt loài vịt khi chúng nuốt phải một miếng quá to, và khi đã nuốt trôi, cụ bắt đầu dậm chân thình thịch để đòi thêm nữa.

Tôi bỗng dâng trào niềm thương cảm sâu sắc cho Tantalus bi hài này, và đành lên tiếng can thiệp thay cho cụ:

“Thôi nào, cho cụ ăn thêm một chút cơm nữa đi!” Nhưng Simon đáp lại:

“Ôi không, anh bạn thân mến ạ, nếu cụ ăn nhiều quá sẽ có hại cho sức khỏe ở cái tuổi này đấy.”

Tôi nín lặng, ngẫm nghĩ về những lời đó. Ôi đạo đức! Ôi lô-gích! Ôi sự thông thái! Ở cái tuổi này! Thế là họ tước đoạt đi niềm vui duy nhất còn lại của cụ chỉ vì sự an khang của cụ ư! Sức khỏe của cụ cơ chứ! Với một đống tàn tích rệu rã và run lẩy bẩy thế này thì cụ còn làm được gì với nó nữa? Họ đang chăm lo cho sinh mạng của cụ, họ bảo thế. Sinh mạng của cụ ư? Còn lại bao nhiêu ngày nữa chứ? Mười, hai mươi, năm mươi, hay một trăm? Để làm gì chứ? Vì lợi ích của chính cụ ư? Hay để duy trì thêm một thời gian nữa cái trò hề thị uy sự bất lực và thèm khát của cụ ngay giữa chốn gia đình.

Cụ chẳng còn việc gì để làm trên cõi đời này nữa, tuyệt đối chẳng còn gì. Cụ chỉ còn sót lại một mong muốn duy nhất, một niềm vui độc nhất; cớ sao lại không ban cho cụ chút an ủi cuối cùng ấy cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay?

Sau khi chơi bài một hồi lâu, tôi lên phòng và đi ngủ; tâm trạng tôi trĩu nặng và buồn bã, buồn, buồn, buồn lắm! và tôi ngồi thẫn thờ bên khung cửa sổ. Bên ngoài chẳng có âm thanh nào lọt vào tai ngoại trừ tiếng hót tuyệt diệu của một chú chim trên cành cây đâu đó từ đằng xa. Chắc hẳn chú chim nhỏ đang cất tiếng hót khe khẽ trong đêm khuya để ru người bạn đời đang say ngủ trên bầy trứng của mình. Và tôi nghĩ về năm đứa con của người bạn tội nghiệp, rồi hình dung ra cảnh anh ta đang ngáy khò khò bên cạnh người vợ xấu xí của mình.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.