Trời đất bất nhân, coi muôn vật như chó rơm. Thánh nhân bất nhân, coi trăm họ như chó rơm.
Giữa trời đất, há giống như ống bễ sao? Trống rỗng mà không cùng kiệt, càng kéo gió càng ra nhiều.
Nói nhiều ắt dễ cùng lý, chi bằng giữ ở chừng mực.
Tôi không biết Lão Tử đã viết nên hai câu đầu của chương 5 như thế nào. Mỗi lần đọc đến đây, tôi đều chấn động, tim đập thình thịch. Những gì tôi cảm nhận được mới lạnh lùng làm sao! Trời đất bất nhân! Thánh nhân bất nhân! Điều này giống với lời kịch Đậu Nga kêu oan hơn:
Cớ sao trời đất thanh trọc chẳng phân?
Cớ sao cõi người đen trắng đảo điên?
Hỏi ông xanh sao dung túng kẻ ác ức hiếp người lành,
Hỏi mặt đất sao gánh chịu oan khiên kỳ lạ,
Đất ơi đất, không phân phải trái thì mi còn làm đất làm gì!
Trời hỡi trời, phán nhầm ngu hiền mi uổng làm trời!
Bất nhân là một từ mang ý chê bai rất nặng, phải vậy không? Nếu chúng ta nói ai đó “giàu mà bất nhân”, chẳng phải giống như đang đấu tố ác bá địa chủ Hoàng Thế Nhân sao?
Thế nhưng, điều Lão Tử nói là một chân lý, ít nhất là một phần chân lý. Trời đất bất nhân, điều này đúng, ít nhất là có tính chân lý tương đương. Đây là sự thật mà rất nhiều người trong rất nhiều năm không dám đối mặt. Lão Tử là người hiểu rõ nhất, mặt trái của lòng nhân ái chính là sự chán ghét, căm hận; không có lòng nhân ái thì cũng không có sự chán ghét, căm hận, không có thiên vị, không có tình cảm. Đối với trời đất, đừng quá đa tình nữa. Giống như danh ngôn của Vương Tiểu Ba, đừng lãng mạn hão huyền nữa.
Trời đất sinh ra muôn vật, nuôi dưỡng muôn vật, tạo nên muôn vật, làm muôn vật vui vẻ, làm muôn vật phấn chấn, đồng thời cũng hủy diệt muôn vật, tôi luyện muôn vật, dằn vặt muôn vật. Trời đất chuẩn bị cho muôn vật bữa tiệc thịnh soạn nhưng cũng chuẩn bị cả rượu độc, chuẩn bị lễ hội nhưng cũng chuẩn bị tang lễ, chuẩn bị sự oanh liệt nhưng cũng chuẩn bị sự lạnh lẽo cô quạnh, chuẩn bị công bằng thiên lý nhưng cũng chuẩn bị những nỗi oan khuất chìm sâu dưới đáy biển, chuẩn bị sự lương thiện cảm động nhưng cũng chuẩn bị sự dã man tàn ác. Sự đa tình của trời đất thực ra là biểu hiện của sự vô tình, là biểu hiện có thể đa tình mà cũng có thể vô tình, có thể thân ái mà cũng có thể ác độc. Đa tình lại bị sự vô tình làm cho phiền muộn, đừng tiếp tục khóc lóc thảm thiết, đa tình hão huyền trước đất trời bao la nữa.
Thực ra, những suy ngẫm tương tự không phải bắt đầu từ Lão Tử, trong "Luận Ngữ" đã ghi lại lời của Khổng Phu Tử: “Trời nào có nói gì đâu? Bốn mùa vẫn vận hành, muôn vật vẫn sinh sôi, trời nào có nói gì đâu?” Lại có "Kinh Thi - Đại Nhã - Văn Vương" nói rằng: “Việc của thượng đế, không tiếng không hơi.” "Lễ Ký - Ai Công Vấn" nói: “Không làm mà vật tự thành, đó là đạo trời.” "Xuân Thu Phồn Lộ - Thâm Sát Danh Hiệu" nói: “Trời không nói, sai người phát biểu ý của mình; trời không làm, sai người hành động ở trong đó.” Tất cả những lời này đều nhằm mục đích giải thích rằng trời vốn không có ý chí, không có yêu ghét, không có mục đích mà làm hay không làm điều gì.
Nhưng Lão Tử là triệt để nhất. Câu trời đất bất nhân của ông mang đến cho bạn một cảm giác lạnh thấu tim gan! Thế là, bạn nhìn thấu: trời đất hoàn toàn không màng tới lòng bác ái, nhân đạo, sự thương xót, khổ nạn, cứu rỗi... của nhân gian các người, ngần ấy thứ rối ren không gỡ ra nổi.
Trời đất bất nhân, thánh nhân bất nhân, đây là hai quả bom sát thương diện rộng, không biết bao nhiêu thế giới màu hồng nhạt mềm nhũn, ngây thơ, lãng mạn hão huyền của tầng lớp trung lưu, tiểu tư sản, cổ cồn trắng, thiếu nữ, thi sĩ đã bị nó thổi bay rồi!
Lại nói đến thánh nhân bất nhân, thì lại càng phức tạp và nhạy cảm hơn.
Tầng ý nghĩa thứ nhất, thánh nhân là người có đạo hạnh, thứ mà ông nắm giữ và tuân theo là đại đạo, là đạo hạnh vô vi mà trị, không nói mà dạy. Ông không cần thứ tình cảm lải nhải, lòng nhân của đàn bà, càng không lấy danh nghĩa lòng nhân để cản trở, cản trở việc nhận thức chân lý, cản trở cuộc sống bình thường thuận theo tự nhiên của trăm họ. Thánh nhân vô vi mà không gì không làm, không nói mà tự dạy. Sự bất nhân của ông là cái nhân lớn nhất, sự vô tình là cái tình lớn nhất: có lợi chứ không có hại cho sự tự do, hạnh phúc trong cuộc sống của trăm họ.
Tầng ý nghĩa thứ hai, Khổng Phu Tử vất vả nhọc nhằn bàn về chữ nhân, có phải đã giảng ra một đống những thứ giả tạo, ra vẻ nhân nghĩa, khuôn sừng thước rỗng, tranh nhau khoe khoang, trách móc lẫn nhau, nhọc dân tổn tài, khô cổ rát họng hay không? Chi bằng bớt nói những lời sáo rỗng to tát, để cho trăm họ được tự nhiên sống qua ngày thì hơn.
Tầng ý nghĩa thứ ba, thánh nhân là đại nhân vật, việc mà đại nhân vật làm là những việc lớn như tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, chứ không phải là thứ tình cảm ủy mị kiểu tôi yêu bạn, tôi đồng cảm với bạn, tôi xót xa cho bạn, tôi là anh chị em ruột thịt của bạn. Trong quá trình đại nhân vật làm việc lớn, không phải là không biết phải trả giá, không phải là không biết đấu tranh là có hy sinh, chuyện chết người vẫn thường xảy ra, nhưng nếu vì thế mà mềm lòng, lưu luyến dây dưa, lúc nên ra tay lại không ra tay thì còn coi là thánh nhân gì nữa? Chỉ có thể coi là phế vật. Sự bất nhân của thánh nhân mới chính là đại nhân: đây chính là lời giải thích cho câu "kẻ bất nhân là kẻ đại nhân".
Tầng ý nghĩa thứ tư, trăm họ không thể trông chờ vào sự thương xót của trời đất, sự thương xót của thánh nhân, không thể há mỏ chờ ăn, mòn mỏi trông chờ nhận được lòng nhân ái, nhận được ban ơn, nhận được sự ấm áp, nhận được sự trợ giúp. Trăm họ phải chuẩn bị sẵn sàng mọi thứ, trải qua gian khổ khó khăn, nhục nhã gánh nặng đường xa, tự lo lấy cho tốt, tự giúp mình, tự giải phóng mình, tự phát triển mình.
Không dựa vào trời đất, không dựa vào thánh nhân, đó chính là sự bắt đầu của việc tự giải phóng bản thân.
Rất nhiều lời lẽ của Lão Tử là dạy con người ta sự mềm mỏng yếu đuối (ít nhất là về mặt bề ngoài) chứ không phải dạy con người ta sự cứng rắn. Thế nhưng, sau khi trải qua sự tàn sát và gột rửa của hai chữ "bất nhân" từ trời đất và thánh nhân, về mặt khách quan, bạn sẽ trở nên chín chắn hơn, kiên cường hơn.
Những người chăm chú đọc "Lão Tử", tuy chưa chắc đã vì Lão Tử mà trở nên kiên cường hùng tráng, nhưng cũng sẽ chẳng đến mức yếu đuối cho cam. Nguyên nhân là ở đây.
Trời đất bất nhân và thánh nhân bất nhân, hai câu nói này khá là tàn nhẫn. Thế nhưng, xét toàn cục tư tưởng của Lão Tử, ông không hề hung ác, khi bàn về chiến tranh binh pháp, ông mang đậm tấm lòng nhân nghĩa. Vậy nên đối với sự "tàn nhẫn" của ông, tôi gọi đó là sự tàn nhẫn của trí tuệ. Điều này không giống với sự tàn nhẫn trong bản tính ác của con người.
Bản thân Lão Tử chưa từng làm việc gì tàn nhẫn, nhưng ông nhìn thấu sự xấu xa trong bản tính con người, nhìn thấu sự vô lực của đạo đức nhân nghĩa, nhìn thấu việc nói nhiều chỉ chuốc lấy sự cùng tận, mặc cho bạn nói ra bao nhiêu lời hay ý đẹp. Ông còn nhìn thấu sự yếu ớt của trăm họ, sự không thể quá nhân từ của thánh nhân, sự làm ngơ không hỏi đến của trời đất, sự bất lực trong một số trường hợp của lòng nhân ái. Ông nhìn thấu như lời Hegel đã nói, bạn muốn bước vào căn phòng này, kết quả cuối cùng chỉ có thể là bước vào căn phòng khác biệt kia. Ông nhìn thấu rất nhiều ảo tưởng tốt đẹp đều chỉ là mong muốn hão huyền. Trí tuệ của ông có thể đã đả kích sự lương thiện, đả kích niềm tin (đối với trời đất và thánh nhân), phá hủy sự ấm áp lãng mạn. Ông nhìn thấu mong muốn về sự tốt đẹp của rất nhiều người, lại chính là thứ đang thúc đẩy họ làm những chuyện ngốc nghếch như mò cá đáy giếng, Nam Viên Bắc triệt (trái ngược nhau), công cốc, phản tác dụng. Ông nhìn thấu biết bao nhiêu kẻ coi chuyện ngốc nghếch là việc lớn, việc tốt, việc thông minh, việc không thể không làm, đang đắc ý vênh váo, hừng hực khí thế làm cho bằng được. Ông biết rõ những kẻ tự chuốc lấy diệt vong thường tự cho là mình đang vác thánh giá; những kẻ hoang tưởng thì tự cho là mình đang xoay chuyển càn khôn; những kẻ thích tranh cường hiếu chiến thì tự cho là mình đang làm gương cho ngàn đời. Những kẻ ôm mộng một bước lên mây chỉ có thể lăn vào vũng bùn, cũng tức là giống như các nhà triết học phương Tây đã nói: vì một loại mong muốn bước vào thiên đường, mà tự đẩy mình xuống địa hình.
Trí tuệ đối với trăm họ mà nói, đôi khi rất tàn nhẫn. Rất nhiều bài viết của Lỗ Tấn từng thể hiện cảm giác tàn nhẫn này:
Giữa lúc cuồng nhiệt hát vang thì lạnh thấu xương; nhìn thấy vực sâu giữa trời cao. Nhìn thấy sự trống rỗng trong mọi ánh mắt; được cứu rỗi trong sự tuyệt vọng...
Có một bóng ma vất vưởng, hóa thành con rắn dài, miệng có nanh độc. Chẳng cắn người khác, lại tự cắn mình, cuối cùng ngã nhào...
(Trích từ "Dã Thảo - Mộ Kiệt Văn")
Chúng ta biết đến một cách gọi, gọi là nỗi đau của trí tuệ, và giờ đây chúng ta lại một lần nữa trải nghiệm được sự nghiêm khắc và tàn nhẫn của trí tuệ.
Chân lý đôi khi rất nghiêm khắc và mang theo vài phần lạnh lùng. Chúng ta có thể lấy thêm một ví dụ còn chấn động hơn: các nhà tư tưởng cách mạng nhấn mạnh sự không thể tránh khỏi của cách mạng bạo lực, điều này không phải vì bản thân các nhà tư tưởng có khuynh hướng bạo lực. Bản thân các nhà tư tưởng không có tiền án thích bạo lực hay thi bạo lực, họ chỉ đem chân lý mang vị đắng nói cho quần chúng mà thôi. Rõ ràng đã nhìn thấy sự bất nhân, nhìn thấy bạo lực, nhìn thấy sự ngu muội, việc nói cho mọi người biết đây là sự bất nhân, đây là bạo lực, đây là sự ngu muội thì mới được coi là nhân từ, hay là che giấu tất cả những điều này, dùng sự ảo tưởng của những bài đồng dao và ca khúc trẻ em thay thế cho việc quan sát và suy ngẫm về thế giới thì mới được coi là nhân từ?
Nhân và bất nhân, tất cả đều nằm ở một ý nghĩ.
Đôi khi bề ngoài có vẻ bất nhân nhưng thực chất lại là đại nhân, thế nhưng cũng phải cảnh giác với việc lấy đây làm cái lý để công khai phủ nhận toàn bộ lòng nhân ái, lòng bác ái. Xét về thế giới quan, chữ nhân là không đủ dùng. Xét về quan hệ nhân sự, quan hệ luân lý chẳng hạn như "ngũ luân" mà người Trung Quốc hay nói, đương nhiên không thể thiếu lòng bác ái.
Đương nhiên, kết luận của Lão Tử hoàn toàn khác biệt với Lỗ Tấn và các nhà tư tưởng cách mạng, kết luận của ông tiêu cực hơn rất nhiều, kết luận của ông đối với nhân sinh quan, giá trị quan tích cực "tự cường không ngừng" chỉ là một sự bổ sung; đối với chứng nóng vội, sự nôn nóng và chủ nghĩa duy tâm chí, đối với những lời sáo rỗng to tát và thói khoác lác, thì lại là một sự điều chỉnh cần thiết; còn đối với toàn bộ cuộc đời của một xã hội, của một con người, thì lại hoàn toàn không đủ dùng.
Giả định như thế này vốn dĩ không hề tồn tại: tôi chỉ đọc mỗi cuốn sách "Lão Tử", chỉ viết mỗi cuốn sách "Về thủ hạ của Lão Tử". Hoặc là người đọc chỉ có thể đọc một cuốn sách như vậy. Tất cả những giả thiết về việc chỉ có một cuốn sách hoặc chỉ đọc một cuốn sách như thế, từ đó dẫn đến những lo lắng, phản cảm, sự bốc đồng muốn tranh cãi, đều là bắn tên không có đích.
Ở đây còn có một vấn đề rất đáng để thảo luận. Trước đó, Lão Tử vẫn luôn bàn về đạo, đến chỗ này thì nhắc đến trời đất, đại đạo trừu tượng và khái quát hơn trời đất rất nhiều. Trời đất, chính là phần cứng của đạo, tôi nghĩ là vậy. Trời đất là phần cứng, cho nên mới phải nhấn mạnh tính phi ý chí, tính phi nhân ái của nó, tính sinh mệnh của nó, tính tự nhiên của nó. Đạo của Lão Tử có hai tầng ý nghĩa, nói từ phần cứng thì đó là tự nhiên, là trời đất, là mập mờ hỗn độn; nói từ phần mềm thì đó là đạo lý, là phép tắc, là quy luật, là chương trình, là định nghĩa, là bản chất và vị thần của khái niệm, là vua của các khái niệm. Đồng thời, cả hai đều có ý nghĩa vô cùng to lớn, đều mang tính tưởng tượng, tính mơ hồ, tính tương đối.
Ở đây lại có một vấn đề lớn nữa, trọng tâm ý nghĩa của "chó rơm" nằm ở đâu? Người bạn Đài Loan, chuyên gia nghiên cứu Lão Tử - Giáo sư Trần Cổ Ứng, đã giải thích nó thành việc để muôn vật tự sinh tự trưởng. Điều này quá dịu dàng, đây rõ ràng là tấm lòng nhân hậu từ bi của thầy Trần đã phóng chiếu lên Lão Tử và cuốn sách. Trộm nghĩ, ý nghĩa cốt lõi của chó rơm chính là kết quả bị hủy diệt hoặc sẽ bị hủy diệt của chúng. Muôn vật đều tồn tại các quá trình sinh, thành, hoại, diệt, cuối cùng chính là tiêu diệt. Cá nhân trăm họ, cuối cùng cũng là cái chết, là hoại diệt. Trung Quốc có rất ít nhà triết học lại thảo luận một cách trang trọng mà cũng vô tình (tức là bất nhân) đến thế về vấn đề hủy diệt.
Thế nhưng, sự hủy diệt hay hoại diệt, vẫn luôn tồn tại trong từng khoảnh khắc, mỗi phút mỗi giây. Nó luôn gắn kết chặt chẽ với sự sinh thành, với sinh mệnh, với sự sinh khởi. Không có sinh mệnh thì sẽ không có hủy diệt, ngược lại, không có hoại diệt thì cũng chẳng có cái gọi là sinh mệnh. Nếu sự tồn tại của bạn chỉ có một trạng thái duy nhất là vĩnh sinh, là sống lâu muôn tuổi mà không có kết cục là cái chết, thì sự sống của bạn có gì để đối chiếu, chứng minh, làm nổi bật và có ý nghĩa nữa? Con người không chết, thì lấy đâu ra ý nghĩa nhân sinh? Người vĩnh sinh, sống một vạn năm và người chưa từng sống dù chỉ một ngày có gì khác biệt? Một tuổi và một triệu tuổi có gì khác biệt? Hạnh phúc và bất hạnh có gì khác biệt?
Tôi vẫn luôn khâm phục giáo lý của đạo Hindu: trong vũ trụ có ba vị thần chính – Brahma, Vishnu và Shiva. Brahma là vị tổ tiên sáng tạo ra muôn vật, là vị thần sáng tạo; Vishnu là đấng duy trì vũ trụ, là vị thần bảo hộ, đồng thời có thể tạo ra và thu phục ma quỷ; Shiva là vị thần hủy diệt, có người nói ngài là vị chủ thần thứ ba, cũng có người nói ngài (hoặc bà) mới là vị chủ thần lớn nhất và quan trọng nhất. Ngài là kẻ phá hoại thế giới, lấy cơ quan sinh dục nam làm biểu tượng, biến hóa khôn lường. Miêu tả cuối cùng này có phần khá hài hước, hóa ra hài hước cũng là một con đường dẫn đến chân lý, cho dù đó chỉ là con đường nhỏ quanh co khúc khuỷu nằm ở vị trí cuối cùng, cho nên mới nói là "đường quanh co dẫn đến chỗ tĩnh mịch". Chữ "u" ở đây là u sâu, là u nhã, là u ám, là u linh cũng là u hài hước. Người hoàn toàn không có khiếu hài hước chính là biểu hiện của sự tâm trí không kiện toàn, nhân cách không hoàn chỉnh, đương nhiên không thể tiếp nhận chân lý, phát hiện chân lý, thấu hiểu chân lý một cách tốt đẹp được.
Sinh thành và hủy diệt, sinh khởi và hoại diệt, đều là những ý nghĩa vốn có của trời đất và thánh nhân, đều là sự thể hiện của đại đạo. Muôn vật có thể trở thành chó rơm, quần chúng (từng cá thể trong trăm họ) có thể trở thành chó rơm, không cần phải khóc lóc thảm thiết. Mà đại đạo trường tồn, trống rỗng mà không cùng kiệt, càng kéo gió càng ra nhiều. Điều này khiến cho chúng ta sau khi bị tạt một gáo nước lạnh lại cảm thấy được sự an ủi và sự minh bạch, sự điềm tĩnh và vững chãi.
Ví trời đất với ống bễ, thật là một cách so sánh vô cùng mới mẻ độc đáo. Đây là tư duy hình ảnh, cũng là sự gượng ép kéo vào. Lão Tử kinh ngạc vì trong cái bễ thổi không có gì cả, thế mà lại thổi ra những luồng gió lớn vô tận, làm cho lửa lò bùng cháy, làm cho nhiệt độ tăng cao, làm cho sắt vụn thành thép thành rồ. Ông đã ngộ ra uy lực vĩ đại của chữ "vô" từ trong đó. Thực ra trong ống bễ không phải là không có gì, mà là có rất nhiều không khí. Lão Tử khi đó vẫn chưa có nhận thức về không khí.
Người xưa cũng có những cách ví von trời đất thành đủ mọi thể loại, phần lớn là ví thành nhà cửa, lều trại. Giống như từ của Tô Thức:
Say tỉnh tỉnh say, xin ngài hãy lĩnh hội hương vị này, rót đầy chén hổ phách bọt thơm sủi tăm. Một khi vào ruột gan, lại mang một bầu không khí mùa xuân khác biệt. Đành lấy rèm chiếu làm trời đất, trước hoa ca múa bên hoa ngủ say. Mặc cho thả hồn trong cơn say khướt. Vẫn còn hơn lúc tỉnh táo, chuốc lấy nỗi u sầu vô cớ.
Trời đất của Tô Thức tràn ngập ý xuân, ý rượu, ý ngủ, ý của bậc tài tử. Ông là tìm thấy hàng ngàn nỗi sầu, hàng ngàn cơn say ngay trong cõi hư vô.
Còn trong "Sắc Lặc Ca" thì lại ca vang như thế này:
Xuyên Sắc Lặc, dưới chân núi Âm Sơn.
Trời giống như chiếc lều lớn, trùm khắp bốn phương.
Trời xanh ngắt, đồng hoang mờ mịt, gió thổi cỏ ngập thấp mới thấy bóng trâu bò.
Đây là nói về chữ "hữu" dưới bối cảnh của chữ "vô", chính nhờ có bối cảnh của chữ "vô", mới có được sự mờ mịt bao la nhường ấy.
Trương Đả Dầu nổi tiếng thì ngâm nga về bầu trời đất sau trận tuyết lớn rằng:
Trời đất một cục lùm xùm, cái giếng trên miệng lỗ đen thui. Chó vàng mình trắng tinh, chó trắng mình sưng phồng.
Cái gọi là trời đất một cục lùm xùm v.v., nghe có vẻ hơi có điểm vô tình va phải Lão Tử. Lùm xùm thì gần gũi với sự hỗn độn, gần gũi với sự mập mờ ảo ảnh, gần gũi với đại đạo rồi.
Còn như việc ví trời đất với ống bễ, thì chỉ có một mình nhà Lão Tử mà thôi. Thế nhưng trong ba bài thơ (từ) kia, đều có cái hương vị "trống rỗng mà không cùng kiệt, càng kéo gió càng ra nhiều" ấy. Than ôi trời đất, biết bao nhiêu nhân vật sinh diệt ở nơi ngươi, biết bao nhiêu câu chuyện bắt đầu và kết thúc ở nơi ngươi, biết bao nhiêu trí tuệ tỏa sáng ở nơi ngươi, biết bao nhiêu tiếng ca tiếng khóc làm cảm động ở nơi ngươi! Ngươi đương nhiên sẽ không cùng kiệt, sẽ không ngừng thổi ra rồi, nếu như ngươi đã cùng kiệt, đã ngừng thổi, thì còn thứ gì có thể sót lại nữa đây?
Nhận thức chân lý, đặc biệt là nỗ lực tiệm cận với chân lý tối cao, chỉ dựa vào suy luận logic, dựa vào thực nghiệm và tính toán, dựa vào sự tổng hợp thực chứng thôi thì vẫn chưa đủ, mà còn phải dựa vào tư duy hình ảnh, dựa vào linh cảm ngộ tính, dựa vào giả định phỏng đoán, đôi khi cũng có thể là gượng ép kéo vào. Phép ẩn dụ ống bễ vừa thú vị lại vừa có hàm ý sâu xa. Trống rỗng mà không cùng kiệt, càng kéo gió càng ra nhiều, không có mà sinh ra có (cho dù không khí là vốn có sẵn, nhưng gió chuyển động lại là thứ "càng ra nhiều"), không cùng không kiệt. Lão Tử thích quan sát những trường hợp đối lập mà thống nhất như thế này, thích nghiền ngẫm cái trắng trong cái đen, cái có trong cái cái không, cái thắng trong cái bại, cái mạnh trong cái yếu. Ông thích nghiền ngẫm đạo và lý từ mặt trái của vấn đề.
Còn có một chi tiết nữa: Trong phần chú giải liên quan của cuốn "Lão Tử Dịch Đọc" của Nhậm Kế Dũ, có nhắc đến việc theo lời giải thích của Ngô Trừng, ống bễ thời cổ đại được làm bằng túi da. Quá tuyệt vời, bởi vì ít nhất là ở Tân Cương, những người thợ rèn nông thôn cho đến nay vẫn đang dùng loại bễ thổi làm bằng túi da cừu, tôi đã tận mắt nhìn thấy rất nhiều lần. Trong những kiến thức liên quan đến Lão Tử, không thiếu những chi tiết cuộc sống, không thiếu bầu không khí cuộc sống.