Cuộc chiến diễn ra vô cùng thảm liệt, nhưng không ai ngờ rằng, trận chiến cuối cùng diệt Sở của Đại Tần này, lại đánh mãi cho tới năm Thiên Hựu thứ chín...
Kỳ thực chuyện này cũng là bình thường, từ khi định đô cách đây hơn hai trăm năm đến nay, Thần Kinh thành chưa từng phải chịu chiến loạn, dân số cũng vì sự phồn vinh kéo dài mà không ngừng tăng lên, sức phòng thủ của nó cũng theo sự trưởng thành của đô thị mà càng thêm khoa trương... Trong thành có dân cư thường trú một triệu bốn trăm ngàn người, là thành phố lớn nhất thế giới lúc bấy giờ, lương thực dự trữ trong thành đủ cho toàn thành ăn trong ba năm trở lên. Trong thành quách còn có những cánh đồng rộng lớn và nguồn nước dồi dào chảy quanh năm, tạo nên điều kiện cần thiết để cố thủ lâu dài.
Lại bởi lời khẳng định đinh đóng cột sắt của Thượng Trụ Quốc, tất cả mọi người đều tin rằng chỉ cần cố thủ từ một năm đến một năm rưỡi, sự tình nhất định sẽ có chuyển biến... Chỉ cần có một tia hy vọng, ai lại muốn làm kẻ vong quốc cơ chứ? Tâm trạng này thể hiện cực kỳ rõ rệt trong lòng người dân kinh thành.
Đã là trên dưới một lòng, quân dân trong thành Thần Kinh liền đánh cược một lần cuối, thề sống chết cùng đô thành. Họ tận dụng mọi khả năng để gia cố công trình. Thường là quân Tần ban ngày phá hoại tường thành một trận, ban đêm người Sở liền thừa lúc bóng tối mà khôi phục lại như cũ. Dưới sự chỉ đạo của Thượng Trụ Quốc, họ cũng không còn quá sợ hãi "Đại Tướng quân pháo" của quân Tần nữa, phát hiện ra chỉ cần đắp chăn ướt lên tường thành, là có thể giảm thiểu hiệu quả uy lực của những khối sắt đó, khiến chúng không thể tạo ra tổn hại lớn cho tường thành. Họ cũng phát hiện ra, chỉ cần nghe thấy tiếng pháo là nằm rạp xuống đất, thì có thể giảm thiểu thương vong đáng kể, đợi tiếng pháo qua đi rồi đứng dậy nghênh địch, hoàn toàn không bị chậm trễ gì cả.
Để khắc chế đài cao của nước Tần, họ xây dựng mỗi năm mươi trượng trên tường thành một pháo đài, bên trong đặt cung mạnh nỏ cứng, quân Tần vừa ló đầu ra là lập tức bị đả kích mãnh liệt. Trong thời khắc nguy cấp nước mất nhà tan này, trí tuệ thông minh của người Sở được phát huy một cách triệt để. Họ mô phỏng theo nước Tần, bắt đầu sử dụng thuốc súng làm vũ khí, dùng xe ném đá và nỏ mạnh để bắn túi thuốc súng, dùng làm binh khí cháy; họ còn thông qua nghiên cứu "Hỏa Long đạn" chưa nổ, trong vòng nửa tháng đã sao chép được loại vũ khí này, gây ra tổn thất rất lớn cho quân Tần.
Không thể không cảm thán một câu, khả năng bắt chước của người nước mình, quả thực là truyền đời từ xưa đến nay...
Quân Sở ở trên cao nhìn xuống, hoàn toàn áp chế được hỏa lực pháo trên đài cao. Quân Tần lại bị chế ngự bởi cấu trúc đài đất, không thể xây cao hơn được nữa, đành phải từ bỏ những điểm tựa tấn công vốn dùng để đánh thành này.
Quân Sở còn đào hào hộ thành rất sâu rất sâu bên ngoài tường thành. Lại dùng dây xích sắt to lớn khóa ngang mặt nước trước cửa nước, khiến bất cứ tàu thuyền nào cũng không thể tiến vào. Hệ thống phòng ngự của họ hoàn toàn xứng đáng với hai chữ "cố như kim thang" (vững như bàn thạch).
Tấn công mạnh không được, quân Tần liền định đào địa đạo thông đến dưới tường thành, dùng thuốc nổ để phá hủy nó. Không ngờ địa đạo còn chưa đào xong, đã bị quân thủ thành nước Sở phát hiện bằng thính vạc, dẫn nước đổ ngược vào, làm sập địa đạo, nhấn chìm cả ngàn binh dân nước Tần chết tươi ở bên trong.
Người nước Tần thấy kế này không thành, lại lấy ra vũ khí công thành mạnh nhất đương thời... Ma Thiên Vân Xa (xe mây chọc trời). Đó là những chiếc lâu xa mà hai ba mươi người mới đẩy nổi, trên xe thậm chí có tháp bảo, bên ngoài bọc ba lớp da bò dày, bên trong chứa pháo hỏa và tay cung tiễn, còn có một chiếc thang mây dùng ròng rọc lên xuống, có thể trực tiếp tới tận mặt thành.
Họ đinh ninh rằng lần này nhất định có thể lấy kỳ thắng, thế nhưng khi tháp xa tiến gần tường thành, binh sĩ thủ thành liền ném tới tấp đuốc thấm nhựa thông vào trong tháp xa, còn có từng vại nhựa đường, thiêu cháy tháp xa, rồi dùng cột lớn đẩy đổ thang mây, quân Tần lại gặp thất bại thảm hại...
Ngay trong sự tấn công lặp đi lặp lại, thất bại lặp đi lặp lại ấy, quân Tần nghênh đón tháng cuối cùng của năm Thiên Hựu thứ tám...
Cách thành Thần Kinh năm dặm, trong đại doanh quân Tần tầng tầng lớp lớp như nấm mọc, cái lều lớn nhất chính là vương trướng của Tần Lôi. Trong lều trại rộng lớn chất đầy văn thư hồ sơ, trải sa bàn bản đồ, văn lại nội sứ qua lại như thoi dệt, đưa từng phần văn kiện mới vào, truyền đạt từng đạo vương mệnh mới xuống.
Kể từ khi đại chiến thống nhất bắt đầu, công văn qua lại chỗ Tần Lôi đột nhiên tăng nhiều. Ngoài các loại văn kiện chờ phê duyệt như chính vụ, tài chính, danh tiếng nước Tần, thì chính là quân báo chiến trường và tình báo các phương. Thực tế, để giảm bớt áp lực cho Vũ Thành Vương, phàm là những văn kiện không liên quan đến chiến sự thống nhất, thu chi tài chính, nhậm miễn văn võ, sách lược trị quốc, đều giao cho Thừa tướng phủ trong nước xử lý, sau đó do Quán Đào tổng hợp báo cáo kết quả xử lý. Phàm là chuyện liên quan đến chiến khu hai nước Tề, Sở, thì chỉ nhận thư của các tướng lĩnh cầm binh, còn chiến sự cụ thể thì do các chủ tướng tùy cơ ứng biến.
Cứ như vậy, thực tế là đã chia công việc công của nước Tần thành ba khối lớn... Vũ Thành Vương phụ trách tổng lược quân chính, Thừa tướng phủ thực thi chính sự thường nhật, các chủ tướng các phương nắm giữ chiến trường Tề, Sở. Nhưng dù có phân luồng chính vụ thế nào, trên án bàn của Vũ Thành Vương vẫn luôn đầy ắp...
Tần Lôi buộc phải ngoài quân vụ bình thường mỗi ngày, chôn mình trong biển văn thư, phê duyệt văn kiện, thương thảo quân tình. Cứ như vậy, hầu như đêm nào cũng phải quá canh ba mới có thể về hậu trướng nhắm mắt, đầu canh năm, gà gáy lượt đầu, liền lại đúng giờ thức dậy rửa mặt, dùng qua loa chút điểm tâm, liền tới tiền trướng làm việc.
Thế nhưng hôm nay, Vũ Thành Vương nước Đại Tần không màng tới đống tấu chương cao như núi kia, hắn ngồi trên một cái đôn tròn, hai tay chống lên án lớn, đang thẫn thờ nhìn vào sa bàn thành Thần Kinh đã thuộc nằm lòng từ lâu, không hề nhúc nhích.
Mùa đông này đối với hắn mà nói không dễ chịu chút nào, đầu tiên là khí hậu cực kỳ bất thường, nhiệt độ thấp hơn so với những năm trước khá nhiều. Đã sang tháng Chạp rồi, Giang Nam vốn không có tuyết vậy mà lại bay bay những bông tuyết, điều này không nghi ngờ gì đã gây ra không ít phiền toái cho quân đội công thành. Hơn nữa do tính toán không đủ ngay từ đầu, bộ phận quân công không chuẩn bị đủ bông áo, binh sĩ để chống rét, thậm chí đã khoác cả bao tải lên người... thật là điềm chẳng lành mà.
Hơn nữa ở chiến trường phía bắc, sự vây hãm thành Thượng Kinh cũng có hiệu quả rất ít, khiến Vũ Thành Vương vốn đã lo lắng lại càng thêm tuyết trên sương dặm... Quốc vận hơn hai trăm năm của Đại Tần, tương lai của hàng chục triệu con dân, vận mệnh của gần một triệu đại quân đều đè nặng trên vai hắn, áp lực thực sự rất lớn, khiến hắn ăn không thấy ngon, ngủ không thấy yên, cả người gầy đi một vòng, nhưng đôi mắt ưng đó lại sáng hơn bất cứ lúc nào, sáng đến phát khiếp.
Có những người sụp đổ dưới áp lực, có những người bùng nổ dưới áp lực, Tần Lôi chính là loại người sau. Dáng vẻ bây giờ chính là dấu hiệu trước khi hắn bùng nổ!
Thạch Cảm có thể làm chứng, từ lúc sáng sớm dậy, Vương gia vẫn giữ nguyên tư thế này, suốt cả một ngày rồi.
Cho đến khi ngoài trướng vang lên tiếng bẩm báo, mới kinh động tới Vương gia đang thẫn thờ. Tần Lôi hơi ngẩng đầu, cổ họng liền phát ra tiếng kêu rắc rắc như đậu nổ, lại giơ tay lên, lại là một loạt tiếng kêu, rõ ràng là do ngồi quá lâu, cơ thể đang biểu tình phản đối.
Thạch Cảm vội vàng tiến lên đỡ lấy, Tần Lôi lắc đầu, chống tay lên án chậm rãi đứng dậy, vừa vận động gân cốt tê mỏi, vừa thấp giọng nói: "Vào đi."
Bên ngoài đi vào là Thẩm Băng đã nuôi râu, bảy năm trước hắn thành thân với tiểu thư họ Ngưu ở thành Đồng Quan, đã là cha của ba đứa trẻ rồi. Cũng không nói nhảm, từ trong lòng lấy ra một cái bao da, dâng lên trước mặt Tần Lôi bằng hai tay, nói: "Vương gia, thư hồi âm của Nhạc tiên sinh đây."
"Ồ, mau đưa đây." Tần Lôi tiến lên hai bước, tiếp lấy cái bao da đó, gỡ bỏ ấn hỏa lạp niêm phong, lấy ra mảnh giấy viết thư mỏng manh bên trong, không kịp chờ đợi mà xem. Vừa xem vừa gật đầu lia lịa, cuối cùng vỗ tay cười lớn: "Quả nhiên là anh hùng gặp nhau ý lớn, có ông ấy ủng hộ, cô (ta) dám chơi một vố lớn rồi!" Nói đoạn vừa ném bức thư trong tay vào chậu than đốt đi, vừa lớn giọng nói: "Đánh trống nghị sự!"
Sau ba hồi trống vang lên, một đám tướng lĩnh cấp cao liền tụ tập tại đại trướng nghị sự, sau khi bái kiến Vương gia, liền theo quan giai ngồi thẳng tắp, lắng nghe Vương gia huấn thị.
Tần Lôi vẻ mặt nghiêm túc ngồi ở vị trí trên cùng, trước tiên dùng ánh mắt uy nghiêm quét qua mọi người, mới trầm giọng chậm rãi nói: "Quân ta phạt Sở đã hơn một năm, xưa nay thế như chẻ tre, như vào chỗ không người, thế mà lại đụng phải đinh ở dưới thành Thần Kinh này, đánh đi đánh lại năm tháng, binh sĩ tử thương bảy tám vạn người, vậy mà không hề tiến thêm được một tấc, thực sự khiến cô vương ăn không ngon ngủ không yên mà..."
Chúng tướng vội vàng quỳ xuống, trầm giọng nói: "Chúng thần vô năng, khiến Đại Tần chịu nhục, khiến Vương gia lo lòng."
"Đứng lên đi." Tần Lôi xụ mặt nói: "Công quá chờ sau chiến tranh hãy luận định, hiện tại cô vương chỉ hỏi, chư vị đối với cục diện hiện tại nghĩ thế nào, lẽ nào mấy chục vạn đại quân chúng ta, lại không làm gì được một thành Thần Kinh?" Chúng tướng lặng lẽ, đối mặt với đô thành nước Sở ngoan cố khác thường, mọi người đều rất gãi đầu, thầm nghĩ: 'Nếu có chủ ý thì chẳng phải đã bẩm báo từ lâu rồi sao? Còn cần đợi đến lúc họp à?'
Thấy không ai lên tiếng, Tần Lôi liền không khách khí chỉ đích danh: "Tần Hữu Tài, bình thường thì ngươi nói nhiều nhất, sao giờ lại giả câm giả điếc rồi?"
Tần Hữu Tài gãi đầu cười khổ: "Nước Sở hai trăm năm nay giàu chảy mỡ, đem vàng bạc chất cả lên vương thành và tường thành của Thần Kinh. Nhất là mười năm nay lo xa, lại càng không thể coi thường. Đem bức tường bao bên ngoài thành Thần Kinh xây cao đến mười bảy trượng, tường dày hơn mười trượng... mặc dù vẫn không cao lớn bằng Trung Đô, nhưng chúng ta là đất nện bên trong bao gạch đá bên ngoài, bọn họ thì toàn bộ xây bằng gạch đá thành tường dày, bên trong tường thậm chí không có cả đất nện, luận về độ kiên cố thì hơn nhiều lắm. Tường thành như thế này, mặc cho đại pháo hỏa tiễn đủ loại hỏa khí của chúng ta, ném lên trên cũng chẳng tạo nổi một cái hố lớn."
Vừa nói vừa vặn mặt thành trái khổ qua, rầu rĩ nói: "Thêm vào đó lương thảo trong thành phong phú, quân Sở thủ vài năm cũng chẳng hề đói nổi, chết tiệt! Người nước Sở không cầu tiến thủ, nhưng xây thành thì quả thực là tuyệt đỉnh!"
"Những lời ngươi nói ai cũng biết!" Đại ca Tần Hữu Đức ngồi đối diện thấp giọng quát: "Nói cái gì đó có ích đi!"
Nào ngờ Vũ Thành Vương cười ha hả: "Hữu Đức nói sai rồi, Hữu Tài nói không sai... dù có hơi lải nhải chút!"
Tu Cung Thuần ở vị trí dưới cũng gật đầu cười nói: "Vương gia nói đúng lắm, ý của Tần nhị tướng quân là, thành Thần Kinh này công mạnh không xong rồi, chỉ có thể dùng kế sách thôi."
Tần Lôi gõ nhẹ lên mặt bàn, gật đầu cười nói: "Không hổ là người đọc sách, Cung Thuần nói trúng ý rồi." Vừa nói giọng vừa chìm xuống: "Người xưa có câu ba ông thợ giày ngang một Gia Cát Lượng, chư vị không ngại mỗi người một tay, tập hợp trí tuệ, đưa ra một phương pháp chữa đúng bệnh."
Lại là một trận im lặng, may mà không đợi Vương gia chỉ đích danh lần nữa, Tần Hữu Đức liền lên tiếng trước: "Trừ phi giả dạng viện binh, đột phá phòng tuyến của chúng ta, rồi đi dụ địch mở cổng thành, nếu không thực sự khó mà phá thành." Lời này không phải bắn tên không đích, từ tháng trước, quân Tần đã đánh lui mấy đợt quân cần vương rồi, chỉ cần diễn chân thực một chút, người trên thành chưa biết chừng sẽ tin.
Sở Phá nghe vậy liền lắc đầu liên tục: "Chín cổng thành Thần Kinh đều bị chặn hết rồi, cho dù họ có tin thật, người của chúng ta cũng phải leo thang mà lên, căn bản không thể đạt được tính bất ngờ, lực xung kích cũng không biết từ đâu ra. Hơn nữa cũng dễ lộ tẩy, ngược lại làm mất binh mã của ta, không được, không được."
"Trong thành có mấy ngàn tế tác (gián điệp) Đại Tần ta?" Thẩm Băng lạnh lùng nói: "Nếu thừa lúc Chư Liệt tuần tra mặt thành mà đột nhiên ra tay, dùng nỏ mạnh độc dược bắn hắn. Có... bốn phần nắm chắc có thể giết chết hắn."
"Cũng không được!" Thẩm Thanh lắc đầu liên tục: "Đừng nói đến khả năng thất bại cao hơn, cho dù nắm chắc mười phần cũng không được."
Thẩm Băng mặt không chút cảm xúc, giọng điệu lạnh lùng nói: "Ba mươi năm trước bọn họ còn ám sát Hiếu Tông hoàng đế của chúng ta nữa là."
Thẩm Thanh cũng không vội cũng không giận, cười híp mắt bảo đường đệ của mình: "Khi thế lực ngang nhau, bang giao tung hoành, các nước qua lại thi triển cơ mưu, thu mua ám sát là chuyện thường tình, dùng thì không sao. Nhưng hôm nay Đại Tần ta uy nghi bốn biển, tay nắm càn khôn, chính là muốn đánh trận đường đường chính chính, dạy cho trận cuối cùng của nước Sở và nước Tề, thua phải tâm phục khẩu phục!" Hướng về phía Thẩm Băng cười ôn hòa, hắn giải thích: "Từ việc nửa năm nay quân Sở rối loạn nổi lên khắp nơi, không lúc nào không có loạn quân lấy trứng chọi đá, thì thấy rõ người nước Sở vẫn còn ôm ảo tưởng, phải đánh bại Chư Liệt, chứ không phải ám sát, mới có thể dập tắt ảo tưởng này, đạt được mục đích trị an lâu dài."
Tướng lĩnh quân Tần đua nhau gật đầu, đều nói: "Thượng tướng quân kiến thức cao xa, chúng ta không bằng." Thẩm Thanh là quân trưởng Cận vệ quân thứ nhất, quân hàm Thượng tướng, trên giáp trụ đính ba ngôi sao vàng. Hoàn toàn khác hẳn với Thượng tướng quân của nước Tề.
Thẩm Băng cũng xả hơi nói: "Ta không bằng ngươi." Sau đó hiếm khi cười cười: "Vậy theo ý đại ca, nên đánh thế nào đây?"
Đám tướng lĩnh cũng đua nhau nói: "Cũng xin nghe cao kiến của Thượng tướng quân."
"Thủy chiến!" Thẩm Thanh không chút vội vàng nói. Như người có thân phận như hắn, đã dám dạy dỗ người khác, thì chắc chắn là đã có tính toán trong lòng rồi.
"Thủy chiến?" Chúng tướng đồng loạt hít vào một hơi lạnh, chỉ có Tần Lôi mỉm cười an ủi, Dương Văn Vũ gật đầu nhẹ.
"Đúng! Lấy nước làm binh, thủy công thành Thần Kinh!" Thẩm Thanh nói chắc nịch.
"Lấy nước làm binh pháp là như thế nào?" Tần Hữu Tài hỏi dồn: "Điều chiến hạm của chúng ta đến công thành sao?"
"Thủy chiến mà tại hạ nói, không phải là thủy chiến thuyền bè, mà là cuộc chiến quyết nước (xả nước) lấy nước làm binh!" Thẩm Thanh cười tự tin.
Tần Hữu Tài trợn tròn mắt nói: "Quan Vân Trường thủy yêm bảy quân (dìm bảy đạo quân)?"
Thẩm Thanh gật đầu trầm giọng nói: "Không sai, xưa kia học tập bên cạnh Nhạc tiên sinh, từng nghe tiên sinh nói: 'Thành Thần Kinh nằm ở nơi trũng thấp, giữa Tiền Giang và Thái Hồ, một khi Đại Tần ta đào nước Thái Hồ dẫn về phía nam, quyết nước Tiền Giang dẫn về phía bắc, nơi đó tất thành Hồng Trạch (vùng đầm lầy mênh mông), không đánh mà tự bại vậy!'"
Chúng tướng chỉ cảm thấy sau lưng lạnh toát, đều bừng tỉnh đại ngộ, thầm nghĩ: 'Trách không được việc đầu tiên Vương gia đến đây, chính là bắt chúng ta xây tường!' Thì ra từ mùa hè, Tần Lôi đã hạ lệnh thúc đẩy triệu dân phu nước Sở, dựa theo địa thế núi non, xây dựng những bức tường gỗ đá dài hàng chục dặm, cao bốn năm trượng bao quanh thành Thần Kinh. Bao gồm cả người nước Sở, tất cả mọi người đều cho rằng đây là hàng rào ngăn cản người trong thành trốn thoát, và quân cần vương đến tiếp viện... Ai ngờ Vương gia treo đầu dê, bán thịt chó, căn bản không phải chuyện này!
Trách không được Vương gia lặp đi lặp lại nhấn mạnh, phải xây những bức tường này theo tiêu chuẩn xây Vạn Lý Trường Thành, hóa ra là đã sớm chuẩn bị dùng nó làm đê sông rồi!
Chúng tướng không khỏi lén nhìn Tần Lôi, chỉ thấy hắn sắc mặt nặng nề, lông mày nhíu chặt, cũng là vẻ mặt trầm tư. Trong chớp mắt, đều hiểu ra: 'Chắc chắn là phương pháp này có tổn hại thiên hòa, Vương gia không muốn đích thân đề xuất!' Liền đồng loạt nhìn về phía Thượng tướng quân đang thản nhiên tự tại, thầm nghĩ: 'Tâm phúc quả nhiên là lựa chọn số một để gánh tiếng xấu.' Nhưng cũng biết với tính cách ân oán phân minh của Vương gia, sau này chắc chắn sẽ cất nhắc Thẩm Thanh... Dùng chút tiếng chửi rủa sau lưng, đổi lấy vinh sủng đời đời, tên này vẫn là lãi to.
"Thượng tướng quân nói vậy sai rồi, việc này tuyệt đối không được." Ngay khi chúng tướng đang suy nghĩ lung tung, một giọng nói thanh tao vang lên. Không cần nhìn, mọi người đều biết, là 'Đại Tiến sĩ', 'mọt sách' Tu Cung Thuần lên tiếng.
"Có gì không được?" Thẩm Thanh cười nhạt nói: "Cũng xin Tu tiên sinh chỉ giáo." Mặc dù tuổi tác ngang nhau, quan vị lại cao hơn hắn, nhưng Thẩm Thanh vẫn gọi Tu Cung Thuần một tiếng tiên sinh... không vì gì khác, chỉ vì bụng đầy học vấn đó của hắn.
"Thần Kinh, đứng đầu thiên hạ, phong hoa phú quý, tụ hội quá nửa tài phú thiên hạ, sao có thể nhìn nhận như thành trì bình thường?" Tu Cung Thuần khẳng khái nói: "Năm đó Quan Vũ dùng nước, chẳng qua chỉ nhấn chìm mấy vạn binh mã Vu Cấm mà thôi, chưa từng tổn hại đến lê dân. Nhưng ngày nay thì hoàn toàn khác biệt, dân chúng trong thành vượt quá một triệu, bình nguyên Giang Chiết lại là lê dân hàng ngàn vạn, nếu quyết nước sông mà đánh, sao có thể không tử thương hàng vạn thứ dân? Quả thực như vậy, Đại Tần ta dù có được Nam Sở, lợi ở đâu, đạo nghĩa còn ở đâu? Nghĩa lợi đều mất, làm sao yên thiên hạ!"
Người đọc sách chính là gãi đúng chỗ ngứa (phân tích sâu sắc), một hồi lời lẽ liền liên kết phương lược thủy chiến này với đạo nghĩa căn bản thống nhất thiên hạ của nước Tần.
Trong đại trướng nhất thời im phăng phắc. Rõ ràng, chủ đề này quá trọng đại, không một tướng lĩnh nào dám xen lời.
Tần Lôi nhíu mày một chút không ai nhận ra, liếc nhìn Tần Hữu Tài, dở khóc dở cười nói: "Hữu Tài ý thế nào?"
Tần Hữu Tài thực sự muốn hét lớn một tiếng: 'Sao lại là ta nữa?' Nhưng không dám làm bộ ở trường hợp này, đành phải đánh bạo nói: "Theo ý của mạt tướng, đánh trận chính là đánh trận, không thể có nhân từ của đàn bà. Dù sao người nước Sở cũng mắng chúng ta là 'Tần thú', không hành thủy công, chính là uổng công bị họ mắng rồi! Hành thủy công, cũng coi như mắng không uổng công! Giống như Vương gia nói, chỉ cần có thể kết thúc loạn thế này, để bách tính toàn thiên hạ đều được sống cuộc sống an ổn, đây mới là đại đạo, còn lại đều là tiểu đạo, vì đại đạo mà gánh chút tiếng xấu, đáng giá!" Thấy đại ca của hắn chỉ dùng ánh mắt liếc hắn, Tần Hữu Tài rụt cổ lại, lại bồi thêm một câu: "Tuy nhiên thủy chiến việc lớn, không phải mạt tướng có thể quyết định, Vương gia ngài nói sao là vậy, ta bảo đảm nghe lời là được!"