Trong nhà tôi có khách không mời mà đến. Đó là một phụ nữ trẻ, tự xưng đến từ quê hương xa xôi. Cô ấy đưa thẻ công tác cho tôi xem, nhưng tôi vốn không có thói quen kiểm tra thẻ công tác của người khác ngay tại nhà. Tôi tỉ mỉ quan sát, thầm nghi ngờ liệu cô ấy có thật sự đến từ cái huyện xa xôi đó hay không. Trang phục của cô ấy rất thời thượng, áo sơ mi, chân váy cùng chiếc áo lót cổ bèo nhún lộ ra ngoài rõ ràng là bộ ba món cắt may từ vải đắt tiền rồi "tiêu thụ nội địa"; chỉ có điều đôi giày bán cao gót dưới chân thì kiểu dáng đã lỗi thời lại thêm gia công thô ráp, toát lên vẻ quê mùa. Tuy nhiên ở cái đại đô thị của chúng tôi, hơn bảy phần phụ nữ tân thời ăn mặc chẳng kém gì Hồng Kông, Đài Loan nhưng giày vớ lại rất dễ "lộ cục". Nghe nói có một nhiếp ảnh gia người nước ngoài sau khi đến đại lục đã chụp riêng một bộ ảnh các cô gái đô thị, chia làm hai phần đăng trên tạp chí. Phần hình ảnh từ bắp chân trở lên có lời thuyết minh: "Đố ai đoán được, họ đang đi dạo ở Hồng Kông, Đài Bắc hay Singapore?" Còn phần hình ảnh từ bắp chân trở xuống thì thuyết minh: "Chẳng cần đoán, toàn bộ đều là gái đẹp đại lục." Vị khách sau khi ngồi xuống liền giải thích rõ hơn mục đích chuyến đi: cô ấy muốn tìm hiểu tình hình của Thất cậu cậu tôi. Tôi không khỏi ngơ ngác.
Thất cậu cậu là anh em họ bên ngoại của mẹ tôi. Trong số các em gái ruột của Thất cậu cậu có một người tôi gọi là Bát nương, còn bạn đời của Bát nương theo lý tôi phải gọi là Bát dượng, nhưng vì thấy líu lưỡi, lại thêm chú ấy họ Tào nên tôi gọi luôn là chú Tào. Xét ra xưng hô "Thất cậu cậu" với ba âm tiết cũng đủ líu lưỡi rồi, nhưng không chỉ riêng tôi, mà thế hệ con cháu ngang hàng tôi trong gia tộc đều không giản xưng thành "Thất cậu", mà nhất loạt gọi là "Thất cậu cậu". Ngay cả cha mẹ tôi hay Bát nương, chú Tào, mỗi khi nhắc đến cũng đều nói "Thất cậu cậu cháu" thế này thế nọ, chứ không nói thành "Thất cậu cháu". Thêm một âm tiết hay bớt một âm tiết có đáng để giải thích kỹ thế không? Rất đáng. Ngẫm nghĩ kỹ thì những danh xưng hai âm tiết như "chú Tào", "Thất cậu" hình như thể hiện một loại dương cương khí khái, còn "Thất cậu cậu" lại biến thành cái nét uyển chuyển mềm mại rồi. Quả thực, nhớ lại thì vị Thất cậu cậu này của tôi, bất luận là hình tượng, tính cách hay phong thái, đều tuyệt đối thiếu vắng dương cương khí khái, chỉ khiến người ta liên tưởng đến những thứ mềm mại như nhung thiên nga.
Đầu những năm 50, tôi đã theo cha mẹ định cư ở Bắc Kinh và đang học tiểu học. Một hôm đi học về, tôi thấy trong nhà có hai người lạ. Một người đàn ông béo mập ngồi trên ghế mỉm cười nheo mắt nhìn tôi. Tôi cảm thấy nét nào trên người ông cũng tròn trịa. Cái đầu tròn xoe (ông không để tóc dài, mỗi lần gặp ông, tôi luôn cảm thấy ông như vừa bước ra từ tiệm cắt tóc, không phải kiểu "đầu đinh" góc cạnh thời thượng lúc bấy giờ, mà là kiểu tóc ngắn giữ độ dài đều đặn theo dáng đầu), cái cằm bóng nhẵn tròn xoe, cái bụng tròn xoe, bàn tay tròn xoe và cả mũi giày cũng tròn xoe. Ngũ quan của ông dường như đều mang hình tròn. Mẹ đứng bên cạnh bảo tôi: "Mau chào Thất cậu cậu đi! Cậu và Thất cậu mụ của cháu vừa xuống tàu hỏa đấy." Tôi chào Thất cậu cậu xong liền tiến lại gần gũi với Thất cậu mụ. Hình tượng Thất cậu mụ không có gì đặc sắc, nhưng tôi nhớ mẹ từng nhiều lần nhắc tới, lúc tôi ra đời chính là do Thất cậu mụ đỡ đẻ. Thất cậu mụ là y tá hộ sinh, còn Thất cậu cậu là bác sĩ nha khoa.
Lần đó Thất cậu cậu và Thất cậu mụ nhân kỳ nghỉ phép đã đến Bắc Kinh du lãm. Họ đến từ Thượng Hải. Vì cha tôi ngày nào cũng phải đến cơ quan đi làm nên không thể đi cùng, mẹ tôi tuy là phụ nữ nội trợ không phải đi làm, nhưng một là thể lực không kham nổi việc đi cùng mỗi ngày, hai là còn phải ở nhà lo liệu cơm nước, nên thời gian gian đi cùng cũng có hạn. Tôi rất muốn ngày nào cũng đi chơi với họ, nhưng cha mẹ cùng Thất cậu cậu, Thất cậu mụ đều bảo tôi phải chăm chỉ học hành, thành ra cũng chỉ có thể gửi tâm trí đi du ngoạn cùng họ trong giờ học.
Đừng nhìn Thất cậu cậu phú thái như vậy mà tưởng hành động không linh hoạt, hứng thú du ngoạn của ông dạt dào đến kỳ lạ. Sáng đi tối về đã đành, ông còn có một đặc điểm lớn là phải dựa theo bản đồ và sách hướng dẫn du lịch để đi bằng hết những nơi được đánh dấu và giới thiệu. Chỉ vài ngày sau tôi đã phát hiện Thất cậu mụ thà ở nhà nhặt đậu que, giã bột gạo, tán chuyện tào lao với mẹ tôi chứ không nguyện đi cùng ông nữa. Bản đồ và sách hướng dẫn du lịch của Thất cậu cậu không chỉ có một loại, có cả loại trước và sau giải phóng, còn về loại mới xuất bản lúc bấy giờ thì có bao nhiêu loại ông mua bấy nhiêu. Một buổi sáng khi ăn điểm tâm, ông hỏi cha tôi: "Mộ Matteo Ricci đi thế nào nhỉ?" Cha tôi vốn được coi là một "nhà Bắc Kinh học" mà trước câu hỏi này cũng phải há hốc mồm kinh ngạc. Nhưng đến chiều tối, Thất cậu cậu hứng khởi trở về, mặt mày rạng rỡ tuyên bố với mọi người rằng ông rốt cuộc đã tìm thấy mộ Matteo Ricci trong một góc kẹt nào đó ngoài Phụ Thành Môn. Mẹ tôi hỏi ông phong cảnh rốt cuộc thế nào? Ông bảo có một tấm bia, ông đã nhìn thấy rồi.
Cha tôi nhìn ông, không hỏi cũng chẳng nói gì. Sau này Thất cậu cậu và Thất cậu mụ về Thượng Hải, tôi nghe cha bàn luận với mẹ về Thất cậu cậu thế này: "Cái chú ấy à, đến cả cái danh thắng nhỏ như mộ Matteo Ricci cũng không bỏ qua, nhưng chú ấy chẳng khác nào Trư Bát Giới ăn quả nhân sâm, làm sao nếm ra hương vị gì? Chú ấy chỉ vội vội vàng vàng đi một vòng quanh những nơi sách hướng dẫn đề cập đến để thỏa mãn cái sự 'đã đến đây' mà thôi. Như Matteo Ricci chẳng hạn, chú ấy rốt cuộc biết được bao nhiêu sự tích về vị giáo sĩ dòng Tên người Ý này cơ chứ?" Mẹ tôi phu xướng phụ tùy hùa theo: "Đúng thế! Không chỉ thưởng ngoạn phong cảnh như vậy, ngay cả xem hát cũng thế, kịch gì chú ấy cũng muốn xem, nhưng đến kịch hay kịch dở cũng chẳng phân biệt nổi, hay cũng chẳng thấy khen hay, dở cũng chẳng thấy khó chịu nhíu mày……"
Khi Thất cậu cậu đến Bắc Kinh, quả thực hầu như tối nào ăn cơm xong cũng vội vàng đến rạp hát. Kịch nói đối với ông không tính là "hát", ông chỉ xem tuồng cổ trang. Cha tôi từng đi cùng ông xem bài 《 Bá Vương Biệt Cơ 》 của Mai Lan Phương, anh tư tôi từng đi cùng ông xem bài 《 Hoàng Sơn Lệ 》 của Triệu Vinh Sâm (phái Trình), còn mẹ tôi và Thất cậu mụ thì đi cùng ông nhiều buổi hơn nữa. Tôi lúc nào cũng đòi đi theo Thất cậu cậu xem hát, nhưng đa phần đều bị mẹ giữ lại ép ở nhà ôn bài, tuy vậy tính ra cũng xem được vài buổi. Thất cậu cậu thích xem hát nhưng lại chẳng hiểu gì về hát xướng. Kinh kịch, Côn khúc, Hà Bắc bang tử, Bỉnh bỉnh nhi hí (tức Bình kịch), Khúc kịch (lúc đó mới hình thành) cùng với Hán kịch, Dự kịch, Cống kịch, Hoa cổ hí v.v... vãn cảnh ghé qua biểu diễn ở Bắc Kinh, ông đều đối xử bình đẳng chứ chẳng hề thiên vị loại nào. Rạp hát hạng nhất với các đào kép danh tiếng biểu diễn hay đoàn kịch mạt lưu với diễn viên hạng tư biểu diễn, ông đều ngồi trên ghế như nhau, chẳng biết là cùng thưởng thức hay cùng coi đó là trò tiêu dao qua ngày. Còn nhớ có một lần tôi và mẹ đi cùng ông và Thất cậu mụ xem một vở kịch bang tử có diễn xuất nhạt nhẽo vô cùng. Một tiểu sinh giọng khàn khàn cứ hát mãi không ngừng trên phông nền "Vọng Hương Đài" dựng bằng bìa cứng. Tôi ngủ gật một giấc, mở mắt ra thấy vị tiểu sinh đó vẫn đang hát; lại ngủ gật thêm giấc nữa, mở mắt ra vẫn thấy đang hát! Nhưng tôi liếc nhìn Thất cậu cậu bên cạnh, tư thế ngồi của ông không đổi nhưng hai mắt đã nhắm tịt, ông không những ngủ gật mà còn ngáy khò khò. Rõ ràng ông còn khó lòng thưởng thức khúc vịnh xướng lê thê của vị tiểu sinh đó hơn cả tôi, thế nhưng sau khi tan cuộc kịch, leo lên xe xích lô (dạo đó Thất cậu cậu đi chơi hay đến rạp hát phần lớn đều thuê xích lô), ôm lấy tôi ngồi vững vàng, Thất cậu cậu lại thong thả tự ngôn tự ngữ một câu: "Hát hay quá ta!"
Tôi và Thất cậu cậu không qua lại nhiều. Như vừa nói, ông và Thất cậu mụ sống ở Thượng Hải, còn tôi suốt bốn mươi năm qua luôn sống ở Bắc Kinh. Thất cậu cậu cũng rất ít khi trở thành chủ đề bàn tán của cha mẹ tôi. Nhưng Thất cậu cậu dù sao cũng là một người trong họ hàng thân thích, cho nên đến khi tôi lên đại học rồi đi làm, qua những thông tin vụn vặt tôi cũng biết được không ít chuyện về ông. Nghe nói y thuật của Thất cậu cậu vô cùng cao minh, thuộc hàng cây đại thụ trong giới nha khoa Thượng Hải. Sau giải phóng, ngay lần đầu định mức công tư hợp doanh ông đã kiếm được hơn 200 nhân dân tệ, một mức thu nhập cho đến mười mấy năm trước nghe qua vẫn khiến người ta phải tặc lưỡi kinh ngạc. Ông và Thất cậu mụ không có con cái, do đó cuộc sống của họ tương đối phú túc. Từ cuối những năm 50 ông đã không còn dễ dàng trực tiếp chữa răng cho bệnh nhân nữa mà tận tâm bồi dưỡng học trò. Học trò của ông luôn thiết lập với ông một mối quan hệ thân thiết như cha con, hoặc ít nhất là như chú cháu. Có mấy người thậm chí còn nhận ông làm cha nuôi. Mỗi vị học trò của ông sau này đều trở thành những bác sĩ nha khoa danh tiếng lẫy lừng. Nghe nói các cán bộ cao cấp, danh lưu xã hội ở Thượng Hải đều thường xuyên chỉ danh điểm họ yêu cầu học trò của ông đến khám và làm răng, nếu như chính ông ra tay thì càng cảm thấy vinh hạnh và yên tâm hơn. Ông và các học trò còn có hai điểm được người đời rộng rãi khen ngợi: một là thái độ đối với bệnh nhân là thị dân bình thường tuyệt đối không khác biệt so với giới quyền quý nói trên; hai là tuyệt đối không dựa vào y thuật để mưu cầu lợi ích ngoài luồng, quà cáp nho nhỏ đôi khi nhận một chút là vì nếu không nhận thì e quá tuyệt tình, còn quà quý trọng thì kiên quyết từ chối.
Thời gian ngoài giờ chữa răng ở Thượng Hải của Thất cậu cậu nghe nói đa phần dùng vào hai việc: một là la cà quán xá, hai là đến rạp hát. Rốt cuộc ông ăn uống đến mức trở thành một ông béo tròn quay, nhưng xem hát thì mãi vẫn không thành một tay sành sỏi. Ông ăn uống tuyệt đối không kiêng kỵ thứ gì, đủ loại phong vị, các món ăn ông đều vui vẻ thưởng thức, lại còn tự tay cùng Thất cậu mụ làm tương đậu và xì dầu tại nhà, đây là hai loại thực phẩm ăn kèm gia đình ở quê hương chúng tôi. Trong quá trình chế biến đều phải cố ý để hạt đậu tương mọc nấm mốc, theo lý thì hai vị bác sĩ như họ phải kiêng kỵ nhất loại thực phẩm này, nhưng họ hầu như không ngày nào là không ăn, lại còn cả trứng muối, thịt muối, cá hun khói v.v... Nói cũng lạ, họ ăn cả đời những loại thực phẩm chứa "chất gây ung thư" mà các sách bảo vệ sức khỏe thời nay luôn miệng cảnh báo không nên ăn, vậy mà chẳng ai bị mắc bệnh ung thư cả.
Nói thật thì Thượng Hải ngoài việc la cà quán xá, vào rạp hát ra thì cũng chỉ có dạo cửa hàng, phong cảnh thực sự chẳng có gì, thế là hễ đến kỳ nghỉ, Thất cậu cậu và Thất cậu mụ lại theo thông lệ đi ra khỏi Thượng Hải để ngắm cảnh. Ngay từ đầu những năm 60 ông đã tự túc phí tổn đi máy bay du ngoạn đảo Hải Nam, xét theo phong khí tổng thể của thời đại đó cùng với thân hình đồ sộ của ông thì quả thực không thể không gọi đó là một tráng cử. Nghe nói mỗi lần đi qua một nơi, ông lại dùng chiếc bút lông vẽ một vòng tròn lên bản đồ và sách hướng dẫn du lịch mà ông lưu giữ, dáng vẻ rất giống một vị cán bộ cao cấp phê duyệt văn bản —— vĩnh viễn chỉ vẽ vòng tròn chứ không hề có một chữ một câu phê bình nào.
Trong một thời gian rất dài, những thông tin tôi nhận được đều cho thấy Thất cậu cậu là một người tuyệt đối không quan tâm đến chính trị. Bà con thân thích ở Bắc Kinh, đặc biệt là lứa tuổi như tôi, thường truyền tai nhau những câu chuyện tếu về ông. Chẳng hạn như trong nhà ông tuy vừa đặt báo 《 Giải Phóng Nhật Báo 》, vừa đặt báo 《 Văn Hội Báo 》 lại thêm cả 《 Tân Dân Vãn Báo 》, nhưng đây tuyệt đối không phải vì ông có niềm hứng thú vượt xa người thường đối với thời sự (trong một thời gian dài, tin tức thời sự trên các báo này cơ bản là giống nhau, người quan tâm thời sự nhất cũng chỉ cần đặt một tờ là đủ), mà là vì mục quảng cáo biểu diễn kịch nghệ trên các tờ báo này thường bổ sung cho nhau, nếu một hai tờ báo vì lý do nào đó không đăng đầy đủ thì tờ báo khác nhất định có thể tìm thấy, tiện cho ông đi xem các vở kịch. Loại hình kịch hay biểu diễn nhất ở Thượng Hải là Việt kịch và Hỗ kịch, mặc dù Thất cậu cậu suốt đời không biết nói tiếng Giang Triết và cũng không thể nghe hiểu hoàn toàn tiếng địa phương Thượng Hải, nhưng đối mặt với các buổi biểu diễn Việt kịch và Hỗ kịch, ông vẫn thưởng thức một cách ngon lành.
Có một giai thoại e là hơi quá đà, mang tính chất diễn nghĩa, nhưng ngẫm kỹ lại thì lại vừa hay truyền tải được cái thần thái. Nghe nói đầu những năm 60, khoảng chừng đã bước vào "Thời kỳ khó khăn ba năm", sự bất đồng giữa hai đảng Trung - Xô đã lộ ra trước thế giới thông qua những "Thư công khai" đăng trên báo chí. Một hôm Thất cậu cậu ngồi bên bàn ăn nghe thấy cháu gái hoặc một vị học trò nào đó —— bữa ăn nào ông cũng giữ thân thích hay thậm chí người ghé thăm ngẫu nhiên không mấy liên quan lại ăn cơm —— tranh luận gay gắt về thời sự, hiếm hoi lắm mới mở miệng hỏi một câu: "Sao cơ? Liên Xô rút hết chuyên gia đi rồi à?" Làm cho những người khác —— bao gồm cả Thất cậu mụ —— đều ngơ ngác nhìn nhau, trời đất ơi! Sao giờ này ông mới biết! Người ta đã rút sạch từ một hai năm trước rồi! Mọi người tranh nhau người một câu tôi một lời nhồi nhét cho ông một hồi, vẻ mặt ông vẫn như cũ, thản nhiên và nhàn nhã ăn cơm, chẳng biết ông có lọt tai bao nhiêu chuyện chính trị thời sự mà mọi người vừa nói.
"Đại cách mạng văn hóa" như trận bão tuyết ập đến, tôi bị dọa cho ngơ ngác như con vịt ngốc. Nhưng đến sau mùa thu năm 1966, vì xuất hiện một giai đoạn "chống lại đường lối phản động tư sản", tổ chức đảng, tổ chức công tác cùng "Ủy ban cách mạng" đợt đầu tại trường học của tôi lần lượt bị "phe tạo phản" đánh gục. Mà "phe tạo phản" lại nhanh chóng phân liệt, cho nên xuất hiện một cục diện hỗn loạn tuyệt đối. Sự hỗn loạn tuyệt đối lại tạo ra khoảng trống quyền lực, nhờ đó mọi người ngược lại đều thở phào một hơi. Vừa hay gặp lúc phong trào "Đại xuyến liên cách mạng" nổi lên, thế là tôi cũng cuốn theo cơn lốc "Đại xuyến liên", chen chúc vào toa xe ngồi cứng đông đúc như hộp cá mòi, chui xuống dưới ghế ngồi nằm suốt hơn hai mươi tiếng đồng hồ, đại xuyến liên đến tận Thượng Hải.
Đến Thượng Hải, tự nhiên phải đi thăm Thất cậu cậu và Thất cậu mụ. Theo địa chỉ tìm đến nơi, trong lòng không khỏi hoang mang. Tôi bình thường không hề thư từ qua lại với họ, dựa theo tiêu chuẩn "quét sạch mọi ngưu quỷ xà thần" ở Bắc Kinh thì Thất cậu cậu rất có thể bị quy chụp là "quyền uy học thuật tư sản" mà chịu đả kích, thật không biết tôi có thể thuận lợi gặp được ông hay không. Ông và Thất cậu mụ sống ở một khu dân cư mới vùng cận giao không quá xa trung tâm thành phố. Tôi lại rất thuận lợi tìm được nơi ở của họ, và cũng rất thuận lợi gặp được hai người.
Thất cậu cậu và Thất cậu mụ ước chừng thuộc nhóm thị dân Thượng Hải may mắn sớm nhất được ở nhà lầu theo căn hộ. Phòng ở của họ rộng rãi và gọn gàng. Thất cậu mụ vừa thấy tôi liền "mừng rỡ dạt dào", còn Thất cậu cậu thì lại bình thản, dường như chúng tôi không phải mười mấy năm chưa gặp, mà là mới vừa gặp nhau ngày hôm qua. Tôi thấy đồ đạc nội thất nhà họ bài trí rất giản dị, liền hỏi có phải vì đợt "Pha bốn cái cũ" mà những thứ ngứa mắt đã bị đập bỏ rồi không. Vừa khéo con gái của Lục nương là biểu muội Dao đang ở đó liền bảo tôi rằng nơi này vốn dĩ chẳng có thứ gì đáng gọi là "Tứ cựu". Tôi ở đó mấy ngày, dần dần mới biết nhiều năm qua Thất cậu cậu và Thất cậu mụ vẫn sống như thế. Họ sống rất thoải mái, rất thực tế, thứ cần có đều có đủ nhưng tránh tất cả những "ký hiệu" dư thừa. Chẳng hạn như giường của họ tuy là giường nệm đệm lò xo rộng rãi, nhưng thành giường tuyệt không có kiểu dáng hay trang trí tân kỳ, ga giường, vỏ gối, vỏ chăn phủ lên chất liệu tuy tốt nhưng nhất loạt là màu trơn hoặc chỉ có kẻ sọc hay kẻ caro, không có một bông hoa hay họa tiết nào khác; ghế sofa ngồi rất dễ chịu nhưng kiểu dáng đơn điệu và cổ bạt; trên tường không treo bất kỳ bức ảnh, tranh vẽ hay đồ trang trí nào, không có bình hoa hay đồ trưng bày mang tính trang trí thuần túy nào khác; phích nước nóng có mấy cái nhưng cũng toàn là vỏ màu trơn; trên kệ sách trừ sách y học và từ điển cùng các loại sách công cụ thì không có bất kỳ tác phẩm văn nghệ nào; những bản đồ và sách hướng dẫn du lịch của Thất cậu cậu thực ra chẳng tính là "Tứ cựu" gì, nhưng khi "Văn cách" nổ ra đều đem bán phế liệu hết rồi. Biểu muội Dao bưng một chiếc ấm trà bằng sứ lớn cho tôi xem, cười nói: "Thứ duy nhất có chút 'Tứ cựu' chính là cái ấm này, là Lục nương mua cho Thất cậu cậu, bên trên vốn có hình Ngưu Lang Chức Nữ gặp nhau trên cầu Ô Thước, nhưng em lấy tờ giấy trắng dán đè lên đây một cái là đến chút 'Tứ cựu' này cũng chẳng còn. 'Hồng vệ binh' cũng từng đến lục soát, đến họ cũng phải thốt lên: 'Chà, không ngờ nhà này lại chẳng có lấy một chút 'Tứ cựu' nào!'……" Sau này tôi mới biết thêm, Thất cậu cậu đến cả ảnh cũ cũng không giữ lại tấm nào, mở tủ quần áo của ông ra cũng chẳng tìm thấy bộ âu phục hay cà vạt nào, toàn là đại phong trung sơn —— đương nhiên chất liệu đều rất tốt, kiểu dáng tuyệt đối không có vấn đề gì, áo sơ mi đều là màu trắng; ông cũng không thích đi giày da, toàn là một đống giày vải cũ, nửa cũ và mới.
Biểu muội Dao thấy tôi thì phấn khích không thôi, liên tục hỏi chuyện này chuyện nọ ở Bắc Kinh, thăm dò tin tiểu đạo, đồng thời cũng không ngừng kể cho tôi nghe chuyện này chuyện kia ở Thượng Hải, phát tán biết bao nhiêu tin đồn. Thất cậu mụ thỉnh thoảng chêm vào một hai câu, còn Thất cậu cậu thì không hỏi cũng chẳng nói về chuyện thời sự như vậy, chỉ đơn giản hỏi thăm sức khỏe của cha mẹ tôi, đặc biệt là tình trạng răng miệng.
"Văn cách" khiến Thất cậu cậu không còn kịch cổ trang để xem, lại cũng không thể ra ngoài du sơn ngoạn thủy, đến cả việc vào nhà hàng ăn uống thả giàn cũng bị hạn chế, nhưng ông vẫn có niềm vui của riêng mình —— đó là tự đi chợ nấu ăn ở nhà. "Văn cách" dù sao cũng chẳng chạm tới bàn ăn được, dù sao Thất cậu cậu cũng có tiền, chỉ cần sáng tối xách giỏ đi dạo một vòng quanh chợ rau là trên bàn ăn nhà ông gà vịt cá thịt lại luân phiên không ngừng, món ông nấu còn hợp khẩu vị hơn cả Thất cậu mụ nấu. Trong hơn mười ngày tôi ở đó "Xuyến liên", tôi đã được ăn những món sở trường của ông như chân giò hầm đỏ, đầu sư tử kho Tàu, đậu phụ Ma Bà, gà luộc xé tay, vịt huân khói trà Chương Châu, cùng với đùi ếch rang muối tiêu, ốc ruộng quái vị, chim bồ câu tiềm thanh ngọt... những món trước đây tôi chưa từng được ăn. Vì kinh nghiệm thưởng thức của ông vô cùng phong phú nên phong cách nấu nướng của ông không gò bó theo một khuôn mẫu nào, lại thường dựa theo sở thích cá nhân mà phát huy sáng tạo. Tôi bảo thịt lợn mỡ dở tệ không tài nào ăn nổi, ông không giống như mẹ tôi lấy tình cảnh "Thời kỳ khó khăn ba năm" ra để áp chế tôi: "Cho anh nhịn đói mấy ngày xem anh có tranh nhau ăn không!" Mà ông chỉ lặng lẽ cúi đầu thao tác. Ông đem miếng thịt lợn nhiều mỡ ít nạc luộc chín sơ, sau đó cho vào tủ lạnh (ông e là một trong những thị dân Thượng Hải sớm nhất sử dụng tủ lạnh; chiếc tủ lạnh đó nhớ là tủ lạnh dùng trong y tế, Thất cậu mụ bảo bệnh viện sắp nhập tủ lạnh mới nên thanh lý chiết khấu bán lại cho họ) để một lúc, rồi lấy ra cắt thành từng miếng mỏng dính. Sau đó dùng tương dầu, giấm, muối tinh, đường trắng, mì chính, sốt mè, hành hoa, tỏi xay, dầu ớt cùng chút rượu trắng pha thành nước sốt, đem dội lên đĩa thịt rồi đoan ra trước mặt bảo tôi thử. Tôi nếm thử một miếng quả thực ngon tuyệt đỉnh! Biểu muội Dao đứng bên cạnh tự hào nói: "Đó là tuyệt chiêu của Thất cậu cậu đấy! Luộc chín, làm lạnh, thái mỏng và gia vị đều phải nắm rõ hỏa hầu chuẩn xác mới được! Ai thấy cũng mê, ăn hoài không chán! Mấy miếng thịt mỡ thế này, lúc không ăn cơm lấy ra làm đồ ăn vặt cũng được, nhấp thêm tách trà xanh nóng hổi nữa thì đúng là sướng như tiên!" Tôi đến nay nhớ lại vẫn còn thèm nhỏ nước miếng. Từ đó về sau tôi không còn bài xích thịt lợn mỡ nữa.
Tại bệnh viện của Thất cậu cậu, tự nhiên cũng có những phong trào rầm rộ như lửa trại, cũng quả thực có người theo logic của phong trào mà liệt ông vào phạm trù "quyền uy học thuật tư sản", nhưng ông lại chẳng có chút oán thù gì với ai nên chẳng thể khơi ra nổi một tấm đại tự báo nào. Khi "phe tạo phản" ngẩng cao đầu tập hợp các bác sĩ lương cao trong bệnh viện lại và "lệnh" cho họ mỗi sáng sớm bắt buộc phải đến bệnh viện quét dọn nhà vệ sinh, họ nhìn thấy Thất cậu cậu tự động xếp hàng vào nhóm thì đều không khỏi ngơ ngác —— hóa ra Thất cậu cậu bao nhiêu năm qua vốn là người thích chủ động giúp đỡ công nhân tạp vụ quét dọn nhà vệ sinh, từng bị rộng rãi coi là kẻ quái dị có bệnh sạch sẽ quá mức —— ông không thể chịu nổi bất kỳ nhà vệ sinh nào trong bệnh viện —— bao gồm cả những nhà vệ sinh mà chính ông chẳng bao giờ dùng tới —— có một chút nhếch nhác bẩn thỉu hay bốc mùi hôi thối, mà ông lại không dùng phương thức góp ý hay đề xuất kiến nghị để giải quyết vấn đề này, mà là thân tự làm lấy để dọn dẹp, khử trùng và giữ vệ sinh. Điều này đã làm cảm động tất cả công nhân tạp vụ, các học trò của ông cùng một bộ phận bác sĩ, y tá cho đến nhân viên các khoa phòng, cuối cùng kéo theo cả viện trưởng và bí thư đảng ủy, khiến cho bệnh viện của họ trở thành nơi có nhà vệ sinh sạch sẽ nhất. Một nơi mà nhà vệ sinh đã sạch sẽ rồi thì độ sạch sẽ của các nơi khác tự nhiên không cần phải nói nữa. Tình hình này cũng làm cho hình phạt đối với "ngưu quỷ xà thần" ở bệnh viện họ trở nên không đến mức tủi hổ và khó khăn như các đơn vị khác. "Phe tạo phản" xuất phát từ một loại tâm lý có thể hiểu được, ngược lại lại khuyên lơn Thất cậu cậu thời điểm này không cần tham gia lao động quét dọn nhà vệ sinh nữa. Thế là Thất cậu cậu tự động đề xuất ra ngoài sân giúp đỡ công nhân tạp vụ chăm sóc cây cảnh. Đương nhiên, trừ loại lao động mang tính "cải tạo" này ra, các bác sĩ vẫn chiếu lệ khám răng cho bệnh nhân, Thất cậu cậu cũng vậy. Hai phe "tạo phản" đánh nhau, hai bên đều có người bị đánh vỡ mồm đập nát miệng, họ đều nguyện ý để Thất cậu cậu cùng các học trò xử lý. Thất cậu cậu cùng học trò đối xử với hai bên bình đẳng như nhau, nhẫn nại, tỉ mỉ, tinh tâm chữa trị cho họ, răng cần nhổ thì nhổ, cần trám thì trám, cần trồng thì trồng.
Biểu muội Dao tổng kết lại rồi nói với tôi: "Thất cậu cậu không có ai đấu tố, đương nhiên là vì nhân duyên tốt, không có thù oán với ai. Nhưng điều quan trọng nhất vẫn là ông không phải phe đương quyền, và đặc biệt quan trọng hơn nữa, ông là một kẻ mù tịt về chính trị, ông không phải là đảng viên Cộng sản!"
Nhưng Thất cậu cậu rốt cuộc vẫn chịu đả kích nhắm thẳng vào ông, đó là vào năm 1969 lúc "Thanh lý đội ngũ giai cấp". Tôi ở Bắc Kinh nhận được thư của biểu muội Dao, trong thư cô ấy giản đơn viết: "Hóa ra Thất cậu cậu có vấn đề lịch sử chính trị nghiêm trọng —— ông ấy năm 1927 ở Giang Tây đã thoát đảng! Hiện đã bị 'Ủy ban cách mạng' bệnh viện cách ly thẩm tra." Cái gọi là "cách ly thẩm tra", ở Bắc Kinh dạo đó tục gọi là "lớp bán trú" —— tức bị chỉ định ở trong một "Lớp học tập tư tưởng Mao Trạch Đông" không được về nhà để khai báo vấn đề, lại mượn danh từ của nhà trẻ gọi là "toàn thác", phải do người nhà gửi chăn màng, chậu rửa, bàn chải, kem đánh răng cùng phiếu lương thực, tiền ăn uống v.v..., ngoài giờ thăm nuôi ra thì không được gặp mặt. Tôi xem thư giật mình đánh thót. Tôi giật mình không phải vì chuyện ông thoát đảng, mà vì khó có thể tưởng tượng nổi một người như ông lại có thời từng gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Vị khách không mời mà đến từ quê nhà —— cô gái trẻ ngồi trước mặt tôi, tự xưng là cán bộ của Ủy ban Chí huyện trực thuộc Huyện ủy. Cô ấy cụ thể phụ trách việc sưu tầm, chỉnh lý và ghi chép thành văn phần lịch sử thành lập và phát triển tổ chức Đảng trong sách chí của huyện.
Dưới đây là cuộc đối thoại giữa chúng tôi ——
Cô gái: Chúng tôi đã gửi cho ông mấy lần thư trưng tập tư liệu, ông đều nhận được cả rồi chứ?
Tôi: Nhận được rồi. Đại khái là ba lần thì phải.
Cô gái: Đúng vậy, trong hai năm tổng cộng ba lần. Sao ông không hồi âm cho chúng tôi một lá thư nhỉ?
Tôi: Đương nhiên, thế này là bất lịch sự. Nhưng tôi thật sự không thể cung cấp tư liệu mà các cô cần. Theo như thư các cô gửi thì Thất cậu cậu tôi lại là đảng viên Trung Cộng gia nhập đảng từ năm 1923, hơn nữa còn là Bí thư Chi bộ đầu tiên của Chi bộ Đảng đợt đầu trong huyện, điều này thật sự làm tôi kinh ngạc! Có điều, tôi sinh sau ông ấy hơn ba mươi năm, lại không sống cùng nhau thời gian dài, sao tôi có thể biết được những chuyện đó của ông ấy cơ chứ? Huống hồ, ông ấy cũng đã qua đời mười mấy năm rồi……
Cô gái: Mẹ ông, cha ông hẳn là biết nhiều tình hình của ông ấy, lẽ nào ông chưa từng nghe họ nhắc đến sao?
Tôi: Trong "Văn cách", năm 1969, tin tức Thất cậu cậu bị lôi ra như một "kẻ phản bội" truyền đến tai chúng tôi, sau đó tôi mới nghe cha mẹ, chủ yếu là cha tôi kể lại một số chuyện quá khứ của Thất cậu cậu…… Thế nhưng, những chuyện đó e là không có giá trị tư liệu lịch sử gì, bởi vì cô nên biết, cha tôi chưa từng làm việc chung với Thất cậu cậu, những chuyện về Thất cậu cậu mà ông kể chỉ có một phần nhỏ là ấn tượng quan sát từ bên ngoài, còn đại bộ phận cũng là nghe từ người khác rồi truyền lại, e là đã biến dạng dữ dội, khó mà coi là lịch sử được……
Cô gái: Cha ông có biết Thất cậu cậu từng là Bí thư Chi bộ đầu tiên của Chi bộ Đảng đợt đầu trong huyện không?
Tôi: Tôi nghĩ ông không biết, ông chưa từng nhắc đến điểm này. Năm 1923 cha tôi đã đến phương Bắc học tập, không còn ở quê nhà nữa.
Cô gái: Nhưng Thất cậu cậu năm 1924 cũng đến Bắc Kinh theo ông nội ông mà. Hơn nữa năm 1925 còn cùng ông nội ông đi Quảng Châu dấn thân vào Đại cách mạng……
Tôi: Chuyện này đương nhiên tôi có nghe cha kể qua. Nhưng cô cũng nên biết, mấy năm sau khi Đại cách mạng thất bại thì ông nội tôi qua đời, mười mấy năm sau đó tôi mới ra đời, căn bản chưa từng gặp ông nội, cho nên chuyện Thất cậu cậu đi theo ông nội tôi tham gia Đại cách mạng, chỉ dựa vào lời kể của cha tôi thì liệu có thể có khái niệm rõ ràng được không?
Cô gái: Đương nhiên. Đáng tiếc là cha mẹ ông đều đã qua đời rồi. Chúng tôi bắt tay vào biên soạn đoạn huyện chí này quá muộn! Có điều nếu ông có thể cung cấp một chút tư liệu nghe được từ cha mẹ ông thì đối với chúng tôi ít nhiều vẫn có tác dụng.
Tôi: Chuyện này……
Tôi rất không muốn thuật lại với cô gái đến từ quê hương những gì nghe được từ cha mình.
Tôi từ sớm đã phát hiện cha không thích Thất cậu cậu. Sau khi Thất cậu cậu bị lôi ra ánh sáng, sự coi thường của cha đối với ông hiện rõ ra lời nói. Tôi không muốn thuật lại nhiều hơn không phải vì sợ làm tổn thương tình cảm gia tộc bên ngoại của mẹ, mà vì sợ người ta hiểu lầm cha tôi, cho rằng ông là kẻ thừa nước đục thả câu hay tư duy phiến diện kích động. Khi cha kể cho tôi nghe những chuyện về Thất cậu cậu, tâm trạng của ông vô cùng phức tạp, những hạt giống trong chiều sâu tiềm thức của ông không chỉ phức tạp mà còn va chạm lẫn nhau, mà điều này lại liên quan trực tiếp đến số phận gập ghềnh của chính ông cùng những người khác trong thế hệ đó. Tôi có lẽ vĩnh viễn không thể đi sâu vào tư lộ và ý tứ của cha, do đó nếu thuật lại rất có thể sẽ tạo ra những bóp méo vô ý. Tốt nhất tôi nên dựa vào sức tưởng tượng của chính mình để phác họa lại tất cả, nhào nặn những tài liệu do cha cung cấp vào, đương nhiên cũng có một số tài liệu do mẹ và những người khác cung cấp.
Mọi chuyện phải bắt đầu kể từ ông nội tôi. Ông nội tôi từng là nhân vật nổi tiếng nhất ở quê nhà. Ông đến tỉnh thành tham gia kỳ thi khoa cử cuối cùng thời nhà Thanh và trúng Cử nhân. Nhờ đó ông đến Bắc Kinh để cầu tiến thêm bước nữa trên con đường công danh. Bấy giờ phương Tây đã gõ cửa điện thờ cự đại của Trung Quốc, đến cả triều đình cũng công nhận việc cử Cử nhân xuất dương học tập là một biện pháp hữu ích để củng cố điện thờ Trung Quốc. Thế là hai con đường bày ra trước mắt các Cử nhân để họ lựa chọn: một là theo quy củ cũ ở lại kinh thành chờ bổ nhiệm quan chức, hai là xuất dương lưu học. Ông nội tôi chọn con đường thứ hai. Ông đi Nhật Bản, vào học ở Đại học Waseda tại Tokyo, ngành Nhân loại học. Kết quả ông cũng giống như nhiều Cử nhân lưu học khác, chẳng những không thông qua việc lưu học để trở thành rường cột của triều đình, mà ngược lại lại nảy sinh tư tưởng kích tiến muốn lật đổ điện thờ cổ xưa. Ông tham gia Đồng Minh Hội do Tôn Trung Sơn thành lập. Sau khi trở về Bắc Kinh, ông lại qua lại rất thân mật với Trần Độc Tú, Lý Đại Chiêu... Tinh lực của ông chủ yếu dùng vào các hoạt động xã hội chính trị mà người nhà không mấy rõ ràng, còn thân phận công khai của ông là Thiêm sự tại Mông Tạng Viện (một cơ quan xử lý các vụ việc dân tộc thiểu số của Chính phủ Quốc dân sau khi nhà Thanh sụp đổ), đây cũng là nguồn kinh tế chủ yếu để ông kiếm tiền nuôi gia đình. Không biết vì sao nhờ vào thân phận và nguồn kinh tế như vậy mà ông từng có thời gian sống tốt đến thế —— cha tôi gọi thời kỳ đó là "Thời kỳ Phác Viên", Phác Viên là một dinh thự lớn nằm ở phố Tịnh Thổ Tự phía bắc thành phố mà ông nội thuê, cục diện dinh thự chỉ kém vương phủ bối tử phủ bối lặc phủ, nhưng tuyệt đối cao hơn tứ hợp viện của người giàu thông thường. Theo như cha tôi mô tả, phần nhà ở có sảnh đường trung chuyển tinh tế, hành lang xuyên núi, hành lang gấp khúc dẫn vào viện riêng. Vùng trung tâm là kiến trúc cao đại hiên ngang mái Hiết Sơn đái Quyển Bằng, có các câu đối cột hành lang chữ nổi dát vàng trên nền xanh lam chạm khắc hoa văn, và phía trên cửa chính của ngôi nhà chính vô cùng khí phái có treo một bức đại biển, trên biển viết hai chữ "Phác Viên", tên gọi tổng thể của chiếc dinh thự lớn này cũng từ đó mà ra. Phần phía trước và một bên của dinh thự có núi đất, đá Thái Hồ cùng vô số cây cối cao lớn và hoa cỏ bụi rậm mọc om sòm, điểm xuyết giữa chúng là đình đài cũ kỹ, tạ hoang, bàn đá ghế đá, giếng cổ đăng đài, do lâu ngày không được cố ý dọn dẹp mà để mặc cho sinh diệt, do đó ngập tràn không khí thần bí.
Thời kỳ Phác Viên, ông nội tôi hưởng thụ một sự tôn kính đặc biệt, đó là sự sùng bái và nương tựa đến từ các sĩ nhân lên kinh từ quê hương xa xôi. Nghe nói trong một hai năm đó, hầu như mỗi người đọc sách đến từ quê hương không chỉ nhất định phải đến bái phỏng ông nội tôi để tranh thủ diện kiến lắng nghe giáo huấn, mà còn thường xuyên lưu trú lại trong nhà ông nội tôi, những căn nhà phụ trong dinh thự lớn đó hầu như biến thành ký túc xá miễn phí kiểu hội quán đồng hương. Đến giờ ăn cơm thì càng náo nhiệt, không chỉ những người lưu trú đều ngồi xuống ăn chực, mà còn có những người vốn không sống ở Phác Viên nhưng đặc biệt chạy từ nơi xa xôi đến để ăn chực cơm. Cho nên nghe nói người đầu bếp mà ông nội tôi thuê lúc đó có tới bốn người. Cơm gạo trắng và bánh màn thầu bột mì mỗi bữa đều dùng nia lớn khiêng vào nhà ăn, thức ăn và canh nóng trong tình huống bình thường tuy không đặc biệt cao cấp nhưng phân lượng rất lớn, dọn ra bàn từng đĩa lớn bát to, lúc nào cũng có dưa muối và đậu phụ nhự ăn kèm. Nghe nói mỗi bữa khi dọn cơm người ta không ngồi vị trí cố định mà ngồi tùy tiện, thông thường đương nhiên đều muốn ngồi cùng bàn với ông nội tôi, nhưng ông nội tôi ăn cơm ở bên ngoài nhiều, về nhà ăn cơm ít, nên rất khó có được vinh hạnh ngồi cùng bàn với ông. Nhưng ông nội tôi vì đầy đầu tư tưởng tân phái nên tuyệt đối không làm bộ làm tịch, khi ông về ăn cơm thường bưng bát chủ động chuyển đến chỗ này chỗ kia, vừa ăn vừa trò chuyện với những người trẻ tuổi đến từ quê hương, có đôi khi đột nhiên người đến ăn cơm quá đông, thức ăn cung ứng không kịp, ông nội tôi liền dùng đũa gõ vào đĩa đậu phụ nhự trên bàn, vui vẻ nói: "Mọi người đừng vội, đừng vội ha, để cái này lại cho tôi nhé!" Thế nhưng lại có những thanh niên tinh nghịch bê luôn cả đĩa đó đi, cười hò reo: "Tiên sinh ăn cơm trắng đi! Chúng em ăn cơm chực!" Ông nội tôi liền ngửa cổ cười lớn, thường thường làm cơm trong miệng văng cả ra ngoài. Cũng có đôi khi đột nhiên một bữa nào đó không có nhiều người đến ăn cơm, ông nội tôi lại nhíu mày, rõ ràng trong lòng đang thắc mắc: Hôm nay làm sao thế nhỉ? Thời đó chưa có tủ lạnh, đầu bếp sợ nấu nhiều thức ăn bị thiu cũng thở dài thượt, mà quả thực cũng thường xuyên bị thiu mất nhiều, đành làm lợi cho những người nông dân đến lấy nước thải về làm phân bón.
Thất cữu cữu vốn chỉ là một trong số nhiều thanh niên đồng hương chạy đến Phác Viên để kiếm cơm ăn. Cậu ấy rốt cuộc là lúc đến Phác Viên đã gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc, hay là sau khi đến Phác Viên, thậm chí là qua ông nội tôi mà quen biết Trần Độc Tú, Lý Đại Chiêu hoặc một vị đại biểu Đảng Cộng sản thời kỳ đầu chưa được lưu danh trong thanh sử nào đó rồi mới gia nhập tại Bắc Kinh, hay là cậu gia nhập tại quê nhà, Shanghai hoặc một nơi nào khác trong những lần qua lại giữa quê nhà — Bắc Kinh — Shanghai, điều này tôi không rõ, tin rằng Thất cữu cữu viết rất rõ ràng trong hồ sơ của mình. Điểm này xuất phát từ việc các biên soạn viên đảng sử của huyện ở quê nhà cũng chẳng cần tôi phải khảo cứu chứng thực — nhưng có một điểm cha tôi từng nói với tôi: Ông nội tôi rất thích Thất cữu cữu, thậm chí từ yêu thích phát triển thành cưng chiều.
Đó là thời đại của đại cách mạng. Đầu năm 1925, ông nội tôi quyết định từ bỏ Phác Viên, chuyển bà nội, cha tôi và mấy vị cô cô lúc đó còn chưa thành niên đến một tứ hợp viện rộng rãi, giản dị hơn Phác Viên rất nhiều, rồi tiến về Quảng Châu tham gia cách mạng. Ông quyết định mang Thất cữu cữu đi theo như một đệ tử yêu quý và chiến hữu thân thiết (thật ra về phía Thất cữu cữu mà nói, chẳng cần ai mang đi cả, cậu xem ông nội tôi là tiền bối Cách mạng Tân Hợi đáng yêu lại đáng kính, nguyện thúc đẩy ông gia tăng quan hệ với Đảng Cộng sản Trung Quốc để có lợi cho sự nghiệp cách mạng). Điều này có lẽ đã nảy sinh mâu thuẫn gay gắt giữa cha tôi với ông nội, đồng thời liên quan cả Thất cữu cữu — phải biết cha tôi lúc đó cũng là một thanh niên hăng hái kích tiến, dựa vào đâu mà anh phải ở lại Bắc Kinh gánh vác sức nặng nuôi sống cả gia đình? Dựa vào đâu mà anh không được đến Quảng Châu nơi bùng phát sức hút cách mạng mê người, để trở thành một người cưỡi sóng trong cơn sóng dữ? Lẽ nào Thất cữu cữu thực sự giỏi hơn anh sao? Lẽ nào ông nội ở cùng Thất cữu cữu thì thực sự cảm thấy phấn khởi và vui vẻ hơn ở cùng con trai ruột của mình sao?
Nhưng dù nói thế nào, ông nội cũng đã cùng Thất cữu cữu đi Quảng Châu. Đại gia đình ở Bắc Kinh không thể nhận được tiền ông nội gửi từ Quảng Châu về kịp thời, sau này thậm chí một đồng cũng không nhận được, e rằng ông nội căn bản không gửi nữa. Cha tôi, lúc đó cũng mới chừng 20 tuổi, trong sự va đập cảm xúc yêu giận đan xen dành cho ông nội, đã nghiến răng gánh vác gánh nặng gia đình ngày càng đè nén.
Còn Thất cữu cữu thì sao? Cậu vui vẻ đi làm cách mạng rồi! Nhẹ nhàng đi làm người cưỡi sóng rồi! Theo lời cha tôi kể, Thất cữu cữu thời trẻ không những không phải là một gã béo ủ rũ, mà lại là một người đàn ông khỏe mạnh vóc dáng khá tuấn tú. Cậu để một mái tóc dài dày rậm, lại còn để râu ở hai bên má và cằm. Cha tôi từng chen chúc trong đám đông nghe Thất cữu cữu diễn thuyết. Theo lời ông miêu tả, vị Bolshevik bằng tuổi ông này thể hiện sự thành thục và hùng biện đến kinh ngạc. Cậu bàn luận thiên hạ sự, hoành tảo đương thế hùng, như một ngọn đuốc cháy hết mình bách bách ba ba. Khi không ra điệu bộ, hai lưng bàn tay cậu áp vào mông sau; khi ra điệu bộ, một tay hoặc cả hai tay cậu đột ngột vươn về phía trước lệch một góc, lòng bàn tay dựng đứng, ngũ chỉ gân guốc mở rộng out, "Thủy triều đỏ cuồn cuộn!" "Duy ngã công nông!" Khi những từ ngữ đó phun ra từ miệng cậu, một bộ phận trong thính giả sẽ cuồng nhiệt vỗ tay, còn một số tân nữ tính cắt tóc ngắn, mặc áo ngắn tay rộng màu nguyệt bạch, váy ngắn bách điệp màu đen thẫm, đi tất dày cổ cao, mang giày vải nửa bàn, liền từ đôi mắt ngước nhìn cậu mà lóe lên ánh sáng dịu dàng khác lạ, ngay cả người yêu của cha tôi — mẹ tôi, lúc đó là học sinh Trường Phụ thuộc Đại học Sư phạm Nữ tử Quốc lập, chị em họ của Thất cữu cữu — cũng như thế; cha tôi khi hồi tưởng lại cảnh tượng đó, trong lòng chắc chắn là ngũ vị giao tạp.
Bắc phạt quân tiết tiết tiến về phía bắc. Nghe nói ông nội tôi và Thất cữu cữu đều làm quân y đi theo quân đội. Ông nội lúc học đại học Waseda ở Nhật Bản chủ tu nhân loại học đã từng học qua lớp y khoa, sau này lại chuyên môn đi tu nghiệp ngoại khoa; Thất cữu cữu từ mười mấy tuổi đã đi theo một vị bác sĩ tây y của bệnh viện giáo hội học nha khoa, cho nên hai người làm quân y đương nhiên tương nghi. Nghe nói Thất cữu cữu suốt ngày ở trong trạng thái kích thích phấn khởi, đối mặt với những thương binh máu me đầm đìa được đưa vào dã chiến viện, thường vừa đau lòng cứu chữa, vừa lớn tiếng dùng những từ chửi thề độc địa khắc nghiệt nhất bằng tiếng quê hương chửi quân phiệt và tay sai của chúng, lại thường không thèm nghe lời khuyên ngăn của ông nội tôi và các quân y khác, nhảy dựng lên đòi ra tiền tuyến xông phong hãm trận, và trong trận Đinh Tứ Kiều, quả nhiên đã tự ý rời bỏ chức trách ở dã chiến viện, chạy đi cưỡng chế tham gia cảm tử đội. Nghe nói cậu cao cử một lá chiến kỳ của Bắc phạt quân (tôi không tưởng tượng nổi đó là lá cờ có hoa văn gì), trong khói đạn xông lên trước nhất dưới mưa tên mũi đạn, và cuối cùng đã cắm lá cờ đó lên gian nhà công hạ được. Sự anh dũng, nhiệt tình, lãng mạn, hào phóng của cậu một thời truyền thành giai thoại.
Ông nội tôi và Thất cữu cữu đi theo Bắc phạt quân chiến thắng tiến vào thành Wuhan. Khi đó tôi còn lâu mới ra đời. Sau này tôi mới biết được chuyện gì đã xảy ra từ sách giáo khoa và lời kể của thầy cô. Quốc Cộng phân liệt, đại đồ sát "Mười bốn tháng Tư", khủng bố trắng. Ông nội tôi cùng một nữ xích vệ đội trưởng trốn ra từ Hunan sau "Sự biến Mã Nhật" (kém ông gần 30 tuổi) cùng nhau đến Shanghai đồng cư và khai thác cục diện mới, còn Thất cữu cữu thì chuyển hướng đến Nanchang, Jiangxi. Sau đó chính là cuộc khởi nghĩa Nanchang nổi tiếng trong lịch sử, và khiến chúng ta mỗi năm vào ngày 1 tháng 8 mãi mãi không quên tráng cử này. Đó là một điểm ngoặt trong lịch sử cách mạng Trung Quốc, cũng là một điểm ngoặt trên hành trình cuộc đời của Thất cữu cữu.
Truyền thuyết nói vài giờ trước khi khởi nghĩa, các đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc và quân quan Bắc phạt quân được triệu tập hội nghị, vài nhân vật sau này bưu bỉnh sử sách chủ trì hội nghị đó, họ tuyên bố kế hoạch khởi nghĩa, và trịnh trọng nói: Nguyện ý tham gia thì ở lại; không nguyện ý tham gia có thể thản suất biểu bạch, phát lộ phí xin tốc hồi hương — đương nhiên, không cho phép làm việc có hại cho khởi nghĩa. Thất cữu cữu xuất nhân ý liệu bước lên phía trước ngay tại chỗ, lãnh tĩnh và thanh tích biểu bạch ý nguyện của mình. Cậu không tham gia, cậu sẽ phản hương làm một bác sĩ nha khoa vào ngày thứ hai, cậu tuyệt đối không đầu hàng Quốc dân đảng hay bất kỳ phái biệt chính trị nào khác, cậu sẽ vĩnh viễn rút khỏi chính trị. Cậu không nhận lộ phí phát ra, vì chính cậu có đủ tiền để cung cấp cho việc rút lui. Nói xong, cậu liền từng bước từng bước thối xuất khỏi hội trường, mọi người rẽ ra cho cậu một con đường, rất nhiều ánh mắt bức thị cậu, cậu lại hai mắt không nhìn bất kỳ ai, vận động với tốc độ đều đặn bước ra khỏi đại môn, biến mất trong màn đêm tha hương.
11
Sự bỉ di của cha tôi đối với Thất cữu cữu không chỉ dựa vào tiêu chuẩn đạo đức chính trị thông thường, mà nhiều hơn là ông dùng trải nghiệm của bản thân và một số thân bằng quyến thuộc khác để so sánh song song với cậu, từ đó cảm nhận được một sự bất bình sâu sắc.
Cha tiết lộ đoạn ẩn tư chính trị này của Thất cữu cữu cho tôi nghe là vào thời kỳ sau của "Văn cách". Khi đó cha đã bị cưỡng chế "phục viên" từ một viện trường quân sự trở về quê hương xa xôi và hẻo lánh. Thật ra cha tôi ngay từ thời thơ ấu đã theo ông bà nội chuyển đến Bắc Kinh, mấy chục năm sau chưa từng về lại quê cũ, hơn nữa việc ông chuyển đến viện trường quân sự giảng dạy đã là đầu những năm 60, chuyển đi từ một bộ lớn thuộc Quốc vụ viện ở Bắc Kinh. Việc ông bị cưỡng chế "thối hưu" về quê tự nhiên là do chịu sự bách hại của đường lối cực tả, sau khi "Tứ nhân bang" bị sụp đổ ông mới được bình phản, đó là chuyện sau này. Khi cha tôi gặp nạn, Thất cữu cữu lại vẫn sống an ổn ở Shanghai. Trước đó đã nói Thất cữu cữu thời "Thanh lý giai cấp đội ngũ" cũng từng chịu tác động, bị "lôi ra" tống vào "lớp học ban đêm" "toàn thác", nhưng thời gian đó rất ngắn, rất nhanh đã thực hiện chính sách cho cậu — cho rằng vấn đề lịch sử của cậu đã sớm điều tra rõ ràng, cậu cũng đã sớm khai báo sạch sẽ, cậu chỉ tính là thoát đảng chứ không thể tính là phản đồ. Quả thực cũng đúng, dù sao cậu cũng là sau khi lãnh tụ Cộng sản đảng chủ trì khởi nghĩa tuyên bố có thể rút lui, mới công khai minh bạch rút lui trước mặt mọi người. Cậu sau khi rút lui quả thực đã trở về quê nhà, sau này lại đến Shanghai làm một bác sĩ nha khoa chỉ xem răng cho người ta tuyệt đối không tham gia chính trị. Nghe nói Quốc dân đảng thời kỳ "Tiễu cộng" cũng từng phái đặc vụ nghiêm mật giám thị cậu và quấy nhiễu cậu, nhưng cậu quả thực không còn giữ bất kỳ liên hệ nào với Cộng sản đảng và cũng quả thực không cung cấp bất kỳ cơ mật nào về Cộng sản đảng cho Quốc dân đảng; lại nghe nói Quốc dân đảng trong thời kỳ hợp tác Quốc Cộng lần thứ hai và sau Chiến tranh kháng Nhật khi tuyên bố muốn thực hiện hiệp thương chính trị, đã phái yếu viên từng giao thiệp với cậu thời Đại cách mạng đến nhà cậu động viên cậu, bảo cậu ra gánh vác một vai trò trang trí nào đó trong một tổ chức chính trị hòa bình, nhưng đều bị cậu từ chối khéo, cậu gặp những người đến thăm này đều chỉ nhiệt trung việc kiểm tra toàn diện răng miệng cho họ, và cung cấp những kiến nghị thiết thực khả thi về bảo kiện răng miệng, cho nên cuối cùng người ta cũng đành mặc kệ cậu làm bác sĩ nha khoa của cậu.
Không biết khi Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc tiến vào Shanghai, Thất cữu cữu có tâm trạng như thế nào. Khi vết đen lịch sử của cậu bị bộc quang, mà xã hội lại ở trong trạng thái ổn định và mở cửa, một số người trong bệnh viện của cậu, cho đến một số vãn bối trong gia tộc chúng tôi, đều từng phát ra lời nghị luận thế này: Giả sử ngày đó Thất cữu cữu không phải từ hội trường thối xuất mà vẫn giữ trạng thái hăng hái ngang phấn, vậy thì có lẽ vị tướng lĩnh dẫn dắt Giải phóng quân tiến thành sẽ có một người là cậu. Nhưng Thất cữu cữu dường như chưa từng bộc lộ tâm trạng của cậu đối với tiến trình lịch sử vĩ đại này. Cậu vẫn như trước đây vùi đầu trị răng tinh tâm cho bệnh nhân.
Lại nghe nói không lâu sau khi Shanghai giải phóng, một vị lãnh tụ Cộng sản đảng rất nổi tiếng được dẫn đến trước mặt Thất cữu cữu để trị răng, vị thư ký đang giới thiệu với vị lãnh tụ đó Thất cữu cữu là một bác sĩ nha khoa cao minh như thế nào, vị lãnh tụ đó lại đột nhiên vui vẻ kêu to một tiếng, gạt thư ký sang một bên, hô hoán danh hiệu năm xưa của Thất cữu cữu mà không ai biết, một tay nắm chặt lấy tay Thất cữu cữu, cùng Thất cữu cữu ôn lại chuyện cũ — ông nhắc với Thất cữu cữu vài việc cũ của họ trong chuyến tiến quân Bắc phạt, Thất cữu cữu đáp lại hàm hồ, chỉ lo cười mỉm mời vị cố cựu này ngồi xuống xem răng. Sau đó phát sinh một loạt chuyện ngay cả Thất cữu mẫu cũng khó mà hiểu nổi — muốn an bài Thất cữu cữu làm ủy viên Chính hiệp, Thất cữu cữu từ chối; muốn treo danh phó viện trưởng bệnh viện cho Thất cữu cữu (cũng không yêu cầu cậu làm bất kỳ việc gì), Thất cữu cữu từ chối; sau này lại có người của Bộ Thống chiến đến động viên Thất cữu cữu làm gì đó trong "Dân Cách" (vì năm xưa tại Quảng Châu giống như nhiều đảng viên Trung cộng, cũng đồng thời gia nhập Quốc dân đảng, có thân phận Quốc dân đảng viên), Thất cữu cữu cũng từ chối; phái phóng viên tòa báo đến phỏng vấn cậu, muốn biểu dương y thuật y đức của cậu, cậu cáo bệnh xin nghỉ; mời cậu xuất diện hội kiến đối đãi nhân sĩ giới y vụ nước ngoài đến thăm, cậu thoái thác; ngay cả mỗi dịp "Mùng một tháng Năm", "Mùng một tháng Mười" gửi thiệp mời mời cậu xuất tịch các buổi yến hội lớn, tập hội hoặc xem biểu diễn của thành phố, cậu cũng đều không đi. Càng cổ quái hơn là, các tổ chức như hiệp hội, liên nghị hội về phương diện y học cậu cũng không tham gia, tạp chí về phương diện y học hướng cậu ước cáo cậu cũng chưa từng gửi bài, sau này viện định cho đồ đệ của cậu ghi chép lại kinh nghiệm lâm sàng của cậu chỉnh lý thành sách, cậu cũng lắc đầu nói: "Viết ra có tác dụng gì yêu, ta dạy cho chúng nó làm là được rồi mà, chúng nó sau này lại dạy cho đồ đệ của chúng nó là được rồi mà!" Thất cữu cữu rốt cuộc chưa từng giữ bất kỳ chức vụ nào, chưa từng có bất kỳ đầu hàm nào, trên báo chí sách báo cũng chưa từng xuất hiện tên cậu một lần nào, cậu cũng không để lại một bài luận văn càng đừng nói để lại một cuốn sách chuyên ngành. Nhưng Thất cữu cữu từ đêm nổi tiếng trong lịch sử đó cho đến hơn nửa thế kỷ sau khi qua đời, sinh hoạt bình ổn và an thích. Tác động của "Văn cách" đối với cậu mà nói là ngắn ngủi và cũng không mấy mãnh liệt. Nghe nói sau khi cậu được "giải thoát" thả về nhà, câu đầu tiên nhìn thấy Thất cữu mẫu là: "Mau đi mua cái giò heo về ninh, ta thèm lắm rồi yêu!" "Thèm lắm rồi" là tiếng quê hương chúng tôi, ý là một loại hướng vọng mạnh mẽ đã lâu không được ăn đồ tanh. Thất cữu mẫu lập tức xách giỏ bôn hướng chợ rau, và quả nhiên mua một cái giò heo thật to, ninh mềm nhừ thơm phức cho Thất cữu cữu ăn một bữa đã đời. Chi tiết sinh hoạt ăn giò heo này của Thất cữu cữu lọt vào tai cha tôi về sau, đặc biệt khiến ông phẫn muộn, ông có một loại tật hận siêu thường đối với Thất cữu cữu, tôi nghĩ đây có lẽ là vì ông cho rằng số phận quá hời cho Thất cữu cữu rồi. Đứng ở góc độ của cha tôi mà suy nghĩ cho ông, quả thực cũng không thể chịu nổi sự thong dong thong thả của Thất cữu cữu. Năm xưa cha ở lại Bắc Kinh, giương mắt nhìn Thất cữu cữu hớn hở theo ông nội đi Quảng Châu dấn thân vào hồng lưu cách mạng, ông e rằng cho rằng mình đã hy sinh bản thân để thành toàn cho Thất cữu cữu, mà Thất cữu cữu lại chẳng thể đi đến cùng, vào thời khắc quan trọng của cách mạng lại làm đào binh, điều này thôi cũng đành, vị đào binh này mãi cho đến sau khi toàn quốc giải phóng, vẫn kiên trì thoát ly chính trị, thế mà cậu lại có thể bảo toàn! Còn cha tôi thì sao, ông gánh vác gánh nặng sinh hoạt nặng nề (ban đầu là duy trì đại gia đình ông nội bỏ lại, sau này ông kết hôn với mẹ lại nuôi dưỡng năm con trai một con gái), mãi đến trước thềm giải phóng mới coi như rốt cuộc móc nối được với địa hạ đảng, sau giải phóng ông một lòng một dạ theo Cộng sản đảng làm cách mạng, lĩnh thụ chức vụ, đầu hàm, thân phận và sứ mệnh mà đảng giao cho ông, nhiên nhi trong "Văn cách" lại bắt ông vì thế trả giá đắt khó lòng thừa thụ, ông vừa bị phán định là "có vấn đề lịch sử nghiêm trọng", lại càng có một loạt bài viết và ngôn luận bị liệt vào "cỏ độc" thảm tao phê phán, cuối cùng thậm chí bị "phục viên" đến quê hương cực kỳ xa lạ đối với ông, điều này sao có thể làm ông nghĩ cho thông được? Tại sao Thất cữu cữu "tiêu dao pháp ngoại", mà ông lại không thể thoát kiếp nạn? Cha tôi còn nhắc với tôi một loạt trải nghiệm của thân bằng quyến thuộc, trong số họ phần lớn là những ưu tú chi sĩ cùng tham gia cách mạng với Thất cữu cữu và luôn kiên trì đến cùng, thế nhưng người thì bị đấu tố, người thì chịu phạt, thậm chí thảm tử... Thật ra cha cũng không cần nói với tôi nhiều như thế, tôi đương nhiên biết có một vị nguyên soái tên là Hạ Long đã chết thế nào, khi Thất cữu cữu gặm cái giò heo ninh mềm nhừ thơm phức đó, nguyên soái Hạ Long ngay cả nước uống sạch cũng không có mà uống!
12
Nữ lang đến từ quê nhà hỏi tôi có bảo tồn bức ảnh năm xưa của Thất cữu cữu không, tôi nói làm sao mà có được. Thật ra tôi có. Từ di vật của cha mẹ đã khuất, tôi phát hiện một bao ảnh cũ dù trải qua sự tẩy lễ của "Văn cách" vẫn hạnh tồn hạ lại, trong đó có một tấm là của Thất cữu cữu. Mặt sau viết ngày tháng năm, chụp trên đường Bắc phạt, là gửi cho cha tôi "lưu niệm", cha tôi trong "Văn cách" đã hủy bỏ bao nhiêu ảnh cũ bao gồm đại lượng ảnh bản thân mặc tây phục và mẹ mặc kỳ bào, nhưng lại cố tình giữ lại tấm ảnh này của Thất cữu cữu, là xuất phát từ tâm lý thế nào, tôi khó mà đoán được. Có lẽ là vì cho dù "Hồng vệ binh" tra xét ra tấm ảnh này, cũng không thể "thượng cương" được chăng! Vì các "Hồng vệ binh" đều đã xem qua buổi diễn xuất sử thi âm nhạc vũ đạo đại hình 《Đông phương hồng》, biết hát bài "Công nông binh, đoàn kết lại tiến về phía trước", sẽ hiểu được tính chất cách mạng của chiến tranh Bắc phạt. Tấm ảnh này của Thất cữu cữu chụp thật sự không tệ, cậu mặc nhung trang, bên ngoài nhung trang còn có một chiếc áo phong lớn, áo phong rủ phía sau lưng, dài quệt đất, cậu nghiêng mình đối mặt với máy ảnh, một tay chống eo, một chân giẫm lên chiếc ghế gỗ trước mặt, bãi ra một tư thế uy vũ. Tư thế này không biết là tự cậu thiết kế, hay là nhiếp ảnh sư của tiệm chụp ảnh huyện thành nơi cậu đi qua thiết kế giúp cậu. Tóm lại rất diệu, có cảm giác thời đại và sắc thái cá tính mạnh mẽ.
Tôi không nguyện ý cung cấp tấm ảnh này cho văn phòng huyện chí của quê nhà, vì tôi không hiểu tại sao họ lại tôn trọng một nhân vật như Thất cữu cữu như thế, thật ra xét về tổng thể giá trị của cả đời, tôi cảm thấy cha tôi vượt xa Thất cữu cữu, đáng được quê nhà coi trọng hơn, nhiên nhi cha tôi hoàn toàn không có hy vọng được đưa vào huyện chí, đỉnh điểm cũng chỉ là được nhắc đến một câu trong tiểu truyện về ông nội tôi, rằng trong số con cái của ông có một người là cha tôi, khả năng cao hơn là ngay cả một câu cũng không có, hoặc giả trong bản thảo chưa định thì có, đến bản thảo chính thức chắc chắn phải xóa đi — chỉ dựa vào một nguyên tắc tinh luyện.
Tôi đem suy nghĩ này nói với vị nữ lang đến từ quê nhà, cô ấy tỏ ra khá bất dĩ vi nhiên. Chúng tôi có cuộc đối thoại thế này —
Tôi: Các cô sưu tập ảnh của một kẻ đào binh để làm gì chứ?
Nữ lang: Chúng tôi là sưu tập ảnh của vị bí thư chi bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc đầu tiên của huyện.
Tôi: Ý nghĩa của vị bí thư chi bộ đầu tiên đó lại trọng đại đến thế sao?
Nữ lang: Đối với đảng sử của một huyện, đương nhiên quan trọng, đây là lịch sử, phải tôn trọng lịch sử.
Tôi: Tôn trọng lịch sử?
Nữ lang: Đúng. Tôn trọng lịch sử. Lịch sử trước hết là sự thật. Tôi làm công tác cụ thể này, khâu đầu tiên, cũng là khâu quan trọng, chính là thu thập và hoàn nguyên sự thật năm xưa. Bất luận Thất cữu cữu của anh sau này thế nào, năm xưa ông ấy là bí thư đầu tiên của chi bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc đầu tiên trong huyện, vậy thì phải ghi lại ông ấy là bí thư đầu tiên; cho dù sau này ông ấy thoát đảng, mà một đồng chí khác trong chi bộ lúc đó sau này kiên trì cách mạng, lại thiện thủy thiện chung, cuối cùng địa vị rất cao, cái quan luận định đánh giá rất tốt, chúng tôi cũng không thể vì thế mà di thực ông ấy thành bí thư đầu tiên của chi bộ đảng đầu tiên trong huyện để ghi chép, chúng tôi bắt buộc vẫn phải ghi lại: Thất cữu cữu của anh là bí thư chi bộ đầu tiên của Trung cộng. Vì ông ấy chiếm giữ cái "đầu tiên" này, nên chúng tôi dự định sưu tập ảnh của ông ấy. Giống như Trung ương Trung cộng khi làm đảng sử sẽ sưu tập ảnh của Trần Độc Tú vậy, đương nhiên không phải vì ông ấy làm "phái hủy bỏ Thác-trần" mà sưu tập, mà là vì ông ấy là tổng bí thư đầu tiên của Đảng Cộng sản Trung Quốc nên mới sưu tập.
Tôi: Thất cữu cữu của tôi trở thành cái "đầu tiên" này, tôi nghĩ có biết bao nhiêu sự ngẫu nhiên...
Nữ lang: Trần Độc Tú trở thành tổng bí thư đầu tiên của Đảng Cộng sản Trung Quốc, cũng có người cho rằng có sự ngẫu nhiên. Có điều đây thuộc về phân tích nghiên cứu, là một tầng diện khác của lịch sử, cơ sở của lịch sử là sự thật nguyên thủy. Dựa vào cùng một sự thật nguyên thủy người ta có thể hình thành nên các quan điểm lịch sử khác nhau, thậm chí cấu thành các phái biệt sử học hoàn toàn khác nhau.
Tôi: Ồ!
13
Tôi cảm thấy kinh ngạc. Quê nhà lại có tân nữ tính thế này. Kiến giải của cô ấy về lịch sử bất luận có chính xác hay không, nghe qua khá tân triều. Tôi thăm dò được biết, cô ấy chẳng qua chỉ tốt nghiệp trường chuyên khoa sư phạm cấp địa phương, vì cô ấy cũng tính là cán bộ tử nữ tại địa phương, nên sau khi tốt nghiệp không được phân phối đến trường trung học làm giáo viên, mà có được một công việc như hiện tại, bất quá nghe khẩu khí của cô ấy đây cũng chỉ là một khâu trung gian trên đường hướng thượng tiến thủ của cô ấy, bước tiếp theo tôi đoán là chuyển lên một cơ cấu lý tưởng nào đó ở thành phố hoặc trong tỉnh để làm việc.
Cô ấy giảng lịch sử với tôi, nói cho tôi biết lịch sử có mấy tầng diện như thế nào, thật ra không cần cô ấy tuyên dụ, tôi cũng là một người giàu cảm giác lịch sử. Tôi tưởng lịch sử không chỉ bao hàm những con người và sự việc lưu động, xung đột, giao dung, sinh diệt, mà càng bao hàm cả sự thay đổi của cảnh quan không gian. Tôi nhớ lại huyện thành quê hương xa xôi đó. Thời ấu thơ mẹ từng đưa tôi về quê cũ, bất quá tôi không để lại bất kỳ ấn tượng nào. Cảm trí của tôi về quê hương là việc vào thời "Văn cách" về nơi đó thăm cha bị "phục viên" và mẹ đi theo ông. Nhớ là đi xe lửa xuống ở một tiểu trạm chỉ dừng xe hai phút, khi xuống xe trời tối om. Nơi đó chỉ có hai đống kiến trúc, một đống là phòng chờ xe và phòng làm việc của tiểu trạm, một đống là một tòa công xí xiêu xiêu quẹo quẹo. Tôi ngủ một đêm trên chiếc ghế dài mục nát trong phòng chờ xe nhỏ bé của tiểu trạm, nửa đêm mấy lần bị rệp cắn tỉnh, nhưng tôi cư nhiên tỉnh tỉnh ngủ ngủ, ngủ ngủ tỉnh tỉnh ngao ở đó đến sáng rõ, sau khi trời sáng, tôi đã sử dụng cái công xí khiến người ta thán vi quan chỉ đó, sau đó đi bộ hai dặm đường đến bưu điện để đón xe khách đường dài. Chiếc xe khách đó là đồ thải từ trong thành phố xuống, phía trước có "mũi to", tất cả kính cửa sổ đều thiếu mất, do đó trạng thái thông gió cực kỳ lương hảo. Sau khi lên xe tôi chiếm một chỗ ngồi gần tài xế, trên chỗ ngồi tài xế có treo một tấm biển gỗ, trên đó dùng thư pháp vụng về viết: "Cấm hút thuốc. Nghiêm cấm đàm thoại với tài xế". Tài xế lên xe, tạo thành sự đối tỉ tiên minh với hình tượng thấp bé tinh sấu của đám đông mãn mục giai loại ở địa phương, cư nhiên là một gã béo hoành khoan. Hắn vừa lên xe liền có người đưa thuốc lá, hắn liền lập tức hút thuốc, xe phát động, chạy rồi, hắn không ngừng ngoảnh đầu lại, tán dóc với người quen phía sau, ngôn đàm cực hoan, tấm biển cấm hút thuốc và cấm đàm thoại với tài xế đó cứ lắc đung lắc đưa ngay trên đầu hắn. Con đường công lộ thông hướng quê hương là "công lộ chiến bị" không có rải nhựa đường chỉ trải đá dăm, cao thấp nhấp nhô, thời thời có đoạn quanh co trên khâu lăng, tuy sơn lộ đi qua khó gọi là hiểm trở, nhưng thỉnh thoảng ngoài cửa sổ xe cũng có thể trình hiện ra khoảng chênh lệch mười mấy mét, mấy chục mét. Vị tài xế đó mãn bất tại hồ vừa hút thuốc vừa ngoảnh đầu nói cười lái xe, thân xe xóc nảy và ôm cua gấp gáp, làm cho trái tim tôi bất thời nhảy lên tận cổ họng, thế là tôi rốt cuộc không nén nổi mà hỏi vị tài xế đó: "Trên con đường này, từng lật xe chưa?" Hắn nhìn tôi, hắc hắc cười nói: "Làm gì có chuyện chưa lật xe, anh nhìn về phía bên phải xem kìa, đó chẳng phải là chiếc mới lật mấy ngày trước sao?" Xe nảy mạnh một cái, sát qua đá lề đường ngoặt một cái, tôi nhìn theo hướng đầu hắn hất đi, quả nhiên, dưới vực có một chiếc xe hơi phá bốn bánh chổng ngược lên trời đã bị nát bét...
Dù cho thành Bắc Kinh thời đó xa xa không thể so với thành Bắc Kinh hiện tại, nhưng dù sao cũng có khách sạn Bắc Kinh, có đại lộ Vương Phủ Tỉnh, có xe khách đường dài dạng hình hộp mở ba cửa, có kem và nước ngọt cam, tức là tổng thể vẫn còn chút khí tức hiện đại hóa, còn quê hương xa xôi a, trâu cày chậm chạp trong ruộng nước, nhà mái ngói cũ kỹ trong bụi trúc, trên con đường nhỏ hương thân quấn khăn cũ lên đầu vai quẩy bồ cào bắp chân nổi hằn những mạch máu xanh như giun đất, đều làm tôi cảm thấy trang lịch sử giở đến đây dường như lật không nổi, đình trệ trầm lắng...
Nhiên nhi tôi rất nhanh cũng đã thay đổi suy nghĩ, tôi chú ý tới bên cạnh con đường công lộ giản dịch đó cứ cách khoảng trăm mét lại có một tòa bia nhỏ mới dựng, dù dùng gạch không nhiều mà lấy thổ bôi đống thế làm chủ, nhưng đỉnh bia vẫn làm thành hoa cái kiểu cung điện, trung tâm quét vôi trắng, dùng sơn đỏ viết "Chỉ thị tối cao", điều này nhắc nhở tôi rằng bước chân lịch sử không hề né tránh vùng đất cùng hương tích nhưỡng này. Đây dù sao cũng là nơi năm 1923 đã có chi bộ đảng đầu tiên.
Trải qua gần như cả ngày xóc nảy, cuối cùng cũng chạy đến huyện thành. Tôi rất kinh ngạc vì mấy con đường mã lộ rải bằng tro xanh và xỉ lò ở huyện thành, tại sao lại trình hiện ra hình cầu rõ rệt, ở giữa lại cao hơn hai bên khoảng một thước, sau này cha tôi nói cho tôi biết, họ là mô phỏng theo đường nhựa trong thành phố để rải phơi, nhưng cân nhắc đến nhu cầu phơi lúa và thoát nước sau mưa, nên mới tu thành hình vòm như thế. Tại nơi ở của bố mẹ ở quê nhà tôi gặp rất nhiều thân thích, có tiểu cán bộ làm việc ở chính phủ huyện nhiều năm nhưng chưa từng đến thành phố tỉnh; có lão giáo sư dạy môn vật lý cấp hai ở trường trung học huyện nhiều năm nhưng vẫn chưa từng sử dụng đèn điện; cũng có thanh niên ăn mặc thời mao nhất địa phương hỏi tôi từ trên tòa nhà ngũ tầng ở Bắc Kinh nhìn xuống chân có bị bủn rủn không?...
Dù nói thế nào tôi vẫn yêu quê hương của mình, dù sao cùng sơn ác thủy nơi đây đã nuôi dưỡng gia tộc chúng tôi — phụ hệ và mẫu hệ. Đã xuất hiện ông nội tôi, cha tôi, Thất cữu cữu tôi cùng vô số các nhân vật bước ra khỏi thiên địa hiệp tiểu đó, cá nhân mệnh vận của họ, hoặc mạnh mẽ hoặc yếu ớt, hoặc nhất thời hoặc lâu dài giao dung với tiến trình lịch sử hiện đại đương đại của dân tộc.
Hai năm trước tôi từng về quê một lần, nghiêm khắc mà nói là đi ngang qua quê hương, tôi đi theo một đoàn tham quan đến một nơi có ma nhai thạch khắc nổi tiếng. Xe du lịch dừng lại ở quê hương, cho mọi người hai tiếng để ăn cơm. Tôi rất kinh ngạc, đường công lộ đa phần vẫn là công lộ giản dịch rải đá dăm, nhưng những tòa bia "Chỉ thị tối cao" đó đã vô ảnh vô tung, thật không hiểu tại sao ngay cả một tòa cũng không giữ lại, giống như hiện tại trong rất nhiều gia đình cư nhiên không tìm thấy một cuốn ngữ lục "Chỉ thị tối cao" nào vậy, thời đó mỗi gia đình ít nhất cũng có bốn năm cuốn "Hồng bảo thư", hà dĩ sự quá cảnh thiên, lại không còn một vết tích?
Cảm vấn nữ lang tu đảng sử ở quê nhà, đây cũng là một tầng diện của lịch sử sao? Hà dĩ khi tràn đến như túy như cuồng, khi tan đi như vụ như yên?
Nhiên nhi bắt buộc phải quát mục tương khán đối với quê hương. Đường mã lộ hình vòm đã san phẳng tu lại; tòa nhà ngũ tầng đã không còn hiếm hèn; thanh niên đứng trên ban công phủ vọng xuống dưới hai chân chắc chắn sẽ không bủn rủn; trong tủ kính cửa hàng bách hóa trưng bày tivi màu 20 inch; góc đường bên lộ cư nhiên có một tiệm giải khát mới khai trương, có bán cà phê kem!
Khi xe du lịch chạy ra khỏi huyện thành, tôi qua cửa sổ nhìn xa ra điền nguyên khâu lăng, dù vẫn có hình ảnh trâu nước cày ruộng, nhưng trong bụi trúc dù sao cũng tăng thêm nông cư kiểu mới tường trắng ngói xanh, hơn nữa trên mái nhà còn cao tủng ăng-ten hình chữ X. Tôi tin rằng, dù có những thứ hung dũng tràn đến rồi một khi sẽ tan đi, nhưng nơi đã có nhà tầng không thể thối hồi về trạng thái không có nhà tầng; nơi đã có tivi không thể thối hồi về cảnh giới không có tivi; thanh niên đã ăn qua kem cũng không thể lại đi cấm tuyệt máy móc sản xuất đồ uống lạnh... Lịch sử! Sự sơ tùng và kiên thật, vô hình và hữu hình, tình thịnh và tình suy, trì hoãn và đột tiến của ngươi, rốt cuộc vận hành bởi cơ chế nội tại như thế nào?
14
Tỉ mỉ suy nghĩ một chút về quê hương, có giúp ích cho việc hiểu Thất cữu cữu của tôi. Khởi mã có thể hiểu được một nửa.
Đối mặt với thực tại dân tộc đầu thế kỷ này, chấn hưng đồ cường là nguyện vọng chung của rất nhiều người đọc sách, nguyện vọng đó ngưng tụ thành cách mạng, hồng lưu cách mạng đã quét qua đại bán những người đọc sách, đặc biệt là thanh niên nhiệt huyết.
Nhiên nhi Thất cữu cữu hà dĩ trong đêm lịch sử đó, đoạn nhiên thối xuất khỏi hồng lưu, để đi diên tục cuộc sinh mệnh biến thành bình dung ổi tỏa của cậu? Như kim những người thân tộc cùng lứa với tôi đối với sự biến đổi lớn này của cậu mỗi người một ý, có người phán định cậu bị khủng bố trắng làm cho khiếp đảm, có người cổ kế cậu bị sự hỗn loạn của sự thái làm cho u mê đầu óc, có người hoài nghi sự hăng hái kích tiến ban đầu của cậu đã mai phục sự đầu cơ và quyền biến. Nhiên nhi phân tích của Dao biểu muội là có đặc điểm nhất, cô ấy nói đó chắc chắn là Thất cữu cữu rốt cuộc thanh tỉnh lãnh tĩnh phát hiện ra, cậu đã chọn nhầm nhân vật mà mình nên phẫn diễn, cậu nếu như tiếp tục phẫn diễn xuống, không chỉ bản thân cật lực và thống khổ, mà đối với quần thể và xã hội cũng đều sẽ tạo thành tổn thất. Cho nên cậu cấp lưu dũng thối, kịp thời cải phẫn sang nhân vật mà cậu thích nghi, kết quả cậu cải phẫn rất thành công. Hơn nửa thế kỷ nay số người được lợi từ khẩu khang của cậu tính bằng hàng vạn, sở dĩ, cô ấy cho rằng hai phần ba cuộc đời sau cùng nhiều hơn của Thất cữu cữu so với một phần ba cuộc đời trước ngắn hơn kia của cậu càng có giá trị hơn. Cô ấy đoạn nhiên xích thối khảo ngữ "bình dung ổi tỏa" của tôi, cô ấy nói: "Lịch sử cần những nhà cách mạng dũng mãnh tiến lên từ đầu đến cuối, lịch sử cũng cần những bác sĩ nha khoa cần cần nghiệp nghiệp y thuật tinh lương; lịch sử thường thường cưỡng bách một người phẫn diễn nhân vật không thích hợp, năng lực kịp thời phát hiện bản thân không thích hợp, và kịp thời cải phẫn sang nhân vật hợp thích hơn, đây cũng là một loại đại trí đại dũng, đây kháp kháp không phải là bình dung, càng không ổi tỏa."
15
Tranh luận với Dao biểu muội rất bất lợi cho tôi. Vì dù sao cô ấy từng sống bên cạnh Thất cữu cữu nhiều năm, lại tiễn đưa Thất cữu cữu lúc lâm chung. Càng hà huống Dao biểu muội còn nắm giữ một chuyện ẩn tư của Thất cữu cữu, nghe cô ấy kể lại thật khiến người ta hạ tư miên miên.
Theo lời Dao biểu muội kể, đó là một ngày xuân hai năm trước khi Thất cữu cữu qua đời. Đơn vị của cô ấy tổ chức một chuyến lữ du, tại một trấn nhỏ bên vận hà mang đậm phong vị thủy hương Giang Nam, Dao biểu muội cư nhiên đột nhiên buồn đi tiểu, mà bên vận hà nơi đó lại không có công cộng xí sở, bất đắc dĩ, cô ấy liền hướng một vị nương nương đang ngồi bán hàng cản (bán một ít bánh kẹo thuốc lá nhẹ) trước cửa nhà dưới hành lang phong vũ bên vận hà để cầu tình, vị nương nương đó không hề trách móc, liền dẫn cô ấy vào trong nhà mình, dẫn thẳng vào gian trong cùng, đó là một gian phòng ngủ, có giường ngủ mành che kiểu cũ, bàn năm thế cổ cũ, vân vân. Trong phòng có một chiếc tủ quần áo lớn, vị nương nương đó dẫn cô ấy vào sau chiếc tủ lớn, trong khoảng không gian hình tam giác đó, có một chiếc mộc mã dũng được sơn bóng loáng. Điều này đương nhiên đại đại giải quyết nạn đốt lông mày của Dao biểu muội. Sự việc xong xuôi, Dao biểu muội thiên ân vạn tạ, vị nương nương đó càng hiển ra từ mi thiện nhãn, cư nhiên bưng tới một thau đồng múc sẵn nước, đặt trên giá thau cổ sắc cổ hương mời Dao biểu muội rửa tay, rửa xong lại đưa một chiếc khăn lau sạch sẽ cho cô ấy sát tay. Ngay trong lúc Dao biểu muội sát tay, theo lời Dao biểu muội kể, giản trực như có một luồng sấm sét đột ngột bắn vào mắt cô ấy, cô ấy nhất thời ngơ ngác, ngốc sỏa đứng chết dí ở đó.
Nguyên lai, trên tường phòng ngủ đó quải một tấm ảnh cũ 12 inch, lồng trong một khung kính bằng gỗ, trên tấm ảnh đó ngồi ba người thành niên, đứng một đứa trẻ ấu đồng. Người thành niên ở giữa tuổi khá lớn, một bên là một vị phụ nữ, đối tỉ dưới đó tương đương trẻ trung, đứa trẻ ấu đồng đứng ngay trước gối vị phụ nữ. Bên còn lại, là một vị nam sĩ — dù cho vị nam sĩ trên tấm ảnh cũng rất trẻ, và tuyệt không phải gã béo, nhưng Dao biểu muội bổn năng nhận ra được — đó là Thất cữu cữu! Tuyệt đối đúng là cậu!
Dao biểu muội xuất thần nhìn tấm ảnh đó, không khỏi thoát khẩu hỏi: "Trên tấm ảnh là ai thế?"
Vị nương nương đó trả lời cô ấy: "Ở giữa là bố chồng tôi, mất sớm rồi, tôi cũng chưa từng gặp. Bên này là mẹ chồng tôi, mấy năm trước cũng qua đời rồi. Còn đứa nhỏ này ma, là nhà tôi. Ông ấy giờ già lắm rồi, đang làm ở công ty ngũ kim trên trấn."
"Vậy, vị bên này là ai thế ạ?" Dao biểu muội đành chỉ vào vị mà chủ nhà chưa giới thiệu, trừng mắt nhìn hỏi.
"Đó là một vị họ hàng của chúng tôi, tôi và nhà tôi đều gọi ông ấy là Thất cậu cậu theo vai vế của lũ trẻ..."
Có lẽ người phụ nữ kia nhận ra điều gì đó bất thường từ thần thái của biểu muội Dao, nên không có ý định tiếp đón nữa mà lên tiếng nhắc nhở: "Đại muội muội chẳng phải bảo các cô chú sắp sửa tập hợp để về lại Thượng Hải sao? Đại muội muội đừng để lỡ chuyến xe đấy..."
Trong lòng biểu muội Dao rối bời, làm sao đành lòng rời đi. Cô gặng hỏi tiếp: "Mọi người gọi ông ấy là Thất cậu cậu! Vậy bây giờ mọi người còn qua lại với nhau không?"
Sắc mặt người phụ nữ lập tức biến đổi. Theo lời tả của biểu muội Dao, biểu cảm ấy giống như một chậu nước bẩn hắt thẳng vào hồ hoa sen. Bà ta sa sầm mặt mày nói với biểu muội Dao: "Xong việc rồi, mời cô đi cho!"
Biểu muội Dao thẫn thờ rời khỏi ngôi nhà đó, thẫn thờ đi đến điểm tập kết, rồi thẫn thờ bước lên chiếc xe du lịch gắn máy lạnh. Mọi người trong đoàn đều tưởng cô bị bệnh, người thì đưa thuốc, người lại đưa bình nước. Cô ngơ ngác nuốt thuốc, uống nước, rồi nhắm mắt lại, ngả lưng tựa vào ghế. Trong lòng cô như có hàng loạt bộ phim cùng chiếu lên một màn ảnh, mãi cho đến khi xe vào đến khu nội thành Thượng Hải, ngoài cửa xe hiện lên vô số ánh đèn đêm của muôn nhà, cô mới chua chát hối hận —— bản thân lại quên mất không ghi lại số nhà của hộ gia đình đó, càng không kịp biết tên tuổi họ là ai!
Tuy nhiên, khi biểu muội Dao kể lại cuộc gặp gỡ như mơ này với tôi —— thực ra lúc ấy Thất cậu cậu đã qua đời —— chẳng cần cô giúp phân tích, tôi đã lập tức ngộ ra: người đàn ông lớn tuổi hơn trong bức ảnh chính là ông nội tôi, còn người phụ nữ trẻ trung hơn nhiều kia là vị Nữ Đội trưởng Xích vệ đội trong phong trào nông dân Hồ Nam từng yêu thương và sống chung với ông. Tương truyền bà từng là một tay súng hai tay hai súng khét tiếng. Còn đứa trẻ tựa vào gối bà chính là một người chú của tôi! Người phụ nữ bày sạp hàng nhỏ mà biểu muội Dao gặp được, không cần phải nói, chính là một người thím của tôi!
Tôi gặng hỏi biểu muội Dao: Sau khi trở về Thượng Hải, cô đã từng dò hỏi Thất cậu cậu chưa? Ông có thừa nhận từng qua lại với một gia đình như thế không? Họ là ai? Và điều quan trọng nhất là, những năm qua cho đến tận gần đây, ông có còn giữ liên lạc với gia đình đó không?
Biểu muội Dao kể rằng, cô từng tranh thủ một dịp cả Thất cậu mẫu lẫn bảo mẫu đều đi ra ngoài, mà tinh thần Thất cậu cậu lại khá minh mẫn, để kể chi tiết cho ông nghe về cuộc gặp gỡ bên bờ kênh đào tại thị trấn nhỏ kia. Cô đương nhiên tập trung miêu tả bức ảnh cũ đó, đồng thời nhắc lại lời của người phụ nữ bán sạp hàng: "Tôi và nhà tôi đều gọi ông ấy là Thất cậu cậu theo vai vế của lũ trẻ..." Kể xong, cô thẳng thắn hỏi: "Người Thất cậu cậu đó chính là cậu đúng không? Cậu nên nói cho chúng cháu biết về gia đình đó mới phải!"
Theo biểu muội Dao mô tả, Thất cậu cậu rất bình tĩnh nghe cô kể lại mọi chuyện. Đối mặt với câu hỏi cô đặt ra, ông cũng rất thản nhiên, nhưng không trả lời ngay mà im lặng suốt mấy phút. Trong mấy phút đó, biểu muội Dao dán chặt mắt vào Thất cậu cậu để quan sát kỹ lưỡng. Thất cậu cậu ngồi trên ghế mây, mười ngón tay mập mạp đan vào nhau đặt trên chiếc bụng phệ tròn quay, đôi mắt nhìn ra ngoài cửa sổ. Biểu muội Dao dường như bắt gặp được điều gì đó từ sâu thẫm trong đôi mắt ông, như tia lửa lóe lên, hay như giọt lệ trong suốt, lại có chút giống như làn mây phiêu diêu. Nhưng chỉ trong chớp mắt, cùng với câu trả lời của Thất cậu cậu, chút biểu cảm ấy liền tan biến không vết tích —— Thất cậu cậu thong thả đáp: "Có chuyện đó sao? Chẳng có gì đâu. Trên đời này vốn dĩ có biết bao nhiêu người là Thất cậu cậu."
Biểu muội Dao vì thế mà từng có thời gian xem nhẹ chuyện này. Trên đời chuyện trùng hợp vốn không thiếu, cho nên lúc đó cô mới không kể lại cho tôi nghe.
Về sau, sức khỏe Thất cậu cậu ngày một giảm sút, những lần ra ngoài dạo chơi cũng thưa dần. Nhưng chỉ cần tinh thần hơi tốt một chút là ông nhất định phải ra ngoài hoạt động. Buổi tối ông vẫn thường đến nhà hát, ăn uống vẫn đòi hỏi khẩu vị khắt khe, nếu không vào quán ăn thì cũng ở nhà bày biện đĩa to bát lớn đánh một bữa no nê. Thất cậu cậu là người thích náo nhiệt, hễ ra ngoài tham quan, đi nhà hàng, xem kịch là luôn muốn có người đi cùng, ở nhà lại càng mong bữa ăn nào cũng có khách khứa đến chung vui. Thỉnh thoảng mới ra ngoài một mình, đa phần là vì trong số thân thích hay học trò thực sự không tìm được ai rảnh rỗi đi cùng. Thế nhưng không lâu sau khi biểu muội Dao gặng hỏi ông về bức ảnh cũ kia, có một ngày Thất cậu cậu vừa sáng sớm đã tỏ ý muốn ra ngoài. Hôm đó Thất cậu mẫu vừa hay lại về nhà cha mẹ đẻ, biểu muội Dao bèn hỏi Thất cậu cậu muốn đi đâu, cứ nói cho cô biết, để khi đến cơ quan cô có thể gọi điện cho một người học trò đã nghỉ hưu của ông, nhờ người đó đến tìm để làm bạn, cùng ông ăn cơm và đưa ông về nhà —— đây cũng là cách làm thường thấy trước kia, ví như Thất cậu cậu một mình đến Hồ Tâm Đình ở miếu Thành Hoàng cũ uống trà, rồi người thân hay bạn bè một lúc sau mới đến quán trà tìm ông để cùng tiêu dao. Thất cậu cậu bảo biểu muội Dao không cần gọi điện, ai cũng bận rộn, không cần đi theo, ông một mình đi dạo đâu đó là được. Biểu muội Dao cũng thôi. Nhưng đến chiều tối hôm đó —— khi biểu muội Dao chuyển tuyến xe buýt gần bến phà, cô lại phát hiện có một ông lão mập mạp dường như vừa bước xuống từ chuyến phà cập bến, đang bắt xe xích lô. Mộc gờ nghiêng ấy nhìn rất giống Thất cậu cậu. Khi bước lên xe buýt, giữa đông đúc hành khách chen chúc xung quanh, cô chợt nảy ra một suy nghĩ: Chẳng lẽ Thất cậu cậu đã đến thị trấn đó? Đi phà nhỏ trong ngày hoàn toàn có thể đi về kịp! Lúc biểu muội Dao về đến nhà, Thất cậu cậu đã ngồi an ổn trên chiếc ghế mây trong nhà, mắt thiu thiu ngủ —— ông thường ở trong trạng thái này khi chờ người nhà về đông đủ để dùng bữa. Bảo mẫu dọn cơm ra, khi Thất cậu cậu cùng biểu muội Dao và bảo mẫu ngồi xuống ăn cơm, biểu muội Dao bèn hỏi Thất cậu cậu: "Hôm nay cậu đi chơi có vui không? Cậu đi đâu thế?" Thất cậu cậu thản nhiên gắp thức ăn, bảo mẫu uông mụ đáp thay: "Vui vẻ gì cho cam? Chẳng phải vẫn là chỗ cũ sao." Biểu muội Dao dồn tiếp một bước: "Có phải đi thuyền đến nơi xa không? Lúc cháu đi qua bến phà hình như thấy cậu đang gọi xe xích lô..." Uông mụ cướp lời: "Tuổi tác chừng này mà dám đi thuyền một mình sao? Cô thật khéo tưởng tượng!" Biểu muội Dao thấy nét mặt Thất cậu cậu vẫn bình thản, điềm nhiên như cũ nên không hỏi thêm nữa.
Không lâu sau đó Thất cậu cậu ngã bệnh. Bệnh tim mạch vành lại dẫn đến khí thủng phổi, rất nhanh đã chuyển sang giai đoạn nguy kịch. Thất cậu mẫu, biểu muội Dao, uông mụ cùng một số người thân và học trò của Thất cậu cậu thay phiên nhau túc trực chiếu cố trong phòng chăm sóc đặc biệt của bệnh viện. Có một ngày biểu muội Dao đến đổi ca, trên hành lang bệnh viện cô đi lướt qua một đôi vợ chồng tầm hơn năm mươi tuổi. Biểu muội Dao đi được vài chục mét thì đột nhiên cảm thấy gương mặt của một trong hai người vừa lướt qua kia hình như đã gặp ở đâu đó rồi. Đúng rồi! Chính là người phụ nữ bán hàng ăn vặt ở sạp hàng bên bờ kênh đào tại thị trấn nhỏ kia! Chính là người phụ nữ ban đầu tốt bụng cho cô mượn bô đi vệ sinh, nhưng sau đó lại sa sầm mặt mày đuổi cô đi! Chính là người cùng chồng cũng gọi Thất cậu cậu là Thất cậu cậu! Nhận ra điều đó, biểu muội Dao vội vàng quay người đuổi theo tìm kiếm, truy tận đến phòng chờ khám và nơi lấy số, nhưng không sao nhận ra gương mặt ấy nữa... Biểu muội Dao vào phòng bệnh đặc biệt của Thất cậu cậu ở khu điều trị nội trú, người trực ca ở đó là một học trò của ông, cũng đã là một ông lão hoa râm tuổi tác gần sáu mươi. Biểu muội Dao bèn hỏi chiều nay có những ai đến thăm Thất cậu cậu, người học trò bảo người đến rất đông, có lãnh đạo Cục Y tế, có bệnh nhân từng được Thất cậu cậu chữa trị, cũng có những người thân họ hàng mà ông không nhận rõ mặt... Biểu muội Dao liền tả lại diện mạo vóc dáng của cặp vợ chồng kia, nhưng ông lão cũng không rõ là họ đã đến hay chưa. Biểu muội Dao không tiện hỏi tiếp, vì Thất cậu cậu dường như lại tỉnh dậy từ cơn hôn mê, thở dốc một cách nhọc nhằn, biểu muội Dao lập tức nhấn máy hút đờm để hút đờm cho ông...
Thất cậu cậu cuối cùng đã thọ chung chính tẩm. Lễ truy điệu được tổ chức rất long trọng. Điếu văn toàn những lời tán dương, nhưng không hề nhắc đến lịch sử cách mạng thời trẻ của ông, mà chỉ kể về cuộc đời ông từ khi học y, hành y cho đến khi trở thành danh y, tất cả đều ca ngợi y thuật và y đức của ông. Phải chăng ông thực sự đã kịp thời rút khỏi vai diễn nhân sinh không phù hợp để chọn cho mình vai diễn tròn trịa nhất? Khi nhắm mắt xuôi tay, ông an lành nằm đó, lắng nghe những lời đánh giá mà ông muốn nghe.
Tôi ở Bắc Kinh, đương nhiên không tham dự tang lễ của Thất cậu cậu. Nhưng khi nghe biểu muội Dao thuật lại mọi chuyện, tôi lại cảm thấy khá bất bình, tôi nghĩ đến sự ra đi của cha mình. Cha tôi qua đời vào năm 1978, khi đó quân đội đã hoàn toàn bình phục danh dự cho ông, thừa nhận quyết định "phục viên" dành cho ông là vô lý và sai lầm. Học viện Quân sự nơi cha từng giảng dạy bị đập phá trong "Văn cách", đến năm 1978 đang tích cực chuẩn bị khôi phục. Cha tôi đang chờ đợi học viện đến đón ông và mẹ trở về tiếp tục giảng dạy, thì bất ngờ vào một buổi trưa hè năm đó, ông bị xuất huyết não và trút hơi thở cuối cùng chỉ vài giờ sau đó. Theo lời mẹ kể lại với anh chị em chúng tôi, nguyên nhân trực tiếp dẫn đến phát bệnh là do cha chuẩn bị cầm lại phấn trắng, nên đã mượn một bộ giáo trình tiếng Anh dành cho giáo viên tu nghiệp từ một giáo viên trung học trong huyện. Bộ giáo trình đó do một trường đại học ở tỉnh biên soạn và in ấn, cha mượn xem là để tìm hiểu tình hình giảng dạy tiếng Anh chung trong mấy năm qua. Chẳng ngờ vừa giật mở ra xem, ông đại kinh thất sắc. Không chỉ góc độ biên soạn bị ông cho là phi lý, không tuân theo quy luật của bản thân ngôn ngữ tiếng Anh mà lại sắp xếp bài học theo các bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Mao Trạch Đông, mà lỗi ngữ pháp còn xuất hiện nham nhở, khâu hiệu đính cực kỳ cẩu thả, ngay cả trong "Bảng đính chính" cũng lại xuất hiện lỗi sai. Ông tức giận đập mạnh xuống bàn: "Đúng là hại đời con trẻ!" Ngay trong cú đập bàn ấy, cơn xuất huyết não đã bộc phát!
Cha tôi qua đời ở một nơi rất xa học viện quân sự đang phục hồi của ông và cũng rất xa anh chị em chúng tôi. Khi chúng tôi vội vã trở về thì ông đã được hỏa táng. Quân đội cử hai người đến, họ tổ chức một lễ truy điệu sơ sài ngay tại khoảng sân nơi cha mẹ tôi ở. Mặc dù điếu văn quân đội mang đến cũng toàn những lời ngợi khen, nhưng chung chung và sáo rỗng. Rốt cuộc cả đời cha tôi đã đóng vai trò gì? Thật không rõ ràng; hơn nữa ông cũng không thể như Thất cậu cậu, nằm đó nhắm mắt lắng nghe từng câu từng chữ trong điếu văn.
16
Sau này tôi từng viết thư cho cơ quan quản lý hộ tịch và công ty kim khí ở thị trấn nhỏ đó để tìm người chú cùng cha khác mẹ với mình. Họ đều gửi thư phản hồi, bảo rằng dựa theo tuyến manh mún tôi cung cấp, họ không tìm thấy một người như vậy. Tôi lại từng đề nghị với biểu muội Dao hẹn một thời gian thích hợp cho cả hai, cùng nhau đến thị trấn nhỏ đó một chuyến, tìm người phụ nữ bán sạp hàng ăn vặt kia để trò chuyện chân thành, biết đâu bà ấy và chồng sẽ nhận đứa cháu này. Nhưng biểu muội Dao viết thư bảo tôi rằng, sau này cô từng quay lại thị trấn đó, toàn bộ nhà cũ dọc con phố ven sông đã bị phá bỏ, con phố sau khi tu sửa để phục vụ du lịch giờ toàn là cửa hàng thương mại, đại đa số cư dân đã chuyển đi nơi khác. Cô lại không biết tên họ người phụ nữ đó, làm sao hỏi ra tung tích? Mà cơ duyên để tình cờ gặp lại giữa phố phường chợ dốc lại quá đỗi mong manh. Cô hoàn toàn không còn hy vọng gì vào việc này. Dù sao biểu muội Dao cũng không có quan hệ huyết thống gì với vợ chồng họ —— cho dù họ thật sự là con trai và con dâu của ông nội tôi —— còn tôi thì trong lòng lúc nào cũng canh cánh một niềm trìu mến không thể xua tan. Tôi cũng từng kể chuyện này với những người bạn thân thiết nhất, có người trêu tôi: "Người ta toàn bận rộn nhận họ hàng với chú thím thất lạc ở Đài Loan, vì ai cũng biết người Đài Loan giờ túi tiền rủng rỉnh. Cậu thì hay rồi, vội vàng đi nhận họ hàng nghèo ở vùng quê..." Tôi bèn hùa theo: "Sao cậu biết chắc người chú đó của tớ chưa phát tài? Biết đâu chú ấy là một doanh nhân doanh nghiệp hương trấn, tiền bạc đầy mình rồi thì sao! Tìm được chú ấy, chẳng lẽ cậu lại không xơ múi được chút gì?"
Hứng thú tìm kiếm người chú này của tôi gần đây cũng nhạt dần. Bởi vì tôi ngộ ra rằng, cho dù thực sự có một người chú như thế, khi cán bộ cơ quan liên quan trong huyện hay nhân viên công ty kim khí cầm thư của tôi đến trước mặt chú, chú dẫu biết rõ chúng tôi có mối quan hệ huyết thống ấy cũng sẽ lạnh nhạt phủ nhận. Bởi vì chú nhất định đã thừa hưởng một loại tâm lý từ cha mình —— tức ông nội tôi, từ mẹ chú, và từ người thân mà chú cũng gọi là "Thất cậu cậu" kia. Đó là tâm lý ẩn tínhmai danh, tâm lý rút lui khỏi chính trị, tâm lý giảm bớt các mối liên hệ xã hội phức tạp, tâm lý tránh né những kích động nội tâm để quy về sự điềm nhiên vĩnh cửu. Biết đánh giá thế nào về một loại tâm lý như vậy đây?
Đương nhiên, tâm lý cụ thể của ông nội tôi, của người tình chưa từng làm thủ tục kết hôn chính thức với ông, cũng như cơ duyên hình thành nên trạng thái ấy lại không giống với Thất cậu cậu. Xem ra không thể vơ đũa cả nắm.
Từ những thuật lại phía trước có thể thấy, ông nội tôi có một mặt hoàn toàn phù hợp với lời truyền miệng của đồng hương. Trong cái gọi là "Thời đại Phác Viên", ông sở hữu mỹ danh "Tiểu Mạnh Thường". Đến Quảng Châu dấn thân vào đại cách mạng, ông giảng dạy tại Đại học Trung Sơn, xung quanh lúc nào cũng vây quanh vô số học sinh hợp cạ, hơn nữa ông còn từng qua lại với những nhân vật để lại dấu ấn đậm nét trong lịch sử như Liêu Trọng Khải, Hà Hương Ngưng, Hồ Hán Dân, Lỗ Tấn, Quách Mạt Nhược, Hoàng Kỳ Tường, Tôn Bỉnh Văn. Tuy nhiên, trong nhân sinh quan của ông ngay từ đầu đã có một suy nghĩ cố chấp là khước từ việc công khai bước lên đài chính trị xã hội, đặc biệt là nổi lên mặt nước lao vào trung tâm vòng xoáy. Ông luôn vừa tích cực dấn thân diễn xuất, lại vừa tự giác giữ khoảng cách với trung tâm sân khấu. Vì vậy, ông luôn mang một sắc thái bí ẩn nào đó. Theo lời cha tôi kể, trước khi nhắm mắt xuôi tay, bà nội có nói với cha tôi rằng, vụ ám sát Nhiếp chính vương "Sự kiện quả nổ cầu Ngân Đĩnh" nổi tiếng trong lịch sử, thực ra là do ông nội cùng Hoàng Phục Sinh, Uông Tinh Vệ và một lãng nhân Nhật Bản phối hợp thực hiện. Cơ quan địa hạ của họ đặt ngay tại một hiệu ảnh ở đường Đại Nhai ngoài Địa An Môn, quả nổ được chế tạo ngay trong phòng tối của hiệu ảnh đó —— âm mưu nổ tung không thành, Hoàng Phục Sinh và Uông Tinh Vệ đều bị bắt và trở thành những danh nhân chính trị xã hội vang danh một thời, còn ông nội tôi trốn thoát và đến cùng không để nhà Thanh hay biết. Sau Cách mạng Tân Hợi, ông nội tôi cũng tuyệt nhiên không bao giờ nhắc đến việc từng tham gia sự kiện này. Lại có chuyện kể rằng khi ở Bắc Kinh, ông nội từng tham gia các hoạt động của tiểu tổ chủ nghĩa cộng sản do Trần Độc Tú, Lý Đại Chiêu sơ khởi thành lập. Nhưng ông không tham gia đều đặn, và chủ động giải thích với hai người Trần, Lý rằng mình không phải thành viên chính thức. Sau khi đến Quảng Châu giảng dạy tại Đại học Trung Sơn, ông qua lại rất thân mật với các đảng viên Trung Cộng trong trường như Tất Lỗi. Trong một tập sách tư liệu 《Lỗ Tấn ở Quảng Châu》 xuất bản gần đây vẫn có thể thấy các tư liệu liên quan. Khi đó Tất Lỗi đứng ra tổ chức "Hội Nghiên cứu Khoa học Xã hội" nhằm học tập và tuyên truyền chủ nghĩa Mác, từng mời tiên sinh Lỗ Tấn đến diễn thuyết, Lỗ Tấn cũng nhiều lần quyên góp tiền cho tổ chức này, còn ông nội tôi chính là một trong những người đứng sau lo liệu cho tổ chức đó. Dù vậy, ước chừng ông nội tôi vẫn chưa chính thức gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc, giống như không thể tìm thấy bằng chứng chứng minh ông từng chính thức gia nhập Quốc dân đảng Trung Quốc vậy. Sau khi Đại cách mạng thất bại, ông nội tôi nghe tin các chí hữu cùng lứa và hậu bối như Tôn Bỉnh Văn, Tất Lỗi bị Quốc dân đảng thảm sát, từng phẫn nộ viết nên bài thất ngôn ca hành dài thượt 《Ai Giang Nam》, do Thần Châu Quốc Quang xã in ấn. Trong thơ chửi mắng Tưởng Giới Thạch và Uông Tinh Vệ thậm tệ, nhưng trên cuốn sách nhỏ này ông không hề ký tên thật. Lại có truyền thuyết kể rằng trước khi rời Vũ Hán sang Thượng Hải, ông từng có bài diễn thuyết cuối cùng trong đời tại một buổi tập hợp. Bởi vì ông vừa mắng xối xả Tưởng, Uông, lại vừa công kích ngôn luận và tác phong của một số người Cộng sản mà ông không thể hiểu nổi lúc bấy giờ, nên đã bị một người Cộng sản trẻ tuổi xả súng ngay tại chỗ —— không trúng; nhưng người Cộng sản đó sau này bị chính Đảng Cộng sản tuyên bố là "thành phần phái Trốcki", bị khai trừ và không rõ đi đâu về đâu. Ông nội tôi đến Thượng Hải dạy học tại "Thượng Hải Công học", vẫn giữ tác phong của cái gọi là "tri thức phân tử độc lập" hoặc "nhà cách mạng cá nhân". Năm 1931, sau khi bị đột quỵ, ông nhập viện tại một bệnh viện giáo hội. Trong tình trạng không thể nói được, ông dùng bàn tay run rẩy viết nguệch ngoạc vài dòng chữ, giục người yêu của mình —— vị nữ đội trưởng Đội Xích vệ nông dân Hồ Nam —— mau chóng dắt con đi tự tìm đường sống. Trong sự kiện "Mười hai tháng Giêng" năm 1932 —— tức ngày máy bay Nhật Bản trút bom xuống Thượng Hải khiến Quân đoàn 19 Quốc dân đảng phẫn nộ kháng chiến, ông nội tôi bị bom của giặc Nhật sát hại ngay trong bệnh viện. Cùng ngày hôm đó, Nhà xuất bản Thương vụ Thượng Hải cũng bị ném bom, vô số bản thảo chưa in bị phá hủy, trong đó có cuốn 《Nhân loại mệnh vận luận》 do ông nội tôi viết xong gửi đến chỉ chờ đóng tập in thành sách dày. Có lẽ nếu cuốn 《Nhân loại mệnh vận luận》 đó được xuất bản sẽ giúp ông nội tôi trở thành một nhân vật để lại vệt dấu thiết thực trong lịch sử tư tưởng văn hóa chính trị Trung Quốc, nhưng quả bom xâm lược của ngoại tộc đã nổ tung bản thân ông cùng tác phẩm của ông thành mây khói. Vì thế, đời ông bề ngoài tuy khá oanh liệt, nhưng bản chất lại là một đời trốn chạy vào tâm linh cá nhân, đồng nghĩa với một đời ẩn tính mai danh.
Còn vị người yêu gốc Hồ Nam của ông nội tôi, người từng hai tay hai súng "song thương tương" kia, việc bà rút khỏi cách mạng lại là một tình cảnh khác. Ước chừng sau khi dắt con rời Thượng Hải, bà cũng từng tìm đủ mọi cách để trở lại trận tuyến cách mạng. Nhưng khi đó cách mạng không còn là hồng lưu, triều phong, triều tâm đều đã ẩn thoái, khó lòng tìm kiếm. Có lẽ phải rất lâu về sau bà mới biết Mao Trạch Đông đã dẫn tàn bộ Đội Xích vệ nông dân tạm thời thất bại lên Tỉnh Gang Sơn. Điều đó đối với bà mà nói là quá đỗi xa xôi và mờ ảo. Những sóng gió trong nội tâm bà trước vấn đề sinh tồn thực tế đành phải từng bước thu gom lại. Cuối cùng, bà có lẽ cứ thế lưu lạc ở Giang Nam, trở thành một phụ nữ thị trấn nhỏ chẳng ai biết rõ lai lịch giữa vùng mưa phùn hoa khói.
Thất cậu cậu khoảng chừng ba bốn năm sau khi rời Nam Xương đã gặp lại ông nội tôi cùng vị người yêu trẻ tuổi của ông tại Thượng Hải. Thiết nghĩ ông nhất định đã thú nhận với họ về quyết định nhân sinh của mình trong đêm tối năm nào. Họ đối với hành động ấy của ông có đánh giá thế nào? Rõ ràng họ không xem ông là kẻ phản bội hay đào binh không thể tha thứ, cho nên mới có tấm ảnh chụp chung mà sau này biểu muội Dao nhìn thấy.
Người chú mà đến nay tôi chưa từng diện kiến kia đã sinh trưởng trong một bầu không khí như thế. Có thể hình dung được chú không hề khát khao liên lạc với những thân nhân tiềm năng như chúng tôi. Nhưng điều khiến người ta không khỏi hoài tưởng là: Giả sử Thất cậu cậu lúc sống suốt nhiều năm đều giữ liên lạc với gia đình họ, thì khi Thất cậu cậu và vị người yêu cuối cùng của ông nội tôi gặp lại nhau, lẽ nào họ không chút nào nhớ về quá khứ sao? Ngọn lửa từng cháy ngùn ngụt nơi đáy lòng họ lẽ nào không còn một tia sáng tàn nào có thể bùng cháy lại sao? Hay là, chỉ riêng giữa hai người họ mới có thể tiến hành một cuộc trò chuyện kín đáo quan tâm đến chính trị thực tại, bộc lộ ra cái khía cạnh chưa từng thực sự lụi tàn trong tâm hồn họ?
Tất cả đều đã trở thành bí mật vĩnh viễn.
17
Tôi hỏi cô gái đến từ quê nhà xem đã tìm gặp Thất cậu mẫu chưa. Cô ấy bảo: "Tìm rồi. Ở chỗ bà ấy chẳng thu hoạch được chút gì."
Điều này rất tự nhiên. Thất cậu mẫu kết hôn với Thất cậu cậu sau khi ông thoát đảng cả chục năm. Ước chừng Thất cậu cậu chưa từng thú nhận với bà về sự khích tiến thời trẻ và đêm tối lịch sử thoát đảng kia. Mãi đến thời "Văn cách", khi "chuyện vỡ lở", Thất cậu mẫu mới biết nguyên do là thế. Nhưng Thất cậu mẫu không bị chuyện này làm cho mất ăn mất ngủ, hơn nữa theo lời biểu muội Dao kể, trái lại chính sau sự kiện này mà giữa Thất cậu mẫu và Thất cậu cậu mới có chút ấm áp thắm thiết nhìn thấy được.
Trong dòng họ thực ra từ lâu đã có những lời bàn tán xì xầm về việc "Thất cậu mẫu ở góa bế bồng". Tôi từ sớm đã hỏi mẹ: "Thất cậu cậu và Thất cậu mẫu sao lại không có con ạ?" Mẹ tự nhiên dùng những lời ỡm ờ gạt qua chuyện. Nhưng sau khi vấn đề lịch sử của Thất cậu cậu được đưa ra ánh sáng, tôi khi ấy đã trưởng thành nên cũng ngộ ra ngọn ngành bên trong. Thất cậu cậu kể từ đêm "rút lui toàn diện" đó giống như một ngọn đuốc cháy hết mình rồi tắt ngấm, không còn sót lại một tia lửa. Ông không chỉ rút khỏi chính trị, rút khỏi đời sống xã hội diện rộng, mà trong lúc liều mạng thu mình lại, ông cũng đồng thời rút khỏi một số chức năng sinh lý bộc phát, ví như gào to, khóc lớn, ngẩng đầu cười thấu trời, bước nhanh, múa tay giậm chân, thao thao bất tuyệt, bắt tay thật chặt, thở dài thành tiếng, biến sắc khi nghe tin, tự ngâm tự xướng... Cho nên không khó đoán ra ông chắc chắn bị liệt dương. Thất cậu mẫu ở bên ông thì làm sao có được đời sống tình dục theo đúng nghĩa?
May mà Thất cậu cậu nhờ việc du sơn ngoạn thủy, xem kịch, ăn uống mà duy trì được sợi dây liên kết giữa bản thân với thế giới bên ngoài, lại thêm không cầu hiểu sâu, không chê thô mịn, nhờ đó mà sống dối sống già đến tuổi thọ còn cao hơn cả cổ hi.
Cô gái đến từ quê nhà nói với tôi: "Tôi cũng tìm gặp biểu muội của anh rồi, vì cô ấy sống chung với Thất cậu cậu Thất cậu mẫu thời gian dài. Nhưng chúng tôi trò chuyện chưa đầy mười phút —— không phải cô ấy nhủ lòng không muốn tiếp tôi, mà là tôi không muốn nghe cô ấy kể những chuyện vụn vặt đó... Anh biết đấy, chỉ khi một người trở thành vĩ nhân, danh nhân thì người ta mới muốn biết về đời sống riêng tư của họ, đủ các phương diện của họ, bao gồm họ kết hôn mấy lần, có con cái hay không, cho đến việc họ thích ăn gì, mặc quần áo gì, thường chơi môn giải trí hay thể thao nào... Nhưng Thất cậu cậu của anh, nói thật ra thì cũng chỉ là một nhân vật đáng được nhắc đến một dòng trong lịch sử đảng hay huyện chí của cái huyện nhỏ chúng ta mà thôi... Đúng rồi, để tôi không bị chuyến này hoài công, hay là làm phiền anh tìm giúp tấm ảnh cũ của Thất cậu cậu đi. Biểu muội của anh bảo chỗ anh có. Năm sau chúng tôi kế hoạch làm một cuộc triển lãm, có thể trưng bày —— sau khi chúng tôi rửa phóng to ra sẽ trả lại ảnh gốc cho anh, lại còn tặng anh một bức ảnh phóng to nữa..." Tôi vẫn bảo với cô ấy là không có.
18
Tiễn cô gái đến từ quê nhà đi rồi, tôi liền muốn lấy tấm ảnh của Thất cậu cậu ra xem thử. Từ khi chuyển nhà đến tòa chung cư này, tôi vẫn chưa lục lại những vật cũ do thế hệ cha mẹ để lại.
Thật kỳ lạ, tôi lấy những đồ đạc cha mẹ để lại từ trong rương ra, lục lọi một hồi mà thế nào cũng không tìm thấy tấm ảnh chụp thời Bắc phạt của Thất cậu cậu. Tôi lại bới tung tất cả các album ảnh cùng các hộp giấy đựng ảnh chưa dán vào album của mình ra tìm một lượt, vẫn không thấy đâu! Tôi nghĩ khi chuyển nhà mình không thể làm mất tấm ảnh này được. Rốt cuộc mình đã để nó ở đâu? Kẹp trong quyển sách nào trên kệ sách? Hay nhét trong ngăn kéo nào của chiếc tủ kia? Để tìm tấm ảnh đó, tôi làm căn phòng rối tung rối bời lên, khiến vợ tôi khi đi làm về cũng đỗi ngạc nhiên.
Lúc này tôi mới nhận ra, Thất cậu cậu đối với tôi hóa ra chưa từng quan trọng...