Ngay khi bà cụ vừa dứt lời, Lute, cậu bé trong cặp song sinh, cất tiếng hát vang:
“Thượng đế vĩ đại và anh cả Jesus, hôm nay các người đã cứu chúng con khỏi tà ác. Người đã phái sứ giả của mình là 'Tiểu Bạch Ca', cũng chính là 'Vua của các thần linh'. Người đã phái đến một đội quân chiến thắng. Người mang theo quân đội của mình, những người đàn ông và phụ nữ cường tráng! Nhiều không đếm xuể! Người mang đến thực phẩm chất lượng nuôi dưỡng thân thể chúng con, để chúng con có thể đối mặt với kẻ thù của Người, chiến đấu với chúng bằng thân thể bất hoại. Hãy để chúng con tàng hình, mang lại cho chúng con thắng lợi trước nhà vua. Chúng con cũng cầu nguyện cho các thần linh, giữ cho họ được bình an. Chúng con cầu nguyện cho những anh chị em đã khuất. Họ đã chịu lễ rửa tội của dòng sông, và phải chết từ khi còn quá trẻ. Người là sức mạnh...”
Đối với bạn bè tôi, nghe nó cứ như nhạc rap vậy.
Bodhi chen vào, lời cầu nguyện của cô bé nghe như tiếng Anh trong nghi lễ:
“Thượng đế vĩ đại và anh cả Jesus thân mến, chúng con cầu nguyện 'Vua của các thần linh' hãy cứu chúng con khỏi sự hy sinh. Đừng để chúng con chết ở độ tuổi thanh xuân như cha mẹ, anh chị em và bạn bè của chúng con. Hãy bảo vệ chúng con khỏi rơi vào tay kẻ thù hay ác linh. Khi bạn bè hay kẻ thù của chúng con qua đời, xin hãy để họ được bình an, và ban phước cho sự an toàn của chúng con.”
Hai đứa trẻ nhắm mắt lại, dường như đang đứng mà đã chìm vào giấc ngủ.
“Rốt cuộc bọn chúng đang làm gì vậy?” ông Massey nói với vợ, “Nghe nó cứ như tiếng Anh. Bà có hiểu không?”
Vợ ông lắc đầu: “Chẳng qua cũng chỉ là mấy câu đại loại như Thượng đế vĩ đại mà thôi.”
Cư dân ở “Vùng đất vô danh” chuyền tay nhau một chiếc khay gỗ đựng đầy hạt giống. Đầu tiên đưa cho cặp song sinh, sau đó đến những người khác. Mỗi người lấy một hạt rồi ăn, giống như cách ăn bánh thánh trong lễ ban thánh thể.
Bạn bè tôi cũng lịch sự mỗi người ăn một hạt.
Sau buổi lễ, bà của cặp song sinh đi về phía Rupert, tay bà cầm một chiếc áo choàng màu xanh hoàng gia, được thêu họa tiết hình chữ “Z”. Bà cúi người, dùng tiếng Nam Di cầu xin ông nhận lấy món quà nhỏ bé này, tượng trưng cho việc ông thực sự đã trở về với họ.
Mấy cô gái khúc khích cười với ông: “Xin ông hãy nhận lấy đi.”
Rupert giơ hai tay lên, nhún vai nói: “Tôi không có lấy một xu.”
Ông không hề có ý định mặc cả cho một món quần áo. Khi bà cụ cứ khăng khăng bắt ông nhận lấy món quà này, Rupert lộn ngược túi quần ra: “Thấy chưa? Tôi không có tiền, tôi thề đấy.”
Ông chỉ có một bộ bài poker mua trên chuyến bay đến Trung Quốc. Ông giơ bộ bài trong tay lên để chứng minh mình không có bất cứ thứ gì giá trị.
Đột nhiên, đám đông trước mặt ông phục xuống đất, quỳ lạy đầy cung kính.
“Vì chúa,” Morrie nói với con trai, “Bọn họ đang khẩn cầu con đấy. Đây là món quà Giáng sinh thôi. Hãy lịch sự nhận lấy đi.”
Rupert lạnh lùng đáp: “Cha nhận đi là được rồi.”
Khi Morrie định nhận chiếc áo, Bodhi hét lên: “Không, không, phải để ông ấy nhận.”
Morrie chỉ đành nghiến răng, nghiêm khắc thì thầm với Rupert: “Con phải nhận món quà chết tiệt này và mặc nó vào.”
Rupert vừa nhận lấy món quà không mong muốn này, đám đông liền đứng dậy.
Lute nhẹ nhàng vỗ vào bàn tay đang cầm bài của ông, làm một động tác mở tay ra.
Rupert nhếch mép cười: “Này các anh bạn, người Lanna nào mà chẳng thích xem ảo thuật bài chứ.”
Ông vui vẻ xáo bài, giơ bài lên rồi để chúng tự nhiên về vị trí cũ. Ông đặt xấp bài trước mặt Lute: “Được rồi, rút một lá đi, lá nào cũng được.”
Cặp song sinh thần linh phấn khích lắng nghe lời mở đầu của buổi lễ. Những lời tương tự đã được nói ra cách đây hơn một trăm năm bởi người sáng lập ra chúng, nghệ sĩ xảo quyệt – Phineas Andrews.
Chúng hét lên đầy phấn khích, vì điềm báo đã xuất hiện: “K chuồn”, kẻ báo thù của mọi cái ác.
Ba đứa trẻ khác xếp thành một hàng, bắt đầu hát những bài hát theo phong cách nhà thờ. Âm điệu nghe giống thánh ca, nhưng buồn bã hơn nhiều.
Vera cảm thấy âm điệu này mang đậm chất Á Đông, quãng ba hài hòa nhảy sang quãng năm. Cô và những người Mỹ khác đứng lặng yên, thưởng thức màn trình diễn xuất phát từ tận đáy lòng này. Đến đoạn điệp khúc thứ hai, hai người đàn ông tham gia vào, một người đánh một chiếc trống đồng trang trí hình ếch, người kia thổi một chiếc tù và bằng sừng trâu.
Bạn bè tôi giơ ngón cái về phía Hắc Điểm, Benny cũng hỏi anh ta: “Các anh là bộ lạc nào thế? Tôi muốn kể cho bạn bè ở Mỹ của tôi.”
Hắc Điểm dùng thứ tiếng Anh có giọng địa phương nói: “Chúng tôi là người Nam Di, nhưng chúng tôi còn được gọi là ‘Đội quân của thần’.”
“Xin lỗi, câu cuối cùng là gì cơ?”
Benny ghé sát lại, muốn nghe rõ lời anh ta trong tiếng hát vang dội. “...Đội quân của thần.”
“Anh ta nói gì vậy?” Vera cũng hỏi lại.
Benny nhún vai: “Nghe có vẻ như là the Lajamee.”
“Có một tên bộ lạc bắt đầu bằng chữ ‘L’,” Heidi dường như nhớ ra, “Bibi từng viết về nó, để trong tập tài liệu ở khách sạn, cái phân bộ lạc La gì đó, có lẽ là Lajamee.”
Wendy bổ sung: “Họ là một bộ lạc, vì màu đen và đỏ trên người các bô lão – và thứ quấn trên đầu kia, một loại khăn quàng bằng len. Đó là thứ dùng để tặng cho người khác sau khi qua đời.”
Bạn bè tôi để ý thấy bây giờ đã là ba giờ chiều. Ông Massey chửi thề: “Walter chết tiệt, cậu đang ở đâu thế? Chúng tôi sắp quay lại rồi, và cậu tốt nhất nên có một lý do chính đáng để giải thích tại sao cậu không ở đây.”
Hắc Điểm nghe thấy kế hoạch rời đi của họ, lập tức quay sang Dầu Tử và Lão Thủ. Họ cần nhanh chóng nhắc nhở “Người chuyển kiếp”, cho ông ta biết mình là ai. Ba người đi đến căn nhà gỗ nhỏ cách xa bãi trống, gọi các cư dân ra ngoài.
Bà Massey lấy máy quay ra, ra hiệu cho đám đông tụ lại một chỗ để quay những thước phim cuối cùng về cặp song sinh, cây sung bóp nghẹt, và bộ lạc “Lajamee” đầy màu sắc đó.
Khi đang quay toàn cảnh khu trại, bà bỗng khựng lại. Đó là gì vậy? Một con vật bị lột da à? Bà zoom ống kính lại gần. Đó là một cái chân bị cụt! Và một khuôn mặt bị hủy hoại còn thảm hại hơn.
Những người bạn khác của tôi quay người lại, trong miệng phát ra những tiếng kêu không thể tin nổi. Nhân danh Chúa, chuyện gì đã xảy ra với những người này? Có hai người đàn ông, hai người phụ nữ và một cô bé xinh xắn chưa đầy mười tuổi. Mỗi người trong số họ đều thiếu một bàn chân, hoặc một cánh tay, hoặc một cẳng chân, những chi bị tàn tật kết thúc một cách đột ngột tại nơi cơ bắp đã teo tóp.
Họ bị thứ gì tàn phá khủng khiếp đến thế? Chẳng lẽ là tai nạn xe cộ?
Massey hướng máy quay về phía Hắc Điểm, khẽ nói: “Họ bị sao vậy?”
“Trong số họ có ba người từng làm việc cho quân đội của nhà vua. Dò mìn, họ đi trước những người lính, lúc thì đi sang trái, lúc thì đi sang phải. Khi mìn nổ, nghĩa là không còn nguy hiểm nữa. Bây giờ thì đã có thể đi lại an toàn rồi.”
Rupert giật mình: “Công việc của họ là dẫm lên mìn á?”
“Người Nam Di không còn lựa chọn nào khác.” Hắc Điểm ra hiệu về phía những người bị thương, “Người đàn ông kia, ông ta vừa may mắn lại vừa bất hạnh. May mắn là ông ta đã sống sót đến tận bây giờ, nhưng cả gia đình ông ta đều đã chết. Những người lính đã bắn vào đầu và cơ thể họ, nhưng ông ta không chết, cô bé kia cũng không chết.”
Bà Massey dùng máy quay nhắm vào người đàn ông bất hạnh đó, trên má ông có một vết sẹo lởm chởm dài, vai chằng chịt những vết sẹo trắng bệch. Cô bé xinh xắn kia, một cánh tay cong lại ở một góc rất kỳ dị, vết sẹo trên vai giống như một khối u đỏ thịt.
Mặc dù thân thể bị tàn phá, năm người này vẫn cười với máy quay và nói: “Dablu, Dablu.”
Khi tắt máy quay, mắt bà Massey đẫm lệ, những người khác cũng vậy.
Hắc Điểm cảm thấy một niềm hy vọng mãnh liệt, họ phải giúp đỡ bộ lạc này.
Wendy khẽ nói với những người khác: “Một người bạn đã nói với tôi rằng, quân đội của nhà vua thực sự đã làm chuyện như vậy.”
“Tôi cảm thấy tệ hại quá.” Benny nói, cảm thấy vô cùng tội lỗi.
“Tất cả chúng ta đều như vậy mà.” Vera đặt tay lên vai Benny, “Nếu không cảm thấy như vậy, chúng ta đã chẳng còn nhân tính nữa rồi.”
Trang Mã Lâm lẩm bẩm: “Tôi vốn dĩ không tán thành việc chúng ta đến Vương quốc Lanna.”
“Được rồi, nhưng chúng ta đã ở đây rồi.” Ông Massey nói một cách nghiêm khắc, “Nhưng chúng ta không làm gì được, phải không?”
“Nhưng chúng ta phải làm gì đó chứ!”
Người vừa nói là Heidi. Bạn bè tôi gật đầu, trầm tư suy nghĩ. Chúng ta có thể làm gì đây? Họ chỉ cảm thấy sự đồng cảm vô ích.
Wyatt đột nhiên nói: “Bibi coi nơi này là địa điểm du lịch của chúng ta thật kỳ lạ.”
Tôi cảm thấy tức giận vì bị hiểu lầm, cho đến khi nghe Vera nói: “Bibi không hề đưa nó vào lộ trình ban đầu. Hồ Bồ Đề là được thêm vào sau đó – vì có người bỏ phiếu muốn rời Trung Quốc sớm hơn.”
Heidi thở dài: “Tôi chỉ đang nghĩ, giá như Bibi nói cho chúng ta biết nhiều hơn thì tốt, về những tin tức xấu này.”
Họ tiếp tục thì thầm bàn luận về cách giải quyết sự bất an trong đạo đức của mình. Nếu họ biết những chuyện này từ trước, nếu có ai đó nhắc nhở họ, nếu biết có những mạng sống đang bị đe dọa, nếu như, nếu như, nếu như...
Phải, lẽ ra tôi có thể cung cấp những thông tin này, nhưng tôi làm sao có thể chịu trách nhiệm về đạo đức của họ cơ chứ? Lẽ ra họ phải chủ động tìm hiểu nhiều hơn.
Tôi thừa nhận người dân ở “Vùng đất vô danh” cũng khiến tôi chấn động. Khi tôi còn sống, đi du lịch đến Vương quốc Lanna chưa bao giờ gặp phải chuyện như vậy. Nhưng tôi đến đây là để du lịch, chứ không phải để khám phá bi kịch nhân gian, tôi đang tìm kiếm những món hàng rẻ tiền, những nhà hàng tốt nhất, những ngôi chùa vắng khách du lịch và phong cảnh chụp ảnh đẹp nhất.
Heidi suy đoán: “Có lẽ ngành du lịch là cách duy nhất để họ kiếm tiền.”
“Chúng ta rõ ràng nên ủng hộ nền kinh tế của họ.” Benny hứa sẽ mua thật nhiều quà lưu niệm du lịch.
Wyatt gật đầu: “Tôi đã làm hướng dẫn viên cho nhiều chuyến du lịch sinh thái. Khách hàng trả rất nhiều tiền phụ phí để trồng cây hoặc nghiên cứu các loài có nguy cơ tuyệt chủng. Có lẽ chúng ta có thể làm gì đó, thuê người giúp đỡ họ, nghĩ cách để họ tự cung tự cấp.”
“Chúng ta có thể đưa cho họ một ít tiền khi rời đi.” Esme dường như đã trưởng thành hơn, “Có thể nói số tiền này là cho bọn trẻ.”
Mọi người đều gật đầu, đây là cách họ sử dụng trong rất nhiều dịp. Rất có thể tôi cũng sẽ làm điều tương tự – ngoài việc đưa tiền, họ còn có thể làm gì nữa chứ?
Bà Massey giơ máy quay lên, quay một cảnh toàn cảnh cuối cùng, dừng lại lâu hơn trên những người tàn tật, bọn trẻ và bà lão đang nở nụ cười trên môi.
Cánh tay Wyatt vòng qua vai người đàn ông bị cụt một cẳng chân, hai người nhìn nhau cười, giống như những người bạn tốt.
“Chúng ta đã đến vùng đất xinh đẹp này,” bà Massey thuật lại trước máy quay, “Chúng ta phát hiện ra đằng sau vẻ đẹp ấy là những bi kịch. Người dân ở đây phải chịu đựng nỗi khổ cực to lớn dưới sự thống trị của nhà vua... thật đáng buồn...”
Bà nhắc đến những lao động cưỡng bức, những vụ nổ mìn, và kết thúc bằng lời hứa giúp đỡ.
“Chúng ta không thể chỉ dành cho họ sự đồng cảm, hay sự giúp đỡ mang tính biểu tượng. Chúng ta hy vọng giúp đỡ họ nhiều hơn, một cách thực sự có thể cứu rỗi họ.”
Tất nhiên, bà ấy đang nói về sự đóng góp hào phóng của họ.
Họ quyết định đưa tiền cho bà của cặp song sinh, bà trông có vẻ là thủ lĩnh của tất cả mọi người. Họ thực hiện một nghi thức nhỏ, cảm ơn bà vì sự hiếu khách của bộ lạc. Họ nói tiếng Anh rất chậm, cúi chào để bày tỏ lòng biết ơn, giơ ngón tay cái để tỏ ý tốt. Họ làm ra vẻ mặt đau buồn, như thể không muốn rời xa những người dân lương thiện ở nơi này.
Bà Massey đi về phía bà cụ, nắm lấy bàn tay nhỏ bé, thô ráp, giống như móng vuốt của bà, đặt tiền vào lòng bàn tay bà.
Bà lão nhìn số tiền đó, trên mặt hiện lên vẻ kinh ngạc và bị xúc phạm. Bà đẩy số tiền trả lại cho bà Massey, lòng bàn tay hướng lên trên, giống như đang chống lại một con dã thú.
Họ đã lường trước bà ấy sẽ làm như vậy. Trang Mã Lâm nói người Trung Quốc sẽ khách sáo từ chối ba lần, có lẽ ở đây cũng có thói quen tương tự. Đến lần thứ tư, Hắc Điểm khẽ nói với bà lão hãy nhận lấy số tiền. Bà mắng anh ta rằng tiền ở đây chẳng có tác dụng gì cả. Nếu bất cứ ai mang theo tiền mà bị lính của nhà vua bắt được, số tiền đó chỉ đủ để mua cho người đó một ngôi mộ mà thôi.
Hắc Điểm bảo bà nhận lấy số tiền đó, rồi đưa cho Dầu Tử, anh ta sẽ nhân lúc những người Mỹ không chú ý, trả lại tiền vào ba lô của bà Massey.
Thế là bà lão nở nụ cười, cúi chào liên tục, hôn lên những đồng tiền, giơ cao nó lên để Thượng đế vĩ đại nhìn thấy.
Bạn bè tôi cảm thấy ấm lòng vì điều này, cầm ba lô lên định rời đi.
“Chúng tôi phải về rồi.” Morrie nói với Hắc Điểm.
Nhưng vài thành viên trong bộ lạc khóc lóc hét lên với Hắc Điểm: “Tại sao 'Tiểu Bạch Ca' lại muốn rời bỏ chúng ta?”
Hắc Điểm khẽ bảo họ đừng làm ồn. Để “Người chuyển kiếp” này biết mình là ai cần có thời gian. Cho dù ông ta đã hiển lộ ba điềm báo này. Với những vị thánh khác cũng vậy, thậm chí với cả Lute và Bodhi cũng vậy. Nhưng, một khi “Người chuyển kiếp” biết mình là ai, ông ta sẽ dần dần khôi phục trực giác và sức mạnh của mình, và thực hiện lời hứa của ông ta.
Các thành viên của bộ lạc nghe vậy thì rất an tâm, họ đều biết lời hứa mà “Tiểu Bạch Ca” đã đưa ra.
Ông ta sẽ khiến họ tàng hình, đao thương bất nhập. Họ sẽ giành lại đất đai của mình. Họ sẽ sống trong hòa bình, không ai có thể làm hại họ nữa. Bởi vì nếu kẻ nào dám làm vậy, “Tiểu Bạch Ca” sẽ thả tất cả quỷ quái ra.
Họ thảo luận cách giải quyết tình hình hiện tại, họ đã may mắn đưa được cậu bé kia và những người theo đuôi đến đây. Có lẽ cần một chút vận rủi để giữ chân họ lại. Họ không còn lựa chọn nào khác, bắt buộc phải giữ cậu bé đó lại càng lâu càng tốt.
Hắc Điểm ra hiệu cho cả bộ lạc, vẫy tay chào những người nước ngoài này, giống như những gì họ đã làm.
Bạn bè tôi rời đi, cùng với Hắc Điểm, Dầu Tử và Ngư Cốt, còn Lão Thủ thì lặng lẽ theo sau. Vera khen ngợi bộ lạc này, Hắc Điểm sẽ chuyển những lời tốt đẹp này lại cho họ: Những con người vô cùng tốt bụng, hào phóng và chân thành.
Những người khác tiếp tục nói: Nơi này là tuyệt nhất. Và cả những cây sung bóp nghẹt kia nữa – bạn đã từng thấy thứ gì đẹp đến thế chưa? Đây thực sự là một bất ngờ tuyệt vời.
Họ vô cùng vui mừng khi đến đây. Bữa trưa thật khác thường, nhưng rất ngon. Thử những thứ mới mẻ luôn là điều tốt. Nhưng bây giờ họ mong chờ được tắm một bồn nước nóng. Tất nhiên, còn phải đi qua chiếc cầu treo đung đưa kia nữa. Lần thứ hai sẽ đơn giản thôi, chỉ cần một hơi thở sâu là được.