Tuyển Tập Truyện Ngắn Nguyên Bản Hoàn Chỉnh Của Guy De Maupassant

Lượt đọc: 2976 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Kẻ Bị Bỏ Rơi

❊ ❊ ❊

“Em thật sự điên rồi khi quyết định đi dạo vùng quê trong cái thời tiết thế này, mình ạ. Hai tháng nay, em toàn bày ra những ý nghĩ kỳ quặc. Em kéo anh ra miền biển bất chấp sự can ngăn của anh, dù trong suốt bốn mươi bốn năm chung sống, chưa bao giờ em có cái hứng thú dở hơi ấy. Em chọn Fécamp, một thị trấn tẻ ngắt, mà chẳng thèm bàn bạc gì với anh, và giờ đây, lại đâm ra cuồng chân đi bộ — một người vốn chẳng bao giờ chịu nhấc chân đi đâu — lại còn muốn đi dạo ở chốn đồng quê vào cái ngày nóng nhất trong năm. Hay em cứ bảo d'Apreval đi cùng đi, lão ta sẵn sàng chiều mọi ý thích quái gở của em đấy. Còn anh, anh về phòng đánh một giấc đây.”

Bà de Cadour quay sang người bạn cũ và nói:

“Ông đi cùng tôi nhé, thưa ngài d'Apreval?”

Ông cúi đầu cười, với tất cả vẻ lịch thiệp của thời trai trẻ:

“Tôi sẽ đi bất cứ đâu bà muốn,” ông đáp.

“Thế thì hay lắm, đi đi để mà ăn nắng cho trúng gió,” ông de Cadour nói rồi quay về khách sạn Des Bains để ngả lưng một hai tiếng đồng hồ.

Vừa lúc chỉ còn lại hai người, bà cụ và người bạn già liền cất bước, và bà khẽ nói với ông, tay siết chặt lấy tay ông:

“Cuối cùng thì... cuối cùng thì cũng tới!”

Ông thì thầm: “Bà điên thật rồi. Tôi bảo đảm là bà mất trí rồi đấy. Hãy nghĩ đến cái rủi ro mà bà đang tự chuốc lấy xem. Nhỡ gã đó—”

Bà giật nảy mình.

“Ôi! Henri, đừng gọi gã đó khi anh đang nhắc đến nó.”

Ông nói cộc lốc: “Thì tùy, nhưng nếu con trai chúng ta lờ mờ đoán ra điều gì, nếu nó mảy may nghi ngờ, nó sẽ nắm thóp bà, nắm thóp cả hai chúng ta trong tay đấy. Đã bốn mươi năm nay bà sống tốt mà chẳng cần gặp mặt nó cơ mà. Hôm nay bà bị làm sao thế hả?”

Họ đã đi hết con phố dài dẫn từ bờ biển lên thị trấn, và bây giờ rẽ phải để đi về hướng Étretat. Con đường trắng xóa trải dài trước mắt họ dưới bầu trời nắng gắt rực rỡ, khiến họ cứ thế lầm lũi bước đi chậm chạp trong cái nóng như thiêu như đốt. Bà đã bám lấy tay người bạn cũ, mắt đăm đăm nhìn thẳng về phía trước với một vẻ hoảng hốt, vô hồn, rồi cuối cùng bà cất tiếng:

“Thế ra anh cũng không hề gặp lại nó sao?”

“Không, chưa bao giờ.”

“Sao lại thế được cơ chứ?”

“Bạn hiền của tôi ơi, xin đừng khơi lại chuyện đó nữa. Tôi có vợ con còn bà có chồng, cả hai chúng ta đều có quá nhiều thứ phải dè chừng miệng lưỡi thiên hạ.”

Bà không đáp; tâm trí bà đang chìm đắm trong quãng thời gian tuổi trẻ xa xôi và biết bao nỗi niềm cay đắng đã qua. Sao bà có thể nhớ rõ từng chi tiết nhỏ nhặt của tình bạn thuở ban đầu đến thế: những nụ cười của ông, cách ông cứ nấn ná đứng lại để dõi theo bà cho khuất dạng vào tận trong nhà. Đó là những ngày tháng hạnh phúc biết bao, những ngày tươi đẹp thực sự duy nhất mà bà từng được hưởng, vậy mà chúng lại trôi qua nhanh đến nhường nào!

Và rồi... lúc bà phát hiện ra sự thật — và cái giá đắt mà bà phải trả! Thật là đớn đau làm sao!

Cả chuyến đi đến miền Nam ấy, chuyến đi đằng đẵng, những dằn vặt, nỗi kinh hoàng bủa vây, cuộc sống giam mình trong ngôi nhà nhỏ biệt lập bên bờ Địa Trung Hải, nằm tút phía cuối khu vườn mà bà chẳng dám đặt chân bước ra ngoài. Bà nhớ làm sao những ngày dài dằng dặc nằm dài dưới tán cây cam, ngẩng đầu nhìn những quả cam tròn vo, đỏ mọng ẩn mình giữa kẽ lá xanh rì. Bà thèm thuồng biết bao được đi ra tận mép biển, nơi những luồng gió mát rượi thổi qua bức tường rào đến bên bà, nơi bà có thể nghe tiếng sóng vỗ ì oạp vào bờ cát. Bà mơ về một không gian xanh thẳm bao la lấp lánh dưới ánh mặt trời, với những cánh buồm trắng của mấy chiếc thuyền nhỏ và bóng mờ của ngọn núi ở tận chân trời. Thế nhưng bà chẳng dám bước chân ra khỏi cổng. Lỡ có ai nhận ra bà thì sao?

Và những ngày tháng mòn mỏi chờ đợi, những ngày tột cùng khốn khổ và hy vọng ấy! Nỗi đau đớn cận kề, rồi cả đêm tối kinh hoàng đó nữa! Biết bao cay đắng bà đã phải chịu đựng, và đó là một đêm như thế nào chứ! Bà đã rên rỉ và gào thét biết bao! Bây giờ bà vẫn như còn thấy gương mặt tái nhợt của người tình cứ chốc chốc lại cúi xuống hôn tay bà, gương mặt nhẵn nhụi không râu của vị bác sĩ và chiếc mũ trắng của mụ y tá.

Và cảm giác khi nghe tiếng khóc yếu ớt của đứa trẻ, tiếng oe oe ấy, nỗ lực cất tiếng đầu tiên của một sinh linh!

Rồi ngày hôm sau! Ngày hôm sau nữa! Ngày duy nhất trong đời bà được nhìn ngắm và ôm hôn con trai mình; bởi kể từ khoảnh khắc ấy, đến một cái bóng của nó bà cũng chưa từng được thấy lại.

Và quãng đời dài dằng dặc, trống rỗng biết bao của bà kể từ dạo đó, với hình bóng đứa trẻ ấy cứ luôn, luôn lởn vởn trước mắt. Kể từ dạo đó, dù chỉ một lần, bà cũng chưa từng được gặp lại con trai mình, sinh linh bé bỏng từng là một phần máu thịt của chính bà; người ta đã tước nó khỏi tay bà, bồng đi và đem giấu biệt. Tất cả những gì bà biết là nó được nuôi dưỡng bởi mấy người nông dân ở vùng Normandy, rằng nó đã trở thành một nông dân thực thụ, có một cuộc hôn nhân yên bề gia thất, và cha nó — người mà nó chẳng hề hay biết tên tuổi — đã để lại cho nó một khoản tiền kha khá.

Bốn mươi năm qua, biết bao lần bà khao khát được đến thăm và ôm con vào lòng! Bà không thể hình dung nổi rằng nó đã lớn khôn! Trong tâm trí, bà vẫn mãi đinh ninh đó là hạt bụi người bé xíu mà bà từng ôm gọn trong vòng tay, áp chặt vào lồng ngực trong suốt một ngày trời.

Biết bao lần bà đã thốt lên với ông d'Apreval: “Tôi không chịu nổi nữa đâu; tôi phải đi gặp nó.”

Nhưng ông luôn luôn ngăn cản, không cho bà đi. Bà sẽ chẳng thể kìm nén và làm chủ được bản thân; con trai họ sẽ nhận ra và lợi dụng điểm yếu đó để tống tiền bà; đời bà thế là tiêu tùng.

“Trông nó thế nào?” bà hỏi.

“Tôi không biết. Tôi cũng có gặp lại nó đâu.”

“Sao lại thế được cơ chứ? Sinh ra một đứa con mà không biết mặt nó; phải sợ hãi và chối bỏ nó cứ như thể nó là một vết nhơ! Thật là kinh tởm.”

Họ cứ thế lê bước trên con đường đầy bụi bặm, kiệt sức vì cái nắng cháy da cháy thịt và cứ cặm cụi leo mãi con dốc dài vô tận.

Bà tiếp tục: “Người ta cứ thế này thì khác nào bị trừng phạt; tôi chẳng thể sinh thêm đứa con nào khác, và tôi đã không thể cưỡng lại được khao khát muốn gặp nó — niềm khao khát đã hành hạ tôi suốt bốn mươi năm nay. Đàn ông các người sao hiểu thấu điều đó. Anh phải nhớ rằng tôi chẳng còn sống được bao lâu nữa, nhỡ mà tôi không bao giờ được gặp nó, chưa từng một lần được nhìn mặt nó thì sao!... Sao lại có thể như thế được chứ? Sao tôi có thể nhẫn nại chờ đợi lâu đến thế? Ngày nào tôi cũng nghĩ về nó, và quãng đời của tôi mới khốn khổ làm sao! Chưa bao giờ, chưa bao giờ — anh hiểu không — khi thức dậy mà ý nghĩ đầu tiên của tôi lại không hướng về nó, về đứa con của tôi. Giờ nó ra sao rồi nhỉ? Ồ, tôi thấy mình tội lỗi với nó biết nhường nào! Lẽ nào trong một hoàn cảnh thế này mà người ta vẫn phải sợ miệng lưỡi thiên hạ? Lẽ ra tôi phải bỏ lại tất cả để đi tìm nó, nuôi nấng nó và bày tỏ tình yêu thương với nó. Chắc chắn tôi đã hạnh phúc hơn nhiều, nhưng tôi đã không dám, tôi thật là hèn nhát. Tôi đã đau đớn biết bao! Ôi, những đứa trẻ bất hạnh bị bỏ rơi ấy chắc phải căm hận mẹ chúng biết nhường nào!”

Bà đột ngột khựng lại, nghẹn ngào vì những tiếng nấc. Cả thung lũng chìm trong vẻ hoang vắng và lặng tờ dưới thứ ánh sáng chói lòa cùng cái nóng ngột ngạt, chỉ có tiếng ve kêu râm ran không dứt lẫn trong đám cỏ vàng thưa thớt dọc hai bên đường.

“Ngồi nghỉ một lát đi em,” ông nói.

Bà để cho ông dìu ra vệ đường rồi khuỵu xuống, hai tay che mặt. Mái tóc bạch kim xõa thành những lọn xoăn ở hai bên má đã rối bù lên. Bà khóc nức nở, bị nhấn chìm bởi niềm đau quặn thắt, trong khi ông đứng trước mặt, đầy lo âu và chẳng biết phải nói gì hơn, đành lẩm bẩm: “Thôi nào, hãy can đảm lên em.”

Bà đứng dậy.

“Vâng, em biết rồi,” bà nói, vừa lau nước mắt vừa cất bước đi tiếp với dáng vẻ xiêu vẹo của một người phụ nữ tuổi đã cao.

Đi thêm một đoạn nữa, con đường chạy dưới một lùm cây che khuất dăm ba ngôi nhà, và họ có thể nghe rõ tiếng búa đe đập đều đặn, vang động của một lò rèn; chẳng mấy chốc, họ nhìn thấy một chiếc xe ngựa đỗ bên tay phải đường trước một ngôi nhà tranh thấp lè tè, và hai người đàn ông đang đóng móng cho một con ngựa dưới mái hiên.

Ông d'Apreval tiến lại gần họ.

“Trang trại của Pierre Bénédic nằm ở đâu vậy các anh?” ông hỏi.

“Cứ theo con đường bên trái, ngay gần quán trọ, rồi đi thẳng; đó là ngôi nhà thứ ba tính từ nhà Poret. Có một cây vân sam nhỏ ngay cạnh cổng; các người không thể nhầm được đâu.”

Họ rẽ sang trái. Lúc này bà đi rất chậm, đôi chân như muốn khuỵu xuống, và trái tim đập loạn nhịp mạnh đến mức bà có cảm giác như mình sắp nghẹt thở, miệng lẩm bẩm sau mỗi bước chân cứ như đang cầu nguyện:

“Lạy Chúa! Ôi lạy Chúa!”

Ông d'Apreval, vốn cũng đang bồn chồn và tái mặt, bèn cất giọng có phần cộc cằn với bà:

“Nếu em không tài nào kiềm chế được cảm xúc của mình, em sẽ tự tố cáo bản thân ngay lập tức đấy. Cố gắng kìm nén lại xem nào.”

Bà đáp: “Sao mà kìm được cơ chứ? Con trai tôi! Nghĩ đến việc tôi sắp được gặp con mình.”

Họ đang đi dọc theo một trong những lối đi nhỏ ở vùng quê nằm giữa các khoảng sân nông trại, bị che khuất bởi hai hàng cây dẻ gai rợp bóng ở hai bên bờ rãnh, và đột nhiên họ thấy mình đứng trước một cánh cổng có cây vân sam non mọc bên cạnh.

“Đến nơi rồi,” ông nói.

Bà khựng lại đột ngột, đưa mắt ngắm nhìn xung quanh. Khoảng sân rộng được trồng toàn táo và kéo dài đến tận ngôi nhà tranh nhỏ. Phía đối diện là chuồng ngựa, chuồng bò, nhà kho và chuồng gia cầm, trong khi chiếc xe cút kít, xe ngựa và xe chở phân được để dưới một nhà xưởng lợp ngói đá phiến. Bốn con bê đang gặm cỏ dưới bóng râm của những tán cây và những con gà mái đen đang tha thẩn khắp khoảng sân.

Mọi thứ hoàn toàn tĩnh lặng; cửa nhà mở toang nhưng chẳng thấy bóng người, vì vậy họ cứ thế bước vào, và ngay lập tức, một con chó đen to lớn từ trong cái thùng phuy đặt dưới gốc cây lê chồm ra, sủa vang trời.

Có bốn tổ ong đặt trên những tấm ván áp vào tường nhà.

Ông d'Apreval đứng bên ngoài cất tiếng gọi:

“Có ai ở nhà không?”

Lúc đó một đứa trẻ xuất hiện, một bé gái chừng mười tuổi, mặc chiếc áo lót trong và váy đầm bằng vải lanh, đôi chân trần lem luốt với ánh mắt vừa rụt rè vừa gian xảo. Nó đứng ì ra ngay ngưỡng cửa như để ngăn không cho ai bước vào.

“Các người tìm ai?” nó hỏi.

“Bố cháu có nhà không?”

“Không.”

“Ông ấy đâu rồi?”

“Cháu không biết.”

“Còn mẹ cháu?”

“Đi lùa bò rồi.”

“Bà ấy có về ngay không?”

“Cháu không biết.”

Rồi bỗng nhiên người phụ nữ, như thể sợ rằng người đi cùng sẽ ép mình quay về, vội vã nói:

“Tôi sẽ không đi đâu khi chưa gặp được nó.”

“Chúng ta sẽ đợi nó, bạn hiền của tôi ạ.”

Khi họ quay người hướng ra ngoài, họ thấy một người phụ nữ nhà quê đang đi về phía ngôi nhà, trên tay xách hai chiếc xô tôn trông có vẻ nặng trĩu và đang lấp lánh dưới ánh nắng mặt trời.

Bà ta đi tập tễnh chân phải, khoác chiếc áo len nâu đã phai màu vì nắng và bạc thếch vì mưa, trông chẳng khác nào một ả tớ gái nghèo khổ, rách rưới và bẩn thỉu.

“Mẹ cháu về kìa,” đứa bé lên tiếng.

Khi đến gần nhà, bà ta ném cho hai kẻ lạ mặt cái nhìn đầy giận dữ và ngờ vực, rồi bước thẳng vào trong nhà như thể chẳng hề nhìn thấy họ. Bà ta trông già nua với gương mặt cứng đờ, ngăm đen và chi chít nếp nhăn, một trong những gương mặt thô kệch như tượng gỗ mà người nhà quê hay có.

Ông d'Apreval cất tiếng gọi giật lại:

“Xin lỗi bà, nhưng chúng tôi ghé vào đây để hỏi xem bà có thể bán cho chúng tôi hai ly sữa được không.”

Bà ta càu nhàu bước ra ngạch cửa sau khi đã đặt hai chiếc xô xuống đất.

“Tôi không bán sữa,” bà ta đáp.

“Chúng tôi khát nước quá,” ông nói, “và phu nhân đây lại rất mệt. Chúng tôi xin mua chút gì uống được không?”

Người đàn bà nhà quê liếc nhìn họ đầy e dè và ranh mãnh, rồi cuối cùng cũng chịu buông xuôi.

“Đã đến đây rồi thì tôi cho,” bà ta nói, rồi quay vào nhà, và gần như ngay lập tức đứa bé mang ra hai chiếc ghế tựa đặt dưới gốc cây táo, tiếp đó người mẹ cũng mang ra hai bát sữa sủi bọt đưa cho khách. Tuy nhiên, bà ta không quay vào nhà mà đứng lì lại gần họ, như thể để canh chừng và tìm xem mục đích thực sự của họ khi đến đây là gì.

Bà ta cất lời: “Các người từ Fécamp tới à?”

“Vâng,” ông d'Apreval đáp, “chúng tôi đang nghỉ hè ở Fécamp.”

Và rồi, sau một thoáng im lặng, ông tiếp tục:

“Bà có gà để bán cho chúng tôi mỗi tuần không?”

Người đàn bà ngập ngừng giây lát rồi trả lời:

“Có chứ, chắc là có. Chắc các người muốn mua gà tơ chứ gì?”

“Vâng, đương nhiên rồi.”

“Ngoài chợ họ bán bao nhiêu một con?”

Ông d'Apreval, vốn chẳng có tí khái niệm nào, đành quay sang người đi cùng:

“Này phu nhân, em đang mua gà ở Fécamp giá bao nhiêu thế?”

“Bốn quan với bốn quan rưỡi,” bà đáp, mắt đẫm lệ, trong khi vợ người nông dân liếc xéo bà đầy vẻ ngạc nhiên và hỏi:

“Bà ấy ốm à, sao lại khóc thế kia?”

Ông chẳng biết phải đáp sao, đành ấp úng trả lời:

“Không — không — chỉ là cô ấy đánh rơi chiếc đồng hồ trên đường đi, một chiếc đồng hồ rất đẹp, nên cô ấy đang buồn. Nếu ai nhặt được, xin hãy báo cho chúng tôi.”

Mụ Bénédic không đáp lời vì thấy câu trả lời ấy có vẻ mập mờ, úp mở thế nào, nhưng rồi mụ ta đột ngột kêu lên:

“Ồ, chồng tôi về kìa!”

Mụ ta là người duy nhất nhìn thấy ông ta vì đang quay mặt về phía cổng. D'Apreval giật mình thon thót và bà de Cadour suýt ngã nhào khi hốt hoảng quay phắt người lại trên chiếc ghế.

Một người đàn ông lưng còng sát đất, thở hồng hộc, đang đứng cách họ chừng mười thước, tay kéo lê một con bò bằng sợi thừng. Chẳng thèm đếm xỉa gì đến đám khách khứa, ông ta cẩu thả thốt lên:

“Quỷ tha ma bắt! Con lợn cái này bướng thật!”

Rồi ông ta đi sượt qua họ và biến khuất vào trong chuồng bò.

Nước mắt của bà bỗng khô cong khi bà ngồi chết trân tại chỗ, câm n lặng với duy nhất một ý nghĩ trong đầu rằng đây chính là đứa con trai dứt ruột sinh ra, và d'Apreval — người cũng đang bị ám ảnh bởi ý nghĩ đó với một cảm giác vô cùng bất an — cất giọng đầy nghẹn ngào:

“Đây là ông Bénédic phải không?”

“Ai bảo anh tên ông ấy thế?” người vợ hỏi, vẫn mang vẻ nghi ngờ.

“Thì bác thợ rèn ở ngã tư đường cái lớn,” ông đáp, và rồi tất cả chìm vào im lặng, dán chặt mắt vào cánh cửa chuồng bò — thứ trông giống như một cái hang đen ngòm khoét trên bức tường. Chẳng thể nhìn thấy gì bên trong, chỉ nghe thấy những âm thanh mơ hồ, tiếng động dịch chuyển, tiếng bước chân và tiếng móng guốc cộp cộp bị lớp rơm trên sàn làm cho chết lặng, và chẳng mấy chốc người đàn ông lại xuất hiện ở ngưỡng cửa, tay trán đẫm mồ hôi, bước những bước dài chậm chạp tiến về phía ngôi nhà. Ông ta đi ngang qua những vị khách lạ mà chẳng thèm liếc mắt lấy một cái, rồi bảo vợ:

“Vào múc cho tao một vại táo lên men đi; tao khát khô cả cổ rồi đây.”

Rồi ông ta quay vào nhà trong khi vợ xuống hầm rượu, để mặc hai vị khách người Paris ở lại một mình.

“Đi thôi anh, đi thôi Henri,” bà de Cadour nói, tinh thần gần như suy sụp vì đau đớn, thế là d'Apreval bèn xốc nách đỡ bà đứng dậy, dùng hết sức mình dìu người phụ nữ mà ông cảm thấy sắp ngất đi ấy bước ra ngoài, sau khi đã vứt lại tờ năm quan lên một chiếc ghế.

Vừa bước ra khỏi cổng, bà đã bật khóc nức nở và run rẩy cất lời trong cơn đau quặn thắt:

“Ôi! Ôi! Anh đã biến nó thành cái nông nỗi này thế hả?”

Ông tái xanh mặt mày, lạnh lùng đáp:

“Tôi đã làm tất cả những gì có thể rồi. Trang trại của nó đáng giá tám mươi vạn quan, số vốn ấy còn lớn hơn nhiều so với cơ ngơi của con cái tầng lớp trung lưu đấy.”

Họ lầm lũi quay về mà chẳng nói với nhau câu nào. Bà vẫn tiếp tục khóc; những giọt nước mắt cứ thế trào ra lăn dài trên má một hồi lâu, nhưng rồi cũng vơi dần, và họ trở về Fécamp, nơi ông de Cadour đang chờ sẵn để ăn tối. Vừa nhìn thấy họ, ông ta đã cười vang và trêu chọc:

“Thế là vợ tôi bị trúng nắng rồi, mà tôi lại thấy mừng mới ghê chứ. Quả thật tôi nghĩ dạo này mụ ấy lẩm cẩm mất trí rồi ấy chứ!”

Cả hai người chẳng ai đáp lời, và khi người chồng vừa xoa tay vừa hỏi dồn:

“Nào, hy vọng là ít nhất hai người cũng có một buổi đi dạo thú vị chứ nhỉ?”

Ông d'Apreval bèn đáp:

“Một buổi đi dạo tuyệt vời, tôi xin đảm bảo với anh như thế; vô cùng tuyệt vời.”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.