1
Mưa dầm dề rỉ rả.
Đứng trên sườn đồi nhỏ ngoảnh lại nhìn ngôi trường phía bên kia ruộng lúa, tòa nhà hai tầng ngói xanh tường xám, cửa nẻo rách nát, vôi vữa bong tróc, những mẩu báo chữ lớn còn sót lại đỏ xanh lẫn lộn, vết mực loang lổ; hàng cột gỗ và lan can ngoài hành lang lộ thiên đều đã cũ kỹ, ngả sang màu nâu đen; trên sân thể dục trơ trọi, giá bóng rổ gãy hỏng trông như bộ xương tàn tích của loài khủng long; tất cả dường như đều bị ngâm trong nước bẩn tù đọng.
Ngỡ như một giấc mộng.
Tưởng Doanh Bình giương chiếc ô dầu hồng màu cam, xoay người, lần theo con đường nhỏ lát đá trên sườn đồi đi vào rừng tre mỡ. Trong rừng tre vang lên tiếng nước nhỏ tí tách. Vốn dĩ làn mưa bụi như tơ kia chẳng thể làm lay động lá tre, nhưng nước đọng trên lá nhiều rồi, giọt trên rỏ xuống giọt dưới, mới phát ra âm thanh khêu gợi nỗi niềm ấy. Tưởng Doanh Bình bước chậm lại, có lúc dứt khoát dừng hẳn chân, tham lam tận hưởng sự tĩnh lặng dường như vừa trộm cắp được trong rừng tre. Anh cố dùng chiếc lược vô hình của niềm tự an ủi để chải chuốt lại mớ tâm tư đau đớn đang rối như tơ vò vì sợ hãi và cô độc.
... Hối hận là một phương thuốc đắng, hơn nữa lại chẳng chữa lành được bệnh. Nhưng những ngày qua, trong vô thức anh đã uống biết bao nhiêu!
Hối hận năm xưa thi vào Đại học Bắc Kinh lại chọn khoa Ngôn ngữ và Văn học Nga! Thực ra với tư cách cán bộ đi học lúc bấy giờ, với điểm thi của mình, anh quả thực có phạm vi lựa chọn vô cùng rộng rãi, thế mà chỉ vì một ý nghĩ bồng bột nhất thời, anh lại điền vào nguyện vọng một chuyên ngành này! Do đâu mà nên nỗi? Anh nhớ lại rạp hát ngoài trời ở cơ quan mình từng công tác năm xưa, chẳng qua là Nhà hát Nghệ thuật Thanh niên Trung Quốc đến đó diễn vở hài kịch "Quan thanh tra" của đại văn hào Nga Gogol, chẳng qua là đội kịch nói thuộc đoàn văn công của Cúc Cầm — bạn học cùng lớp với em gái Tưởng Doanh Ba — cũng đến đó diễn vở kịch Liên Xô "Rạng đông chiếu rọi Moskva"... rồi còn những bộ phim Liên Xô, những cuốn "Họa báo Liên Xô" và "Phụ nữ Liên Xô" bản tiếng Trung, cùng với những tờ "Tia lửa" và "Màn bạc Liên Xô" bản tiếng Nga mà anh vô cùng muốn đọc hiểu nhưng lúc bấy giờ đành chịu chỉ biết ngắm hình... Lại thêm một đống tiểu thuyết Nga và Liên Xô, thế là liền cảm thấy học ngôn ngữ và văn học Nga không chỉ thực dụng nhất mà còn lãng mạn nhất, chẳng những là điều tổ quốc cần nhất mà còn là điều mình có thể lấy làm tự hào nhất... Ngờ đâu đến lúc sắp phân công công tác thì mối bất đồng giữa hai đảng Trung - Xô đã công khai hóa, chuyên gia Liên Xô lũ lượt rút về, nhân tài tiếng Nga bỗng chốc thừa mứa, mà đất nước lại gặp khó khăn kinh tế, các cơ quan trung ương, viện nghiên cứu học thuật, bộ ngành văn hóa đều thi nhau thu hẹp biên chế, thậm chí bắt đầu đưa những phiên dịch tiếng Nga dư thừa xuống cơ sở. Thế là sau khi tốt nghiệp, Tưởng Doanh Bình lại bị phân công về Hồ Nam, hơn nữa nơi làm việc chẳng những không phải thủ phủ Trường Sa, cũng chẳng phải các thành phố khác trong tỉnh, mà là một huyện lỵ ở vùng Tương Bắc. Sau khi đến huyện lỵ đó trình diện, người ta không giữ anh lại ở huyện mà phân về một trường trung học cơ sở trong huyện. Trường đó lại chẳng phải trường cấp hai số một, mà là trường cấp hai số ba của huyện, trường số ba ấy vốn dĩ chẳng nằm trong thị trấn huyện lỵ, mà ở một thị trấn cách huyện lỵ tám dặm đường, thế rồi địa điểm trường cấp hai số ba ấy lại chẳng nằm trong đường phố của thị trấn, mà nằm giữa ruộng lúa cách chợ phiên của thị trấn chừng một dặm. Cơ sở trường ốc dẫu sao cũng là một tòa nhà hai tầng mái ngói tường gạch có hành lang gỗ, cũng có một mảnh sân bãi, nhưng xung quanh lại hoàn toàn không có tường rào bao bọc...
Tưởng Doanh Bình ở khoa Ngôn ngữ và Văn học Nga của Đại học Bắc Kinh đã học một đống khảo cứu về "Bản ca về cuộc hành binh Igor", về sự luận bàn quanh "hình tượng con người thừa thãi" trong văn học cổ điển Nga thế kỷ 19, về thâm ý thể hiện qua việc vận dụng những "khoảng lặng" trong các vở kịch của Anton Chekhov như "Hải âu" và "Vườn anh đào", về những khai phá mới trong phần hai bộ "Đất vỡ hoang" của M. Sholokhov, cũng như việc tranh luận xem nên đánh giá truyện ngắn "Số phận một con người" của ông ra sao, vân vân và vân vân. Thế nhưng, ở nơi khỉ ho cò gáy này, bụng đầy kinh luân Nga ngữ của anh phỏng có ích gì? Nhiệm vụ công tác của anh là dạy môn tiếng Nga cấp hai, thứ việc mà thật ra căn bản chẳng cần phải lên Đại học Bắc Kinh học năm năm trời rồi mới về cầm phấn, vả lại chỉ qua mấy tiết học đầu tiên anh đã nhận ra, đối với những đứa học trò nông thôn mùa đông tay chân thậm chí cả mặt mũi đều nứt nẻ mụn cóng này, việc cấp bách chẳng bằng nói là dạy chúng nói tiếng phổ thông còn hơn là dạy chúng nói tiếng Nga...
Tưởng Doanh Bình cũng rất hối hận vì hồi ở Đại học Bắc Kinh mình đã không chịu dốc sức khổ học. Thực ra, cũng không thể nói sinh viên chuyên ngành tiếng Nga ra trường nhất định không đắt giá. Khóa của họ tốt nghiệp, Cục Biên dịch trước tác Marx - Engels - Lenin - Stalin vẫn cần người, cũng có một bộ phận bạn học ở lại chuyển sang học tiếng Tây Ban Nha cùng các thứ tiếng hiếm như tiếng Albania, tiếng Swahili, còn bản thân anh đi thi thường chẳng những không đạt thành tích ưu tú, mà còn mấy lần trượt phải thi lại. Nhớ có một lần thi vấn đáp, bốc phải thăm câu hỏi ngữ pháp, bước vào phòng thi ấp a ấp úng, không trả lời nổi câu hỏi vặn của thầy giáo, cuối cùng vị giám khảo ấy bèn cười bảo: "Không được không được, anh dở tệ quá, ra ngoài trước đi, chuẩn bị kỹ rồi vào lại..." Anh đành đỏ bừng mặt xấu hổ lui ra... Giả sử thành tích của mình khá hơn một chút, chẳng phải rất có thể đã không đến nỗi lưu lạc tới chốn nhà lầu xiêu vẹo nơi thôn dã này hay sao?
... Thật ra cũng vì đã dồn phần lớn tâm sức vào các hoạt động của câu lạc bộ Kinh kịch! Chuyện này... chuyện này thì không hối hận! Tưởng Doanh Bình dừng bước, lắng nghe những giọt nước từ ngọn tre rỏ xuống gõ vào mặt ô, ngửi thấy mùi dầu hồng thoang thoảng bốc lên từ mặt ô, tự lẩm bẩm trong lòng: Chuyện này không hối hận, không hối hận!
Đúng vậy, năm năm Đại học Bắc Kinh rốt cuộc là năm năm của ngôn ngữ văn học Nga, hay là năm năm của Kinh kịch? Anh hai Tưởng Doanh Công từng trêu anh: "Thay vì hát hò tài tử điên cuồng như thế, chi bằng dấn thân vào nghề hát chuyên nghiệp cho xong!"
Em gái Tưởng Doanh Ba có lần cũng bảo: "Anh bỏ học đi hát chuyên nghiệp, chẳng những thành danh mà còn chắc chắn được ở lại Bắc Kinh, chẳng việc gì phải về cái trường cấp hai số ba huyện lập quái quỷ gì đó!"
Đến cả cậu em trai Tưởng Doanh Hải cũng xỏ xiên anh: "Tolstoy cộng Trình Yến Thu chia đôi, ra 'cấp ba huyện'!"
Thế nhưng Tưởng Doanh Bình duy chỉ đối với những ngày đêm đắm mình trong hoạt động của câu lạc bộ Kinh kịch là ôm ấp mối tơ lòng cả đời không hối tiếc!
Thực ra, những năm tháng anh thực sự đắm mình trong câu lạc bộ Kinh kịch chưa đầy năm năm. Cuộc vận động Chống phái Hữu năm 1957 vừa dấy lên, câu lạc bộ Kinh kịch cũng tạm thời ngưng hoạt động, hơn nữa, một số bạn trong câu lạc bộ trong cuộc đấu tranh ấy bỗng chốc trở thành kẻ thù, trở thành phần tử nguy hiểm tự mình không dám đến câu lạc bộ sinh hoạt nữa mà bọn Tưởng Doanh Bình cũng chẳng dám tiếp xúc, chẳng hạn như Hoàng Lục Thanh, chàng sinh viên xuất sắc của khoa tiếng Pháp, vốn là một báu vật hoạt bát, dưới sân khấu thì phong độ hào hoa, trên sân khấu thì pha trò đủ kiểu. Có một ngày Tưởng Doanh Bình đang định tìm anh ta để khớp màn diễn giữa Tiết Tương Linh và Hồ bà trong vở "Tỏa lân nang", giữa đường gặp kép tiểu sinh Hà Khang của câu lạc bộ. Hà Khang vừa nghe anh nhắc đến tên Hoàng Lục Thanh liền lấy bàn tay bịt miệng anh lại, hốt hoảng bảo: "Sao anh vẫn cứ mơ mơ màng màng thế hả! Hoàng Lục Thanh đã bị khoa họ lôi ra vạch mặt rồi! Là một phần tử cánh hữu ẩn nấp rất sâu đấy!" Tưởng Doanh Bình giật bắn mình, buột miệng: "Sao lại thế được? Anh ấy ở trường đâu có phát biểu gì bậy bạ đâu!" Hà Khang liền bảo: "Trong trường không có, nhưng bên ngoài có! Người ta đã điều tra rõ ràng rồi, anh ta dùng bút danh viết mấy bài báo, đều đăng trên tờ 'Tân Dân vãn báo' ở Thượng Hải, toàn là luận điệu cánh hữu, cỏ độc lớn đấy!" Tưởng Doanh Bình toát mồ hôi lạnh... Sau phong trào "Chống phái Hữu", vào thời kỳ "Đại nhảy vọt", câu lạc bộ Kinh kịch từng khôi phục lại đôi chút hình thức hát mộc, từng đến bên những lò cao luyện thép thô sơ diễn úy lạo; sau đó Phạm Ngọc Nga còn biên soạn một vở Kinh kịch hoạt cảnh "Cùng ra trận" phản ánh thầy trò hăng hái tham gia công trình xây dựng hồ chứa Thập Tam Lăng, diễn hai buổi trong trường và hai buổi trên công trường hồ chứa, nhưng vì thế nào cũng không thể sắp xếp cho giọng hát phái Trình nam đóng giả nữ, Tưởng Doanh Bình đành tạm thời đảm nhiệm một chân trong dàn nhạc đệm, gõ thanh la nhỏ; Phạm Ngọc Nga cũng không tiện nữ cải nam trang hát giọng lão sinh phái Mã, nên ngoài việc biên đạo còn kiêm luôn việc hóa trang và quản lý đạo cụ... Sau đó vì bước vào "Thời kỳ khó khăn ba năm", nhà trường không có kinh phí, thầy trò không có sức lực, chủ trương "giữ gìn nhiệt lượng" chứ không tán thành việc rầm rộ diễn xướng nghệ thuật. Câu lạc bộ Kinh kịch lại trầm lắng xuống, sau đó thì Tưởng Doanh Bình tốt nghiệp. Anh vẫn luôn mơ ước có thể cùng các bạn trong câu lạc bộ dàn dựng trọn vẹn vở "Tỏa lân nang" — mọi người cũng đều có hứng thú nồng nhiệt — nhưng rốt cuộc trước sau vẫn chẳng thể toại nguyện...
Trong rừng tre ấy, Tưởng Doanh Bình trăm mối ngổn ngang. Anh bỗng vô thức khẽ ngân nga một đoạn giọng Nhị hoàng tam nhãn chuyển sang Khoái tam nhãn của nhân vật Tiết Tương Linh trong vở "Tỏa lân nang":
"Trong giây lát thất tình dứt sạch, hiểu thấu rồi cay đắng cõi nhân gian
Lệ đầm vạt áo,
Ngỡ một đời phú quý đã an bài,
Nào hay đâu số kiếp chuyển dời chớp mắt,
Nhớ năm xưa ta cũng từng nuông chiều hờn dỗi,
Đến hôm nay sá gì chuyện cũ chẳng tin,
Đây âu cũng là ông trời răn dạy,
Bảo ta trút sạch oán hờn, thôi hờn dỗi, hãy tự đổi mới, sửa tính tình, đừng luyến tiếc dòng nước đã trôi qua,
Quay đầu khỏi bể khổ, sớm ngộ mối duyên lành..."
Bỗng nhiên vang lên một tràng tiếng loa phóng thanh phát đi "chỉ thị tối cao", âm thanh ấy vọng lại từ nhiều hơn một hướng, ở phía sau anh chắc chắn là loa phóng thanh trên cột điện bên cạnh tòa nhà trường học, còn ở phía trước, bên sườn thì ước chừng truyền ra từ huyện lỵ và một nhà máy gần đó — các "đội tuyên truyền tư tưởng Mao Trạch Đông" của mấy phái "tạo phản" đều đã bắt đầu một đợt "chiến đấu" mới!
Tưởng Doanh Bình thắt thỏm trong lòng, vội mím chặt môi, đồng thời đáy lòng dâng lên một cảm giác tội lỗi, đương buổi thế nào rồi mà mình còn dám nghêu ngao thứ "tứ cựu" hủ bại phản động ấy chứ?! Anh theo bản năng nhìn dáo dác xung quanh, may quá, trên sườn đồi tre mỡ rậm rạp chỉ có một mình anh giương ô lủi thủi độc hành...
Anh rảo bước nhanh hơn. Anh muốn đến nhà thím Hai Đồng, nơi đó là chốn duy nhất lúc này anh còn có thể tìm được chút ấm áp...
2
Lúc Tưởng Doanh Bình cất tiếng khóc chào đời chính là giai đoạn cha anh, Tưởng Nhất Thủy, làm nhân viên hải quan ở thời kỳ đắc ý nhất, đời sống gia đình chẳng những giàu có mà còn khá trọng thể diện. Khi ấy trong nhà thuê hai vú em, một người chuyên chăm sóc anh, người kia chỉ lo nấu cơm giặt giũ dọn dẹp phòng ốc. Sau này khi các anh chị em đều đã khôn lớn, mọi người cùng xem lại bức ảnh của Tưởng Doanh Bình thời ấy, trong ảnh Tưởng Doanh Bình ngồi trên một chiếc ô tô đồ chơi sặc mùi Tây, mặc chiếc áo thủy thủ đẹp đẽ, trắng trẻo mập mạp, vẻ mặt nũng nịu thơ ngây, mọi người liền chỉ trỏ vào anh trong ảnh mà phê phán: "Đúng là một cậu ấm giai cấp tư sản!", "Sản phẩm của chốn ôn nhu phú quý!", "Đích thị là một 'hình tượng con người thừa thãi'!", "Sao lại dám đem đi cho công nhân và bần hạ trung nông xem cơ chứ!"
Nhưng người cha Tưởng Nhất Thủy rốt cuộc có được coi là một phần tử giai cấp tư sản hay không thì thực ra rất khó nói. Ông là người trong hoàn cảnh gia cảnh sa sút thậm chí kinh tế lâm vào bước đường cùng đành phải từ bỏ việc học ở Đại học Y khoa Hiệp Hòa để đi thi vào làm nhân viên hải quan. Vì không có bối cảnh chống lưng vững chắc nên ông thi đỗ không phải chân "nội ban" ngồi bàn giấy văn phòng chuẩn cổ cồn trắng, mà là chân "ngoại ban" kiểm hóa hàng hóa nơi cửa khẩu gần với tầng lớp áo xanh hơn, bởi vậy sau giải phóng xét thành phần gia đình cao lắm cũng chỉ xếp vào loại nhân viên cũ mà thôi. Nhưng vào cuối thập niên 20 đầu thập niên 30 của thế kỷ 20, do hải quan Trung Quốc bị đế quốc khống chế, có thể chế tương đối độc lập, lương bổng khá cao và tương đối ổn định, nên dẫu chỉ là một nhân viên "ngoại ban" nho nhỏ, trong nhà cũng từng có lúc thuê được hai người làm, mức sống quả thực vượt xa cư dân thành thị bình thường. Nhưng khi anh cả Tưởng Doanh Nông và anh hai Tưởng Doanh Công ra đời cùng mấy năm sau đó, Tưởng Nhất Thủy ban đầu còn chưa vào hải quan, sau đó lại trong thời gian thử việc chưa được tuyển dụng chính thức, nên hai người con trai đầu đều không được hưởng "đãi ngộ" tốt như Tưởng Doanh Bình. Đến khi em gái Tưởng Doanh Ba và em trai Tưởng Doanh Hải ra đời thì dần bước vào thời kỳ kháng chiến chống Nhật và giai đoạn gian khổ nhất của cuộc kháng chiến, Tưởng Nhất Thủy làm nhân viên ở hải quan Trùng Khánh dẫu so với nhân viên các ban ngành khác vẫn có mức lương khá cao, nhưng mức sống của gia đình cũng đã tụt xuống kém xa thời thơ ấu của Tưởng Doanh Bình. Tình trạng được nuông chiều "được trời ưu ái" thời thơ ấu ấy đã gieo vào thể xác và tâm hồn Tưởng Doanh Bình suốt cả cuộc đời nhiều nhân tố đặc thù.
Một trong những nhân tố nổi bật nhất chính là tính ỷ lại vào người thân và bạn bè.
Tình cảm sâu đậm với người thân và bạn bè vốn là điều tốt, nhưng phát triển đến khi trưởng thành mà vẫn không thể phân định ranh giới cần thiết giữa bản thân với thân hữu, không thể khống chế tình cảm thân hữu trong một chừng mực thích hợp, không thể bóc tách hoặc làm phai nhạt tình cảm này khi cần thiết, thì thường khiến thân hữu cảm thấy khó xử, còn bản thân Tưởng Doanh Bình lại cảm thấy hụt hẫng. Sự tích tụ của cảm giác hụt hẫng ấy lại thường khiến anh cảm thấy cô độc, lẻ loi, bàng hoàng và thê lương hơn bao giờ hết, rốt cuộc lại bùng phát thành một vòng khát khao và theo đuổi tình thân hữu mới...
Chẳng hạn như, Tưởng Doanh Bình đi xem buổi biểu diễn của đoàn văn công Cúc Cầm, chạy ra hậu trường tìm Cúc Cầm. Cúc Cầm vốn dĩ rất vui mừng, tính ra họ không chỉ là bạn học cùng trường Thục Hương, mà nhờ mối quan hệ của Tưởng Doanh Ba, Cúc Cầm lại nhận vợ chồng Tưởng Nhất Thủy làm cha mẹ đỡ đầu, gọi Tưởng Doanh Bình một tiếng "anh ba" chẳng có gì phải bàn cãi, lại càng hoan nghênh anh nói vài lời khen ngợi hoặc đưa ra vài ý kiến mang tính xây dựng cho buổi diễn. Thế nhưng Tưởng Doanh Bình với diện mạo rõ ràng đã là một gã đàn ông lực lưỡng, vừa nhìn thấy Cúc Cầm liền chủ động nắm chặt lấy hai tay cô, hai chân nhảy cẫng lên, cất giọng the thé hoan hô bằng cái giọng điệu kiểu "thanh mai trúc mã, hai đứa ngây thơ": "Ái chà! Tuyệt quá đi mất! Đúng thật là 'hạt châu lớn hạt châu nhỏ rơi xuống mâm ngọc' mà!..." khiến cho mọi người trong hậu trường đều không khỏi liếc mắt nhìn sang. Cúc Cầm đành phải rút đôi tay mình ra khỏi bàn tay thô ráp to bè của anh, ngượng ngùng vô cùng bảo: "Đâu có đâu... Hát vẫn chưa đủ tốt, anh góp ý nhiều cho chúng em nhé..." Thế mà Tưởng Doanh Bình hoàn toàn chẳng nhận ra sự khó chịu của Cúc Cầm...
Lại ví như, cô em họ Điền Nguyệt Minh đã sớm "hoa đã có chủ", gả cho anh chàng con lai Tây Nhân được một hai năm rồi, thế mà Tưởng Doanh Bình vẫn thỉnh thoảng viết thư cho Điền Nguyệt Minh, đầu thư gọi ngay "em Mễ", đó là tên thân mật mà cha mẹ Điền Nguyệt Minh — tức cô dượng của Tưởng Doanh Bình — từng gọi cô. Hồi nhỏ Tưởng Doanh Bình cùng chơi đùa với Điền Nguyệt Minh gọi như vậy vốn chẳng có gì lạ, nhưng người ta nay đã đàng hoàng là vợ của Tây Nhân rồi, anh vẫn cứ một điều "em Mễ" hai điều "em Mễ", liệu có thích hợp không? Tưởng Doanh Bình lại chẳng thấy có gì không thỏa đáng, cuối thư anh còn đề những chữ như "người anh họ nhỏ từng ngồi bô chung", khiến cho Tây Nhân có một lần không nhịn được cãi nhau với Điền Nguyệt Minh: "Ngồi bô chung là cái ý gì hả?! Sao lại trơ trẽn thế không biết?!" Điền Nguyệt Minh tức đến nghẹn ứ nơi cổ họng, tốn bao nhiêu công sức mới giải thích rõ ràng được với Tây Nhân: Hồi nhỏ mấy anh chị em họ từng ở chung một chỗ, mỗi tối ngồi thành một hàng dưới mái hiên, cùng tiểu tiện đại tiện vào mấy cái bô nhổ, chỉ có thế thôi, cái người Tưởng Doanh Bình này chẳng qua là một đứa trẻ mãi không chịu lớn. Trong thư nói toàn những chuyện nhảm nhí như xem phim gì, diễn viên nào diễn dở tệ, bài hát chèn nào phổ nhạc hay tuyệt... Dù sao Tây Nhân cũng từng gặp Tưởng Doanh Bình ở trường Thục Hương và ở nhà họ Điền, họ Tưởng, nghĩ kỹ lại thấy anh viết thư cho Điền Nguyệt Minh quả thực cũng chẳng có ác ý gì nên không truy cứu nữa, nhưng trong lòng rốt cuộc vẫn chán ghét, mà Tưởng Doanh Bình thì lâu nay chẳng hề hay biết...
Hồi Tưởng Doanh Bình học đại học, với bạn cùng lớp thì chẳng giao du mấy, nhưng với bè bạn trong câu lạc bộ Kinh kịch thì thật đúng là tình như thủ túc. Anh thường mời bạn bè trong câu lạc bộ về nhà mình trong nội thành, chẳng màng đến việc đã làm tăng thêm bao nhiêu gánh nặng cho người mẹ đang bận rộn cơm nước, tùy tiện giữ ba người năm người ở lại ăn cơm. Bản thân anh thì chẳng hề vào bếp giúp một tay, chỉ ngồi ở phòng khách cười đùa rôm rả với họ, lúc thì kẻ xướng người họa với "mỹ nam bỏ túi" Lỗ Vũ xỏ xiên một đào chính nào đó đã hết thời, nhại lại bằng giọng điệu quái đản, điệu bộ kỳ dị cái giọng hát "khản đặc vỡ vụn" và thân hình cứng đờ không còn làm nổi động tác ngọa ngư của người ta, lúc lại cùng Chiêm Đức Quyên — người chuyên diễn các vai hoa đán phái Tuân — tranh luận về cách xử lý một đoạn hát trong vở "Hồng Lâu nhị Vưu", hoặc là cãi cọ với Phạm Ngọc Nga. Phạm Ngọc Nga cho rằng giọng hát của Hề Tiêu Bá — vị danh lão sinh bấy giờ đang tự mình gánh một đoàn hát — rất có phong vị, anh liền bĩu môi thật mạnh, khăng khăng bảo: "Dở tệ, như nước ốc! Như muỗi kêu!"... Có mấy bạn nam trong thành phố không có nhà, xem kịch đêm ở các rạp Cát Tường, Trường An xong không về kịp Đại học Bắc Kinh, anh liền giữ họ lại ngủ qua đêm ở nhà mình, cùng trải chiếu nằm dưới sàn phòng khách với họ. Nằm xuống tắt đèn rồi vẫn còn rù rì rù rào, cười khúc kha khúc khích, chẳng màng đến cha mẹ ở phòng trong bị làm ồn đến mức không tài nào ngủ yên... Thậm chí có một lần cùng xem xong vở "Nam Thiên môn" hiếm hoi do Đàm Phú Anh diễn, anh dẫn cả Hà Khang lẫn Phạm Ngọc Nga về nhà, kết quả đành phải để mẹ vào phòng trong ngủ cùng Phạm Ngọc Nga, phiền cha ra phòng ngoài ngủ giường nhỏ, còn anh cùng Hà Khang trải chiếu nằm đất. Sau này anh hai Tưởng Doanh Công biết chuyện mắng cho một trận, anh mới phụng phịu cái mồm, hứa lần sau không dẫn bạn nữ về nhà ngủ lại nữa...
Đến khi tốt nghiệp, các thành viên nòng cốt của câu lạc bộ Kinh kịch gần như đều cùng khóa, lúc chia tay nhau cố nhiên ai nấy đều có chút lưu luyến không nỡ, nhưng người khác đều không giống như Tưởng Doanh Bình, dường như câu lạc bộ Kinh kịch là sinh mệnh thứ hai thậm chí là một bộ phận trọng yếu trong thực thể sinh mệnh duy nhất của anh, anh bắt tay từ biệt ai cũng đều đầm đìa nước mắt... Trình Hùng, người hát vai hoa mặt đồng chùy, học ngành địa chất địa lý, tự nguyện đi làm việc ở đội thăm dò địa chất tỉnh Thanh Hải. Chuyên ngành của họ phân công sớm nên Trình Hùng đi trước một bước, khi ấy phương án phân công của khoa Tưởng Doanh Bình vẫn chưa công bố. Tưởng Doanh Bình ra ga xe lửa tiễn Trình Hùng, tàu còn chưa chạy, Tưởng Doanh Bình đã nắm lấy tay Trình Hùng mà khóc lóc ầm ĩ. Trình Hùng không khỏi có chút kinh ngạc — luận về giao tình họ quả thực chơi với nhau rất tốt, nhưng dường như cũng chẳng đến mức phải làm ra cái cảnh như sinh ly tử biệt thế này! Trình Hùng khôi ngô vạm vỡ, Tưởng Doanh Bình đứng đối diện anh ta cũng chẳng phải mảnh mai nhỏ nhắn, càng không phải phụ nữ, hơn nữa mấy ngày liền chưa kịp cạo râu, rõ ràng cũng là một gã râu ria xồm xoàm vóc dáng thô to, thế mà trước mặt bao nhiêu người trên sân ga lại làm ra cái bộ dạng "nắm tay nhìn nhau lệ rưng rưng". Trình Hùng nghĩ thầm tấm chân tình của cậu tôi xin nhận, nhưng ngàn vạn lần đừng để người bên cạnh nhìn vào mà coi như trò cười, bèn rút tay ra vỗ vỗ vai Tưởng Doanh Bình bảo: "Anh bạn, chuyện này có gì đâu! Tiệc nào mà chẳng tàn, nói đi cũng phải nói lại, đâu phải từ nay về sau không bày tiệc nữa, cơ hội chúng ta cùng đứng chung sân khấu hát một vở 'Nhị tiến cung' sớm muộn gì cũng có mà!" Trình Hùng và Tưởng Doanh Bình quan hệ cực tốt trong câu lạc bộ, nhưng vì các trích đoạn phái Trình mà Tưởng Doanh Bình tập diễn hầu như đều không có vai hoa mặt, cho nên hai người chưa từng phối hợp chung trong một vở kịch nào. Từng có kế hoạch xử lý vai Lý Diễm Phi trong vở "Nhị tiến cung" bằng lối hát phái Trình, nhưng lại vì vấn đề đệm nhạc không giải quyết thỏa đáng nên rốt cuộc tan thành bọt nước... Trình Hùng nói câu này vốn có ý làm cho Tưởng Doanh Bình phấn chấn lên, lạc quan lên, nào ngờ Tưởng Doanh Bình nghe xong lại nghẹn ngào bật thốt thành tiếng, dứt khoát rút chiếc khăn tay ra che mặt khóc rống lên. Trình Hùng "chậc" một tiếng, lắc đầu quay người bỏ đi. Tưởng Doanh Bình lau khô nước mắt, xì sạch nước mũi ngước mắt nhìn lên, Trình Hùng đã đi khuất tự bao giờ, anh không khỏi sững sờ... Một mình bước ra khỏi nhà ga, trong lòng vừa dường như trống rỗng không nơi nương tựa, lại vừa dường như bị đè nặng bởi một quả cân chì...
Sau khi đến trường cấp hai số ba ở Tương Bắc, ngoài việc lên lớp, họp hành, lao động, Tưởng Doanh Bình chỉ biết co ro trong căn phòng ký túc xá đơn góc nhà lầu mà nhà trường bố trí cho mình để viết thư cho người thân và bè bạn, hoặc dùng chiếc đài bán dẫn nghe các tiết mục Kinh kịch phát trên sóng phát thanh. Diện tích căn phòng ấy tính ra không nhỏ, ngoài chiếc giường gỗ lớn bốn mùa giăng màn ra thì chỉ có một bàn, một tủ, hai chiếc ghế và một giá rửa mặt mà thôi, nom trống trải thênh thang. Lại thêm mặt đất bốc hơi ẩm ướt, anh thường xuyên phải xin phòng quản trị ít vôi sống về rải dưới gầm giường và góc tường, trong phòng lúc nào cũng thoang thoảng mùi vôi lẫn với mùi nấm mốc. Những đêm khuya thanh vắng, anh cô đơn đến mức hận không thể hóa thành một con mối ẩm nhỏ bé, bởi vì một con mối ẩm bò vào khe tường chắc chắn còn ấm áp và đủ đầy hơn nhiều so với cảnh anh lẻ loi một mình thế này...
Hiệu trưởng, đồng nghiệp cho đến bác lao công ở trường cấp hai số ba, rồi cả học sinh và một số phụ huynh đều rất tôn trọng anh, bởi vì anh đến từ Bắc Kinh, tốt nghiệp Đại học Bắc Kinh, tính tình lại ôn hòa, dạy học lại tận tụy. Trong các mối giao tiếp thông thường với người dân địa phương anh cũng chưa từng cảm thấy khó chịu, nhưng anh không có, cũng không muốn có, và cũng không có năng lực để xây dựng nên một mối quan hệ bạn bè với những người xung quanh trong một môi trường đất khách quê người xa lạ như thế. Người địa phương căn bản chẳng có ai hiểu và thích Kinh kịch, họ cũng thích xem kịch thậm chí thỉnh thoảng cũng hát vài câu, nhưng đó là kịch hoa cổ khác biệt một trời một vực với Kinh kịch. Anh cẩn thận không để người địa phương biết mình là một "kẻ lập dị" mê mẩn nghệ thuật thanh y Kinh kịch, đặc biệt là thanh y phái Trình, chỉ khi ở một mình anh mới khe khẽ cất giọng hát lối Trình, chẳng hạn như đoạn Nhị lục bản chuyển sang Khoái bản trong vở "Xuân khuê mộng":
"... Nghĩ kỹ chuyện xưa lòng vẫn hận, nỡ chia uyên ương rẽ đôi đường,
Suốt ngày như say lại như bệnh, tựa lò hương sưởi ngồi đến sáng,
Lúc đi hoa nở ngập đường quê, nay trên đầu lầu liễu lại xanh,
Thương thay thiếp chốn khuê phòng đợi, từ ngày hải đường nở đến nay..."
Lại như đoạn Tây bì mạn bản trong vở "Hoang sơn lệ":
"... Nghe canh ba trăng sáng người im vắng,
Chợt nghe ngoài cửa sổ tựa có bóng người đi...
Vội rảo bước nép bóng hoa chăm chú nhìn,
Hóa ra là tiếng gió thu lay quét lá rơi..."
Lúc hứng khởi dâng cao, anh còn cài chặt then cửa, khoác một chiếc ga trải giường cũ lên vai buông dài xuống cánh tay cầm trong tay giả làm dải tay áo lụa, vừa ngân nga vừa làm vài động tác uốn lượn, múa lượn mấy đường tay áo. Tất cả những điều đó chưa từng bị những người dân địa phương chất phác phát hiện ra.
Cứ mỗi kỳ nghỉ đông, nghỉ hè, Tưởng Doanh Bình liền vội vã lên đường về lại Bắc Kinh. Hễ về tới Bắc Kinh, anh như cá cạn được thả về sông hồ, ngoài việc cùng cha mẹ, các em hưởng thụ niềm vui sum họp, anh liền lần lượt đi thăm những người bạn cũ trong câu lạc bộ Kinh kịch sau khi tốt nghiệp được ở lại Bắc Kinh công tác. Nơi anh đến nhiều nhất là nhà của hai vợ chồng Hà Khang và Phạm Ngọc Nga, họ nhất định giữ anh lại ăn cơm, có lúc ăn xong bữa trưa lại vừa trò chuyện vừa hát xướng, bất giác trời đã tối muộn, thế là lại cùng nhau nấu mì ăn bữa tối... Chiêm Đức Quyên, người hát hoa đán kiêm cả thanh y, được phân công công tác ở một cơ quan nhà nước, lấy một người chồng làm trưởng phòng chẳng hề thích Kinh kịch. Tưởng Doanh Bình cũng mò đến nhà Chiêm Đức Quyên để hàn huyên chuyện cũ, Chiêm Đức Quyên tiếp đón anh rất gượng gạo, còn người chồng cứng nhắc kia ngoài mặt thì lịch sự nhưng liên tục liếc xéo đầy khó chịu. Thế mà Tưởng Doanh Bình mãi đến sau lần thứ ba mới đọc được ánh mắt của người ta, bước ra khỏi cửa nhà đó rồi anh lại chẳng tự kiểm điểm sự lỗ mãng của mình mà chỉ than thở lòng người thế thái bạc bẽo... Anh cũng từng đi tìm Hoàng Lục Thanh, Hoàng Lục Thanh sau khi bị quy thành phái hữu thì bị đưa xuống một nhà máy phân lân ở ngoại thành xa xôi làm công nhân bốc vác nguyên liệu. Khi tan ca bỗng thấy Tưởng Doanh Bình tìm đến tận nơi, anh ta không khỏi kinh ngạc khôn xiết. Dẫu anh ta tin vào sự lương thiện và thẳng thắn của Tưởng Doanh Bình, cũng cảm kích tình bạn đồng môn và tri âm ấy, nhưng cảnh ngộ trắc trở đã mài mòn hoàn toàn sự hoạt bát và hóm hỉnh vốn có của anh ta. Anh ta đã sớm không còn xem kịch, không còn hát kịch và cũng chẳng còn tơ tưởng gì đến kịch nữa. Tưởng Doanh Bình thì thất vọng tràn trề với Hoàng Lục Thanh, anh vốn nghe nói Hoàng Lục Thanh đã được tháo mũ phái hữu mới tìm đến. Anh cứ ngỡ hai người ở bên nhau ít nhất cũng có thể hồi tưởng lại màn diễn đối đáp giữa Tiết Tương Linh và Hồ bà trong vở "Tỏa lân nang", lúc bấy giờ vai Hồ bà do Hoàng Lục Thanh đảm nhiệm bằng lối diễn thái đán (dẫu mới chỉ là tập dượt chứ chưa chính thức hóa trang lên sân khấu) mới hóm hỉnh, mới buồn cười làm sao! Thế nhưng một Hoàng Lục Thanh hoàn toàn không còn thấy dáng vẻ hào hoa năm nào chỉ nheo nheo đôi mắt hằn đầy vết chân chim, châm hết điếu thuốc lá rẻ tiền này đến điếu khác, hết sức miễn cưỡng đón lấy những câu chuyện kịch nghệ của anh, ánh mắt cứ đảo sang chỗ khác, dường như rất sợ người ngoài nghe thấy cuộc trò chuyện vốn chẳng hề có nửa điểm nội dung chính trị của họ... Lúc Tưởng Doanh Bình từ chỗ Hoàng Lục Thanh trở về nội thành, nhìn thấy muôn ánh đèn đêm nơi phố thị, trong lòng quẩn quanh từng sợi u sầu...
Duy chỉ có "mỹ nam bỏ túi" Lỗ Vũ là dường như chẳng hề thay đổi chút nào! Cậu ấy kém Tưởng Doanh Bình một khóa, sau khi tốt nghiệp khoa Hóa thì được phân công về một nhà máy dược phẩm làm kỹ thuật viên. Cậu ấy vẫn là một gã mê kịch cuồng nhiệt! Vẫn là một tài tử nghiệp dư có tiếng trong giới! Cậu ấy tháp tùng Tưởng Doanh Bình về Bắc Kinh nghỉ phép đi xem các buổi diễn Kinh kịch bấy giờ hết đêm này sang đêm khác, lại dẫn anh đến một đội Kinh kịch nghiệp dư do một câu lạc bộ công nhân quận tổ chức để thỏa cơn ghiền. Thời bấy giờ kinh phí thiếu thốn, các tài tử không thể hóa trang biểu diễn bèn tổ chức hát mộc, Tưởng Doanh Bình cũng đến góp vui hát mộc vài đoạn, nhớ có lần một trích đoạn "Hạ hậu mắng điện" hát mới sướng làm sao! Hoặc là anh đến nhà Lỗ Vũ nghe đĩa hát Kinh kịch, nhà Lỗ Vũ có một khuôn viên sân vườn riêng biệt, lưu giữ rất nhiều đĩa than Kinh kịch cũ do hãng Bách Đại thu âm, của Tứ đại danh đán, của Tứ đại tu sinh, của danh võ sinh Dương Tiểu Lâu, của danh sửu Tiêu Trường Hoa... có đủ cả, ôi, nghe mãi không thấy chán! Mà vui sướng nhất là hai người họ vừa uống trà vừa bình phẩm khen chê những đào kép Kinh kịch nổi tiếng bấy giờ còn sống, còn biểu diễn. Rõ ràng là một diễn viên nào đó đang vô cùng ăn khách, vô cùng được báo chí tán dương, được tờ "Kịch báo" dùng ảnh trang phục kịch đưa lên trang bìa lớn, Lỗ Vũ cứ bô bô dùng giọng điệu chú hề mà bảo: "Dở! Dở tệ! Đích thị là một mớ hỗn độn thối nát!", chọc cho Tưởng Doanh Bình cười không ngậm được miệng; mà Lỗ Vũ lại cứ cho rằng Tiêu Thúy Hoa bấy giờ đã chẳng còn nhan sắc cũng chẳng còn giọng hát là "tuyệt đỉnh! Cực kỳ tuyệt vời!", rồi lại nhại lại Hàn Thế Xương — danh đào Côn khúc bấy giờ đã hoàn toàn không thể ngồi xổm xuống được nữa — diễn vai Xuân Hương trong vở "Du viên kinh mộng" ra sao, dùng giọng trầm đục hát khúc thế nào, nhưng đó tuyệt đối không phải châm biếm, mà là để cho Tưởng Doanh Bình thấy sức hút của Hàn Thế Xương chẳng những không giảm mà càng già càng mặn mà... Tưởng Doanh Bình bất giác nhảy cẫng hai chân, vỗ tay reo to: "Hay lắm!"...
Có một năm nghỉ đông, một hôm Tưởng Doanh Bình đang ở nhà nghiền ngẫm tập hai cuốn "Bốn mươi năm đời sống sân khấu" của Mai Lan Phương thì bỗng Lỗ Vũ hốt hoảng chạy đến tìm anh, vừa gặp mặt đã nói phủ đầu: "Sao anh vẫn còn ngồi đây như người vô sự thế hả? Chuyện lớn rồi!" Anh vội hỏi: "Sao vậy?" Lỗ Vũ bảo: "Trình Hùng làm việc ngoài hiện trường bị đè gãy chân, nằm viện bên Tây Ninh một trăm ngày, mấy hôm nay mới chuyển về Bắc Kinh, vẫn còn đang nằm viện đấy! Phen này sợ là không lên sân khấu được nữa rồi!" Tưởng Doanh Bình không khỏi kinh ngạc: "Cậu nói cái gì cơ?!" Lỗ Vũ bèn cất giọng to hơn: "Trình Hùng anh ấy bị thọt rồi!"
Tưởng Doanh Bình và Lỗ Vũ cùng nhau đến bệnh viện nơi Trình Hùng nằm điều trị. Tưởng Doanh Bình nghĩ đến chuyện từ nay Trình Hùng hóa thành một kẻ tàn tật, nỗi buồn từ đáy lòng dâng lên, sống mũi cay cay. Nhưng họ vừa bước vào khu nội trú thì đã nghe thấy từ phía phòng bệnh khoa ngoại truyền lại tiếng hát mộc ồm ồm vang như chuông của giọng hoa mặt đồng chùy:
"Giao long đang lúc mắc cạn nơi bãi cát,
Chợt nghe tiếng sấm xuân nổ vang rền,
Xông tới tóm chặt áo cùng đai,
Trên điện vàng đánh tơi bời lũ gian thần..."
Không sai, chính là Trình Hùng đang hát vở "Đại bảo quốc"! Tưởng Doanh Bình và Lỗ Vũ vội vàng lần theo tiếng hát bước tới, trong một phòng bệnh sáu giường, Trình Hùng đang chống một chiếc nạng, đứng bên cửa sổ hát mộc cho các bạn bệnh nhân nghe, lại có cả mấy bệnh nhân có thể đi lại được ở các phòng bên cạnh cũng xúm quanh đó lắng nghe...
Bạn tốt trùng phùng, tự nhiên là vui mừng khôn xiết. Trình Hùng bảo điều anh ta vô cùng tiếc nuối không phải là khó lòng hóa trang lên sân khấu diễn vai hoa mặt đồng chùy nữa, mà là tai nạn bất ngờ này đã chặt đứt tiền đồ sự nghiệp thăm dò địa chất của anh ta, sau này dẫu có hồi phục đến mức không cần chống nạng mà đi thì cũng tuyệt đối không thể nào trở lại với chốn rừng núi hoang vu được nữa... Lỗ Vũ rất nhanh đã cởi bỏ được khúc mắc, cùng Trình Hùng nói cười thậm chí tán gẫu tếu táo, thế nhưng Tưởng Doanh Bình chẳng hiểu sao trong lòng vẫn cứ chua xót khôn nguôi, chực muốn trào nước mắt, đến mức sau đó Trình Hùng lại từ trong túi hoa quả to đùng mà họ mang đến chọn ra một quả quýt to nhất đưa cho anh, vỗ vỗ vai anh bảo: "Anh bạn, chúng ta không cần chua, phải lấy ngọt cơ!..."
Lại qua một năm nữa, cha của Tưởng Doanh Bình là Tưởng Nhất Thủy được điều về giảng dạy tại một học viện quân sự của Giải phóng quân ở Trương Gia Khẩu, mẹ đi theo cha, Bắc Kinh không còn giữ lại tổ ấm nữa. Tưởng Doanh Bình mỗi dịp nghỉ đông nghỉ hè về lại Bắc Kinh liền trở nên rất bất tiện. Nhưng anh cũng vẫn về, hoặc là ở chỗ cậu em Tưởng Doanh Hải đã đi làm, hoặc là ở nhờ nhà cô em Tưởng Doanh Ba đã kết hôn lập gia đình, hoặc là đến ở nhà Lỗ Vũ, thậm chí trọ lại trong những lữ quán nhỏ. Lúc ấy anh mới nếm trải mùi vị cuộc đời không có nhà của cha mẹ để về, mới hiểu ra rằng dẫu anh chị em hay bè bạn có tốt với mình đến đâu, chỗ của họ vĩnh viễn chẳng thể thay thế được ngôi nhà của cha mẹ, nơi anh có thể mặc sức tận hưởng một cách vô tư lự, thỏa thuê trọn vẹn... Thân hữu đều khuyên anh tranh thủ tìm một đối tượng kết hôn tự lập lấy một gia đình. Anh luôn đỏ mặt, sốt ruột ấp úng bảo: "Chẳng lẽ lại tùy tiện tìm một người phụ nữ ở cái nơi ma quỷ đó sao? Còn phụ nữ bên này, có ai chịu lấy một người đàn ông có hộ khẩu và công tác ở cái trường cấp hai số ba của huyện như tôi chứ?" Nhưng thực ra trong lòng anh càng hoang mang hơn là, dẫu tuổi tác cứ mỗi năm một tăng lên đến con số không thể dễ dàng nói thật cho người ngoài biết, điều anh ngưỡng mộ và khát khao trong lòng lại chẳng phải là một người vợ hay một gia đình, mà là một đám người thân bè bạn có thể bất cứ lúc nào cùng anh xem kịch, hát kịch, bàn kịch, hoặc cùng anh mãi mãi ở trong trạng thái "ngồi bô chung", trạng thái nhảy cẫng hai chân, trạng thái cười khúc khích quên cả tuổi tác, quên cả giới tính. Con cá như anh phải được thả vào thứ nước như thế mới có thể tung tăng bơi lội, mới có thể vui tươi!
Thế là có một năm nghỉ hè, anh nhận lời mời của người cậu thứ bảy họ hàng ở Thượng Hải, đến Thượng Hải, ở đó nhận được sự tiếp đãi nồng hậu của gia đình cậu bảy cùng mấy bà dì và con cái của họ (tức các anh chị em họ của anh). Nghỉ hè năm ấy cô em họ Thẩm Tích Mai làm việc ở Cục Cây xanh Bắc Kinh (thực ra sinh cùng năm với anh, lại còn lớn tháng hơn anh, nhưng anh chỉ coi cô là em họ) cũng vừa khéo về Thượng Hải thăm người thân. Mẹ của Thẩm Tích Mai tức dì của Tưởng Doanh Bình, em trai của Thẩm Tích Mai là Thẩm Tích Tùng tức cậu em họ của Tưởng Doanh Bình, đều luôn sinh sống và làm việc ở Thượng Hải. Tưởng Doanh Bình sum họp với những người thân bên ngoại này hơn hai mươi ngày, đến lúc người ta tiễn anh lên tàu hỏa trở về Hồ Nam, anh bỗng nhiên bật khóc, hơn nữa lại không kìm được mà có chiều hướng khóc gào lên, làm cho những người đưa tiễn bao gồm cả Thẩm Tích Mai đều giật nảy mình. Mọi người vội hỏi anh rốt cuộc làm sao thế? Anh nghẹn ngào bảo: "Mọi người... mọi người đối với cháu... thực sự là quá tốt!" Sau khi tàu hỏa chạy rồi, những người tiễn đưa không khỏi nhìn nhau ngơ ngác, phải rồi, cậu ấy là người thân của chúng ta, cậu ấy đến Thượng Hải nghỉ hè, chúng ta đương nhiên phải đối đãi tốt với cậu ấy, chúng ta đối với những người thân khác cũng tốt như thế mà, cớ sao cậu ấy lại xúc động đến mức này, làm như chúng ta có ơn đức gì to tát lắm với cậu ấy, làm như lần chia ly này là vĩnh quyết, lại làm như chính cậu ấy vẫn là một đứa trẻ con chưa lớn vậy... Về sau chính Thẩm Tích Mai đã đưa ra một lời giải thích về anh: "Doanh Bình hát thanh y, những vở kịch như thế hát nhiều rồi, tình cảm tự nhiên sẽ tinh tế nhạy cảm hơn người bình thường chúng ta... Cháu từng xem anh ấy diễn ở Đại học Bắc Kinh rồi... Anh ấy trên sân khấu hay dưới sân khấu đều dạt dào chân tình như một cả thôi..."
Tưởng Doanh Bình cứ thế bước vào năm 1966 với phương thức sinh tồn và thế giới tình cảm đặc thù của mình. Trước kỳ nghỉ hè năm ấy Bắc Kinh đã loạn cào cào, sau đó lan sang Hồ Nam, lan tới huyện, lan tới trường cấp hai số ba của huyện, anh hoàn toàn chết lặng...
Cũng may Tưởng Doanh Bình một không phải "phái đương quyền", hai không phải địa chủ, phú nông, phản cách mạng, phần tử xấu, phái hữu, ba không có dân phẫn oán hờn, bởi vậy dẫu cho cơn cuồng triều "Phá tứ cựu" và "Tạo phản cách mạng" đợt sau cao hơn đợt trước đều không hề va chạm tới anh. Lại thêm bọn "Hồng vệ binh" và "phái tạo phản" ở địa phương đầu óc đơn giản, với một lối suy luận giản đơn — "tờ báo chữ lớn chủ nghĩa Marx đầu tiên" đích thân Mao Chủ tịch khẳng định là do nhóm Nhiếp Nguyên Tử ở Đại học Bắc Kinh viết, Tưởng Doanh Bình từ Đại học Bắc Kinh về, cho nên Tưởng Doanh Bình tự nhiên là người tốt — mà coi Tưởng Doanh Bình như chiến hữu, mặc cho Tưởng Doanh Bình tiêu dao tự tại. Giả sử không phải bản thân Tưởng Doanh Bình chẳng những hoàn toàn không có dã tâm chính trị, mà lại luôn nhát gan sợ việc, lùi bước ba phần trên chính trường, thì nếu anh nhân cơ hội nhảy nhót một phen, cũng rất có thể diễn thêm được vài màn kịch hùng tráng oai phong khác...
Khi trường học đã đình chỉ việc học để làm cách mạng, học sinh thậm chí một số "giáo viên cách mạng" đều theo làn gió "đại xâu chuỗi" đổ xô đi khắp nơi, đặc biệt là đổ về Bắc Kinh, thì Tưởng Doanh Bình ngược lại chẳng đi đâu cả, bởi vì anh lần lượt nhận được thư từ của người thân và bạn bè, đối với anh mà nói, anh cảm thấy thực sự đã chẳng còn nơi nào để đi... Thư của cha mẹ gửi tới bảo rằng trong học viện quân sự cũng "bùng lên ngọn lửa hừng hực của cuộc 'Đại cách mạng Văn hóa' vô sản", "chúng ta cũng đều tích cực tham gia, tranh thủ trải qua rèn luyện trong ngọn lửa cách mạng để luyện thành vàng ròng", nơi đó đương nhiên không tiện đến thăm; anh hai Tưởng Doanh Công ở Bắc Kinh (anh mới kết hôn không lâu) gửi thư bảo: "Tình hình viện thiết kế chúng anh không phải tốt bình thường, mà là vô cùng tốt..." Lời lẽ hết sức chung chung sáo rỗng, cuối thư chỉ viết to tướng hai chữ: "Đừng bận lòng." Cậu em Tưởng Doanh Hải viết thư toàn trích dẫn ngữ lục Mao Chủ tịch, cũng hoàn toàn chẳng đụng chạm gì đến tình hình cụ thể của bản thân; thư của cô em Tưởng Doanh Ba thì ngược lại toàn nói chuyện vặt vãnh trong nhà: Em sinh một đứa con gái nhỏ, đặt tên là Táp Táp; đã thuê được một bà vú em, người Tứ Xuyên, cũng tốt, chỉ là hơi có tuổi... Tưởng Doanh Bình biết lúc này đến Bắc Kinh dẫu ở chỗ ai trong số họ cũng đều không tiện... Những người bạn cũ kể từ sau mùa hè đều chẳng còn ai gửi thư tới, anh liên tiếp viết ba lá thư cho Lỗ Vũ, chỉ hỏi tin tức của các bạn cũ trong câu lạc bộ Kinh kịch năm xưa, thế nhưng Lỗ Vũ — người vốn hồi âm chăm chỉ nhất — lại như biến mất vào cõi mây ngàn, không một mảnh giấy nửa lời hồi đáp...
Cứ như thế, anh sống vất vưởng qua mùa thu trong góc nhỏ hẹp hòi ấy, rồi lại bước vào mùa đông... Cũng may còn có thím Hai Đồng, có gia đình bà, giúp cho trái tim yếu ớt của Tưởng Doanh Bình có được đôi chút an ủi quý giá giữa thời loạn lạc...
3
Đó là mùa xuân năm 1966, vào tiết Thanh minh, người địa phương rất coi trọng ngày đó, nơi đồng nội phàm chỗ nào có lùm cây ắt có những nấm mồ, vào ngày đó bên cạnh nấm mồ chắc chắn có những đồng tiền vàng mã đã cháy hết hoặc chưa cháy hết bay lượn trong gió... Tưởng Doanh Bình với tâm trạng u uất tản bộ giữa đồng nội, hết sức tình cờ nhìn thấy trên tấm bia đá trước một nấm mồ tên của một người phụ nữ đã khuất: Tưởng Nhất Hoán. Anh không khỏi giật mình động tâm, cha từng nói từ lâu, nhà họ Tưởng coi trọng nhất là chữ lót theo thứ bậc trong tên họ, thế hệ của cha đều lót chữ "Nhất", hơn nữa chữ cuối cùng bất kể nam hay nữ đều phải mang bộ thủy, vị Tưởng Nhất Hoán này chẳng lẽ lại là người cùng thế hệ với cha sao? Sao bà lại gả đến nơi này, rồi chết ở nơi này? Chẳng lẽ bà lại là một người cô đã qua đời của mình? Dẫu cô ruột của anh chỉ có một người, nhưng cô họ, cô con chú bác xa thì e rằng ngay cả cha cũng không nhớ hết được...
Mang theo mối nghi ngờ ấy, Tưởng Doanh Bình bắt đầu dò hỏi các đồng nghiệp trong trường, kết quả hỏi qua tra lại, quả nhiên tra ra được, Tưởng Nhất Hoán ấy đúng là từ quê quán tổ tiên của anh gả đến vùng Tương Bắc này! Chồng của bà vẫn còn sống, lại có con cái đã trưởng thành — đó chẳng phải là bà con cô cậu của mình sao! Anh tìm đến nhà dượng họ, dượng là cán bộ của Cục Thủy lợi trong huyện, gặp anh rồi cùng anh truy nguyên gốc tích, xác nhận Tưởng Nhất Hoán đúng là một người em họ xa của cha anh. Anh mừng đến mức nhảy cẫng hai chân lên, nắm lấy tay dượng mà chực trào nước mắt — anh ở nơi khỉ ho cò gáy này lại tìm được người thân cốt nhục! Anh mới may mắn làm sao!
Người dượng họ Đồng ấy đối với sự xuất hiện của anh cũng vô cùng mừng rỡ, đặc biệt là biết anh đến từ Bắc Kinh, tốt nghiệp Đại học Bắc Kinh, mà cha mẹ anh lại đều ở trong học viện quân sự của bộ đội, các anh em trai và em gái đều công tác ở Bắc Kinh, điều này đều khiến người ta cảm thấy rạng rỡ, đủ để lấy làm tự hào. Nhưng khi anh tha thiết yêu cầu được đến nhà dượng để nhận anh chị em họ, trên mặt người dượng lại lộ vẻ khó xử...
Hóa ra sau khi cô Tưởng Nhất Hoán qua đời không lâu, dượng liền tái giá, hơn nữa Tưởng Nhất Hoán không sinh nở gì, một trai một gái hiện tại đều do người vợ kế sinh ra, cho nên tính kỹ lại thì về mặt huyết thống, những người này hoàn toàn chẳng có nửa phần quan hệ với Tưởng Doanh Bình...
Sau khi dượng Đồng nói rõ chân tướng với Tưởng Doanh Bình, lòng anh ngỡ như một tảng băng rơi vào chậu than hồng, nhưng dượng Đồng vẫn mời anh đến nhà làm khách, anh cũng đành đi. Nào ngờ vừa đến nơi, người dì kế của dượng Đồng vừa thấy Tưởng Doanh Bình, chưa nói được mấy câu đã đem lòng thương xót anh, làm một mâm cỗ thịnh soạn giữ anh lại ăn cơm, vừa gắp thịt vào bát anh vừa oang oang bảo: "Tính toán chi li cái huyết thống mần chi! Cháu không nhận ông ấy là dượng thì dì cũng muốn làm dì của cháu, cháu cũng đừng gọi dì là cô, xóm giềng lối phố bên này đều gọi dì là thím Hai Đồng, cháu cứ gọi dì là thím Hai Đồng đi!" Lại bảo với chồng: "Ông không coi nó là cháu ruột, tôi chỉ coi nó là cháu ngoại ruột thịt!" Lại bảo con trai con gái đều đã đi làm nhưng chưa lập gia đình gọi anh là "anh họ". Tưởng Doanh Bình xúc động đến nghẹn ngào nơi cổ họng. Từ đó, anh ở chốn khỉ ho cò gáy này không còn cô đơn nữa, anh đã có một gia đình người thân, hơn nữa gia đình người thân ấy lại lấy thím Hai Đồng làm gốc rễ!
Tưởng Doanh Bình viết cảnh tượng nhận người thân cảm động ấy thành một bức thư dài dằng dặc, gửi cho cha mẹ, gửi cho các anh em trai và em gái, lại gửi cho hai người em họ Điền Nguyệt Minh và Thẩm Tích Mai, anh muốn họ cũng từ cương vị của mỗi người mà nhận thím Hai Đồng này, tha thiết xin họ đều viết thư cho bà... Phản ứng lạnh nhạt ngoài dự liệu của anh, cha mẹ gửi thư về chỉ bảo cô Tưởng Nhất Hoán nếu đã qua đời từ lâu, ở cái nơi xa xôi ấy có thím Hai Đồng chăm sóc cũng tốt, có điều cũng đừng làm phiền người ta quá nhiều; thư hồi âm của các anh em trai và em gái chỉ nói chuyện khác, dường như đều quên khuấy cái tin tức tình thân mà anh đã thông báo; Điền Nguyệt Minh không hồi âm, Thẩm Tích Mai hồi âm nhưng nói thẳng với anh: "Em thật sự không tiện liên lạc với thím Hai Đồng đó, bởi vì giữa chúng em thật sự chẳng tìm ra chuyện gì để nói cả, xin anh lượng thứ."
Sau khi cơn bão "Cách mạng Văn hóa" nổi lên, mối liên hệ với cha mẹ, anh em, em gái cùng các bạn bè cũ ở câu lạc bộ Kinh kịch đều trở nên xa cách, sự nương tựa tình cảm của Tưởng Doanh Bình đối với gia đình thím Hai Đồng càng thêm gắn bó khăng khít, đằng nào trong trường cũng đã nghỉ học, loạn thành một mớ bòng bong. Anh liền dăm bữa nửa tháng lại chạy sang nhà thím Hai Đồng ngồi lì ở đó, dẫu cho thím Hai Đồng và mọi người chẳng có mấy lời để nói với anh, nhưng họ dung túng cho anh ngả lưng trên chiếc ghế nằm bằng tre, phe phẩy quạt nan nghe đài truyền thanh — anh đương nhiên vẫn là nghe kịch. Bấy giờ phát sóng đương nhiên toàn là "kịch hiện đại cách mạng" (cách gọi "kịch mẫu mực" sau này mới xuất hiện), anh thấy có những đoạn hát thiết kế thanh âm giai điệu khá hay, chẳng hạn như vai vợ Hồ Nhị trong vở "Cửa số 6" do Lâm Ngọc Mai dùng điệu Trình để hát. Đoạn Phản nhị hoàng mạn bản "Kể từ ngày bãi hàng phía đông ập tới tai ương..." vô cùng u uất trầm bổng, khiến anh bất giác ngâm nga theo — hơn nữa họ luôn nhiệt tình giữ anh lại ăn cơm, dẫu cho loa phóng thanh ngoài ngõ phố chốc chốc lại gầm rống "Cách mạng không phải là mời khách ăn cơm...", thím Hai Đồng trong một hoàn cảnh như thế vẫn chuẩn bị cho anh những bữa cơm thịnh soạn và ngon miệng; dượng Đồng ở cơ quan không phải phái đương quyền cũng chẳng phải "uy quyền phản động", lại không tích cực tham gia "tạo phản", cho nên không khí trong nhà thoải mái hơn bên ngoài rất nhiều, em họ trai và em họ gái đều thật thà chất phác, thỉnh thoảng trên bàn ăn có truyền đạt vài tin tức rùng beng giật gân hoặc tranh luận với nhau đôi câu thì cũng tuyệt đối không thực sự ảnh hưởng đến cảm giác ngon miệng của Tưởng Doanh Bình...
Bởi vậy, vào buổi chiều mưa dầm dề rỉ rả ấy, khi Tưởng Doanh Bình giương chiếc ô giấy dầu đỏ, vượt qua sườn đồi nhỏ rậm rạp tre mỡ để đi về phía nhà thím Hai Đồng ở ven rìa thị trấn, anh không khỏi một lần nữa tự đáy lòng cảm thấy vô cùng may mắn và an ủi: Dù sao ở đây cũng có một thím Hai Đồng từ ái, có một bến đỗ bình yên nhỏ nhoi... Từ đáy lòng anh ngâm nga một câu điệu Trình do mình tự sáng tác: Đây cũng là người hiền tự có trời thương...
Vượt qua đỉnh đồi, đi hết những bậc thang xuống dốc ngoằn ngoèo hình chữ chi, rừng tre đã hết, hiện ra một vạt đất trồng rau, băng qua con đường mòn giữa vạt rau ấy là tới cuối thị trấn, vòng qua bức tường sau của mấy hộ dân liền là con phố nhỏ của thị trấn. Dưới gốc đa lớn của con phố nhỏ có một con ngõ ngắn, trong con ngõ ấy chính là nhà thím Hai Đồng.
Tưởng Doanh Bình nhận ra mưa đã tạnh bèn thu ô lại. Anh rẽ vào con phố nhỏ, bỗng nhiên nhận thấy trên phố tụ tập một số người, vẻ mặt đều khá dị thường, nhìn kỹ lại thì dưới gốc đa lớn nơi đầu ngõ dường như có một đám "phái tạo phản" đang lôi một "ngưu quỷ xà thần" nào đó ra đấu tố; cảnh tượng kiểu này mấy tháng gần đây anh đã nhìn quen mắt, vốn chẳng có gì đáng kinh ngạc, thế nhưng trong những tiếng phê phán, tiếng quát tháo hạch hỏi và tiếng khẩu hiệu huyên náo, anh nghe ra người bị lôi ra đấu tố dường như là... Anh định thần nhìn kỹ lại, ái chà! Người bị lôi ra đấu tố lại chính là thím Hai Đồng! Trên đầu bà bị chụp một mảnh vỏ dưa hấu đã nạo hết ruột, vài vệt nước dưa hấu màu đỏ chảy dài lem nhem trên mặt bà. Trên cổ bà bị treo một tấm biển lớn viết tên bà, lại kèm theo một dòng phán quyết tuyên bố thân phận phản động của bà: "Con mụ thối tha phản cách mạng địa chủ đào tẩu", bên ngoài còn gạch chéo một chữ X lớn màu đỏ... Tưởng Doanh Bình bị tình huống bất ngờ này dọa cho chết điếng, thím Hai Đồng bên kia đang run rẩy lẩy bẩy trước uy thế của "phái tạo phản", còn anh đứng giữa đám người đứng xem cách đó hơi xa cũng run rẩy lẩy bẩy — chỉ là người xung quanh chẳng ai chú ý đến anh mà thôi, anh không khỏi buột miệng như tự hỏi lại như hỏi người bên cạnh: "Chuyện gì thế này? Chuyện gì thế này?..." Một người bên cạnh nghe thấy câu hỏi của anh liền bảo: "Là người ở quê con mụ thối thím Hai Đồng đấy, đi xâu chuỗi tiện thể lôi mụ ra, bảo là chuẩn bị áp giải trục xuất về nguyên quán đấy!" Anh chỉ thấy mắt hoa lên, chân bủn rủn...
4
Trong căn phòng ký túc xá lạnh lẽo ẩm thấp, nồng nặc mùi vôi và mùi nấm mốc ấy, Tưởng Doanh Bình cuộn tròn trong chiếc màn dính dấp nhơm nhớp, lén lút khóc nức nở suốt một hồi lâu.
Anh bị kích động mạnh bởi chuyện thím Hai Đồng bị lôi ra đấu tố, anh không có cách nào khác, chỉ biết trốn vào ký túc xá của mình, rúc vào chiếc màn mốc meo, bịt miệng mà khóc...
Anh khóc, chẳng hoàn toàn vì tai nạn của thím Hai Đồng, thậm chí chủ yếu không phải vì điều đó...
Anh khóc là vì sợ hãi. Anh cảm thấy có một bàn tay khổng lồ bằng sắt thép vô tình, hiện hữu ở khắp mọi nơi, đang ngự trị thế giới này và trực tiếp bao trùm lên cuộc sống của anh, khiến cho một kẻ yếu đuối nhỏ nhoi hèn mọn như anh — tuyệt đối không cản trở người khác, không phương hại đến bất kỳ thế lực nào, chẳng qua chỉ là học chút tiếng Nga, thích hát chút làn điệu thanh y phái Trình trong Kinh kịch — rốt cuộc cũng chẳng tìm nổi một kẽ hở nào để trốn tránh...
Anh khóc là vì đã đánh mất chính mình. Anh lờ mờ nhận ra bàn tay khổng lồ mà mình sợ hãi kia lại đại diện cho cách mạng và chính nghĩa, đại diện cho chuyên chính vô sản, đại diện cho chân lý không thể cãi bàn. Do đó, nỗi sợ hãi của anh chính là phản động, chính là tội ác, chính là hành vi nhơ nhớp... Liệu anh có nên tự trừng phạt, tự thú, tự sát hay không? Nếu nên, anh lại chẳng có đủ dũng khí...
Anh khóc là vì cảm thấy bị lừa dối. Tại sao thím Hai Đồng lại lừa dối anh, không sớm thẳng thắn thú nhận với anh rằng bà là một mụ địa chủ đào tẩu? Tại sao dượng Đồng lại lừa dối anh, không sớm nói hết sự thật với anh? Anh đã dốc cạn bầu nhiệt huyết tình cảm trao cho họ, cớ sao họ không nói thật từ sớm? ... Đương nhiên, cái mũ gọi là "mụ địa chủ đào tẩu" ấy có lẽ là do bọn "phái tạo phản" chụp mũ bậy bạ. Những chuyện như thế anh đã thấy quá nhiều rồi, nhưng tại sao bọn "phái tạo phản" ấy lại cứ nhất quyết phải chụp cái mũ đáng sợ này lên đầu người hết sức quan trọng với anh như thím Hai Đồng cơ chứ? ... Rốt cuộc ai đã lừa dối anh? Gia đình thím Hai Đồng hay là "phái tạo phản"? Dù sao thì cuộc sống cũng đã lừa dối anh, lừa gạt đi tình thân trong sáng như con trẻ của anh...
Anh khóc là vì nỗi cô độc sâu sắc, nỗi lẻ loi sâu sắc, vì cảnh bơ vơ không nơi nương tựa... Cha mẹ, anh em, em gái cho đến những người họ hàng khác đều ở cách xa ngàn dặm, những người bạn tốt ở câu lạc bộ Kinh kịch năm xưa bặt vô âm tín suốt mấy tháng ròng, mối u sầu chất chứa đầy bụng biết tỏ cùng ai? Khoảng trống rỗng trong lòng anh, ai sẽ lấp đầy? ...
Anh khóc là vì anh xem thường chính mình. Lần này, anh càng nhận thức sâu sắc, khắc cốt ghi tâm hơn bất cứ lúc nào trước đây rằng, linh hồn yếu đuối, thanh tú, thuần khiết của anh lại trớ trêu thay bị nhốt trong một thân xác thô kệch, cứng nhắc và bẩn thỉu. Hơn nữa, việc anh trốn tránh mà rấm rứt khóc thầm như thế này cũng hoàn toàn không xứng với số tuổi hiện giờ của anh. Anh đâu còn là một thiếu niên mười mấy tuổi, thậm chí cũng chẳng phải là một cậu thanh niên độ tuổi hai mươi, anh đã hơn ba mươi tuổi đầu, là một gã đàn ông râu ria xồm xoàm rồi...
Tưởng Doanh Bình cứ thế khóc miết cho đến khi trời tối đen như mực. Trận khóc thỏa thuê này rốt cuộc cũng khiến anh thả lỏng khỏi trạng thái căng thẳng. Anh cảm thấy hơi khát, hơi đói, bèn chui ra khỏi màn, đi tới cạnh cửa kéo bật đèn điện. Dù ánh đèn vàng vọt, nhưng vì đã ở trong bóng tối quá lâu nên thứ ánh sáng ấy vẫn khiến anh cảm thấy rực rỡ, cảm thấy ấm áp. Ngay khi tâm lý vừa tìm lại được một cảm giác dễ chịu tạm thời, đang định pha chút sữa bột để uống và ăn chút bánh quy khô, thì vừa cúi đầu xuống, anh bỗng phát hiện trên mặt đất cạnh cửa có một bức thư. Rõ ràng là có người nhét qua khe cửa từ bên ngoài vào — chuyện này trước đây cũng từng xảy ra, chẳng có gì lạ, huống hồ dạo gần đây anh luôn hỏi bác Mã ở phòng văn thư: "Có thư của cháu không ạ?" Người ta luôn áy náy lắc đầu, xua tay với anh, cho nên hôm nay đột nhiên có thư tới, người ta liền chủ động nhét qua khe cửa ký túc xá cho anh, đây cũng là một lòng tốt...
Tưởng Doanh Bình theo bản năng nhặt bức thư đó lên. Bì thư nhăn nhúm, con tem dán lệch, vị trí đáng lẽ phải ghi rõ địa chỉ và tên họ người gửi lại chỉ có hai chữ "nội tường". Anh nóng lòng xé toạc phong bì, rút tờ giấy viết thư ra, giũ phẳng, ghé sát vào dưới bóng đèn, chỉ thấy bên trên viết:
Doanh Bình:
Muốn gặp cậu. Mong cậu đúng 5 giờ chiều ngày 13 tháng 12 (thứ Ba) tới lan can cầu dành cho người đi bộ phía đông bờ bắc của cầu đường bộ cầu lớn Trường Giang Vũ Hán gặp tôi. Cậu muốn đi hay không, có đi được hay không, tôi mặc kệ, dù sao lúc đó tôi cũng sẽ ở đó đợi cậu, mòn mỏi đợi.
Mọi chuyện gặp mặt rồi nói!
Trình Hùng
Ngày 5 tháng 12 năm 1966
Là Trình Hùng! Trời đất ơi, là Trình Hùng! Tròng mắt của Tưởng Doanh Bình bất giác đảo sang tờ lịch lớn dán trên tường. Hiện giờ cách thời gian Trình Hùng hẹn còn ba ngày, chạy tới Vũ Hán hoàn toàn kịp! Trình Hùng nhất định là đang đi đại xâu chuỗi đến Vũ Hán... Tưởng Doanh Bình cẩn thận kiểm tra dấu bưu điện trên phong bì, bức thư quả thực được gửi từ Vũ Hán. Đã rất lâu rất lâu rồi anh không nhận được thư của Trình Hùng, hơn nữa cũng rất lâu rồi hoàn toàn không có tin tức gì về cậu ấy. Bây giờ, tốt rồi, Trình Hùng ra ngoài xâu chuỗi, hơn nữa còn nhớ tới anh, lại tha thiết chân tình hẹn anh tới Vũ Hán gặp mặt như vậy, anh có thể không đi sao? Anh muốn đi, có thể đi! Không thành vấn đề! Đúng 5 giờ chiều ngày 13 tháng 12 thứ Ba, hội ngộ bên lan can cầu dành cho người đi bộ phía đông bờ bắc cầu đường bộ cầu lớn Trường Giang Vũ Hán!
Tưởng Doanh Bình tức khắc cảm thấy một dòng nước ấm trào dâng khắp cơ thể.
Anh vậy mà lại khóc!