Tám tiếng đồng hồ ngồi tàu hỏa có thể khiến người này chìm vào giấc ngủ nhưng lại làm kẻ khác trằn trọc mất ngủ; còn với tôi, bất kỳ chuyến đi nào cũng khiến tôi thao thức suốt đêm hôm sau.
Khoảng năm giờ chiều, tôi đến điền trang Abelle thuộc quyền sở hữu của những người bạn tôi, gia đình Muret d'Artus, để ở lại đó trong ba tuần. Đó là một ngôi nhà xinh xắn, do một người ông của họ xây dựng theo kiến trúc nửa sau thế kỷ trước. Vì thế, nơi đây mang cái vẻ thắm thiết của những chốn cư ngụ từng có người ở, được trang hoàng và thổi hồn bởi chính những con người ấy suốt bao thế hệ. Chẳng có gì thay đổi; chẳng có gì làm tổn hại đến tâm hồn của ngôi nhà, nơi đồ đạc chưa từng bị chuyển đi, những tấm thảm chưa từng bị gỡ xuống, để rồi cứ thế mòn đi, phai màu, đổi sắc trên chính những bức tường quen thuộc. Không một món đồ cổ nào rời khỏi nơi này; chỉ thỉnh thoảng chúng được dịch chuyển chút ít để nhường chỗ cho một món đồ mới, xuất hiện ở đó tựa như một đứa trẻ sơ sinh giữa chốn anh chị em hòa thuận.
Ngôi nhà nằm trên một ngọn đồi giữa khuôn viên công viên thoai thoải dốc xuống bờ sông, nơi có một cây cầu đá nhỏ. Bên kia dòng sông, những cánh đồng trải dài tít tắp, và từ đây người ta có thể nhìn thấy những chú bò thong thả đi lại, gặm đám cỏ đẫm sương; đôi mắt chúng dường như chứa đựng cả màn sương sớm, hơi ẩm và sự tươi mát của đồng cỏ. Tôi yêu ngôi nhà này, yêu hệt như cách người ta khao khát chiếm hữu một thứ gì đó tha thiết. Tôi trở lại đây vào mỗi độ thu sang với niềm vui khôn tả; và rời đi với nỗi tiếc nuối khôn nguôi.
Sau khi dùng bữa tối cùng gia đình thân thiện, những người đón tiếp tôi niềm nở như người thân trong nhà, tôi hỏi người bạn của mình, Paul Muret: “Năm nay anh sắp cho tôi ở phòng nào thế?”
“Phòng của dì Rose.”
Một tiếng đồng hồ sau, theo sau là ba đứa con của cô ấy, hai bé gái và một bé trai, phu nhân Muret d'Artus sắp xếp cho tôi vào ở căn phòng của dì Rose, nơi tôi chưa từng ngủ qua lần nào.
Khi chỉ còn lại một mình, tôi ngắm nhìn những bức tường, đồ đạc và tổng thể căn phòng để tâm hồn mình kịp hòa nhịp với không gian nơi đây. Tôi vốn chẳng quen thuộc gì với căn phòng này, vì mới chỉ bước vào đây một hoặc hai lần, và tôi dửng dưng nhìn bức chân dung vẽ phấn màu của dì Rose, người đã đặt tên cho căn căn phòng.
Bà dì Rose già nua ấy, với những lọn tóc xoăn, đang nhìn tôi từ đằng sau lớp kính, chẳng để lại mấy ấn tượng trong tâm trí tôi. Trong mắt tôi, bà giống như một phụ nữ của thời xưa cũ, với những nguyên tắc và giáo huấn về đạo đức cũng cứng nhắc hệt như công thức nấu ăn, một trong những bà cô cổ hũ vốn là nỗi khiếp sợ của sự vui vẻ, đồng thời là vị thiên thần nghiêm khắc với gương mặt đầy nếp nhăn của những gia đình chốn tỉnh lẻ.
Tôi chưa từng nghe ai nhắc đến bà; tôi chẳng biết gì về cuộc đời hay cái chết của bà. Bà thuộc về thế kỷ này hay thế kỷ trước? Bà đã giã biệt cõi đời này sau một quãng đời bình lặng hay giông tố? Bà đã dâng lên thiên đường cõi lòng thanh bạch của một trinh nữ, tâm hồn bình yên của một người vợ, tấm lòng dịu dàng của một người mẹ, hay một trái tim từng xao động vì yêu thương? Thì sao chứ? Chỉ riêng cái tên “dì Rose” thôi cũng đủ nghe thật nực cười, tầm thường và thô kệch.
Tôi cầm lấy ngọn nến và nhìn vào gương mặt nghiêm nghị của bà, được treo tít trên cao trong một chiếc khung mạ vàng cổ kính. Rồi, khi nhận ra nó thật tầm thường, khó ưa, thậm chí chẳng có chút thiện cảm nào, tôi bắt đầu quan sát đồ đạc trong phòng. Chúng có từ thời Louis XVI, thời kỳ Cách mạng và Đốc chính. Kể từ đó đến nay, không một chiếc ghế, không một tấm rèm nào được thêm vào căn phòng này, và nó tỏa ra thứ mùi thoang thoảng của những kỷ niệm – thứ mùi hòa quyện giữa gỗ, vải, ghế ngồi và những bức rèm trướng, mang nét đặc trưng của những chốn mà nơi ấy từng lưu dấu những trái tim biết yêu thương và đau khổ.
Tôi đi ngủ nhưng không sao chợp mắt được. Sau khi trằn trọc mất một hoặc hai tiếng đồng hồ, tôi quyết định trở dậy viết vài bức thư.
Tôi mở một chiếc bàn giấy nhỏ bằng gỗ gụ nạm đồng đặt giữa hai khung cửa sổ, với hy vọng tìm thấy chút mực và giấy; nhưng tất cả những gì tôi tìm thấy chỉ là một chiếc quản bút đã mòn vữa và bị gặm nham nhở ở phần đầu. Tôi định khép chiếc bàn lại, thì một đốm sáng chợt thu hút sự chú ý của tôi – nó trông giống như phần đầu vàng của một chiếc đinh. Tôi dùng móng tay cậy nhẹ, và thấy nó có vẻ dịch chuyển. Tôi bèn dùng hai móng tay kẹp chặt lấy và kéo hết sức có thể. Nó từ từ hé mở về phía tôi. Đó là một chiếcâm trâm dài bằng vàng đã được nhét vào một lỗ khoan trên gỗ và giấu kín ở đó.
Tại sao lại thế? Ngay lập tức, tôi nghĩ rằng nó hẳn dùng để lẫy một chiếc lò xo giấu kín bí mật nào đó, thế là tôi bắt đầu tìm kiếm. Phải mất một khoảng thời gian khá dài. Sau khoảng hai tiếng đồng hồ mày mò, tôi phát hiện ra một cái lỗ nữa nằm đối diện với cái đầu tiên, nhưng ở tận đáy của một rãnh trượt. Tôi thọc chiếc trâm của mình vào đó: một ngăn kéo nhỏ bật tung ra ngay trước mặt tôi, và tôi nhìn thấy hai bó thư ngả màu vàng ố, được buộc bằng một dải ruy băng màu xanh.
Tôi đọc chúng. Dưới đây là hai trong số những bức thư đó:
Vậy là anh muốn em trả lại cho anh những bức thư của anh, người bạn vô cùng thân thiết của em.
Chúng đây, nhưng tuân theo điều đó khiến lòng em đau đớn biết bao. Anh đang sợ điều gì chứ?
Sợ rằng em sẽ làm mất chúng ư? Nhưng chúng đang được khóa kín cẩn thận mà. Hay anh sợ chúng bị đánh cắp? Em đã đề phòng chuyện đó rồi, bởi chúng chính là báu vật quý giá nhất của đời em.
Đúng vậy, lòng em đau đớn vô cùng. Em đã tự hỏi, liệu có khi nào anh đang cảm thấy chút tiếc nuối hay không! Không phải tiếc nuối vì đã yêu em, bởi em biết anh vẫn còn yêu, mà là tiếc nuối vì đã gửi gắm lên trang giấy trắng thứ tình yêu sống động ấy vào những khoảnh khắc mà trái tim anh không thổ lộ với em, mà lại thổ lộ với ngòi bút đang cầm trên tay. Khi yêu, chúng ta có nhu cầu được thổ lộ, cần được trò chuyện hoặc viết lứa, và chúng ta hoặc là nói, hoặc là viết. Những lời nói rồi sẽ bay đi, những lời ngọt ngào làm từ âm nhạc, không khí và sự dịu dàng, vừa ấm áp vừa nhẹ tênh, thoát đi ngay khi vừa được thốt ra, chỉ đọng lại trong ký ức, nhưng ta chẳng thể nhìn thấy, chạm vào hay hôn lên như những con chữ do chính tay anh viết.
Những bức thư của anh ư? Vâng, em đang trả lại chúng cho anh đây! Nhưng với biết bao nỗi buồn phiền!
Chắc hẳn, anh đã có chút ngượng ngùng đầy tinh tế trước những lời lẽ không thể xóa nhòa. Trong tâm hồn nhạy cảm và rụt rè của mình, hẳn anh đã hối hận vì từng viết cho một người đàn ông rằng em yêu anh ấy. Anh nhớ lại những câu chữ khơi gợi ký ức, và tự nhủ với lòng mình: “Ta sẽ biến những lời ấy thành tro bụi.”
Hãy thỏa mãn đi, hãy yên lòng nhé. Thư của anh đây. Em yêu anh.
NGƯỜI BẠN CỦA EM:
Không, anh đã không hiểu em, anh đã đoán sai rồi. Em không hề hối hận, và sẽ chẳng bao giờ hối hận, vì đã thổ lộ tình cảm của mình với anh.
Em sẽ vẫn viết cho anh luôn, nhưng anh phải trả lại những bức thư ấy cho em ngay khi vừa đọc xong.
Em sẽ khiến anh phải sửng sốt, người bạn của em ạ, khi em nói cho anh biết lý do của yêu cầu này. Nó không hề thơ mộng như anh tưởng tượng đâu, mà rất thực tế. Em sợ, không phải sợ anh, mà sợ những bất trắc rủi ro. Em là kẻ có tội. Em không muốn lỗi lầm của mình ảnh hưởng đến ai khác ngoài chính bản thân em.
Hãy hiểu cho rõ ý em. Cả anh và em đều có thể chết. Anh có thể ngã ngựa, vì ngày nào anh cũng cưỡi ngựa; anh có thể chết vì một cơn bạo bệnh đột ngột, trong một trận đấu gươm, vì bệnh tim, vì tai nạn xe cộ, theo cả ngàn cách khác nhau. Bởi vì, dẫu cái chết chỉ có một, nhưng đường đến với nó thì lại nhiều hơn cả số ngày chúng ta được sống.
Khi ấy, các chị em gái, anh trai, hoặc chị dâu của anh có thể tìm thấy những bức thư của em! Anh có nghĩ rằng họ yêu quý em không? Em thì nghi ngờ lắm. Và rồi, ngay cả khi họ có tôn sường em đi chăng nữa, thì liệu hai người phụ nữ và một người đàn ông có thể giữ kín một bí mật – một bí mật tày đình như thế! – mà không đem ra bàn tán hay không?
Trông có vẻ như em đang nói những điều khó nghe lắm, khi hết nhắc đến cái chết của anh lại đến việc hoài nghi sự kín đáo của họ hàng anh.
Nhưng chẳng phải tất cả chúng ta rồi cũng sẽ chết sớm hay muộn hay sao? Và gần như chắc chắn rằng một trong hai chúng ta sẽ phải bước xuống nấm mồ trước người kia. Do đó, chúng ta phải lường trước mọi hiểm nguy, kể cả hiểm nguy ấy.
Còn về phần em, em sẽ giữ những bức thư của anh ở cạnh thư của em, trong chốn kín đáo của chiếc bàn giấy nhỏ này. Em sẽ cho anh thấy chúng ở đó, nằm gối đầu lên nhau trong chiếc ổ nhung êm ái, đong đầy tình yêu của đôi ta, tựa như những kẻ tình nhân trong nấm mồ.
Anh sẽ bảo em rằng: “Nhưng nếu em chết trước, em yêu, chồng em sẽ tìm thấy những bức thư này.”
Ồ! Em chẳng sợ gì cả. Trước hết, anh ấy đâu có biết bí mật của chiếc bàn giấy này, và hơn nữa anh ấy cũng sẽ chẳng mảy may tìm kiếm nó. Và dẫu cho anh ấy có tìm thấy đi chăng nữa sau khi em qua đời, em cũng chẳng sợ gì.
Anh đã bao giờ dừng lại để nghĩ về tất cả những bức thư tình được tìm thấy sau khi người ta chết chưa? Em đã nghĩ về điều đó từ lâu lắm rồi, và đó chính là lý do khiến em quyết định đòi lại những bức thư của mình.
Hãy nghĩ mà xem, chưa bao giờ, anh hiểu chứ, chưa bao giờ có chuyện một người phụ nữ đem đốt, xé hay tiêu hủy những bức thư nói với cô ấy rằng cô ấy được yêu. Đó là toàn bộ cuộc đời, toàn bộ hy vọng, sự chờ mong và ước mơ của chúng tôi. Những mẩu giấy nhỏ bé mang tên chúng tôi trong những lời lẽ mơn trớn ấy chính là những thánh tích mà chúng tôi sùng bái; chúng là những thánh điện nơi chúng tôi ngự trị như những vị thánh. Thư tình của chúng tôi chính là tấm bằng chứng nhận cho nhan sắc, sự duyên dáng, sức quyến rũ, là niềm kiêu hãnh thầm kín của nữ nhi chúng tôi; chúng là kho báu của trái tim tụi em. Không, phụ nữ không bao giờ tiêu hủy thứ tài liệu lưu trữ thầm kín và ngọt ngào ấy của cuộc đời mình.
Thế nhưng, cũng như bao người khác, chúng ta rồi cũng sẽ chết, và rồi – rồi những bức thư ấy sẽ bị phát hiện! Ai là kẻ tìm thấy chúng? Người chồng. Khi ấy anh ta sẽ làm gì? Chẳng làm gì cả. Anh ta đem đốt chúng đi.
Ồ, em đã suy nghĩ rất nhiều về điều đó! Hãy nghĩ xem, mỗi ngày trôi qua đều có những người phụ nữ từng được yêu thương ngã xuống; mỗi ngày đều có những dấu vết và bằng chứng về lỗi lầm của họ rơi vào tay các ông chồng, thế nhưng chưa từng có vụ bê bối nào xảy ra, chưa từng có cuộc quyết đấu nào cả.
Anh yêu hỡi, hãy ngẫm xem trái tim của một người đàn ông ra sao. Anh ta sẽ trả thù một người phụ nữ còn đang sống; anh ta sẽ chiến đấu một mất một còn với kẻ đã làm nhục cô ấy, sẽ giết gã đó khi cô ấy hãy còn sống, bởi vì... ừm, tại sao nhỉ? Em cũng không rõ chính xác là tại sao nữa. Nhưng, nếu sau khi cô ấy qua đời, anh ta tìm thấy những bằng chứng tương tự, anh ta sẽ lặng lẽ thiêu hủy chúng và chẳng ai hay biết điều gì, rồi anh ta vẫn tiếp tục bắt tay với người bạn của người đã khuất, cảm thấy vô cùng thoải mái vì những bức thư ấy đã không rơi vào tay kẻ lạ và đã bị hủy sạch.
Ồ, biết bao người đàn ông em quen trong số bạn bè của mình hẳn từng phải đốt đi những bằng chứng như thế, miệng thì vờ như chẳng biết gì, thế mà họ sẵn sàng chiến đấu điên cuồng biết bao nếu tìm thấy chúng khi người phụ nữ ấy hãy còn sống! Nhưng nàng đã chết. Danh dự đã đổi thay. Nấm mồ chính là ranh giới của tội lỗi phu thê.
Do đó, em hoàn toàn có thể giữ lại những bức thư của đôi ta, thứ mà nếu nằm trong tay anh, sẽ trở thành mối đe dọa cho cả hai chúng ta. Anh có dám bảo rằng em đã sai không?
Em yêu anh và trao anh ngàn hôn.
Tôi ngước mắt nhìn bức chân dung của dì Rose, và khi ngắm nhìn gương mặt nghiêm nghị, đầy nếp nhăn ấy của bà, tôi chợt nghĩ về tất cả những tâm hồn phụ nữ mà chúng ta chẳng thể nào thấu hiểu, những người vốn bị ta gán cho vẻ bề ngoài khác xa bản chất thật, những kẻ mà sự khôn ngoan bẩm sinh ngây thơ cùng thói hai mặt lặng thầm của họ chẳng tài nào dò thấu; và một câu thơ của De Vigny bỗng vọng về trong ký ức tôi:
“Luôn là người bạn đồng hành với một trái tim chẳng thể đoán định.”