Sau khi cửa ải bị phá, quân Tề không hề nhanh chóng tan tác bỏ chạy khỏi Hổ Lao Quan như người Tần dự liệu. Thay vào đó, một bộ phận quân lính tràn vào khu dân cư đông đúc trong thành, định lợi dụng địa hình hiểm hóc, chằng chịt để cùng Tần quân khai chiến trong ngõ hẻm. Trần Liệt Phong thì dẫn theo một bộ phận quan binh khác, tử thủ trên tường thành phía Đông, hy vọng có thể cầm chân đối thủ cho đến khi viện quân tới nơi.
Nhưng hắn đã đánh giá thấp sự tàn bạo của Dũng Thân Vương. Sau mấy lần định vượt qua đại lộ đều bị quân Tề liều chết kháng cự, phái binh vây quét cũng chẳng mang lại hiệu quả gì, Tần Lịch hạ lệnh phóng hỏa khắp trong thành. Đống củi trong sân, mái nhà tranh gặp lửa liền bắt, rồi bén vào xà nhà, đồ đạc cùng tất cả những gì có thể cháy được... Tần Lịch lại vừa học vừa làm, sử dụng số lượng lớn Độc Long Đạn, biến tòa Hổ Lao Quan vốn kín mít thành một địa ngục trần gian khói lửa mịt mù.
Binh lính quân Tề cuối cùng không thể chịu đựng thêm sự dày vò, ôm đầu chạy tháo thân ra ngoài. Kẻ muốn đầu hàng, kẻ muốn liều mạng, nhưng tất cả đều bị Long Tương Kỵ Binh đang dàn trận đợi sẵn giết sạch không chừa một mống. Lại chẳng biết có bao nhiêu quân Tề bị thiêu chết, hun chết trong biển lửa, ngay cả thi thể cũng chẳng còn nguyên vẹn để mà tìm lại...
Ngọn lửa cháy rừng rực soi sáng bầu trời đêm. Thẩm Thanh thấy tường thành phía Đông được chiếu rọi rõ mồn một, liền đích thân dẫn theo một sư của Quân đoàn một, yểm hộ cho bộ đội pháo binh vượt qua con đường lớn đầy lửa cháy hai bên, tiến đến khoảng đất trống rộng lớn dưới chân thành phía Đông.
Thời đại này, phàm là thành trì hay pháo đài, để phòng địch nhân dùng hỏa công đốt cháy khu dân cư gây ra đại hỏa toàn thành, đều thiết lập một vùng trống trong phạm vi vài chục trượng bên trong tường thành, không cho bách tính xây cất nhà cửa, cũng không được bừa bãi đặt để đồ đạc. Là pháo đài đệ nhất của nước Tề, Hổ Lao Quan càng tuân thủ nghiêm ngặt quy định này, ở hai bên tường thành Đông - Tây đều thiết lập khu vực cách ly dài gần bốn mươi trượng... Chỉ là không ngờ tới, giờ đây nó lại trở thành trận địa pháo binh cho quân Tần oanh tạc chính mình.
Quân Tần dùng máy bắn đá và súng Phật Lang Cơ oanh tạc suốt cả một đêm, đến tận khi trời sáng mới phái quân công thành, hòng chiếm trọn tường thành phía Đông.
Ngoài dự liệu của bọn họ, quân Tề tựa hồ như bò ra từ địa ngục, vậy mà một lần nữa lại đứng đầy trên mặt thành đã biến thành đống đổ nát. Nhìn những quân nhân nước Tề toàn thân đầy vết thương, trông tựa như lệ quỷ dưới Cửu U, binh lính quân Tần vốn trời không sợ đất không sợ cũng không khỏi cảm thấy ớn lạnh.
Sự kháng cự của quân Tề kéo dài đến tận giữa trưa. Sau khi trả giá bằng gần hai ngàn nhân mạng, Thần Võ Sư phụ trách công thành mới hạ gục được toán quân Tề cuối cùng, chính thức kết thúc trận đại chiến Hổ Lao Quan kéo dài năm ngày, khiến tổn thất gần hai vạn tinh binh.
Lúc này, ngọn lửa trong thành vẫn chưa tắt...
Xác nhận không một tên lính Tề nào trốn thoát khỏi Hổ Lao Quan, quan binh quân Tần bắt đầu hoạt động "tìm kiếm Trần Liệt Phong" đầy hứng thú. Vị huynh đài này chính là một trong hai vị Thượng tướng hiếm hoi còn sót lại của nước Tề, giá trị thặng dư cực lớn.
Nhưng họ chỉ tìm thấy một thi thể ông lão mặc bộ giáp đắt tiền, thân thể tàn phá không chịu nổi dưới đống đổ nát trên thành phía Đông. Thông qua việc tra khảo tù binh, họ xác nhận đây chính là Trần Liệt Phong. Ông ta không may trúng đạn trong trận pháo kích đêm qua và tử trận tại chỗ. Binh lính đã đặt thi thể ông trong lầu cổng thành, nhưng sau đó lại bị đại bác oanh tạc làm sập lầu, chôn vùi ông dưới đống gạch vụn.
Khi Thẩm Thanh dâng thanh kiếm Hộ Quốc Thượng Tướng bọc da cá mập, kiểu dáng cao quý lên cho Vũ Thành Vương, khoái cảm của kẻ chinh phục trong lòng Tần Lôi đã tiêu tan, chỉ còn lại sự thương cảm đồng loại, thậm chí là một chút ngưỡng mộ. Xét về bản chất, bọn họ đều là cùng một loại người. Đời người khó tránh khỏi cái chết, so với việc già chết hay bệnh chết, thì chết nơi sa trường, da ngựa bọc thây mới là chốn quy tụ tốt nhất. Nhìn những đối thủ cũ từng người từng người rời bỏ mình mà đi, ngoài sự ngưỡng mộ ra, chỉ còn lại từng đợt cô tịch khó lòng diễn tả...
Tin tức quân Tần chớp nhoáng công phá Hổ Lao Quan đã làm chấn động thiên hạ. Phía nước Tần đương nhiên vô cùng phấn khởi, sĩ nông công thương nô nức quyên góp tiền của, ủng hộ quốc gia tác chiến, báo thù rửa hận. Nhưng đối với nước Tề và nước Sở mà nói, chuyện này không khác nào tiếng sét giữa trời quang!
Viện quân nước Tề nhận được tin, đành phải dừng lại ở vùng Quan Độ, chờ đợi chỉ thị tiếp theo của Bách Thắng Công.
Hai nước nhanh chóng đạt được liên minh vô điều kiện, ước định cùng xuất binh, từ hai phía Đông Nam toàn lực đả kích nước Tần. Thế nhưng tốc độ tập kết quân đội của hai nước thật sự khiến người ta thất vọng. Ngay cả nước Tề đã bị quân địch đánh vào tận cửa ngõ, đến tận cuối tháng Năm mới gom đủ hai mươi lăm vạn quân, hơn nữa lương thảo quân nhu vẫn chưa thể tập hợp đầy đủ, căn bản không đủ sức phát động phản công.
Thực ra thủy quân nước Sở hoàn toàn có thể động thủ bất cứ lúc nào, chỉ là Chư Liệt vẫn đang quan sát... lo sợ nước Tần sau khi chiếm được Hổ Lao Quan sẽ dừng lại tại đó, dốc toàn lực đối phó với nước Sở.
Biết rõ quân bị nước mình lỏng lẻo, lương thảo thiếu thốn, không hề có điều kiện để hội chiến, lại hiểu rằng nước Sở sẽ không ra tay trước, giới quý tộc nước Tề đại diện bởi Dung Thân Vương đều cho rằng nước Tần đang như mặt trời giữa trưa, hùng mạnh không thể địch lại, nên nhượng bộ thích hợp để cầu hòa bình... Lý do của họ rất đầy đủ, dù sao những năm qua cũng đã kiếm được bao nhiêu bạc từ nước Tần, trả lại cho họ một chút để đổi lấy thái bình, coi như của đi thay người vậy.
Nhưng Triệu Vô Cữu kiên quyết không đồng ý. Dựa theo sự hiểu biết của ông về Tần Lôi, gã đó có dã tâm như sói, lòng tham không đáy, nếu không nuốt trọn cả thiên hạ thì chẳng thể thỏa mãn dục vọng của hắn. Chỉ có đánh cho hắn đau, đánh cho hắn bị thương, mới có khả năng đàm phán hòa bình. Nếu không, chỉ có thể là cắt thịt nuôi hổ, tự rước lấy diệt vong!
Bậc danh tiếng lẫy lừng như Bách Thắng Công cũng cho rằng kết quả tốt nhất của cuộc chiến này là thể diện cầu hòa, hoàn toàn không dám xa vời hy vọng đoạt lại Hổ Lao Quan. Điều này không thể không nói là nỗi bi ai của nước Đại Tề đường đường...
Nhưng lúc này, theo sự già nua và thất bại của Bách Thắng Công, uy tín của ông đã không còn được như trước. Nếu không phải quyền quân đội vẫn còn nằm trong tay, e rằng ông sớm đã bị đám vương công đại thần kia đánh đổ. May thay, quan điểm "trước chiến sau hòa, cứng rắn đối đãi" của ông đã nhận được sự ủng hộ của Thừa tướng đại nhân Thượng Quan Vân Hạc. Để thuyết phục đám quý tộc phe đầu hàng, Thượng Quan Thừa tướng đã viết bài "Khuyến ngã hoàng toàn lực dữ Tần quốc nhất chiến thư" nổi tiếng trong sử sách, gọi tắt là "Khuyến Chiến Thư". Bài văn này thường được các học giả đời sau trích dẫn, dùng làm luận cứ để phân tích việc nước Tần độc chiếm ngôi đầu trong giai đoạn hậu kỳ, trích lục như sau:
"Nước Tần chiếm cứ hùng quan Nam Bắc, sở hữu vạn dặm đất màu mỡ, anh em đồng lòng, quân thần tinh tiến, có ý chí cuốn sạch thiên hạ, bao trùm vũ nội, tóm gọn bốn biển, tâm ý thôn tính tám cõi! Vào thời bấy giờ, Vũ Vương Tần Lôi nội lập pháp độ, trừ lao dịch, giảm sưu thuế, chú trọng cày cấy dệt vải, thông thương mại, tu sửa công cụ thủ chiến, luyện trăm vạn hùng binh, tích rộng lương thảo mà thong thả xưng bá! Thế là trải qua mấy năm, biến pháp thành công, biển lặng sông trong, quốc lực hưng thịnh, trên dưới một lòng, sức mạnh vô địch!"
"Nước Tề ta và Nam Sở cũng từng biến pháp, nhưng so với nước Tần hùng mạnh thì có thể nói là khác biệt một trời một vực, sai lệch vạn dặm! Chìa khóa thành bại nằm ở chỗ, nước Tần có sự khai minh của Thiên Hựu Đế, có cường quyền của Vũ Thành Vương; còn Tề, Sở thì không có minh quân, cường thần nào dám lay động tòa Thái Sơn trên đỉnh đầu! Thái Sơn là gì? Chính là vương công quý thích, thế gia hào môn vậy!"
"Họa của nước Đại Tề ta nằm ở hào môn, họa của hào môn nằm ở tham lam vô độ, không muốn tiến thủ! Tử đệ vương công quan vận hanh thông, đầy triều văn võ đều xuất thân từ đó! Quyền bính trong tay nhưng không biết tiết chế, tàn nhẫn chiếm đoạt điền sản trang viên, nô bộc tì nữ, đến nỗi chỉ dăm ba trăm nhà mà chiếm hết chín phần điền sản tài sản thiên hạ! Thế nhưng không hề có lấy một chút phản bổ cho nước Đại Tề!"
"Con cháu bọn họ sinh ra đã phú quý, chuông đồng cơm đỉnh, thế là không lo tiến thủ, buông thả thanh sắc, cùng cực xa hoa dâm dật, thậm chí 'hun áo cạo mặt, tô phấn đánh son', hành vi cử chỉ không khác gì nữ nhân. Bọn người liễu yếu đào tơ này, sao có thể chống lại nước Tần hùng mạnh, trung hưng nước Đại Tề được chứ?!"
"Thế nhưng nước Đại Tề ta biến pháp cũng đã hơn mười năm. Lúc mới bắt đầu tân pháp, chủ công cứ giữ lấy thiên kiến, dẫn đến có những luận điệu bất đồng. Tuy lòng này ngay thẳng, quy về việc lo cho nước, nhưng lời nói sai lệch, ít có điều gì hợp lý. Đến nỗi biến pháp sớm lệnh chiều đổi, dương phụng âm vi, sớm đã luân lạc thành công cụ của quyền quý, cung cấp cho chúng hút máu mủ của dân, đối với bách tính ta thì lợi ít hại nhiều, chịu khổ bởi cái hại này đã lâu lắm rồi!"
"Sự bóc lột man rợ này không thay đổi, dù cho dân số nước Đại Tề ta có đông đến đâu, địa vực có rộng đến mấy, binh mã có tinh nhuệ, tiền lương có nhiều đến bao nhiêu, hễ đến khi chiến tranh là vẫn cứ quốc gia không có binh dùng được, binh lính không có tâm tử chiến! Một khi gặp phải nước Tần hùng mạnh, liền như tuyết gặp nước sôi, nguyên hình lập tức lộ rõ! Thế nên người Tần mới chắp tay lấy được Hổ Lao..."
"Hiện nay Tần Vương Vũ Điền, muốn mượn dư uy của việc chiếm được Hổ Lao, giương dài sách để ngự trị vũ nội, thôn tính Tề, Sở mà diệt chư hầu, bước lên ngôi chí tôn mà chế ngự sáu cõi! Nếu nước Đại Tề ta còn không chấn tác, tất sẽ từ đó mà một gục không dậy nổi, vạn thế cơ nghiệp chấm dứt! Đây chính là nhận thức chung của triều dã các công!"
"Nhưng hoặc có kẻ nói, thù lao cho Tần bằng tiền bạc đất đai, đổi lấy một lúc thở dốc, cũng có thể nhân cơ hội chấn tác, phát phấn đồ cường. Lời này nghe qua có lý, thực ra là tiếng nói vong quốc. Nếu Tề, Sở ta tranh nhau cắt đất bồi thường để hối lộ Tần, mà nước Tần lại không ngừng xuất binh, lấy chiến nuôi chiến, chia cắt sông núi, tể cắt thiên hạ. Tất nhiên sẽ khiến nhân đinh tài phú thiên hạ ùn ùn đổ về nước Tần, lúc đó tất nhiên mạnh càng mạnh, yếu càng yếu, thiên hạ rộng lớn sẽ không còn đất cắm dùi cho bệ hạ!"
"Hiện nay chỉ có cách dốc toàn lực của quốc gia, một trận chiến với bạo Tần! Binh pháp có vân 'Ai binh tất thắng, kiêu binh tất bại'. Hiện nay cả nước trên dưới đều biết nước Đại Tề ta nguy trong sớm tối, đã thành thế ai binh, tất nhiên sẽ toàn lực ứng phó, khôi phục sông núi của ta, máu chưa chảy cạn, quyết không hưu chiến! Mà bạo Tần đoạt được Hổ Lao hùng quan của ta, định là đắc ý dào dạt, cho rằng phần thắng trong tay, tất thành thế kiêu binh. Lấy ai binh tất thắng đối đầu với kiêu binh tất bại, như vậy nước Đại Tề sao có lý nào không thắng? Huống hồ Tề, Tần một khi khai chiến, Nam Sở tất nhiên nhúng tay, đến lúc đó bụng lưng cùng địch, nước Tần sao có lý nào không bại?"
"Tề thắng Tần bại thì ít nhất có thể có được mười năm hòa bình, khi đó bệ hạ chấn tác tinh thần, đại quyền độc lãm, trong tu chính trị, ngoài liên hữu bang, trên trị công khanh, dưới vỗ bách tính, như vậy quân dân đồng lòng, tích trữ quốc lực, mười năm sinh tụ, mười năm giáo huấn, ngoài hai mươi năm, Tần sao còn đáng ngại? Như vậy tất nhiên vạn đời ca tụng sự thánh minh của bệ hạ! Ôi, nếu được như vậy, thần dù gan não đồ địa, chết cũng không hối tiếc!"