Saving Fish From Drowning

Lượt đọc: 214 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
3. Tuổi Thơ Của Tôi Ở Thượng Hải

❊ ❊ ❊

Khi tôi còn là một đứa trẻ sơ sinh, mẹ tôi đã qua đời.

Chính người vợ cả của cha tôi đã nuôi nấng hai người anh trai và tôi khôn lớn. Bà tên là Bao Tian – "Bao Điềm, Nụ Hoa Ngọt Ngào", cái tên này không hợp với bà lắm đâu. Là con riêng của bà, chúng tôi đành phải gọi bà một cách thân thiết là Mẹ Điềm. Mọi tình cảm mà tôi thiếu hụt, đều nên trách là do bà. Còn tất cả sinh mạng của tôi, đều là do người mẹ ruột sinh ra.

Đối với Mẹ Điềm, nếu bà không khăng khăng đòi cha tôi cưới thiếp để tránh cho gia tộc đứt đoạn hương hỏa, thì có lẽ bà đã là người vợ duy nhất của cha.

"Đó là chủ ý của chính tôi," Mẹ Điềm luôn khoe khoang với mọi người, "Tôi không bị ép buộc chấp nhận sự sắp đặt này, hoàn toàn không phải."

Số phận đã định sẵn, Mẹ Điềm không thể sinh con.

Không lâu sau khi gả cho cha tôi, bà mắc bệnh đốm da, có lẽ là sởi hoặc thủy đậu, nhưng không trầm trọng bằng đậu mùa. Sau khi phát bệnh, bà thường khóc lớn, do đó đã cắt đứt nguồn nhiệt của cơ thể, không thể sinh ra đủ nhiệt lượng để nuôi dưỡng thai nhi. Ngược lại, có lượng nhiệt dư thừa phát ra từ trong cơ thể, khiến mặt và tay nổi mụn nước, có lẽ các bộ phận khác cũng có. Hết lần này đến lần khác, chúng tôi kinh ngạc, chắc chắn là kiếp trước bà đã gây ra tội nghiệt, nên kiếp này mới gặp phải báo ứng như vậy.

"Tôi đã phạm phải lỗi lầm nhỏ nào, mà phải chịu đựng hình phạt lớn thế này cơ chứ?" Bà vừa khóc vừa phàn nàn, những nốt mụn trên mặt càng đỏ hơn, "Không có con do chính mình sinh ra, chỉ có nghiệp chướng của người khác (ý chỉ các anh trai và tôi)."

Bất cứ khi nào bà ăn phải thứ gì không đúng cách, chẳng hạn như quả kim quất chưa chín hẳn, hoặc bị người khác châm chọc, trên mặt liền trồi lên những vết dầu mỡ, trông giống như bản đồ nước ngoài. "Bác có biết Ấn Độ nằm ở đâu không?" Chúng tôi sẽ hỏi bà, đồng thời cố nén để không bật cười. Để cảm thấy dễ chịu hơn, bà liền gãi ngứa thật mạnh, không ngừng phàn nàn, nói rằng mẹ tôi đã sinh ra tôi xấu xí nhường nào. Bà gãi rụng cả lông mày, lúc không vẽ mày thì trông giống như một vị ni cô chịu giới luật trên đỉnh đầu vậy. Chỉ có điều khác với ni cô là bà lúc nào cũng đùng đùng nổi giận.

Đó là ấn tượng mà Mẹ Điềm để lại trong tôi, luôn dùng những ngón tay nhọn hoắt gãi lên đôi lông mày trụi lủi, miệng thì không ngừng huyên thuyên tán gẫu. Các anh trai của tôi từng muốn thoát khỏi lòng bàn tay của bà. Họ có khả năng miễn nhiễm với ảnh hưởng của bà, đối xử với bà bằng sự hờ hững và khinh miệt. Do đó, mũi giáo của bà đều chĩa vào tôi.

"Ta nói cho con biết," Mẹ Điềm nghiêm túc nói với tôi, "Nghe lời ta rồi, sau này con có nghe người khác nói thế, thì cũng sẽ không bị đả kích nữa."

Sau đó, bà lại một lần nữa kể cho tôi nghe, mẹ tôi lùn y hệt như tôi, nhưng không lùn béo thế này, năm mười sáu tuổi mẹ tôi chỉ nặng bảy mươi cân, lúc đó cha tôi đã lừa gạt bà về làm vợ lẽ.

Mẹ Điềm không ngừng nói xấu mẹ tôi: "Bà ta tuy đáng thương, nhưng thực sự quá tham lam, ăn quá nhiều thứ, quá dễ kích động, cười đến mức không kiểm soát nổi bản thân, cười lăn lộn ra tận sàn nhà cho đến khi ta tát cho tỉnh táo mới thôi. Hơn nữa, bà ta ngủ quá nhiều, lại còn ngáp suốt ngày. Ngủ nhiều quá thì xương cốt sẽ mềm nhũn ra. Cho nên, bà ta mới suy sụp kiệt quệ giống như con hải sâm rời khỏi mặt nước vậy."

Thời kỳ chiến tranh, giá thịt lợn tăng vọt gấp ba lần, Mẹ Điềm thường xuyên tuyên bố: "Mặc dù chúng ta có đủ tiền, nhưng ta chỉ ăn một chút thịt là đã mãn nguyện rồi, chỉ nếm thử hương vị thôi, một tuần tuyệt đối không quá một lần. Thế nhưng lúc mẹ con còn sống, ánh mắt của bà ta cứ như loài chó hoang vậy, lúc nào cũng sẵn sàng chồm vào bất kỳ bãi thịt thối nào."

Mẹ Điềm nói rằng là một người phụ nữ đoan trang, phải biết kiềm chế đối với ăn uống và hưởng lạc, quan trọng nhất là không được trở thành gánh nặng cho gia đình. Mẹ Điềm hễ có cơ hội là lại tìm đủ mọi cách để cho cha tôi biết điều này.

Trong những năm tháng tuổi thơ của tôi, chúng tôi sống ở khu Tô giới Pháp tại Thượng Hải, trong một ngôi nhà kiểu Tudor ba tầng trên đường Masnon.

Mặc dù nơi này không bằng phẳng cấp cao như đường Lafayette nơi gia đình họ Tống và họ Khổng ở – biệt thự kèm theo khu vườn rộng lớn, sân chơi bóng chày, xe ngựa nhỏ. Nhưng dù sao chúng tôi cũng là gia đình danh giá lớn, ngôi nhà trông vẫn rất bề thế, thậm chí còn đẹp hơn cả những ngôi nhà trị giá hàng triệu đô la Mỹ ở San Francisco hiện nay.

Gia tộc của cha tôi bao gồm nhiều đời kinh doanh một nhà máy chế biến bông và kho hàng Trung Tín, do ông nội tôi thành lập năm 1923. Nó có lẽ không nổi tiếng bằng Bách hóa Trung Tín, quy mô cũng không lớn bằng, nhưng bông được chế biến có chất lượng tốt nhất trong số các mặt hàng cùng mức giá, tất cả khách hàng nước ngoài của cha tôi đều nói như vậy.

Ông là một tư sản Thượng Hải điển hình: hoàn toàn tuân thủ truyền thống trong gia đình, nhưng lại hoàn toàn hiện đại trong thương mại và thế giới bên ngoài. Sau khi bước ra khỏi cửa nhà, ông liền bước vào một vương quốc khác, tựa như một con tắc kè hoa. Khi cần thiết, ông còn nói được cả ngoại ngữ, phát âm tuyệt đối chuẩn xác – được mời riêng gia sư về dạy dỗ. Bởi vì phát âm có thể phân biệt giai cấp, tiếng Anh của ông là giọng Oxford, tiếng Pháp là giọng bờ phải, tiếng Đức là giọng Berlin. Ông còn biết tiếng La-tinh và một chút tiếng Mãn, tất cả các tác phẩm kinh điển văn học đều có bản dịch tiếng Mãn. Mái tóc của ông được chải ngược một cách suôn sẻ, bôi dầu bóng loáng, ông hút thuốc lá có đầu lọc, đề tài trò chuyện vô cùng rộng lớn, giống như một câu đố vậy. Ông cũng có hứng thú với sinh lý học và ẩm thực, điều này tất nhiên bắt nguồn từ truyền thống mỹ thực của người Trung Quốc. Ông có thể bàn luận rôm rả về cung điện Versailles, cũng có thể đem "Thần khúc - Luyện ngục" của Dante ra so sánh với "Hồng lâu mộng" của Trung Quốc. Trở về nhà, ông liền chuyển đổi lại thành một con người khác, vùi đầu đọc rất nhiều sách cũ, nhưng rất ít nói, hầu như bất động. Bởi vì trong ngôi nhà này, những người phụ nữ của ông tôn kính ông, phục tùng ông một cách chu đáo.

Những người bạn nước ngoài gọi cha là Philip. Tên tiếng Anh của anh trai tôi là Preston và Nobel, nghe rất cát tường, một người giống như "Tổng thống", người kia là giải Nobel mang lại vinh quang và tài phú to lớn. Mẹ Điềm chọn Bertha làm tên của mình, bởi vì cha tôi nói phát âm của Bertha rất giống "Bao Điềm", còn mẹ tôi thì được gọi là "Tiểu Bất Điểm", thực ra tên tiếng Anh cha đặt cho bà là "Elizabeth", nhưng bản thân bà phát âm không chuẩn.

Cha tôi gọi tôi là Bích Bích, vừa là tên phương Tây, vừa là tên viết tắt của cái tên "Bích Phương" mà mẹ đặt cho tôi.

Có thể tưởng tượng được, chúng tôi là một gia đình mang tính toàn cầu. Các anh trai và tôi có giáo viên tiếng Anh và tiếng Pháp, chúng tôi tiếp nhận nền giáo dục hiện đại. Điều này cũng khiến chúng tôi có một thứ ngôn ngữ bí mật trước mặt Mẹ Điềm, Mẹ Điềm chỉ biết tiếng Thượng Hải.

Có một lần, Nobel phát hiện ra chú chó lông xù dòng Bedlington vốn bị Mẹ Điềm chán ghét của chúng tôi, đã để lại chút tác phẩm trong phòng Mẹ Điềm – Il a fait de la merde sur le tapis, do hoa văn thảm che giấu phân của chó, mẹ kế của chúng tôi luôn không hiểu tại sao căn phòng lại nồng nặc mùi hôi thối. Các anh trai rất thích nhét những thứ bất ngờ vào lọ thuốc và hộp đựng thuốc hít của Mẹ Điềm. Caca d'oie, được thu thập từ những chiếc bút lông ngỗng đã qua sử dụng của chúng tôi, các anh trai thích nhất là nhét thứ này vào đó, bởi vì thứ này rất ghê tởm, vừa bẩn vừa dính, màu xanh lá cây giống như mật vậy. Lúc các anh kể chuyện này cho tôi nghe, tôi đã cười lăn lộn khắp sàn nhà. Tôi thật nhớ các anh trai biết bao!

Các anh trai vì đi học mà thường xuyên vắng nhà, Mẹ Điềm bèn nhân cơ hội đó để hành hạ tôi. Hễ tôi vừa ngồi xuống trước đàn piano, Mẹ Điềm lại bắt đầu lải nhải về việc mẹ tôi không hiểu âm nhạc thế nào, cho nên tôi cũng là một kẻ mù âm nhạc. Có lần tôi bênh vực mẹ, lớn tiếng nói với Mẹ Điềm rằng: Cha từng nói với khách khứa rằng, mẹ tôi "đánh bản 'Fantaisie Impromptu' của Chopin trôi chảy mây bay nước chảy".

"Hừ!" Mẹ Điềm vô cùng tức giận, "Đó là nói cho khách nước ngoài nghe thôi. Bọn họ đều thích khoác lác. Những kẻ đó không biết liêm sỉ, không có giáo dục, không biết phải quấy. Hơn nữa, bất kỳ đứa con gái nào cũng đánh được bài đó, nếu con chịu khó luyện tập một chút, con cũng đánh được."

Rồi bà ta dùng ngón tay chọc vào đầu tôi. Mẹ Điềm nói cha tôi không cần phải khen ngợi bà, bởi vì bọn họ vô cùng hiểu rõ đối nhau: "Hôn nhân nếu mĩ mãn hài hòa thì hoàn toàn không cần đến những lời thừa thãi, đây là do duyên phận của chúng ta đã được định sẵn từ kiếp trước."

Lúc đó, tôi không biết làm thế nào để hỏi bà, các anh trai cũng không hiểu thế nào là tình yêu, cho dù có biết, họ cũng sẽ không nói cho tôi biết. Cho nên tôi cho rằng một cuộc hôn nhân tốt đẹp, chính là người chồng tôn trọng sự riêng tư của vợ. Cha chưa bao giờ nhúng tay vào cuộc sống của bà, cũng không bước vào phòng bà, chưa bao giờ hỏi bà bất kỳ câu hỏi nào. Theo logic của Mẹ Điềm – từ khi những gì họ nghĩ đều giống nhau, thì cũng không cần thiết phải nói chuyện với nhau nữa lị.

Nhưng có một ngày, chú và gia đình chú đến nhà tôi ở vài tháng. Người chị họ Ngọc Hằng và tôi ở bên nhau từ sáng đến tối, mặc dù một năm mới gặp một lần nhưng chúng tôi thân thiết như chị em ruột. Lần ghé thăm đó, chị họ kể cho tôi nghe, chị ấy đã nghe được những lời đồn đại giữa chú thím với bạn bè – vào thời điểm đó, những lời đồn đại là con đường duy nhất để mọi người tìm hiểu sự thật.

Lời đồn liên quan đến Mẹ Điềm và cha tôi, nói rằng họ đã đính hôn từ khi chưa chào đời – năm 1909, hai thanh niên yêu nước du học ở Nhật Bản, cùng tham gia Đồng minh hội do Tôn Trung Sơn tiên sinh lãnh đạo, trở thành những đồng chí sinh tử có nhau, họ quỳ xuống thề: Tương lai cách mạng thành công lật đổ chính phủ Mãn Thanh, nếu hai người may mắn còn sống sót, sẽ để đời sau kết thông gia.

Chính phủ Mãn Thanh bị lật đổ vào năm 1911, vị đồng chí sinh được con trai tiếng tăm lừng lẫy, chính là người ông nổi tiếng của tôi. Còn gia đình bên kia sinh được con gái, đáng tiếc gia đạo sa sút, đó chính là gia tộc của Mẹ Điềm. Vị đồng chí nghèo túng mang theo con gái tìm đến vị đồng chí giàu sang phú quý, cẩn thận nhắc lại lời thề ban đầu, tiếc nuối vì không môn đăng hộ đối. Sự việc này lúc bấy giờ được đồn đại rộng rãi, gia nhân đều nói ông nội tôi quả là một trang nam tử hán trọng nghĩa khí, ép con trai trưởng phải thành thân với người con gái có gia thế bình thường, ngoại hình bình phua này. Thảo nào người con trai này lại nhanh chóng cưới thêm thiếp.

Tất nhiên, Mẹ Điềm có một lời lẽ khác: "Mẹ của con, là con của một người vợ lẽ trong một gia đình miễn cưỡng coi là trung lưu. Người vợ lẽ đó sinh được mười đứa con, trong đó chỉ có một đứa con gái, đứa con gái này đến năm mười sáu tuổi vẫn lùn béo phì, nhưng nghe nói có thể sinh con đẻ cái giỏi giang giống như mẹ nó. Ta liền giới thiệu nó cho cha con, cha con nói ta quả là một người hiền thê. Ta kiên quyết đòi ngựa đực nhất định phải ghép đôi với ngựa cái, ngựa cái sinh ra ngựa con, như vậy ông ấy sẽ không phải là con la."

Theo lời của Mẹ Điềm, mối quan hệ giữa cha tôi và mẹ tôi là "vô cùng khách sáo, giống như người xa lạ vậy". Thực ra, cha là người chu đáo đến mức thái quá, mẹ cũng học được cách lợi dụng điểm này.

Mẹ Điềm nói: "Bà ta là một mưu mô, bà ta mặc trang phục màu hoa hồng, cài kẹp tóc hình hoa, rủ ánh mắt đầy khiêu khích, rồi ngẩng mặt lên cười ngây ngô với cha con. Ồ, ta biết bà ta muốn làm gì rồi. Bà ta luôn đòi tiền cha con, để trả nợ cờ bạc cho chín người anh trai của mình. Biết được gia đình bà ta chẳng khác nào hang rắn thì đã quá muộn rồi. Lớn lên con tuyệt đối đừng giống bọn họ, nếu không ta sẽ thả chuột vào cắn con nửa đêm đấy."

Mẹ tôi quả thực rất giỏi sinh con, năm nào cũng mang thai, điểm này thì Mẹ Điềm nói đúng.

Mẹ Điềm đếm trên đầu ngón tay nói: "Bà ta sinh ra đại thiếu gia của con, rồi đến nhị thiếu gia. Sau đó có ba bào thai bị sảy, thật đáng tiếc, nhưng cũng không hẳn là bi kịch, bởi vì đều là con gái cả."

Tôi sinh năm 1937, năm đó quân đội Nhật Bản tấn công Thượng Hải, bùng nổ một trận chiến vô cùng khốc liệt với quân đội Trung Quốc.

May mà lúc đó khu Tô giới Pháp tương đối thái bình, Mẹ Điềm đã chứng kiến sự chào đời của tôi.

“Con phải nhìn thấy cảnh mẹ con mang thai con được chín tháng mới đúng. Bà ấy giống như quả dưa hấu lớn cắm trên chiếc đũa, đi đứng lững thững… Sáng sớm tinh mơ, bà ấy đã kêu là sắp sinh rồi, kết quả hại chúng ta đợi suốt một ngày một đêm. Bầu trời xám xịt, sắc mặt của mẹ con cũng vậy… Lúc con sinh ra thì quá to, khó sinh, bà đỡ mãi mới ẵm con ra được, người đầy máu.”

Tôi nghe xong run lẩy bẩy, chẳng lẽ sự ra đời của tôi chính là địa ngục A-tỳ hay sao?

“Mẹ con đặt tên cho con là Bích Phương, trời xanh chứng giám, ta đã khuyên bà ấy đổi tên khác rồi. Bà ấy nói, ‘Bích Phương – ngọc trắng đẹp nhường nào’ nghe giống như áp phích quảng cáo, mọi người đều thích nghe. ‘Bích Phương, Bích Phương, mau mua Bích Phương nào!’ Hừ, ‘Đánh rắm’ mới là cái tên thích hợp với con đấy. Giống như một bãi rắm mà mẹ con đã thả ra vậy.”

Mẹ Điềm lấy ra một chiếc kẹp tóc đưa cho tôi xem, nhưng quyết chết không cho tôi chạm vào.

“Bởi vì cha con đưa cho mẹ con thứ xấu xí này để kỷ niệm sự ra đời của con, cho nên bà ấy mới đặt tên cho con là Bích Phương.”

Đây là một chiếc kẹp tóc tinh xảo được chạm khắc từ ngọc phỉ thúy màu xanh lục, bên trên được cẩn những viên kim cương nhỏ hình hoa mẫu đơn. Phụ nữ cài chiếc kẹp tóc này lên đầu, lập tức tràn ngập sắc xuân.

Ngay cái nhìn đầu tiên thấy chiếc kẹp tóc, tôi đã biết tại sao mình lại có tên là Bích Phương: Tôi là viên ngọc quý mà mẹ nâng niu, là kho báu của mẹ, là mùa xuân huy hoàng của mẹ – Bích Phương.

Mà Mẹ Điềm đáng ghét vậy mà lại muốn đổi tên cho tôi.

Nhưng bản thân tôi đã nghĩ ra một cái tên thích hợp hơn: “Con thích cái tên Bích Bích, bố gọi con như vậy mà.”

“Được rồi, cái tên này cũng chẳng có gì hay ho, quá phổ biến. Vợ của một khách hàng người Đức của bố con cũng tên là Bích Bích. Bố con hỏi cô ta: Ở Đức, Bích Bích có phải là cái tên không bình thường không. Cô ta nói: Tuyệt đối không phải, ‘Bích Bích’ có thể dùng làm tên tiếng Pháp, có thể là người Đức, người Ý, ở đâu cũng có. Bố con vỗ tay khen ngợi, nói có một từ rất thích hợp: Bích bích giai thị – ý là đâu đâu cũng có. Bố con vì phép lịch sự, liền nói đã đâu đâu cũng có thì nhất định là rất thịnh hành, được mọi người yêu thích. Ta nghĩ nhé, nếu ở đâu cũng có, thì nhất định rất kém cỏi, giống như ruồi nhặng và bụi bặm vậy.”

Vào ngày Mẹ Điềm nói những lời này, bà đang đeo chiếc kẹp tóc “xấu xí” của mẹ tôi. Tôi muốn giật nó xuống, nhưng tôi thực sự không dám làm thế, nếu không sẽ bị ăn đòn đấy. Tôi bèn dùng giọng điệu lớn nhất nói rằng tôi nhất định sẽ dùng cái tên Bích Bích, tuyệt đối không đổi. Mẹ Điềm nói rằng con bé đã lớn khôn, có thể tự mình lựa chọn tên gọi, vậy thì cũng nên biết mẹ mình đã qua đời như thế nào.

“Bà ta chết vì lòng tham không đáy,” Mẹ Điềm tiết lộ, “đã chiếm hữu quá nhiều rồi, nhưng cứ mãi không biết đủ. Bà ta thừa biết ta mới là người vợ chính thức của bố con, là người được tôn trọng nhất, được sủng ái nhất. Dù cho bà ta có sinh được bao nhiêu con trai đi nữa, bố con nói không chừng một ngày nào đó sẽ quét sạch bà ta ra khỏi cửa, tìm người mới.”

“Bố đã nói thế ạ?”

Mẹ Điềm không thừa nhận cũng không phủ nhận: “Sự tôn trọng là vĩnh cửu. Sự sủng ái sẽ biến mất, lúc đầu được sủng ái rất nhanh sẽ bị người khác thay thế. Đàn ông đều như vậy cả. Mẹ con hiểu điều này. Sau này con cũng sẽ hiểu thôi. Nhưng mẹ con không thể chấp nhận hiện thực, mất đi lý trí. Bà ta thích ăn đồ ngọt, không thể dừng lại được, lại luôn cảm thấy khát nước, giống như yêu quái uống cạn đại dương rồi lại nôn ra. Có một ngày, con quỷ nhỏ phát hiện bà ta suy nhược tinh thần đến thế, liền chui từ bụng bà ta vào trong. Mẹ con ngã xuống đất giãy giụa mấy cái, thế là đời tàn.”

Trong trí tưởng tượng hư cấu của tôi, người mẹ gầy gò của tôi thức dậy đi lấy bột mè. Bà dùng ngón tay nhúng một chút, nếm thử, thấy chưa đủ ngọt, liền múc từng thìa từng thìa đường cho thêm vào, uống hết bát này đến bát khác. Cái bụng căng phồng, kết quả ngã nhịu xuống đất, bị dòng bột mè trào ra từ cổ họng nhấn chìm đến chết.

Năm năm trước, tôi mắc bệnh tiểu đường, tôi nghĩ mẹ có lẽ cũng chết vì căn bệnh giống như vậy, lượng đường trong máu hoặc là quá nhiều, hoặc là cực kỳ thiếu hụt. Bệnh tiểu đường là một cuộc chiến giằng co lâu dài. Dù thế nào đi nữa, thông qua những di truyền này tôi đã nhận ra người mẹ của mình: Hàm răng khập khễnh, lông mày bên trái hếch ngược lên, dục vọng mãnh liệt vượt xa người bình thường.

Đêm rời khỏi Thượng Hải, Mẹ Điềm lại một lần nữa diễn màn hy sinh cao cả của bà, bà từ chối rời khỏi quê hương.

“Tôi sang Mỹ sẽ trở thành kẻ vô dụng, lại chẳng biết nói tiếng Anh,” bà thẹn thùng nói với cha, “Tôi cũng không muốn trở thành gánh nặng cho gia đình chúng ta. Hơn nữa, Bích Phương cũng sắp mười ba tuổi rồi, không cần bảo mẫu chăm sóc nữa.”

Bà liếc mắt nhìn về phía tôi, chờ mong tôi nói giúp vài câu.

“Đừng tranh cãi vì chuyện này nữa. Em nhất định phải đi!”

Cha rất sốt ruột, bởi vì người gác cổng đang chờ ở đó, ông ta họ La, cả nhà chúng tôi đều ghét ông ta, nhưng ông ta đã chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc rời đi vội vã của chúng tôi.

Mẹ Điềm tiếp tục đôi co trước mặt các anh trai, ông nội, cha và người hầu, lại liếc nhìn tôi một cái, hy vọng tôi có thể lên tiếng. Bà muốn tôi nhảy chồm tới chân bà, dập đầu cầu xin bà đừng rời bỏ tôi. Tôi không làm thế, thế là bà ám chỉ ra ngoài: “Bích Phương không cần tôi, con bé vừa nói với tôi rồi.”

Quả thực là vậy. Ngay vào buổi sáng hôm đó, tôi đã nói với bà những lời đại loại như thế. Bà nghiêm khắc mắng chửi tôi ngủ quá nhiều, gọi tôi là đồ lười biếng. Nói tôi cũng giống như mẹ tôi, nếu không sửa đổi những thói hư tật xấu này, tôi cũng sẽ chết thảm cho mà xem. Tôi vẫn ngái ngủ, muốn ngủ tiếp, tôi bịt tai lại hét lên: “Câm miệng đi, cái đồ bò sữa nhà bà.” Thế là bà tát cho tôi tỉnh cả người.

Bây giờ tôi và gia đình phải rời đi trong đêm khuya, vàng bạc và kim cương đều được nhét vào trong những con búp bê đồ chơi của tôi, trong đó còn có cả chiếc kẹp tóc của mẹ tôi. Tôi đã trộm lấy từ chỗ Mẹ Điềm rồi khâu vào trong quần áo.

Lão La gác cổng giục chúng tôi đi nhanh lên, Mẹ Điềm vẫn đang chần chừ do dự. Trong thâm tâm bà đang tính toán, muốn tất cả chúng tôi cầu xin bà thay đổi chủ ý. Suy nghĩ của tôi hoàn toàn ngược lại: Nếu Mẹ Điềm ở lại thì sẽ thế nào? Cuộc đời tôi sẽ xảy ra thay đổi gì?

Một chuỗi những trầm ngâm suy nghĩ khiến lồng ngực tôi run rẩy, đầu gối và cột sống đều mềm nhũn cả đi. Tôi có dự cảm lớn sắp xảy ra thì sẽ như thế này, đây là thói quen mà tôi đã rèn luyện suốt một đời. Bởi vì mẹ tôi cũng vậy, tôi sợ mình cũng sẽ đột ngột ngã lăn ra chết giống như bà. Tôi học cách đè nén bản thân, tùy duyên mà sống, mặc kệ nó đi.

“Nói một câu đi,” cha dỗ dành tôi, “Mau xin lỗi đi.”

Sự im lặng sẽ định đoạt số phận của tôi.

“Mau lên!”

Cha bắt đầu trách mắng tôi.

Ước chừng phải đến tròn một phút, tôi cảm thấy hai chân mình bủn rủn.

Đè nén xuống, tôi tự nhủ với bản thân, đem phẫn nộ đè nén xuống.

Cuối cùng cha cũng phá vỡ sự im lặng lặp lại với Mẹ Điềm: “Em nhất định phải đi.”

Thế nhưng, Mẹ Điềm đấm ngực giậm chân hét lên: “Chấm dứt rồi! Tôi thà chết ở đây, cũng không muốn đi cùng cái con bé ma quỷ này!” Nói đoạn bà ta chạy vụt ra khỏi phòng.

Mấy ngày sau, chúng tôi rời khỏi Thượng Hải.

Cả gia đình lên chiếc tàu thủy của Mỹ, tôi quay đầu nhìn bến Phố Giang, cùng những tòa nhà kiểu châu Âu ở Bến Thượng Hải. Lần đầu tiên tôi cảm thấy thành phố này giống như một câu chuyện cổ tích, ẩn hiện trong ánh chiều tà cuối xuân, thoắt ẩn thoắt hiện mãi mãi không thể nhìn thấu toàn diện. Đây sẽ trở thành một giấc mơ không bao giờ quên trong cuộc đời tôi.

Tôi rạp người trên lan can mạn tàu, tưởng tượng Mẹ Điềm một mình ở lại ngôi nhà trên đường Masnon. Căn phòng vẫn xa hoa, nhưng khắp nơi đều âm u lạnh lẽo thiếu sức sống. Rất nhanh thôi, sự thay đổi của thời đại sẽ khiến người thuộc giai cấp "tư sản" như bà phải kinh ngạc...

Vừa nghĩ ngợi, trong lòng tôi lại sinh ra một cảm giác kỳ lạ, đó là cảm giác sảng khoái vì trả thù thành công. Tôi nghĩ, kiếp sau có lẽ bản thân sẽ bị trừng phạt – tôi sẽ biến thành một con bò, còn bà ấy sẽ thưởng thức món thịt bò một cách ngon lành.

Đột nhiên, tôi cảm thấy mấy ngón tay gầy guộc xương xẩu đang véo vào mặt mình, suýt chút nữa thì véo ra máu.

Là Mẹ Điềm!

Hóa ra cha đã quay về nhà đón bà. Mặc dù uy phong của bà đã giảm đi đáng kể nhưng lúc bị đẩy lên ô tô vẫn la hét ầm ĩ. Mẹ Điềm cứ thế quay trở lại, bà đã hạ quyết tâm, phải trừ khử cho bằng được con quỷ dữ trong đầu tôi.

Có được bà tiếp tục làm ngọn hải đăng soi sáng cuộc đời tăm tối của mình, tôi mới may mắn làm sao!

Cuối cùng, tàu thủy cũng rời bến, bầu trời âm u lấp lánh ngàn sao, đằng xa dường như vọng lại tiếng đại bác ì đùng.

Tôi tưởng tượng về cuộc sống hoàn toàn mới trong tương lai, chúng ta sắp đến nước Mỹ ở phía bên kia đại dương, nơi xa xôi thần bí đó. Phần lớn khoảng thời gian trong cuộc đời tôi sẽ trải qua ở đại lục ấy.

Tạm biệt, Thượng Hải.

Tạm biệt, quê hương của tôi.

Sau khi trải qua một cuộc hành trình dài dằng dặc đầy gian nan, cả gia đình chúng tôi đã đặt chân đến nước Mỹ. Cha gây dựng sự nghiệp mới ở San Francisco, chúng tôi vẫn duy trì cuộc sống của một gia đình tử tế.

Ngay cả ở nước Mỹ hoàn toàn xa lạ, Mẹ Điềm vẫn muốn thay đổi thói quen và tính cách của tôi.

Nhưng bà càng nhúng tay vào tôi, tôi lại càng giống mẹ mình, đây là kết luận của bà.

Bà cảnh cáo tôi, nói rằng tôi tham lam, chưa bao giờ thỏa mãn, ăn không đủ, ngủ không đôm. Tôi giống như chiếc giỏ gạo thủng một lỗ, vĩnh viễn không bao giờ lấp đầy được – tôi vĩnh viễn không có được chân tình, sắc đẹp và hạnh phúc.

Rất không may, những lời của bà giống như một lời nguyền, và đã ứng nghiệm chính xác lên người tôi.

Đối với những lời chỉ trích của bà, tôi giả vờ như không hề nghe thấy. Thứ có thể tác dụng với Mẹ Điềm chính là vẻ mặt vô cảm, điều này thường khiến lông mày bà giật giật. Tôi không thèm quan tâm bản thân sẽ chịu tổn thương gì, tôi đã dần lớn lên. Đôi chân của tôi không còn khuỵu xuống nữa, tôi đã học được cách chịu đựng cơn đau đớn. Tôi giấu những tình cảm sâu sắc nhất vào tận đáy lòng, thậm chí còn quên mất cách lưu trữ nó vào từ lúc nào.

Cho đến tận ngày hôm nay, tôi vẫn nhớ rõ mồn một buổi tối vốn dĩ nên ngọt ngào ấm áp ấy, thế nhưng lại trở thành một đêm tang thương trong những năm tháng sau này, Mẹ Điềm đã khiến tôi lần đầu tiên cảm nhận được lời nguyền đã thành sự thật.

Đó là năm tôi học đại học năm nhất, Mẹ Điềm bắt tôi về nhà tham gia buổi tụ họp dịp Tết Trung thu – Lễ Tạ ơn của người Trung Quốc.

Cha, các anh trai và tôi, cùng rất nhiều họ hàng xa, có người đến Mỹ đã mấy chục năm, hầu như không biết nói tiếng Trung nữa, cũng có người mới di cư sang gần đây, tiếng Anh nói cực kỳ tồi tệ. Chúng tôi ngồi xuống ở sân sau nhà một người anh họ ở thành phố Menlo, cùng nhau thưởng thức vầng trăng tròn hoàn hảo ngày rằm tháng Tám.

Chúng tôi cầm những chiếc đèn lồng giấy, bên trong thắp nến, bước về phía hồ bơi.

Trong bóng nước phản chiếu, tôi nhìn thấy vầng trăng xuất hiện, giống như một quả dưa vàng chứ không phải chiếc đĩa tròn quen thuộc trước kia. Tôi nghe thấy mọi người đang lẩm nhẩm điều gì đó, trong mắt tràn ngập những giọt nước mắt hạnh phúc hoặc đau buồn.

Tôi mím chặt đôi môi, trong hốc mắt lại chẳng có lấy một giọt nước mắt. Tôi cũng nhìn rõ vầng trăng giống như họ, thậm chí cũng trầm trồ trước ánh hào quang tươi đẹp của nó, nhưng tại sao lại không có sự xúc động như họ chứ?

Tại sao sự xúc động của người khác lại lớn gấp mười lần tôi? Phải chăng tôi sinh ra đã là kẻ vô tình lạnh lùng?

Đây là vết thương chí mạng của tôi: Đè nén cảm xúc của bản thân, để cho đầu gối không còn yếu đuối nữa.

Tôi muốn đi cảm nhận những thứ mình muốn, tôi trừng mắt nhìn vầng trăng ngày rằm, tưởng tượng ra thỏ ngọc và Hằng Nga trên cung trăng, ước nguyện bản thân có thể tiếp thu nhiều tình cảm hơn nữa. Tôi mong chờ niềm vui và sự sợ hãi đến. Tôi đã quyết định rồi, tôi đã sẵn sàng, đang mong đợi, hy vọng...

Nhưng đáng buồn thay, tôi chẳng cảm nhận được gì cả, đôi chân lực lưỡng của tôi thế mà lại đứng thẳng tắp.

Vào buổi tối ngắm trăng Trung thu đó, tôi nhận thức được rằng bản thân sẽ mãi mãi không bao giờ cảm nhận được những tình cảm tốt đẹp này nữa.

Bởi vì trong suốt quá trình tôi lớn lên, chưa từng có một người mẹ thích hợp nào cả.

Mẹ sẽ chiếm vị trí số một trong lòng bạn, bà ấy nói cho bạn biết chân lý của hạnh phúc: Thế nào là chừng mực thích hợp, thế nào là quá trớn, thứ gì sẽ quyến rũ bạn thậm chí làm tổn thương bạn. Mẹ giúp con cái trải nghiệm niềm vui đầu đời trong cuộc sống. Bà ấy nói cho bạn biết khi nào nên buông bỏ sự kiềm chế, hòa mình vào lòng tự nhiên. Mẹ khiến bạn nhận thức được những cảnh giới tươi đẹp khác nhau trong cuộc đời, trong đó ẩn chứa vô hạn hạnh phúc, có những thứ vô cùng mãnh liệt và đậm đà, có những thứ lại bình đạm mà ấm áp.

Không may thay, trong suốt quá trình tôi trưởng thành chỉ có Mẹ Điềm. Người phụ nữ đó muốn nhồi nhét cuộc đời của bà vào trong đầu tôi – bảo tôi rằng mùa đông có quần áo để mặc, nên cảm thấy vui mừng; đứa bé gái đã chết nào đó không phải là tôi, nên cảm thấy may mắn... Tôi bị ép buộc phải tuân theo chỉ thị của Mẹ Điềm, mặc dù chán ghét nhưng chỉ có thể chấp nhận.

Khi cha qua đời, tôi cảm thấy mất mát và đau thương, nhưng không hề gào khóc thảm thiết giống như anh trai và mẹ kế.

Tôi nghĩ chắc là mình đã mất đi khả năng rơi lệ rồi.

Đương nhiên, tôi cũng từng trải qua tình cảm giữa nam nữ, nhưng lại không thể trải nghiệm được thứ tình cảm sâu đậm thắm thiết mà ai ai cũng có.

Sau đó tôi phát hiện ra nghệ thuật. Lần đầu tiên tôi nhìn thấy thiên nhiên thực sự được thể hiện bằng một hình thức mà tôi có thể hiểu được, một bức tranh đã trở thành bản dịch ngôn ngữ tâm hồn tôi. Tôi không kìm được mà cảm thán: Hóa ra tôi lại có nhiều cảm xúc phong phú đến vậy, chỉ tiếc là đều nằm trong những bức tranh kia. Tôi tham quan hết bảo tàng này đến bảo tàng khác, cuối cùng đã tìm thấy linh hồn của chính mình, cùng với cảm giác chân thực của tôi – mọi thứ đều tự nhiên biết bao, hơn nữa lại hoàn toàn miễn phí. Trái tim và linh hồn tôi nhảy múa phập phồng theo những hình thù và hình vẽ.

Thế là, tôi bắt đầu sưu tầm tác phẩm nghệ thuật. Chỉ có như vậy, tôi mới có thể khiến linh hồn của mình được ở cùng một chỗ với linh hồn của những người khác.

Tôi nợ nghệ thuật món nợ quá lớn!

Còn về phần Mẹ Điềm, bà vẫn chứng nào tật nấy, cả đời tự oán tự trách. Sau khi cha qua đời, tôi để bà sống trong căn hộ của mình, thuê một quản gia lo việc gia đình, mỗi ngày nấu món Trung Quốc cho bà ăn. Mẹ Điềm chưa từng động một ngón tay, trừ khi là trách mắng tôi hoặc những người khác ngáng đường bà.

Lúc bà hấp hối, tôi để bà ở căn phòng tốt nhất trong viện dưỡng lão, mọi chi phí đắt đỏ đều do tôi gánh vác. Nhưng bà chưa bao giờ biết ơn tôi, bà gọi đó là "căn phòng chờ chết".

Năm này qua năm khác, tôi tự nhủ bản thân phải kiên nhẫn, tưởng rằng bà sắp rời đi rồi. Thế mà mạch máu, đại não và trái tim của bà dường như cường tráng hệt như cơn giận dữ của bà vậy. Bây giờ bà đã chín mươi mốt tuổi, còn tôi mới sáu mươi ba tuổi đã bay khỏi thế giới này, và cũng vĩnh viễn bay khỏi bà.

Chà, Mẹ Điềm khóc rất thảm thiết.

Bà ở tuổi chín mươi mốt hồi tưởng lại quá khứ của chúng tôi, cho rằng đó là những khoảng thời gian tốt đẹp, nghe đến mức tôi thậm chí còn nghi ngờ có phải bà đã lú lẫn rồi hay không? Hay là tính cách của bà đã thay đổi? Nhận thức được đáp án, suy nghĩ của tôi về bà cũng theo đó mà thay đổi.

Tôi từng khao khát được nhìn thấy sinh mệnh của bà đi đến hồi kết, nhưng bây giờ tôi cầu nguyện bà có thể sống lâu trăm tuổi. Cứ để bà canh giữ trong "căn phòng chờ chết" đó đi, đừng để bà đi làm bạn với tôi trên con đường hoàng tuyền.

Tạm biệt, tuổi thơ và người mẹ kế của tôi.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.