Ngày 23 tháng 12.
Buổi sáng đầu tiên của những người bạn tôi tại vương quốc Lanna.
Benny tỉnh dậy và cảm thấy tinh thần sảng khoái hơn hẳn, đã lâu lắm rồi anh mới có một giấc ngủ ngon như vậy. Anh bước ra khỏi phòng và thấy Walter đã chờ sẵn từ lâu. Họ gọi những người khác dậy, mọi người dùng bữa sáng tại nhà hàng của khách sạn xong xuôi liền lên xe buýt khởi hành.
Hành trình tiếp theo sẽ khá gian khổ, bởi điều kiện đường xá rất tồi tệ, địa thế dọc đường lại vô cùng hiểm trở, xe buýt phải mất từ tám đến mười tiếng mới đến được thành phố Mandala nằm ở miền trung vương quốc Lanna.
Berhari khó hiểu hỏi: "Tại sao phải bay đến sân bay ở vùng khỉ ho cò gáy này? Trực tiếp bay đến thành phố Mandala chẳng phải tốt hơn sao?"
Walter đáp với vẻ mặt nghiêm nghị: "Xin lỗi, từ Lệ Giang đến vương quốc Lanna, chỉ có thể đi qua sân bay phía bắc."
Những người bạn của tôi cũng đành cạn lời, ngoan ngoãn ngồi trên xe buýt, mặc cho Walter và bác tài xế họ Lục Tiểu Kiều đưa họ tiến vào tương lai không thể đoán định.
Tám giờ sáng, chiếc xe buýt tiến vào một thị trấn nhỏ. Lúc này họ mới phát hiện ra rằng, vương quốc Lanna không hề là vùng đất khỉ ho cò gáy thưa thớt bóng người. Trước mắt họ là dòng người tấp nập tụ tập, có vẻ như đây là một khu chợ thương mại quan trọng.
Dưới xe, rất nhiều phụ nữ Lanna đang đi lại tấp nập. Họ mặc những chiếc váy màu sắc rực rỡ, đầu quấn khăn, trên đầu đội một giỏ đồ, gương mặt bôi một lớp hồ làm từ vỏ cây.
Khi lần đầu tiên nhìn thấy khuôn mặt họ, tôi cứ ngỡ cũng giống như Thượng Hải quê hương tôi, người Lanna thích làn da trắng trẻo, thứ họ bôi có lẽ dùng để chống nắng. Nhưng sau khi thử nghiệm, tôi nhận ra tác dụng duy nhất của nó là làm cho da khô đi. Trong khi che phủ làn da, nó đồng thời nướng làn da nứt nẻ ra như gạch đất nung. Tôi không thể nói điều này tốt cho da, trông tôi chẳng khác nào một tên hề bị nướng khô.
Walter giơ tay ra hiệu với mọi người: "Được rồi, bây giờ chúng ta dừng xe, các bạn có một tiếng đồng hồ để tự do dạo phố. Ở đây có một khu chợ rất náo nhiệt, rất nhiều chủ cửa hàng có hàng dệt may và—"
"Chúng ta có thể xuống xe chứ?"
Wendy đã sốt ruột không chịu nổi.
Walter đáp: "Được, các bạn muốn đi dạo thế nào cũng được. Nhưng trước khi xuống xe, tôi khuyên các bạn nên đổi tiền chỗ tôi. Tôi sẽ cho các bạn tỷ giá cao nhất, một đô la đổi ba trăm tám mươi tệ Lanna, giống như tỷ giá ngân hàng. Đương nhiên, ở chợ đen có thể đổi cao hơn. Nhưng điều đó là phi pháp, nếu bị cảnh sát bắt, hậu quả sẽ rất nghiêm trọng."
Vài phút sau, mười hai người bạn của tôi với túi áo phồng lên bởi tiền tệ của vương quốc Lanna, bước xuống xe và hòa mình vào ánh nắng tháng Mười Hai ấm áp.
Họ vừa phấn khích vừa thận trọng bước vào chợ: đủ loại sạp bán quần áo và giày nhựa, nhìn kiểu dáng là biết ngay là hàng cũ đến từ Trung Quốc. Xung quanh họ là một số người đổi tiền đang lảng vảng, muốn thu hút sự chú ý của họ. Đi xa hơn nữa là một khu chợ thực phẩm được che phủ bởi tấm bạt lớn, dường như những món hời giá rẻ tốt nhất đang vẫy gọi họ.
Những người bạn của tôi nhận ra người Lanna rất khác biệt so với người Trung Quốc. Wendy nhìn thấy một người phụ nữ Lanna có độ tuổi xấp xỉ mình, cô ấy đội một chiếc mũ mây hình nón có viền màu đỏ, khi cô ấy cúi xuống, chiếc mũ che khuất toàn bộ khuôn mặt, nhưng khi cô ấy ngẩng lên, Wendy nhìn thấy gương mặt cô ngập tràn sự tuyệt vọng và đau đớn. Wendy cho rằng người phụ nữ này muốn nói với cô điều gì đó, muốn truyền đạt một thông tin khẩn cấp.
Đó là mồ hôi trên mặt cô ấy? Hay là nước mắt? Cô ấy muốn nói gì? Là một lời cảnh báo sao? Wendy kéo tay áo của Wyatt, "Tớ muốn đi theo người phụ nữ đó."
"Tại sao?"
"Cô ấy có vẻ muốn nói gì đó với tớ, cô ấy cần giúp đỡ."
Người phụ nữ ấy đang dần trở nên mờ nhạt giữa đám đông, ngày càng đi xa cho đến khi biến mất.
“Có thấy lạ lắm không?” Berhari lớn tiếng nói với Trang Mã Lâm, anh chỉ vào một người đàn ông đang đạp xe, “Thật không hiểu nổi tại sao váy của họ lại không bị tuột xuống.”
“Người Scotland cũng mặc váy, tớ còn nghe nói họ không mặc đồ lót cơ.”
“Tớ đã kể với cậu tớ là một nửa người Scotland chưa?”
Trang Mã Lâm mỉm cười nhíu mày, Esme vẫn còn đang đứng ngay cạnh đấy nhé.
Trước một quầy hàng lộ thiên, hai người phụ nữ Lanna đang ngồi xổm trên đống vải vóc để chèo kéo khách du lịch nữ.
Phu nhân Massey và hai chị em Heidi bước tới, nữ chủ sạp lập tức mở một cuộn vải ra. Vera cũng bước lại gần, họ trầm trồ trước những họa tiết màu vàng kim, tím và đỏ rượu vang đậm.
"Đẹp (pretty), thực sự rất đẹp."
Vera vừa nói vừa gật đầu,
"Đáng thương (pity), thật đáng thương."
Người phụ nữ vương quốc Lanna học theo và lặp lại.
Càng ngày càng có nhiều cuộn vải được mở ra, phu nhân Massey chỉ vào tấm vải dệt tay màu xanh đậm đang lấp lánh ánh sáng hỏi: "Một nghìn tệ?"
Bà quay người hỏi chồng mình: "Dwight, cục cưng ơi, một nghìn tệ là bao nhiêu vậy?"
"Chưa đến ba đô la đâu,"
"Ồ, có thể mua được một thước vải thế này không?"
Nữ chủ sạp lắc đầu, sau đó mở cuộn vải ra để trưng bày. "Hai." Bà giơ hai ngón tay lên.
"Ồ, hai mét, thế thì còn gì bằng." Phu nhân Massey kéo tấm vải lên đùi, "Tôi thích mặc váy làm bằng chất liệu vải thế này."
Bà ngẩng đầu nhìn người bán hàng, đối phương đang che miệng cười, những người phụ nữ khác ở bên cạnh quầy hàng cũng đang cười. Bà chỉ vào cuộn vải màu xanh lam, lắc đầu, sau đó cầm cuộn vải màu hồng có ánh kim tuyến lên, bà chỉ vào cuộn màu hồng đó với phu nhân Massey.
"Không."
Phu nhân Massey xua xua tay, ra hiệu cho bà ta dẹp cuộn màu hồng đi. Bà vỗ vỗ vào cuộn vải màu xanh lam, mỉm cười hài lòng với đối phương.
Người bán hàng vỗ vỗ cuộn vải đó, rồi chỉ vào một người đàn ông đang đi ngang qua với chiếc khố quấn quanh eo.
Heidi chen vào nói: "Ý cô ấy là màu sắc và họa tiết kiểu này là dành cho đàn ông mặc."
Nghe đến đây, ngài Dwight lập tức giơ cả hai tay lên: "Không cần."
Phu nhân Massey không ngẩng lên, nói: "Tôi biết đây là đồ đàn ông mặc, nhưng tôi không bận tâm. Đây là kiểu tôi thích."
Thế là người bán hàng thành thạo đo kích thước để may khố cho nam giới, cô ta hỏi phu nhân Massey bằng tiếng Lanna, rồi dùng hai ngón tay làm động tác áng chừng phần vải cắt ra, sau đó dùng ngón tay cái đặt lên tấm vải, các ngón tay của bàn tay kia co lên hạ xuống. "Được." Phu nhân Massey nói, ra hiệu bằng cử chỉ tương tự: Cắt ra, khâu lại.
Cuộn vải được ném trả lại cho người bán hàng trẻ tuổi, cô ta biến mất sau quầy hàng một lát, khi quay lại thì mang theo mảnh vải vừa được cắt ra. Người bán hàng lớn tuổi gọi một người qua đường trẻ tuổi lại, theo sự sai bảo của bà, anh ta vui vẻ làm mẫu cách đàn ông mặc trang phục này như thế nào.
Anh ta bước vào trong mảnh vải, mỗi tay túm lấy một nhúm vải, kéo phần vải thừa sang một bên, thắt nút hai đầu lại, phần vải thừa phồng lên trông giống như một chiếc lưỡi.
"Ồ, giống như làm ảo thuật vậy." Phu nhân Massey nói, bà làm động tác bảo anh ta làm lại lần nữa, nhưng chậm hơn một chút. Anh ta lặp lại động tác, mỗi bước đều dừng lại một chút.
Heidi chắp hai tay lại, mỉm cười cảm ơn anh ta. Nhưng khi phu nhân Massey muốn thử, người bán hàng lại mỉm cười ngăn cô lại.
"Tôi biết, tôi biết, không thành vấn đề."
Người bán hàng lắc đầu, lấy ra một miếng vải khác, đây là màu vàng tươi có hoa văn phức tạp. Cô ta kéo phần vải thừa sang một bên, trưng bày các bước mặc quần áo của phụ nữ khác với đàn ông ở điểm nào, sau đó cô ta dùng tay gấp vải lại, cuộn vào phần cạp váy.
"Ừm," phu nhân Massey nói, "Tôi không thích để nút thắt ở chính giữa, trông có vẻ không an toàn lắm."
Heidi cười với người bán hàng: "Cảm ơn, bây giờ chúng tôi đã hiểu rồi, đồ của nam và nữ khác nhau rất nhiều."
Cô lại nói với chị gái của mình: "Chị có thể rời khỏi đây rồi hãy thử mà."
Người bán hàng rất vui vẻ, cô đã ngăn chặn một vị khách tử tế khỏi việc mất mặt trước đám đông. Phu nhân Massey, Heidi cùng với Vera, họ tiếp tục ngắm nghía những cuộn vải đó, cứ như thể có thể đãi được vàng vậy. Màu sắc và hoa văn nhiều vô kể, cái nào cũng đẹp hơn cái trước. Nhưng chỉ một lúc sau, lại cảm thấy quá nhiều, giống như ăn quá nhiều kem vậy. Cảm giác của họ trở nên tê dại, tất cả những cuộn vải khác nhau này, ban đầu đều vô cùng phi thường, giống như những chú bướm mang nét đẹp ngoại quốc, nhưng nhìn nhiều rồi cũng trở nên bình thường mà thôi.
Cuối cùng, phu nhân Massey chỉ mua một ít vải sọc ca rô màu xanh lam, bà nghĩ chắc là có thể tìm được loại rẻ hơn và đẹp hơn ở nơi khác.
Lúc này, Wendy và Wyatt đi tìm người phụ nữ bí ẩn đó, họ đi đến một góc khác của khu chợ.
Một nhóm các cậu bé đi qua, tóc vừa mới cạo, mặc trang phục của tu sĩ, một mảnh vải màu cam sẫm quấn quanh cơ thể gầy gò đã rám nắng của họ.
Họ đi chân trần, bước đi giống như những kẻ ăn xin. Một trong số đó rụt rè khum lòng bàn tay lại thành hình chiếc bát khất thực. Các nhà sư có thể khất thực thức ăn, nhưng chỉ được phép vào buổi sáng. Họ đến chợ trước bình minh mang theo bát và giỏ, chủ cửa hàng và khách hàng sẽ cho họ gạo, rau củ, đồ muối chua, đậu phộng và mì sợi, đồng thời cảm ơn các nhà sư đã cho họ cơ hội làm việc thiện, làm việc thiện sẽ được báo đáp ở kiếp sau.
Họ mang thức ăn về chùa, đây là bữa sáng của các tu sĩ trong chùa, cũng là bữa duy nhất trong ngày.
Nhưng trẻ con vẫn là trẻ con, chúng cũng tò mò như bao người khác, muốn xem nếu đi xin ăn người ngoại quốc thì sẽ được bố thí những gì. Một tuần trước, chúng vừa tròn chín tuổi, chơi môn chinlon bằng quả cầu mây, bơi lội dưới sông, chăm sóc những đứa trẻ nhỏ hơn mình. Thế nhưng ngày này cuối cùng cũng đến, cha mẹ đưa chúng đến ngôi chùa địa phương, hoàn thành thời gian tu học tình nguyện, kéo dài từ hai tuần cho đến vài năm.
Chúng cạo đầu trong một nghi lễ gia đình, buộc một dải lụa trắng lên búi tóc, hứa sẽ tuân thủ các giới luật của Phật giáo Nguyên thủy. Chúng cởi bỏ quần áo thường ngày, mặc bộ y phục bằng vải mộc mạc của tu sĩ, đây chính là nghi lễ trưởng thành của chúng. Có lần một gia đình người Lanna mời tôi đến xem nghi lễ này, tôi thấy nghi lễ ấy vô cùng cảm động, rất giống cảm giác khi tôi xem phim BRIS.
Đối với các gia đình nghèo khó, đây là con đường duy nhất để con trai họ có thể nhận được sự giáo dục. Những gia đình có điều kiện khá giả thì sau hai tuần sẽ đón con về, nhưng những đứa trẻ nhà nghèo thì cố gắng ở lại lâu nhất có thể. Bọn trẻ học kinh điển bằng tiếng Pali trong chùa, những đứa lớn hơn sẽ giám sát chúng học thuộc lòng. Những đứa lớn tuổi đã được tuyển chọn ở lại chùa làm sa di chịu giới, chúng ngày càng có học thức hơn, ngày càng sùng đạo hơn, được tôi luyện trong sự nghèo khó nhưng sùng kính. Tuy nhiên theo tôi thấy, sự sùng đạo ấy vẫn không thể xóa sạch sự nghịch ngợm của các tiểu hòa thượng.
Nhưng Wendy chẳng hề biết gì về hoàn cảnh của những tiểu hòa thượng này, cô ấy chưa từng đọc qua tài liệu mà tôi đã liệt kê trong danh sách đọc,
"Thật khó mà tin nổi, những đứa trẻ nghèo này lại cứ phải đi làm sư."
"Hãy nhìn những nụ cười kia xem,"
Wyatt nói. Anh ấy cho cô xem những bức ảnh trên máy ảnh kỹ thuật số của mình, đám trẻ cũng xúm lại xem và cười lớn khi thấy ảnh của chính mình.
Wendy lại chẳng thể cười nổi chút nào, Wyatt không hề trả lời câu hỏi của cô, anh ấy không còn yêu cô nữa sao? Gần đây, cô cảm thấy anh ấy có gì đó rất bất ổn. Cô nghĩ có lẽ là vì sự nhiệt tình bám dính lại thất thường của mình đã khiến anh ấy chùn bước rồi chăng.
Cô đã để quên kem chống nắng trên xe, những vết tàn nhang trên cánh tay cô đang chuyển sang màu đỏ. Mặt trời ở đây rất gắt, cô lo lắng nửa tiếng sau khi quay lại xe, vết tàn nhang trên mặt sẽ ngày càng lớn hơn. Khi khuôn mặt cô trở nên hồng hào như kem trái cây, chiếc chiếc mũi tróc vẩy giống như củ tỏi thì Wyatt sẽ nghĩ thế nào đây? Trong khi anh lại chẳng hề gặp phải rắc rối này, làn da của anh nhờ hoạt động ngoài trời quanh năm mà chuyển thành màu nâu tuyệt đẹp. Chúa ơi, sao trông anh ấy lại cuốn hút đến thế cơ chứ? Cô chỉ muốn ăn tươi nuốt sống anh ngay lập tức.
Đúng lúc đó, Wendy nhìn thấy người phụ nữ đội chiếc mũ kia. Cô ta cũng nhận ra Wendy. Cô ta thận trọng ra hiệu cho Wendy đi qua.
Wendy nhìn xung quanh, kéo vạt áo của Wyatt, lén lút nói: "Nhìn kìa, chính là người phụ nữ đó muốn nói với em điều gì đó."
"Cô ta muốn đổi tiền." Wyatt nói.
"Cái gì?"
"Đổi tiền, thấy chưa? Cô ta muốn đổi tiền." Wyatt quay sang người phụ nữ đó: "Bao nhiêu?"
“Anh đang làm gì vậy?” Wendy kêu lên hoảng hốt, “Anh sẽ bị bắt đấy!”
“Anh chỉ tò mò thôi mà.”
Lúc này có hai viên cảnh sát đi qua, cảnh giác nhìn chằm chằm vào bọn họ.
“Cái đó,” Wendy nói, chỉ vào chiếc mũ hình nón của người phụ nữ, “Cái mũ này bao nhiêu tiền?”
Cô tiện tay rút ra một tờ tiền, là tờ một trăm tệ.
Người phụ nữ cầm lấy tiền, cởi mũ ra đưa cho Wendy. Cảnh sát cuối cùng cũng đi khuất.
“Họ đi rồi,” Wyatt nói, “Em có thể trả lại mũ cho cô ấy rồi đấy.”
“Em cần mũ mà. Em bị cháy nắng rồi, em trả bao nhiêu thế? Có phải nhiều quá không?”
“Trả có hai mươi lăm xu thôi,” Wyatt lắc đầu nói, “Đúng là hời như ăn trộm.”
Wendy đội chiếc mũ lên đầu, chiếc mũ này quả là một món hời bất ngờ, giúp họ không bị cảnh sát bắt đi. Chỉ tốn hai mươi lăm xu mà đã mua được chiếc mũ thời trang đến vậy, vừa đẹp vừa độc đáo, y như trong các bộ phim của Audrey Hepburn và Grace Kelly thập niên năm mươi vậy. Song, những người dân bản địa lại đang lén che miệng cười, một người ngoại quốc lại đội chiếc mũ lao động của nông dân, chẳng khác nào mặc quần áo cho cá cả, thật là ngu ngốc làm sao.
Ở góc của một con hẻm nhỏ, Morrie và Rupert tìm thấy một cửa hàng bán bóng rổ và cầu lông. Vừa cầm trên tay là họ bắt đầu tung hứng chơi đùa. Chủ cửa hàng và khách hàng nhìn họ cười.
"Michael Jordan!"
Có ai đó hét lên. Morrie quay đầu lại nhìn, Michael Jordan ư? Ở nơi quái quỷ này mà người ta cũng biết anh ta sao? Mấy cậu bé nhét khố lệch sang một bên trông giống như đang mặc quần đùi thể thao vẫy tay về phía họ. Rupert ném quả bóng qua, một đứa trong số đó đã bắt được. Cậu bé này thuần thục nhồi bóng, nhảy lên chuyền bóng trả lại cho Rupert.
Một quả bóng nữa xuất hiện, quả này nhỏ hơn, là một quả bóng rỗng làm bằng mây. Một cậu bé mặc khố nâu nhẹ nhàng ném về phía cậu bé kia. Cậu bé đó đỡ bóng bằng đầu rồi tung qua cho Rupert. Rupert dùng đầu gối đỡ bóng nảy mấy cái rồi chuyền cho bố mình. Morrie nhắm chân vào quả bóng đang bay tới, lập tức sút bay đi.
Rupert nhặt bóng lên nói: "Tuyệt quá! Cứ như quả bóng đan có độ nảy vậy."
Cậu trả bóng lại cho chủ nhân của nó, chính là cậu bé mặc khố nâu. Morrie lấy ra mấy trăm tệ, chỉ vào quả bóng. Cậu bé đưa bóng cho anh, nghiêm túc chỉ nhận hai trăm tệ.
"Tuyệt cú mèo."
Rupert lại nói, vừa dùng đầu gối tung bóng vừa cùng bố đi về hướng chợ nông sản, đó là điểm hẹn mà mọi người đã thống nhất.
Bên trong chiếc lều giống như một đĩa thập cẩm khổng lồ đầy màu sắc: gừng vàng và nâu, hoa vạn thọ, cà ri, thì là Ai Cập, xoài đỏ, ớt đỏ và cà chua, cần tây, đậu đũa, rau mùi và dưa leo màu xanh lá. Bọn trẻ thèm thuồng nhìn những khối thạch màu vàng tươi, các bà mẹ của chúng thì đang dán mắt vào chủ hàng cân gạo, đường và mì khô. Morrie nhìn thấy Walter và Benny đang đứng ở lối ra vào, trông vô cùng thảnh thơi vui vẻ, những người bạn khác của tôi cũng đang đứng chờ ở đó.
Benny quay đầu nói với Morrie: "Điều khiến tôi bây giờ không thể hiểu nổi là tại sao Walter có thể sử dụng tiếng Lanna và tiếng Anh một cách trôi chảy đến vậy? Cậu có để ý thấy tiếng Anh của anh ta còn đỉnh hơn cả tôi không? Anh ta trông còn ra dáng người Mỹ hơn cả tôi nữa."
Ý anh ta là Walter mang giọng Anh, trong quan niệm của Benny, điều này nghe có vẻ cao cấp hơn giọng miền Trung Tây nước Mỹ.
Walter rất vui khi nghe lời nịnh nọt này, liền nói: "Ồ, nhưng trở thành người Mỹ thì chẳng liên quan mấy đến việc nói tiếng Anh lưu loát cả."
"Cậu rất hiểu chúng tôi," Benny nói, "Cho nên ít nhất cậu cũng là một người Mỹ danh dự rồi."
"Cần cái vinh dự này làm gì chứ?" Wendy mang theo vẻ tức giận lên tiếng, "Đâu phải ai cũng muốn làm người Mỹ đâu."
Mặc dù Benny hơi khó chịu nhưng vẫn mỉm cười.
Walter xoa dịu tình hình: "Tôi rất vui vì các cậu coi tôi là người một nhà."
Trên đường đi ra, họ đi ngang qua một bầy cá chép gấm, nhìn thấy miệng những con cá vẫn đang động đậy.
“Tôi cứ tưởng họ không sát sinh cơ chứ, đây là một quốc gia Phật giáo mà.”
Cách đó không xa về phía bên phải đang mổ lợn, vừa vặn lọt vào tầm mắt của Heidi.
Walter nói: "Họ rất cung kính khi tàn sát và đánh bắt cá, họ vớt cá lên bờ, họ bảo là đang cứu cá để chúng khỏi bị chết đuối, ngặt một nỗi là..." anh nhìn xuống như một kẻ sám hối, "...nhưng cá rốt cuộc vẫn chẳng được cứu."
Cứu cá để chúng khỏi bị chết đuối ư?
Ngài Dwight và Berhari nhìn nhau rồi cười lớn, anh ta đang đùa đấy à?
Heidi câm nín chẳng nói nên lời. Những người đó thực sự nghĩ rằng mình đang làm việc thiện sao? Sao họ không đi cứu những thứ khác chứ! Nhìn những con cá kìa, chúng đang thở hồng hộc, người bán hàng thì ngồi xổm bên cạnh hút thuốc, trông chẳng có chút phong thái nào của nhân viên cứu hộ cả.
"Thật là kinh khủng," cuối cùng cô lên tiếng, "Thà cứ giết quách chúng đi cho rồi, còn hơn là bày ra cái gọi là lòng nhân từ này."
Ngài Dwight đột ngột phản bác: "So với những việc quốc gia chúng ta đã làm ở các nước khác thì chuyện này chẳng thấm vào đâu."
"Các cậu đang bàn gì thế?" Morrie hỏi, "Giải cứu những kẻ chẳng cần cứu rỗi, xâm lược quốc gia của người khác, khiến họ phải chịu tổn thương. Danh nghĩa là giúp đỡ họ, nhưng thực chất là giết chết họ. Giống như những chuyện tồi tệ chúng ta đã làm ở Việt Nam vậy!"
"Đó không phải là một chuyện," Benny nói, "Chẳng lẽ khi xung đột chủng tộc xảy ra chúng ta cứ khoanh tay đứng nhìn sao?"
“Chúng ta nên nhận thức được hậu quả, cậu không thể chỉ có ý định mà mặc kệ hậu quả được, vấn đề là ai phải trả giá cho hậu quả đó chứ? Cứu cá thoát khỏi cảnh chết đuối cũng là đạo lý đó thôi, ai được cứu, ai không?”
Những người khác đều im lặng, họ cũng chẳng có câu trả lời, giống như một trò chơi trí tuệ vậy, nhìn nghiêng thì là một thiếu nữ xinh đẹp đội mũ, nhưng nhìn trực diện lại là một bà lão nhăn nheo có chiếc mũi diều hâu, điều đó hoàn toàn tùy thuộc vào góc độ mà bạn nhìn nhận.
"Ôi trời ơi, chúng ta có thể làm gì chứ?" Heidi vẫn dán mắt vào đám cá, cất giọng đầy bi ai nói, "Chúng ta không thể mua hết chúng rồi phóng sinh sao?"
Morrie lắc đầu đáp: "Thôi đi, chẳng có ý nghĩa gì đâu, đừng nhìn nữa."
Lũ cá vẫn giãy giụa không ngừng, Morrie kéo Heidi cứng đầu rời đi.
"Cá sẽ chết đuối sao?"
Rupert nhỏ giọng hỏi Benny.
"Đương nhiên là không rồi. Loài cá có mang chứ có phải phổi đâu."
“Thực ra thì.” Berhari chợt chen vào, “Chúng thực sự sẽ chết đuối đấy.”
Tất cả ánh mắt đều đổ dồn về phía anh, ngoại trừ Heidi. Berhari bắt đầu ba hoa chích choè: "Con người ngã xuống nước thì phổi sẽ ngập đầy nước, bởi vì phổi của chúng ta không thể lọc ra oxy cứu mạng, thế nên con người sẽ ngạt thở trong nước, cuối cùng chết vì thiếu oxy. Chúng ta gọi đó là chết đuối."
Thấy Trang Mã Lâm đang chăm chú nhìn mình, anh càng thêm tự tin nói: "Còn cá có mang dùng để hấp thụ oxy, nhưng hầu hết loài cá phải bơi không ngừng để hút vào một lượng lớn nước, lọc lấy lượng oxy đầy đủ, nếu chúng không thể bơi được nữa, ví dụ như bị mắc kẹt trong các hốc đá ngầm khi thủy triều rút, hoặc bị câu bởi lưỡi câu, chúng cuối cùng sẽ ngạt thở do thiếu oxy. Thế là chúng chết đuối."
Anh thấy Mã Lâm đang nhìn mình với ánh mắt đầy si mê, ánh mắt cô như đang nói với anh rằng: Anh thật là uyên bác và quyến rũ làm sao. Nếu bây giờ ở đây có chiếc giường nào, em sẽ lao ngay vào vòng tay anh cho mà xem.
Thực chất Trang Mã Lâm lúc này đang nghĩ, tại sao khi anh ta đang mô tả cách con cá chết mà trông lại hớn hở đến thế cơ chứ?
Heidi vẫn đang tơ tưởng về những con cá khi nãy: "Đã thế sao chúng có thể hấp thụ oxy từ trong nước, mà mang của chúng lại không thể hấp thụ oxy từ không khí chứ?"
Mã Lâm tràn đầy mong chờ nhìn Berhari, anh ta đắc ý giải thích: "Mang của chúng giống như hai phiến lụa mỏng tang hình bán nguyệt, trương rất to trong nước, giống như hai cánh buồm trên thuyền vậy. Rời khỏi nước rồi, hai phiến mang sẽ xẹp lép như túi nilon, ép chặt vào nhau, bịt kín mít lại, không khí không thể chui vào được, thế là cá bị thiếu oxy."
Vera hừ lạnh một tiếng: "Thế nên chẳng ai có thể thành thật nói rằng họ đang cứu cá, giúp chúng thoát khỏi cảnh chết đuối cả."
Berhari bướng bỉnh đáp: "Không, chúng bị chết đuối trên cạn đấy chứ."
“Thế còn gà thì sao?” Vera trầm ngâm suy nghĩ, chỉ vào một lồng gà, “Chúng sẽ nhận được sự đối xử nhân từ kiểu gì đây? Có phải là lúc cổ chúng vô tình bị vặn gãy thì chúng đang tham gia lớp học yoga không?”
"Cũng chẳng tệ hơn những việc chúng ta làm ở nhà là mấy đâu," Esme điềm tĩnh nói, "Chỉ là chúng ta ngụy trang giỏi hơn mà thôi. Tớ từng xem một chương trình truyền hình, lợn đều bị dồn lại với nhau, đi qua một chiếc dốc nghiêng, con nào con nấy kêu ré lên, bởi vì chúng biết chuyện gì sắp xảy ra rồi. Ngựa cũng bị giết kiểu như vậy. Có một số thức ăn cho chó được làm từ những thứ này đấy. Thậm chí có lúc chúng bị mổ xẻ khi còn chưa chết hẳn nữa cơ."
Trang Mã Lâm nhìn con gái mình: Xem ra Esme lại muốn thể hiện trước mặt cô rồi. Một đứa trẻ như con bé thì làm sao mà biết những chuyện này chứ? Mã Lâm cảm thấy lo lắng và bất an trước sự chín chắn trước tuổi của con gái. Những ngày này, Esme vẫn rất quấn quýt lấy mẹ, có vẻ như mẹ có thể cách ly mọi thứ xấu xa ở thế giới bên ngoài, điều này khiến con bé cảm thấy vô cùng an tâm.
Thế nhưng, Trang Mã Lâm nhớ có một lần, hai mẹ con cùng đi dạo ở khu phố người Hoa, Esme đã bật khóc sau khi nghe chủ quán nói những con cá sống đó "là để cho người ta ăn chứ không phải nuôi làm thú cưng". Hành động kích động cuồng loạn của Esme chẳng khác nào những nhà bảo vệ động vật phát tờ rơi trên đường phố, phản đối khu phố người Hoa mổ thịt cá sống gà sống nhằm chứng minh thực phẩm của họ hoàn toàn tươi sống là mấy.
"Cá bị cắt đầu khi vẫn còn đang sống."
Một nhà bảo vệ động vật đã cáo buộc cô về phương pháp giết mổ của người Trung Quốc.
Nhưng Trang Mã Lâm quát con gái: "Động vật nào mà chẳng sống trước khi bị giết mổ, không thì con bảo giết cá kiểu gì hả? Để nó già rồi chết tự nhiên chắc?"
Cô cho rằng việc mọi người tranh cãi về vấn đề cứu cá thật là hoang đường. Nhưng nếu là Esme mười hai tuổi thì sao? Con bé tận mắt chứng kiến những sinh mạng này đang giãy giụa vô ích, muốn sống tiếp nhưng cuối cùng vẫn phải chết – ồ, điều này thật quá khủng khiếp.
Walter lo lắng nhìn giờ, cắt ngang cuộc tranh luận của họ: "Thưa các quý ông quý bà. Bây giờ các vị nên quay lại xe thôi, nếu ai vẫn muốn mua thêm đồ hoặc muốn đi tham quan xung quanh, xin hãy quay lại xe tập trung trong vòng mười lăm phút nữa."
Những người bạn của tôi tản ra đi tứ phía, Wendy đi tìm bóng râm của chiếc xe, Morrie và Rupert đi dạo dọc theo con hẻm nhỏ, những người khác thì tìm chỗ chụp ảnh để ghi lại dấu ấn họ từng đến thành phố này.
Ở một góc chợ, Benny phát hiện ra một cụ bà có biểu cảm vô cùng ngọt ngào. Bà đội chiếc khăn trùm đầu màu xanh lam, khiến cho khuôn mặt đã bị mặt trời phơi khô của bà trông càng nhỏ hơn. Anh làm điệu bộ hỏi bà có thể để mình phác họa nhanh một bức chân dung cho bà, và cả mớ cải bẹ xanh cùng củ cải trắng của bà nữa không. Bà thẹn thùng mỉm cười. Thế là anh vẽ vài nét giống như vẽ tranh biếm họa, đặc điểm khuôn mặt của cụ bà liền hiện lên sống động trên trang giấy.
Chiếc khăn trùm đầu đè nặng lên cái đầu nhỏ bé của người phụ nữ Lanna, một nụ cười rạng rỡ gần như làm lu mờ cả hai gò má của bà, tiếp theo là bó cải bẹ xanh và củ cải trắng, xung quanh điểm xuyết những đường nét hoa văn mờ ảo.
Một phút sau, Benny đưa bức phác họa cho bà xem.
"Á chà," bà thốt lên bằng thứ ngôn ngữ mà anh chẳng tài nào hiểu nổi, "Cậu biến tôi thành một người khác mất rồi, đẹp hơn nhiều lắm, cảm ơn cậu nhé!"
Benny tặng bức phác họa đó cho bà, bà lại nhe răng cười toe toét, trong ánh mắt như có thứ gì đó đang lấp lánh. Bà chỉ vào mớ rau và nói bằng tiếng Anh: "Cậu thích không?"
Benny lịch sự gật đầu, cử chỉ của bà ra hiệu rằng anh có thể chọn một ít mang đi. Benny lắc đầu từ chối, nhưng bà vẫn kiên trì, anh còn tưởng bà đang chào bán mớ rau này cơ chứ. Bà mỉm cười trút đống củ cải muối lộn xộn vào một chiếc túi màu hồng rồi đưa cho anh.
Thế này thì phải trả bao nhiêu tiền đây? Benny đưa cho bà một ít tiền, quy đổi ra thì khoảng ba mươi xu, đối với một túi củ cải mà nói thì đây là mức giá cao ngất ngưởng đến khó tin.
Nhưng bà trông có vẻ như bị xúc phạm, kiên quyết đẩy tay anh ra. Cuối cùng thì anh cũng hiểu ra: Ồ, đây là một món quà!
Bà gật đầu khẳng định chắc nịch. Anh tặng bà một món quà, bà cũng tặng lại anh một món quà. Ồ! Anh cảm thấy thấp thỏm không yên, đây chính là sự thiện ý giữa những người xa lạ với nhau.
Đây quả thực là khoảnh khắc mà cuốn Tạp chí National Geographic nên ghi lại: Hai con người hoàn toàn xa lạ, ngôn ngữ khác nhau, văn hóa khác nhau, tất cả mọi thứ đều khác nhau, lại trao cho đối phương những gì tốt đẹp nhất mà họ có thể cho – chính là tình bác ái của họ, bức tranh vẽ và mớ rau của họ.
Benny vui vẻ nhận lấy chiếc túi màu hồng, đây chính là biểu tượng cho sự thân thiện của thế giới, sau đó anh lưu luyến chào tạm biệt người phụ nữ Lanna.
Anh quay trở lại xe buýt để điểm danh mọi người, cùng với Walter kiểm tra lại sỉ số. Bác tài xế họ Lục Tiểu Kiều đóng cửa xe lại, từ từ rời khỏi thị trấn kỳ lạ này.