Tứ Bài Lâu

Lượt đọc: 7 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 8

❊ ❊ ❊

Hơn hai mươi năm rồi tôi không bước chân vào con ngõ này.

Nơi đây biến đổi không nhiều.

Những cây hoè trồng dọc hai bên đường dường như cũng chẳng hề to thêm. Nghĩ kỹ lại, âu là do thuở ấu thơ người tôi nhỏ thó, nhìn hàng hoè thời ấy mới thấy thân cây thật thô to. Nay vóc dáng tôi đã đẫy đà, hoè tuy thêm bao nhiêu vòng tuổi, mắt tôi trông vào lại thấy cũng chỉ ngang tầm. Có điều hàng hoè đã cao hơn hẳn. Cành lá hai bên đan cài dày đặc hơn, ánh nắng xuyên qua tán hoè xanh ngắt rớt xuống từng sợi dài le lói. Tiếng chuông xe đạp trong trẻo lanh lảnh từ sau lưng vọng tới rồi lướt vụt qua, một bà cụ tóc bạc phơ xách giỏ rau chầm chậm đi ngược chiều. Cạnh cổng một khoảng sân nào đó, trên nhánh hoè gác cửa có treo lồng chim; chủ nhân chú chim — một ông lão gầy gò ngồi trên chiếc ghế tre con, không ngửa đầu dựa lưng ghế mà lại thẳng lưng gục đầu ngủ gật, bên cạnh ghế đặt một lọ mứt bọc lưới cước thuỷ tinh đã hãm sẵn trà hoa...

Tôi ngỡ như mình được quay ngược về thời thơ ấu của hơn ba mươi năm trước.

Thế nhưng tôi chẳng hề muốn hoài niệm. Ký ức là một thứ đáng ghét. Tôi yêu một người bạn, tên anh ta là Quên Lãng. Quên Lãng dung mạo rất xấu xí, là một gã mặt rỗ, nhưng vết rỗ ấy thực chất lại là một chiếc sàng; anh ta có thể giúp ta sàng lọc thật vừa vặn những thứ không đáng nhớ, chỉ giữ lại ngọt ngào, tự hào cùng sự dửng dưng. Người đời chẳng chê bạn xấu. Tôi ôm lấy chiếc sàng ấy.

...Dần dà bước tới đầu ngõ, chợt thấy mấy người đàn ông cởi trần đang thi công, một người đàn ông mặc áo dường như đang chỉ đạo, hoặc là đang mắng mỏ họ, dăm ba người đi đường cùng bà con lối xóm đứng xúm quanh quan sát. Tôi bước lại gần nhìn, mới vỡ lẽ người ta đang xây một gara để ô tô con; chẳng cần nói cũng biết, đó là một phần của ngôi nhà viện mới được sửa sang lại.

Tôi cũng dừng chân đứng xem, tiện miệng hỏi một ông cụ bên cạnh: "Nhà của vị thủ trưởng nào thế cụ?"

"Thủ trưởng à?" Ông cụ liếc xéo tôi một cái rồi bảo: "Thủ trưởng ai lại tự mình ra giám sát công trình! Thằng Bảy con bác thợ mộc Cam đấy, làm ăn cá thể phất to, thừa tiền đâm tật, thích làm màu làm mè đấy!"

Cam Thất?

Đúng rồi, bác thợ mộc Cam, bác ấy sinh một bầy con, đâu chỉ có thằng Bảy, sau đó còn có thằng Tám, thằng Chín...

Tôi nhìn kỹ người tên Cam Thất kia, giật mình đánh thót, y hệt như bác thợ mộc Cam năm xưa bước ra vậy! Chỉ là bác thợ mộc Cam thuở ấy chưa từng mặc chiếc áo thun như hắn; tôi bất giác bước lên phía trước, nhận ra trên túi ngực áo thun có thêu logo đoá hoa hai chiếc lá. À, đó là thương hiệu danh tiếng của Pháp "Montagut", nếu không phải hàng nhái thì ít nhất cũng đáng giá vài trăm tệ; thắt lưng quanh bụng hắn, mặt kim loại sáng loáng mang biểu tượng đầu thỏ, đích thị là thương hiệu lớn "Playboy" của Mỹ, nom dáng hẳn là hàng chính hãng, giá cũng ngót nghét đôi ba trăm tệ...

Cam Thất thấy tôi tiến lại gần, bèn nhíu mày, cảnh giác nhìn tôi. Tôi niềm nở bắt chuyện:

"Chú Bảy!"

Cam Thất lùi lại một bước, liếc mắt đánh giá tôi từ trên xuống dưới, hỏi: "Bác là ai thế?"

"Năm xưa tôi cũng sống ở ngõ này, hai nhà chúng ta là hàng xóm mà! Lúc đó chú còn bé tí, tôi cũng chưa lớn... Hồi tiểu học tôi học cùng lớp với chị cả của chú..."

"Chị cả tôi á?" Cam Thất vẫn nhìn tôi đầy ngờ vực, dường như trong đời hắn chưa từng có người chị cả nào. Hắn dùng giọng chất vấn: "Chị cả nào? Tên là gì?..."

"Không phải chị cả chú tên là Cam Phúc Vân sao?" Tôi sốt sắng nói: "Hồi đó chị ấy suốt ngày cõng chú, bế chú, sao chú lại quên được?"

Tôi đợi chờ nét mặt đanh cứng của hắn giãn ra, hy vọng nơi đáy mắt hắn gợn lên những làn sóng ký ức, thậm chí ánh lên giọt lệ long lanh; thế nhưng, rõ ràng mối quan hệ giữa hắn và người bạn mang tên Quên Lãng kia thân thiết hơn nhiều. Chiếc sàng mà Quên Lãng trao cho hắn toàn là những mắt lưới to như miệng bát, hắn căn bản chẳng thể nhớ nổi ai từng mang cái tên Cam Phúc Vân...

Trước ánh mắt ngơ ngác của Cam Thất và những người xung quanh, tôi bất thần quay lưng bước đi, rảo bước thật nhanh ra khỏi con ngõ, thầm hối hận vì một phút ngẫu hứng mà lại dạo qua cái thân hình sâu thẳm dài hun hút của nó. Vậy mà, người bạn Quên Lãng của tôi lại bất ngờ siết chặt mắt lưới của mình, khiến trong lòng tôi dấy lên những ký ức chẳng quá nặng nề cũng chẳng quá to tát, cứ lăn tăn trên mặt lưới mà chẳng sao rơi xuống được, cộm lên xốn xang thật khó chịu làm sao...

2

Suốt những năm 1950, gia đình tôi đều sinh sống trong khu đại viện số 35 của con ngõ ấy. Thời đó, viện số 35 là một trong mấy khu tập thể lớn của Bộ.

Đó là một khu nhà viện rất rộng. Ước chừng được xây dựng từ cuối thời nhà Thanh, không phải phủ đệ quý tộc nên cổng viện chẳng hề nguy nga, bên trong cũng không xây theo quy chuẩn hoàng gia định sẵn. Tương truyền đó là tư dinh của một phú thương gốc gác Giang Nam, vì vậy ngoài khu tứ hợp viện bên trong cửa thuỳ hoa, cùng vài viện phụ nhỏ bao quanh và những dãy nhà nông lòng thay cho tường vây, thì chếch về phía đông còn có một khu vườn hoa khá lớn phỏng theo phong cách Giang Nam. Trong vườn vốn có giả sơn đắp bằng đá Thái Hồ, có cửa nguyệt động, hành lang chữ "Chi" và hiên nhà nhỏ nhắn; lại nghe đồn khi quân xâm lược Nhật Bản chiếm đóng Bắc Kinh, chủ nhà trốn về phương Nam, khu viện này biến thành cơ quan đặc vụ của quân chiếm đóng, cho nên đến khi chúng tôi chuyển vào ở, những kiến trúc trang trí cùng hoa cỏ trong viện đã bị tàn phá chẳng còn lại bao nhiêu. Phần vườn hoa càng mất đi vẻ rực rỡ thuở ban đầu, nơi duy nhất gợi chút cảm giác thư thái chỉ còn lại chiếc cửa nguyệt động và một cây hoa dạ hợp cực lớn. Cây hoa dạ hợp ấy giữa trưa hè xòe ra như chiếc lọng khổng lồ, toả bóng râm mát rượi, lại trổ hết lứa hoa thơm này đến lứa khác. Hoa dạ hợp tàn rơi xuống đất chẳng héo úa ngay, nhặt gom lại thành nắm, đưa lên dưới mũi để những sợi cánh hoa cọ vào lỗ mũi, có thể khiến người ta hắt hơi liền mấy cái thơm phức.

Thuở ấy trong Bộ không có nhân viên thừa thãi, cán bộ công nhân viên chuyển vào khu tập thể ai nấy đều hăng hái hoạt bát, tận tụy với chức trách của mình, nhưng đều đùm túm vợ con, cán bộ độc thân có ký túc xá riêng, không ở viện này. Thời đó dường như chưa có nạn khan hiếm nhà ở, khu tập thể ấy ròng rã mấy năm trời vẫn chưa kín chỗ. Với cán bộ vào ở, Phòng Quản trị đại khái cũng có những quy định cấp bậc nào hưởng đãi ngộ nấy, nhưng mọi người dường như đều giữ nguyên tắc đủ ở là được, bởi vì vừa chuyển từ chế độ bao cấp sang chế độ lương bổng, tiền thuê nhà vốn chẳng đáng là bao đối với những gia đình đông miệng ăn, gánh nặng trĩu vai lại trở thành một khoản chi tiêu phải tính toán chi li, chắt bóp hết mức. Vì thế mới nảy sinh một hiện tượng mà người Bắc Kinh ngày nay khó lòng hiểu nổi: một gia đình vốn dĩ tiêu chuẩn được ở ba hoặc bốn gian phòng, bản thân họ lại chỉ xin ở một hoặc hai gian, cốt để bớt tiền thuê nhà.

Bố tôi được xem là nhân viên tiến bộ từng hợp tác với ngầm trước ngày giải phóng, sau giải phóng từ Trùng Khánh chuyển công tác về cơ quan nhà nước này ở Bắc Kinh, nhận được sự tín nhiệm và trọng dụng. Bố tôi khi ấy mới ngoài bốn mươi, đã là cán bộ cấp phó cục mang ngạch hành chính bậc 11, nhưng năm anh chị em chúng tôi ngoài anh cả đã nhập ngũ, anh hai đã đi làm ở miền Đông Bắc, ba người còn lại đều đang đi học; thế nên bố không nhận năm gian phòng phía bắc trong tứ hợp viện do Phòng Quản trị sắp xếp, mà chủ động xin ba gian phòng phía tây trong cửa nguyệt động vốn từng dùng làm thư phòng. Thời ấy người ta chẳng câu nệ chuyện kê đặt bàn ghế, đừng nói tủ liên hoàn, ghế sofa không có, tôi còn nhớ chị gái tôi may được chiếc váy liền kiểu Liên Xô, muốn soi gương xem dáng dấp thế nào cũng phải chạy sang nhà người khác bên khu tứ hợp viện, mượn tấm gương lớn trên tủ áo của họ để thỏa mãn nguyện vọng giản đơn ấy. Tất nhiên, sau giữa thập niên 50, nhà tôi rốt cuộc cũng sắm được chiếc tủ áo lớn cùng bộ sofa cũ mua từ cửa hàng đồ cũ, đó là chuyện về sau.

Trong khoảng sân vườn sau cửa nguyệt động nơi nhà tôi ở, phía bên kia cây hoa dạ hợp có hai gian nhà khá thấp bé, vốn là căn hiên nhỏ để người giàu sang gảy đàn tĩnh tâm; sau khi Bộ trưng dụng làm ký túc xá, đã phá dỡ mái hiên đổ nát ấy xây lại thành hai gian nhà cấp bốn lợp ngói xi măng nho nhỏ. Thời đó, bác thợ mộc Cam Đại Toàn của Bộ đã tự nguyện chọn hai gian nhà cấp bốn ấy làm chốn nương thân cho gia đình mình. Khi ấy, ngoài vợ chồng bác ra, họ đã sinh được bảy người con, nhưng bác cũng giống như bố mẹ tôi, cảm thấy căn nhà mình chọn đã đủ cho cả nhà dùng, lại tiết kiệm được chút tiền thuê. Tôi từng ghé qua nhà bác, nhớ lại thì dường như cũng chẳng đến mức chật chội khốn khổ — gian ngoài là một chiếc phản lớn cho sáu đứa con nằm ngủ, chỗ trống còn lại kê một chiếc bàn trà lớn, một giá để bát, mấy chiếc ghế con, ghế đẩu, vừa đủ cho cả nhà dùng bữa và cho lũ trẻ đi học ngồi làm bài tập; nếu vào ngày hè, bữa ăn dọn cả ra dưới gốc hoa dạ hợp ngoài sân, thì gian ngoài ấy coi như trống non nửa; gian trong kê một chiếc phản lớn là nơi vợ chồng bác thợ mộc Cam cùng đứa con út ngủ. Ngoài ra còn có một chiếc rương nằm cỡ lớn kiểu nông thôn do chính tay bác thợ mộc đóng, đồ đạc quý giá của cả nhà đều có thể cất gọn vào trong. Bạn thử hình dung xem, ắt sẽ hiểu vì sao bác thợ mộc Cam khi ấy chẳng hề cảm thấy ấm ức khi thuê hai gian nhà cấp bốn ấy.

Ý niệm về không gian và dục vọng chiếm hữu không gian của con người, quả thực luôn biến chuyển theo thời đại.

3

Hồi ấy tôi cứ ngỡ bác thợ mộc Cam là một toà tháp. Kỳ thực bác thợ mộc Cam năm đó chưa đầy bốn mươi tuổi, vậy mà tôi lại đinh ninh bác là một cụ già. Có lẽ chiều cao của bác cũng chỉ tầm hơn một mét bảy, nhưng trong ký ức của tôi, bác là người luôn phải ngước nhìn. Mặt bác lúc nào cũng lởm chởm râu ria, không chỉ râu quai nón, mà đôi khi nơi hõm má hơi hóp lại của bác cũng mọc đầy những sợi râu dài; nếu bác có cạo râu thì cũng chỉ cạo bớt phần trên má. Bốn mùa quanh năm trừ mùa đông ra, dường như cả ba mùa bác chỉ phong phanh một chiếc áo vải trắng cộc tay không cổ kiểu Trung Quốc, thân trước thân sau chỉ nối với nhau bằng mấy dải vải, phía trước cài bằng khuy tết; cánh tay bác dường như dài khác thường, chỉ khẽ gập lại là bắp tay trước đã cuồn cuộn nổi lên, tựa hồ có một con sóc đang cuộn mình dưới lớp da; dù quanh năm suốt tháng làm lụng ngoài trời, da bác lại không hề đen sạm, thậm chí còn khá trắng trẻo. Thỉnh thoảng trông sắc da bác vàng vọt tối sầm, mẹ tôi nhìn thấy liền bảo bác thợ mộc Cam lại ốm rồi, thế nào cũng mang thuốc sang cho bác.

Mẹ tôi nhớ rõ mồn một lũ con lít nhít của bác đứa nào lớn hơn đứa nào, ai là anh ai là em gái, còn tôi thì chỉ rành mỗi đứa con đầu lòng là con gái, tên Cam Phúc Vân. Bởi vì hai đứa tôi học chung lớp suốt thời tiểu học, vả lại mỗi khi xếp chỗ ngồi thường được xếp chung một bàn — trong một thời gian rất dài, chiều cao của tôi luôn ngang bằng với nó; Cam Phúc Vân hơn tôi một tuổi, là mẹ tôi bảo thế, tôi bực bội chuyện này lắm, nhưng điều này chẳng thể thay đổi được bằng cách phấn đấu hay tranh đua, thế nên tôi chỉ đành ôm hận suốt đời.

Ngồi chung bàn với Cam Phúc Vân xui xẻo vô cùng. Nhiều bận đã bắt đầu vào tiết học đầu tiên mà nó vẫn chưa đến trường, thầy giáo nhìn thấy chỗ trống bên cạnh tôi liền nhìn tôi hỏi: "Cam Phúc Vân đâu? Sao em ấy lại chưa đến?"

Tôi liền bạo gan nhìn thẳng vào mắt thầy giáo, trưng ra vẻ mặt phản đối: "Hỏi em sao được chứ?!". Nhưng thầy giáo biết nhà tôi và nhà họ Cam là hàng xóm sát vách, nên thỉnh thoảng chẳng thèm nể nang mà gọi giật tôi đứng dậy hỏi: "Tưởng Doanh Hải, Cam Phúc Vân sao không đi học?" Thế là tôi "phắt" một cái đứng phổng dậy, lưng ưỡn thẳng đuột, cố tình nói trước một câu: "Em biết——" rồi chuyển giọng, thủng tha thủng thỉnh bảo: "Em biết sáng nay chính mắt em chưa từng thấy bóng dáng nó đâu cả..." Cả lớp liền khúc khích cười rộ lên, thầy giáo bèn xua tay bảo tôi ngồi xuống và nhắc mọi người trật tự, đúng lúc ấy Cam Phúc Vân lại mồ hôi mồ kê nhễ nhại bước vào lớp. Thế là cả lớp chẳng cần ai bắt nhịp cũng ồ lên cười nghiêng ngả, trong đó tiếng cười của tôi chắc chắn là the the nhất, to nhất và dai dẳng nhất.

Ban đầu, tôi quả thực chẳng buồn tìm hiểu vì sao Cam Phúc Vân lại đi muộn, mãi sau này tôi mới phát hiện ra bí mật ấy — quãng giữa con ngõ của chúng tôi năm đó có một xí nghiệp quy mô vừa phải, sản xuất cái gì thì tôi chẳng còn nhớ nữa, nhưng nó có một phòng nồi hơi khá lớn. Mỗi sáng sớm, công nhân trực ban phải cời mớ than ủ từ hôm trước, dùng xe đẩy cút kít đẩy mấy xe xỉ than ra từ cửa sau; những đống xỉ than ấy thường còn bốc khói nghi ngút, vài mẩu than cháy dở vẫn còn ánh lên đốm đỏ. Xỉ than vừa đổ xong, cửa sau vừa đóng sập lại là có không ít đứa trẻ nhặt than ùa lên tranh nhau nhặt những mẩu than còn có thể cháy tiếp. Có một hôm, tôi đi học sớm hơn mọi ngày, lúc đi ngang qua đó liền phát hiện ra trong số những đứa trẻ lao vào nhặt xỉ than, đứa dũng mãnh và liều mạng nhất chính là con bạn cùng bàn Cam Phúc Vân. Té ra hầu như ngày nào nó cũng làm việc này, nhặt đầy một sọt xỉ than, nó liền tha sọt than về nhà rồi mới cắp sách tới trường. Vì công nhân lò hơi của xí nghiệp không thể cời xỉ đổ xỉ đúng giờ, có hôm đổ muộn, Cam Phúc Vân nhặt than xong mới đi học, tất nhiên là sẽ muộn giờ.

Sau khi biết rõ ngọn ngành vì sao Cam Phúc Vân đi muộn, sở dĩ tôi vẫn không mách thầy giáo là bởi vì tôi không muốn thầy và các bạn trong lớp biết được trong khu tập thể của Bộ chúng tôi lại có kẻ đi nhặt xỉ than, nhất là đứa hàng xóm ở chung một khoảng sân với tôi mà sáng nào cũng đi mót than, chuyện này lộ ra thì bôi tro trát trấu vào mặt tôi quá.

Thế nhưng có một ngày, Cam Phúc Vân chẳng những lại đi muộn, mà còn tự mình làm lộ tẩy bí mật. Hôm ấy chẳng hiểu sao nó không kịp mang sọt xỉ than đã nhặt về nhà mà xách thẳng tới trường luôn. Nó đặt sọt xỉ than ở ngay cửa lớp, hô to: "Báo cáo!" Thầy giáo ngừng giảng bài, cho phép nó vào lớp. Dưới con mắt của bao nhiêu người, nó đeo cặp sách bước vào, ai nấy đều nhìn thấy rành rành — tay phải nó cầm một dụng cụ nhặt than, đó là một cái nĩa hình chiếc vợt do bố nó làm bằng cán gỗ gắn năm sợi dây thép dày uốn cong. Có lẽ tôi lại là người đầu tiên bật ra tiếng cười giòn giã, cả phòng học lại được một phen cười vỡ rạp, khiến thầy giáo đang đứng trên bục giảng bài phép nhân số thập phân tức đến tái mét mặt mày. Thầy không cho Cam Phúc Vân ngồi xuống mà bắt nó đứng ngay tại chỗ, nghiêm giọng chất vấn: "Em làm sao thế hả? Em xách cái thứ gì kia? Không được mang đồ chơi vào lớp học, em có hiểu không?"

Cam Phúc Vân hơi ngửa mặt lên, đôi mắt ti hí nhìn thẳng vào thầy giáo, bình thản trả lời: "Thưa thầy, đây không phải đồ chơi, đây là đồ để làm việc ạ!"

Thầy giáo ngỡ nó cố tình cãi lại, giọng điệu càng thêm gay gắt, phê bình: "Làm việc gì hả?! Đây là lớp học, chỉ được mang cặp sách, mang sách vở bút mực, em cầm cái thứ gì kia? Trông như cái nĩa, em dùng thứ đó làm việc gì?"

Cam Phúc Vân liền đáp: "Cái này dùng để nhặt xỉ than ạ. Em để sọt xỉ than ngoài cửa lớp rồi, cái nĩa này em sợ mất nên mới mang vào đây."

Các bạn trong lớp nhịn không nổi lại rộ lên một tràng cười. Tôi cười đến mức không thở ra hơi, bụng nghĩ thầm, cái thứ đồ mót than của mày, cho ai thì ai thèm lấy chứ? Mày còn sợ mất cơ đấy! Ha ha ha...

Thầy giáo giận dữ cầm khăn lau bảng đập chan chát xuống bàn giáo viên, đợi tiếng cười của chúng tôi rốt cuộc cũng lắng xuống, lại nghiêm giọng hỏi Cam Phúc Vân: "Sao em không mang mấy thứ này về nhà? Em mang chúng đến trường làm cái gì?"

Cam Phúc Vân vẫn ung dung trả lời: "Ngày nào em cũng mang về nhà rồi mới đến trường, hôm nay xe than đổ muộn quá, em sợ muộn quá không nghe được thầy giảng bài phép nhân số thập phân nên mới chạy vội đến... Em muốn nghe cho hiểu nhân xong hai số thì đặt dấu phẩy ở đâu ạ..."

Mọi người vẫn cười khúc khích và thì thào bàn tán. Tôi méo mồm, nháy mắt với mấy thằng con trai bên kia lối đi, bốn ngón tay phải nắm lại, chỉ chĩa thẳng ngón tay cái ra, dùng sức chỉ trỏ vào cái nĩa trong tay Cam Phúc Vân.

Thầy giáo nghe Cam Phúc Vân giải thích xong, thế mà lại không truy cứu phê bình nữa, bảo nó ngồi xuống rồi tiếp tục giảng phép nhân số thập phân; Cam Phúc Vân chăm chú nghe giảng, còn tôi thì cứ nhăn nhó làm mặt quỷ với mấy đứa con trai.

Tan học, chúng tôi ùa ra ngoài, tôi là đứa đầu tiên thò tay vào chiếc sọt con Cam Phúc Vân để ngoài cửa nhặt một cục than ném về phía một bạn nam. Cậu bạn kia đời nào chịu để yên, cũng nhặt liền mấy cục than đuổi theo ném tôi, tất nhiên là "cháy thành vạ lây", mà "cá trong chậu" sao chịu nhịn được, thế là chẳng mấy chốc bên ngoài cửa lớp đã bùng nổ một trận đại chiến than đá. Đa phần con trai đều bị cuốn vào, lũ con gái la ó dạt sang một bên, chẳng thể chơi nhảy dây thun được nữa. Cam Phúc Vân gào thét ngăn cản, chửi bới chúng tôi om sòm. Tôi chợt bừng lên một ý nghĩ quái đản, bèn chỉ tay vào mặt nó gào to:

"Mày——con Dạ Xoa cái!"

Mấy thằng con trai như vớ được vàng, lập tức hò hét theo tôi thật nhịp nhàng: "Ô hô! Dạ! Xoa! Cái! Dạ! Xoa! Cái!..."

Cam Phúc Vân tức đến mức khuôn mặt nhỏ nhắn vàng như tờ giấy nến, nhưng lạ lùng là nó không hề khóc, chẳng rơi lấy một giọt nước mắt.

Kết cục đối với tôi thật thảm hại, tôi bị thầy chủ nhiệm gọi lên văn phòng mắng cho một trận te tua, chuyện đó đã đành, thầy còn gọi điện đến Bộ tìm phụ huynh tôi, kết quả là mẹ tôi phải đến trường...

Về đến nhà, bố, mẹ, rồi cả bà chị đang học cấp ba cứ ngỡ mình đã là người lớn, đều xúm vào phê bình tôi gay gắt. Bố tôi bảo: "Con đối với nhân dân lao động sao lại có cái thái độ ấy hả? Nhà chú Cam đông con, kinh tế khó khăn hơn, để tiết kiệm tiền than nên mới bảo Cam Phúc Vân đi nhặt xỉ than mỗi ngày, chuyện đó có gì đáng để cười nhạo? Con lại còn đặt biệt danh bậy bạ cho người ta, Dạ Xoa cái, nghe khó nghe biết bao! Đó là sỉ nhục nhân phẩm người khác! Con phải sang nhà chú ấy xin lỗi Cam Phúc Vân ngay!"

Hết cách, tôi đành để mẹ dắt đi, bấm bụng sang nhà họ Cam xin lỗi Cam Phúc Vân. Nào ngờ bác thợ mộc Cam cùng vợ bác chẳng hề coi đây là chuyện gì to tát; còn Cam Phúc Vân thì đang ngồi bên chậu giặt quần áo, hai cánh tay gầy guộc phủ đầy bọt xà phòng, dường như cũng quên bẵng sự vô lễ của tôi, chỉ cười bảo: "Không cần xin lỗi đâu, chẳng sao cả, sau này đừng trêu tôi là được. Với lại, sau này chỗ nào tôi chưa hiểu, chẳng hạn như dấu phẩy dời đi thế nào, cậu phải chỉ bảo rành rẽ cho tôi đấy!"

Lúc sắp bước ra khỏi phòng họ, bác thợ mộc Cam còn dúi vào tay tôi một củ khoai lang nướng to tướng. Tôi không nhận, mẹ tôi cũng chối từ giúp, nhưng bác thợ mộc cứ khăng khăng nhét vào, vợ bác còn đưa thêm hai củ nữa, bảo với tôi và mẹ tôi: "Bác cả con Phúc Vân từ dưới quê mang lên cho một bao tải, nhiều lắm! Hai bác cháu nếm thử đi!"

Tôi ôm mấy củ khoai nóng hổi toả hương thơm lừng bước về nhà mình, trong lòng bất giác nghĩ: Mấy củ khoai này chính là nướng bằng xỉ than mà Cam Phúc Vân nhặt về đây!

4

Có một ngôi chùa lớn vô cùng hiển hách trong lịch sử Bắc Kinh — chùa Long Phúc. Cửa sau của chùa nằm ngay giữa con ngõ chúng tôi ở, trường tiểu học tôi và Cam Phúc Vân theo học lại nằm trên phố Long Phúc Tự nơi có cửa trước của chùa. Ngày nào đi học tôi cũng đi vào từ cửa sau chùa Long Phúc, băng qua toàn bộ ngôi chùa rồi ra bằng cửa trước để đến trường; Cam Phúc Vân không hay đi lối này, nó thường xuyên đi qua con ngõ Lưỡng Lang Hạ bên ngoài tường chùa để tới trường.

Rất nhiều năm sau tôi mới vỡ lẽ, Cam Phúc Vân cố gắng hạn chế đi xuyên qua chùa là để tránh những sạp hàng quá đỗi mê hoặc lòng người.

Chùa Long Phúc được xây dựng từ thời nhà Minh, nghe đồn đá tảng cẩm thạch trắng làm nền và lan can của chính điện đều lấy từ vật liệu trong đại nội, tức hoàng cung, điện đường vô cùng nguy nga lộng lẫy. Một trận hỏa hoạn cuối thời Thanh đã thiêu rụi tầng điện đầu tiên bên trong cửa trước, thời Dân quốc và thời kỳ bị Nhật chiếm đóng đã sụp đổ thêm một vài gian điện phụ, nhưng đến thời thơ ấu khi tôi ngày ngày rảo bước qua đó, chùa về đại thể vẫn còn nguyên vẹn; mấy gian điện cùng lầu Tàng Kinh phía sau cùng vẫn sừng sững uy nghiêm, tượng Phật, tranh tường, phù điêu bên trong đều chưa hề hư hại, cũng vẫn còn mấy vị lạt ma cư ngụ bên trong trông nom chùa chiền. Tuy nhiên, chùa Long Phúc khi ấy đã vắng bóng hương khói, các điện đường đều khóa kín cửa không mở cho khách thập phương vào thăm, dòng người tấp nập kéo đến đó là bởi nơi đây có chợ phiên chùa. Xưa kia chợ phiên có ngày họp nhất định, mỗi tháng theo ngày mà luân phiên họp ở chùa Long Phúc, chùa Hộ Quốc, chùa Bạch Tháp, chùa Ngọa Phật (chùa Ngọa Phật ở chợ hoa, không phải chùa Ngọa Phật ở Tây Sơn). Nhưng về sau chùa Long Phúc trở thành chợ phiên mở cửa buôn bán hằng ngày, tựa như chợ nông sản tập trung đông đảo dân buôn cá thể ở Bắc Kinh ngày nay.

Nhớ lại dạo ấy, ngày nào tôi cũng đi xuyên qua chùa Long Phúc bốn bận (buổi trưa tôi về nhà ăn cơm, đi học về học mỗi lượt đi về hai lần), trừ buổi sáng sớm do trời còn sớm, các sạp hàng chợ phiên phần lớn chưa mở cửa mấy nên không thu hút tôi cho lắm, ba lần còn lại đều khiến tôi tha thiết lưu luyến chẳng muốn rời chân. Thế nên, Cam Phúc Vân thường muộn tiết đầu buổi sáng, còn tôi thì lại hay muộn tiết đầu buổi chiều; may mà buổi chiều thường là tiết tự học, nên dù có đi muộn cũng dễ ỉm đi hơn chuyện Cam Phúc Vân đi muộn buổi sáng.

Các sạp hàng của chợ phiên xếp thành hình con rắn uốn lượn trên lối đi hai bên điện đường, giữa các gian điện cũng rải rác một vài sạp; bất kể đông hay hè, sạp hàng phần lớn đều dùng dù vải, bạt vải hoặc lều vải tự chế để che chắn, có sạp nhỏ, có sạp to, sạp lớn nhất chẳng khác nào một cửa tiệm quy mô đàng hoàng. Những sạp hàng ấy bán đủ thứ trên đời, chẳng hạn bán quần áo cũ, bán kim chỉ vụn vặt, bán hoa lụa, bán bóng tụy lợn (một loại xà phòng thơm hình tròn thời đó), bán túi thơm (may thành hình bánh ú, hình củ ấu, hình con dơi hoặc muôn vàn hình thù khác, bên trong là bột thơm tán chế từ thực vật, khoáng vật tự nhiên). Nhớ có một sạp rất lớn chuyên bán các loại lược, từ lược to có răng thưa dày như que diêm cho đến lược bí có răng khít chỉ lọt sợi tóc, bằng gỗ, bằng xương, loại rẻ tiền, loại đắt đỏ (đắt nhất là làm bằng sừng tê giác), thứ gì cũng có. Giữa sạp bày một con khỉ gỗ tạc to bằng vật thật, sơn son thếp vàng, ngồi xổm hai tay bưng đĩnh vàng ròng. Nghe đâu đó là nhãn hiệu của sạp lược ấy, "Kim Hầu Vi Ký", lẫy lừng tiếng tăm... Những sạp hàng này vẫn chưa phải nơi cuốn hút tôi; thứ hấp dẫn tôi gồm có ba loại: một là sạp bán đồ ăn, hai là sạp bán đồ chơi, và ba là những sạp trò vui đẹp mắt thú vị như làm trò ảo thuật, chiếu kính tây, múa võ mãi nghệ.

Sạp bán đồ ăn rất nhiều, có những món tôi chỉ biết thèm thuồng nuốt nước miếng ừng ực chứ chẳng có tiền mua.

Chẳng hạn như bán món gan xào, bán chè bột dầu, bán bánh nướng ba nhân thịt (tức đắp liên hỏa thiêu), bán bánh bao nướng đinh cửa, bán lòng bò xào... Những món ăn ấy, trừ phi bố mẹ dắt tôi đi, tôi mè nheo đòi ăn thì may ra họ mới đãi cho một hai món, chứ bản thân tôi làm gì có tiền mà ăn (kỳ thực tính theo thời giá bây giờ thì những món đó rẻ đến không ngờ). Năng lực chi tiêu của riêng tôi chỉ có thể tìm kiếm niềm vui và sự thỏa mãn ở những sạp bán đồ ăn vặt rẻ tiền nhất nằm ở rìa ngoài chợ phiên. Ví như bên mạn chính điện, nơi dãy hàng bách hoá kết thúc, có một sạp hàng như thế; chủ sạp là một ông lão gầy đét như que củi, hai bàn tay đều bị bạch biến loang lổ. Trên sạp của ông có lạc lép, kẹo dưa lớn nhỏ, kẹo dẻo hoa quả (dùng các loại hoa quả chưa hỏng hẳn gọt bỏ phần thối rữa, lấy phần còn lại ninh thành một nồi rồi pha thêm tinh bột để nguội đông lại, cắt thành dải nhỏ), táo chua khô, bánh dính gân bò (làm từ bột nếp dẻo), đậu tằm rang giòn, hạt hướng dương... Có khi chỉ cần một trăm đồng (tiền cũ, tương đương một xu ngày nay) là đã mua được một phần đồ ăn. Chẳng hạn ông có bán một loại kẹo mạch nha viên tròn, ông có một hũ to tướng chứa mạch nha sền sệt, chuẩn bị sẵn một đống que nhỏ cắt từ thân cây cao lương; từ một trăm đồng đến ba trăm đồng, ông đều có thể bán cho bạn một viên kẹo mạch nha chấm que khuấy thành một búi, tuỳ theo số tiền nhiều hay ít mà áng chừng viên kẹo to hay nhỏ. Sau vài lần nếm thử, tôi quả quyết mua loại hai trăm đồng một viên là hời nhất.

Sạp bán đồ chơi, dẫu phần lớn hàng họ tôi chẳng đủ tiền mua, nhưng cứ đứng chầu chực bên cạnh ngó nghiêng, kiên nhẫn nhìn người ta chọn lựa, mặc cả, chơi thử, cũng là một cái thú. Trong những món đồ chơi sặc sỡ muôn màu ấy, tôi nhớ có đủ loại diều, con quay, chong chóng gió, người nộm lông bờm, ông Thỏ bằng đất sét, bộ ấm chén bằng đất nung, ống bóp thủy tinh bóp-bóp-đoang (một loại đồ chơi bằng thủy tinh, hình như chiếc kèn nhưng không hở miệng, hễ thổi hơi vào là lớp thủy tinh mỏng ở đầu kèn kêu bóp bóp, vì sơ sẩy một tí là thổi vỡ, hút mảnh vụn thủy tinh vào phổi nên về sau cấm sản xuất), hổ vải, đao to giáo mác bằng gỗ... Hấp dẫn tôi nhất là một loại đồ chơi đội đầu làm bằng bột giấy, gọi là búp bê đầu to Đậu Lý Thúy, một cái hình hòa thượng, một cái hình phụ nữ trên sân khấu kịch, bán theo từng đôi. Thỉnh thoảng có người lớn dắt đôi con cái đến, mua một cặp đội lên đầu cho chúng, lũ trẻ lắc lư cái đầu nom đắc ý làm sao, khiến tôi thèm đến ngẩn ngơ. Tôi tuy không mua nổi những thứ đồ chơi kể trên, nhưng nếu kìm hãm cơn thèm kẹo mạch nha, gom góp tiền tiêu vặt mẹ cho (bình quân mỗi ngày một trăm đồng) trong một độ thời gian, thì mua một tấm tranh "ảnh tây" in hình Tam hiệp ngũ nghĩa, cắt rời thành từng miếng nhỏ để chơi đập ảnh với đám bạn trai (xếp một xấp ảnh, vung tay đập xuống nếu lật ngửa được thì coi như thắng); hoặc mua vài viên bi thủy tinh, khoét mấy cái lỗ nhỏ dưới đất để chơi bắn bi với bọn con trai, chuyện đó tôi vẫn dư sức làm được.

Những sạp có biểu diễn trò vui, có sạp ta có thể lẩn vào đám đông, đứng nép bên chân người lớn mà xem, lúc người ta đi thu tiền, lũ trẻ con chúng tôi cứ trơ mắt ra không đưa thì người ta cũng đành bỏ qua. Tất nhiên cũng có những gánh xiếc ảo thuật và gánh hát "Lạc tử" (tức bình kịch) dùng rèm vải quây kín khu biểu diễn của họ lại, phải nộp tiền mới được vào xem, nhưng mấy trò biểu diễn ấy tôi cũng chẳng mặn mà gì. Năm xưa trò tôi từng bỏ tiền ra xem là một thứ gọi là "phim rách". Đó là một người đàn ông trung niên, bên cạnh nền điện bị cháy rụi trong chùa, ông ta dựng một cái lều nhỏ cao ngang đầu người, bốn phía bịt kín mít, nhưng ba mặt có trổ vài lỗ nhòm; ông ta không ngừng ngoác mồm gào tướng lên: "Này! Mau lại xem phim rách đi nào——!" Gom đủ số người cho đa số các lỗ nhòm, ông ta liền bảo những khách hàng đã trả tiền ghé mắt sát vào lỗ đó. Thế rồi, ông ta khởi động một chiếc máy chiếu phim cũ kỹ trong lều, trên tấm màn hình nhỏ xíu ở góc trong cùng của lều hiện ra vài đoạn phim câm chắp vá rời rạc, thường chỉ chiếu độ hai ba phút là tuyên bố kết thúc. Nhớ là mỗi lần xem phải thu tới năm trăm đồng, vậy mà tôi đã xem không chỉ một lần. Giờ đây hồi tưởng lại, những thước "phim rách" ông ta chiếu có phim tài liệu về Tôn Trung Sơn duyệt binh, cảnh danh đào kinh kịch Đàm Hâm Bồi mặc trang phục diễn múa đại đao, trích đoạn trong bộ phim truyện câm đầu tiên của Trung Quốc mang tên Cô nhi cứu tổ ký, vân vân. Toàn là những tư liệu lịch sử điện ảnh vô cùng quý giá, chẳng hay người chiếu "phim rách" mưu sinh năm xưa sau này đi đâu về đâu? Cũng chẳng rõ những cuộn "phim rách" của ông ta sau này có được Viện Tư liệu Điện ảnh Trung Quốc thu mua lại như văn vật trân quý hay chăng?

Bố tôi khi ấy đang độ sung sức, công việc bận rộn tối mắt. Ông lại rất tích cực với công việc, thế nên chùa Long Phúc dẫu ở sát sườn như thế mà ông hiếm khi ghé qua vãn cảnh; có điều sở thích lúc rảnh rỗi của bố là nghiên cứu các điển cố thắng cảnh của Bắc Kinh. Ông đọc không ít sách vở liên quan, công phu "du ngoạn trên giường" rất cừ — trước khi đi ngủ ông luôn tựa lưng vào gối đọc đôi dòng chữ như thế để thư giãn thần kinh. Bởi vậy, dù không trực tiếp lặn lội khảo sát chùa Long Phúc tường tận, bố tôi lại thông tường mọi ngóc ngách sự tích nơi đây. Hồi đó tôi thường nghe bố kể, trong điện Tỳ Lô còn sót lại của chùa Long Phúc có một chiếc trần tảo tỉnh tráng lệ và đẹp đẽ bậc nhất Trung Quốc và cả trên toàn thế giới. Tảo tỉnh là cái gì? Đó là một kết cấu mái trần trong kiến trúc cung điện của Trung Quốc, nhìn lên trông giống như một chiếc giếng treo ngược, chiếc "giếng treo" bằng kết cấu gỗ ấy được chạm trổ hoa mỹ, ngay chính giữa thường điêu khắc một con rồng uốn lượn, miệng nhả ra một viên ngọc quý khổng lồ... Chẳng biết bố tôi căn cứ vào tài liệu nào, ông bảo theo các chuyên gia điều tra so sánh, tảo tỉnh ở điện Tỳ Lô chùa Long Phúc thậm chí còn có kết cấu kỳ lạ hơn, trang trí lộng lẫy hơn cả tảo tỉnh ở điện Dưỡng Tâm trong Tử Cấm Thành và điện Kỳ Niên ở Đàn Nam Giao, hơn nữa viên dạ minh châu khổng lồ treo ở chính giữa lại càng vô giá liên thành! Bố còn bảo, trong điện Tỳ Lô ấy, ngoài tượng Phật Tỳ Lô ra, hai bên vách tường còn tạc tượng "Thiên Long Bát Bộ" hiếm thấy ở các ngôi chùa khác, được xưng tụng là một tuyệt tác nữa——Thời đó tôi dẫu chỉ là đứa học sinh tiểu học, hoàn toàn mù tịt về kiến trúc cổ và nghệ thuật Phật giáo, nhưng chẳng cưỡng lại được lời gợi mở của bố, lại nhiều lần nghe ông lẩm bẩm: "Tiếc là bây giờ điện thờ không mở cửa, bao giờ mới được vào xem một lần cho biết nhỉ..." Thế là trong lòng tôi nảy sinh trí tò mò vô hạn; đó cũng là lý do vì sao từ rất lâu trước khi đọc cuốn Thiên Long Bát Bộ của Kim Dung, tôi đã biết "Thiên Long Bát Bộ" rốt cuộc là cái gì.

5

Nhớ vào kỳ nghỉ hè năm lớp năm, chẳng hiểu sao tôi lại sực nhớ tới chiếc tảo tỉnh và Thiên Long Bát Bộ trong điện Tỳ Lô, bèn chạy đi tìm Cam Phúc Vân bảo: "Này! Mày nói với mẹ mày một tiếng, cho tao vào điện Tỳ Lô chùa Long Phúc xem mấy thứ bên trong với!"

Tôi biết mẹ của Cam Phúc Vân được nhiều chủ sạp trong chùa Long Phúc thuê chung, họ trả tiền thuê cho các lạt ma trong chùa để mượn gian điện làm kho chứa hàng hóa, mẹ Cam Phúc Vân giúp họ bốc vác, trông nom đống hàng ấy. Tôi từng tận mắt thấy mẹ Cam Phúc Vân vác những thùng các-tông lớn bước vào điện Tỳ Lô.

Cam Phúc Vân nghe thấy yêu cầu của tôi liền bật cười: "Cần gì phải nói với mẹ tao! Mày muốn vào trong xem cái gì? Cứ bảo tao là được! Dạo này tao đang làm việc ở đó đây! Làm chân tạm thời, giúp mẹ tao kiếm thêm ít tiền! Tao có thể dẫn mày vào, bảo đảm cho mày xem thỏa thê!"

Té ra là vậy, té ra lại có kẻ gần đền được hưởng lộc đền, gần nước được trăng soi trước thế này.

Thời bấy giờ ở chùa Long Phúc, chợ phiên đã dần dà phát triển thành một trung tâm bách hóa quy mô lớn, có thêm vài lều bán hàng dựng tạm, bắt đầu bày bán la liệt các mặt hàng bách hóa mới toanh. Do đó các gian điện đều biến thành kho chứa hàng. Kỳ thực, xét riêng bản thân kiến trúc cổ của chùa Long Phúc, cùng những tuyệt tác nghệ thuật Phật giáo đỉnh cao bên trong điện đường, trên thế gian này đều đáng xếp vào hàng vô giá. Hàng hoá tích trữ trong những gian điện ấy qua bao năm tháng gom góp lại, dẫu có nhân lên gấp trăm lần, nghìn lần, thì so với chính công trình kiến trúc và những tác phẩm nghệ thuật bên trong, vẫn chẳng thể nào sánh bằng. Nhưng thuở ấy và suốt một thời gian dài về sau, người ta không hề hiểu được điều đó, họ coi những di sản độc nhất vô nhị trong lịch sử kiến trúc cổ làm nhà kho chứa hàng, mặc cho những kiệt tác nghệ thuật Phật giáo lộng lẫy tuyệt trần kia chịu cảnh rách nát, bong tróc, ẩm mốc mà chẳng mảy may xót xa. Họ mang theo một thứ quan niệm giá trị đặc thù của thời đại, thứ quan niệm mà vào lúc ấy còn lâu mới phình to và phát nổ — mãi đến thời kỳ "Cách mạng Văn hóa" nó mới bùng nổ thành phong trào "Phá Tứ Cựu", khiến toàn bộ chùa Long Phúc trừ cái tên ra thì hoàn toàn tan biến chẳng còn dấu vết.

Hôm ấy, tôi theo chân Cam Phúc Vân bước vào điện Tỳ Lô. Trước khi bước vào, nó hỏi tôi: "Tao cho mày vào đây xem, mày đền đáp tao thế nào?"

Tôi bảo: "Tao mời mày ăn kẹo mạch nha!"

Nó rõ ràng nuốt nước bọt cái ực, thế nhưng lại lắc đầu.

Tôi lại bảo: "Mua thêm cho mày một vốc lạc lép, không thì mua cho mày một nắm kẹo dẻo hoa quả nữa!"

Tính ra là phải tốn đứt năm trăm đồng rồi đấy!

Vậy mà nó gạt phắt đi hết, nó bảo: "Tao chẳng ăn thứ gì hết. Mày, mày bao tao xem một buổi chiếu phim đi!"

Thuở ấy, ngoài cửa trước chùa Long Phúc, trên phố Long Phúc Tự có một rạp chiếu phim tên là Thiềm Cung (nay đổi tên thành Trường Hồng, đúng là mỗi thời đại lại có một biểu tượng riêng), trường tiểu học Long Phúc Tự của chúng tôi mỗi lần tổ chức cho học sinh đi xem phim đều đến rạp Thiềm Cung, mua vé tập thể mỗi người nộp năm trăm đồng; nếu tự mình đi xem riêng thì dù là vé học sinh cũng phải mất một nghìn đồng. Bỏ ra một nghìn đồng để bao Cam Phúc Vân xem phim, trong lòng tôi quả thực có chút tiếc của, nhưng vì nóng lòng muốn chui vào điện Tỳ Lô ngắm tảo tỉnh và tượng Phật, vả lại dạo ấy tiền tiêu vặt mẹ cho tôi cũng tăng lên bình quân hai trăm đồng một ngày, thỉnh thoảng còn cho thêm một hai trăm nữa, thế nên nếu bao thật thì tôi cũng kham nổi, tôi liền gật đầu đồng ý.

Đó thực sự là một trải nghiệm cả đời khôn nguôi!

Sau khi Cam Phúc Vân dẫn tôi bước vào gian điện dùng làm kho chứa, nó liền khép cánh cửa điện nặng trịch lại; tựa như vừa bước vào rạp chiếu phim đã bắt đầu chiếu, mắt tôi tối sầm lại chẳng thấy gì, chỉ cảm thấy xung quanh mình bị một làn khí lạnh bất thần ùa tới bao bọc lấy. Mất một hồi lâu con ngươi mới giãn ra, tôi mới lờ mờ nhận diện được vạn vật xung quanh, thoạt tiên nhìn thấy những thùng các-tông lớn xếp chồng thành từng đống, lại có cả tấm lợp fibro xi măng, cốt thép, ván ép, nhựa đường khô, xi măng đóng bao, thùng sơn các loại. Ngước đầu lên, lúc này mới nhìn rõ tượng Phật Tỳ Lô ngự ở chính giữa; ấn tượng đập vào mắt tôi là bức tượng cực kỳ đồ sộ, phong thái vô cùng an tường. Tòa sen nơi Ngài ngự được chạm trổ vô cùng tinh xảo, nhưng trên đầu, bờ vai và tất cả những chỗ hứng bụi đều đóng một lớp bụi dày cộp. Lớp sơn vàng thếp trên thân Phật đã ngả sang màu nước tương, nhiều chỗ đã tróc lở, có lẽ khi người ta bốc vác sắp xếp cốt thép vào điện chẳng hề chú ý bảo vệ tượng Phật, cho nên nửa thân dưới của tượng chằng chịt vết trầy xước, một bàn tay vốn mang tư thế tuyệt mỹ đã bị va gãy mất hai ngón. Màn trướng hai bên tượng Phật có chỗ đã mục nát, giữa rèm và tượng chăng đầy những mảng mạng nhện lớn, bốc lên mùi ẩm mốc nồng nặc. Hai bên Phật Tỳ Lô còn có những pho tượng Phật khác to gần bằng, đen sì sì nhìn không rõ.

"Chẳng phải mày muốn xem tảo tỉnh sao? Này, ngẩng đầu lên mà nhìn kìa!" Cam Phúc Vân chỉ trỏ.

Tôi liền rướn cổ hết cỡ, ngước mắt nhìn lên nóc điện. Thuở ấy tôi tuổi đời còn nhỏ, vả lại cho tận đến bây giờ, tôi đối với cấu trúc tảo tỉnh trong kiến trúc cổ điển Trung Hoa vẫn là kẻ hoàn toàn ngoại đạo, chẳng thể dùng ngôn từ mang tính khoa học để diễn giải tường tận về nó, thế nhưng, cái lần ngước nhìn ấy đối với tôi đích thực là một cơn chấn động tâm can. Chiếc tảo tỉnh ấy, dưới sự phản chiếu của những tia sáng vàng cúc le lói lọt qua khe cửa sổ trên đỉnh nóc, đã hiện lên trước mắt tôi một cách vô cùng huyền bí, vô cùng huy hoàng, vô cùng tráng lệ và diễm lệ khôn cùng. Tôi buột miệng kinh hô: "A!" Giờ đây nghĩ lại, đó quả thực là tinh hoa của mấy nghìn năm lịch sử văn minh mà cả dân tộc Trung Hoa lấy làm tự hào, trong một khoảnh khắc đã tuôn trào, trút trọn vẹn vào mắt tôi, vào lòng tôi, vào hồn tôi, khiến tôi tự hào, khiến tôi say đắm, giá trị hơn cả nghìn bài diễn thuyết chủ nghĩa yêu nước, hơn vạn lần những sự nhồi nhét gượng ép...

Điều làm tôi kinh ngạc hơn nữa là Cam Phúc Vân đứng bên cạnh chỉ trỏ, giải thích cho tôi nghe, mà lời lẽ của nó lại giống hệt như những gì bố tôi từng kể. Tôi vốn đinh ninh một đứa đi mót than, đi làm bốc vác như nó đời nào hiểu được mấy thứ này, bèn buột miệng hỏi:

"Sao mày biết được hay thế?"

"Lạt ma già Ô Kim Ba kể cho tao đấy chứ!" Nó bình thản đáp.

Té ra, vị lạt ma già Ô Kim Ba trong chùa — tôi vẫn thường thấy ông, béo tốt lạ thường, hai bầu ngực còn cao, to và căng tròn hơn cả phụ nữ — mỗi khi đến kiểm tra điện đường đều kể cho mẹ nó và nó nghe, nó liền ghi nhớ ráo trọi trong đầu.

Những điều nó biết đâu chỉ có chuyện về Phật Tỳ Lô và tảo tỉnh, nó còn dẫn tôi đi xem những pho tượng phù điêu "Thiên Long Bát Bộ" lấy bối cảnh mây trời, sông núi, thành quách trên hai bức tường bên cạnh. Dưới ánh sáng lờ mờ tù mù, những pho tượng ấy nom dữ dằn ghê rợn khôn tả; qua lời Ô Kim Ba, nó biết được toàn bộ danh xưng của "Thiên Long Bát Bộ": Thiên, Long, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Già. Trong đó pho tượng khiến người ta sởn tóc gáy nhất là một bức tượng toàn thân màu xanh lam u tối, phần đầu giống như chim ưng, cái miệng há to lại lởm chởm hàm răng nhọn hoắt, đôi tay vươn ra là hai móng gà khổng lồ, đứng nghiêng như thể sắp sửa lao bổ từ trên tường xuống... Tôi vừa trông thấy liền thét lên một tiếng kinh hãi, bất giác co cẳng toan chạy biến ra ngoài cửa, ngờ đâu bị Cam Phúc Vân túm chặt lấy cánh tay. Để khỏi mất mặt trước một đứa con gái, tôi đành phải ghìm chân lại, mặc cho trái tim đập thình thịch liên hồi, bảo nó:

"Tao không xem nữa đâu, trong này tối quá!"

"Tối cái gì mà tối! Là mày sợ rồi chứ gì, đúng không?"

Đôi mắt ti hí của Cam Phúc Vân lấp lánh tia sáng, nó nhìn xoáy vào tôi, giọng mang vẻ khoái trá: "Mày sợ cái gì chứ? Đừng sợ, đấy là Dạ Xoa đấy. Nói cho mày hay, đấy không phải Dạ Xoa cái đâu, là Dạ Xoa đực đấy; Ô Kim Ba bảo, thực ra cũng giống như Phật Bà Quan Âm không phải là phụ nữ vậy, thần phật bồ tát la hán với cả Thiên Long Bát Bộ này nọ chẳng phân biệt nam nữ đâu, thế nên Dạ Xoa thì cứ là Dạ Xoa thôi. Con Dạ Xoa đó toàn thân màu xanh, cứ gọi là Dạ Xoa xanh đi! Bây giờ tao chẳng sợ mày gọi tao là Dạ Xoa nữa đâu, gọi tao là Dạ Xoa xanh tao lại càng khoái, mày biết vì sao không? Ô Kim Ba bảo rồi, con Dạ Xoa xanh này là vị thần tốt hộ pháp đấy, ngài ấy không ăn thịt người tốt, chỉ chuyên ăn thịt kẻ xấu, chuyên ăn thịt lũ phá bĩnh, chuyên ăn thịt quân hại người thôi. Đừng thấy ngài ấy xấu xí, bụng dạ ngài ấy tốt lắm đấy..."

Thế nhưng bước ra khỏi điện Tỳ Lô rồi, hồn vía tôi vẫn cứ bay lên mây.

6

Bên ngoài điện ánh nắng chan hòa rực rỡ, bóng người đổ đen ngòm dưới đất.

"Sao hả, bao tao xem phim chứ?" Cam Phúc Vân đòi tôi thực hiện lời hứa.

"Được thôi, để hôm khác nhé!" Tôi có ý định lươn khươn.

"Hôm khác cái gì! Đi ngay bây giờ! Việc của tao xong hết rồi, tao đi được ngay đây!" Cam Phúc Vân ép tôi phải đi bằng được.

Tôi lê từng bước chân lẽo đẽo theo Cam Phúc Vân đi ra ngoài chùa, đến khoảng đất trống bên trong cửa trước — nơi sau vụ hoả hoạn chỉ còn trơ lại nền móng điện, tôi chợt nảy ra một kế. Khoảng đất ấy là nơi tập trung đủ loại lều bạt biểu diễn. Tôi dắt Cam Phúc Vân đến trước cái lều chiếu "phim rách".

Chủ lều thấy có khách tìm đến, liền ngoác mồm the thé gào lên: "Xem phim rách đi nào——"

Tôi lập tức sấn bước lên, chìa tờ năm trăm đồng ra bảo: "Xem phim!"

Cam Phúc Vân đứng bên cạnh lắc mạnh cánh tay tôi: "Tao không thèm xem cái thứ phim rách này! Tao muốn xem phim mới ở rạp Thiềm Cung cơ!"

Gã chủ lều liền dỗ dành nó: "Kìa bé con! Phim của ta mới là tuyệt phẩm đấy nhé! Rạp Thiềm Cung có đến vạn năm nữa cũng chẳng chiếu nổi mấy thước phim này đâu! Nghe ta bảo nó rách, lại tưởng nó dở phải không? Về nhà hỏi mẹ mày xem, lấy một cái bát sứ mới có giá hơn, hay lấy nửa cái bát vàng rách có giá hơn hả? Vào đây vào đây, ghé mắt vào trong mà nhìn đi này! Thôi thì, chẳng có mấy mống khách, ta cũng chiếu luôn cho, chẳng phải là phúc tổ của cô bé sao?..."

Rất nhiều năm sau, tôi mới cảm nhận được nỗi thất vọng cùng cực tràn ngập trong ánh mắt của Cam Phúc Vân khi ấy, lại còn pha lẫn cả nỗi uất ức vì bị phản bội và bị trêu ngươi...

"Tôi không xem thứ này!" Nó đỏ bừng mặt, gắt tướng lên.

"Mày không xem thì tao xem!" Thấy vài vị khách khác đều đã ghé mắt sát vào lỗ nhòm, tôi liền tàn nhẫn mặc kệ Cam Phúc Vân, tự mình bước tới xem cái thứ "phim rách" ấy. Chủ lều bắt đầu chiếu, vẫn là mấy đoạn phim cũ rích ấy thôi. Có điều, có một đoạn ngắn quay cảnh người nước ngoài đua ngựa là trước đây chưa từng có; để tỏ vẻ thước "phim rách" ấy hay ho lắm, tôi cố tình giậm chân khen hay, rồi cười lên khanh khách.

Ba phút trôi qua, phim chiếu xong.

"Sao nào, trách mày thôi nhé!" Tôi nói với Cam Phúc Vân đang đứng ngây phỗng một bên. "Tao là có lòng bao mày đấy, ai bảo chính mày không thèm xem?"

Gã chủ lều bèn vẫy tay gọi Cam Phúc Vân: "Cô bé ơi, sao mày không xem đi? Cũng mở rộng tầm mắt một tí chứ!"

Cam Phúc Vân mím chặt môi, hai cánh môi lặn đâu mất tăm, dưới mũi chỉ còn trơ trọi một đường rãnh.

Tôi phẩy tay với chủ lều: "Ôi dào! Nó thì xem cái nỗi gì! Bản thân nó làm gì có tiền!"

Chủ lều nhìn lại hai đứa tôi thêm vài lượt, trên mặt lộ rõ vẻ nịnh nọt tôi, khinh miệt nó. Quả thực, ăn mặc của tôi dạo ấy dẫu giản dị, nhưng quần áo giày tất đều mới tinh tươm, rốt cuộc vẫn toát lên vẻ con nhà khá giả. Còn Cam Phúc Vân, áo xống nó chằng chịt những miếng vá to tướng, buộc tóc đuôi sam đến sợi dây thun, sợi len cũng chẳng có, đôi khi chỉ là hai mẩu dây mực bật đường thẳng của thợ mộc.

Chủ lều xua tay với Cam Phúc Vân: "Không xem thì đừng có đứng chắn đường! Để cho khách sộp người ta còn bước lại xem chứ!"

Cả tôi và chủ lều đều không ngờ rằng, Cam Phúc Vân bỗng sải một bước thật dài về phía trước, mặt bừng bừng như phun ra lửa, dõng dạc tuyên bố:

"Tôi xem!"

Dứt lời, Cam Phúc Vân thò tay phải vào chiếc túi ngầm bên trong vạt áo, cẩn thận gỡ chiếc kim băng gỉ sét ra trước, rồi từ đó rút ra một xấp tiền lẻ bẩn thỉu nhăn nhúm, đếm ra năm tờ một trăm đồng, trịnh trọng đưa cho gã chủ lều; đoạn cẩn thận cất số tiền còn lại vào chỗ cũ, lại cài kim băng lại thật chặt. Sau đó, nó liếc xéo tôi một cái, trừng mắt lườm gã chủ lều một cái, rồi hiên ngang sải bước tiến về phía lỗ nhòm...

Tôi cụt cả hứng. Nhân lúc nó đang dán mắt xem "phim rách", tôi chuồn mất. Trong lòng tôi có chút ghen tị với nó, bởi vì trên người nó có nhiều tiền như thế, giàu có hơn tôi nhiều! Tôi nghĩ bụng đó hẳn là tiền công nó đi làm chân tạm thời mà có, bản thân có tiền mà còn bắt tôi bao xem phim! Đúng là đồ bủn xỉn kiệt sỉ! Đúng là một con Dạ Xoa xanh!

7

Sau bữa tối hôm ấy, bên nhà bác thợ mộc Cam bỗng vang lên tiếng khóc lóc om sòm của bầy con trẻ. Mẹ tôi vội vàng chạy sang xem có chuyện gì, tôi bám gót theo sau; mẹ tôi bước vào trong phòng, còn tôi thì nán lại ngoài cửa sổ, chỉ dám lén nhìn trộm qua song cửa.

Hóa ra bác thợ mộc Cam muốn phạt Cam Phúc Vân, bắt nó chìa tay trái ra, đang định dùng chiếc thước gỗ đánh vào lòng bàn tay nó.

Cam Phúc Vân lại mím chặt môi, dưới mũi hiện ra một đường thẳng như chữ "Nhất", chẳng thấy bờ môi đâu nữa. Tôi để ý thấy, lũ khóc lóc om sòm là đám em trai em gái của nó, còn bản thân nó thì chẳng hề rơi lấy một giọt lệ.

Mẹ tôi đương nhiên lập tức bước tới can ngăn. Nhưng bác thợ mộc Cam nào chịu nghe, hơn nữa vợ bác lại rất mực ủng hộ cách làm của chồng. Tôi đứng ngoài cửa sổ nghe lỏm, mới vỡ lẽ ngọn nguồn câu chuyện — Cam Phúc Vân đi làm chân tạm thời được trả lương theo ngày, mỗi ngày một nghìn đồng. Nó đã làm được hơn mười ngày nay, những ngày trước, ngày nào nó cũng nộp đủ số tiền một nghìn đồng kiếm được. Thế nhưng hôm nay về nhà, nó chỉ nộp có năm trăm đồng. Gạn hỏi thì thoạt đầu nó còn nói dối là sơ ý đánh rơi, về sau nói thật, nhưng nói thật ra lại càng tồi tệ hơn — hóa ra nó dùng năm trăm đồng ấy để xem cái thứ "phim rách" kia. Mãi sau này tôi mới thấu hiểu sâu sắc rằng, vợ chồng bác thợ mộc Cam cho rằng việc nó bỏ ra năm trăm đồng để xem cái thứ "phim rách" ấy quả thực là hoang đường tột đỉnh, là "nổi cơn điên!", là "bị ma ám!"; nói theo cách văn minh thì chính là tha hóa triệt để. Nhà bao nhiêu miệng ăn thế này, năm trăm đồng mua củ cải muối có thể mua được hai củ to tướng, đủ ăn ba đến năm ngày; hay ho thật, hôm nay một mình nó lại dám đem tiền đi xem cái thứ "phim rách" gì đó, không dạy dỗ cho một trận để nó nhớ đời rằng lần sau tái phạm tuyệt đối không tha, thì làm sao mà được?!

Trước mặt mẹ tôi, bác thợ mộc Cam cứ thế vung chiếc thước gỗ nện từng phát, từng phát một vào lòng bàn tay Cam Phúc Vân. Hai đứa em sàn sàn tuổi nó sợ quá khóc thét lên, mấy đứa em khác thì đứng ngây như phỗng ở một bên. Nhiều năm sau nhớ lại cảnh tượng ấy, tôi mới tỉnh ngộ ra rằng bác thợ mộc Cam vẫn còn nương tay, đánh đủ hai mươi roi theo quy định là dừng lại ngay. Nhưng bạn thử nghĩ xem, một bàn tay đã quen cầm búa đục rìu đẽo, dẫu có tự kiềm chế đến mức nào, thì chiếc thước gỗ giáng xuống lòng bàn tay Cam Phúc Vân vẫn mang một sức mạnh vượt xa người thường. Ngày hôm sau khi tôi gặp lại Cam Phúc Vân, nó đang cõng đứa em trai nhỏ nhất — chính là thằng Bảy con bác Cam nay đã phát tài lớn mua nhà mua xe hơi tự mình chỉ đạo thợ xây gara — đi ra phố mua rau. Tôi để ý thấy, khi đi tới trước sạp bán tôm đông lạnh, nó cúi người nhặt mấy mẩu đá vụn văng vãi dưới đất lên, nắm chặt trong lòng bàn tay trái; điều đó chắc chắn là để dùng đá lạnh xoa dịu cơn đau thấu xương nơi bàn tay bị đánh sưng vù...

Cam Phúc Vân giận dỗi không thèm để ý đến tôi suốt nhiều ngày, tôi cũng chẳng thèm ngó ngàng tới nó; nhưng tôi ngấm ngầm quan sát, thấy nó đối với bố mẹ mình chẳng hề lộ vẻ oán hận gì, nó vẫn đi làm chân tạm thời như thường, vẫn quán xuyến đủ thứ việc nhà không ngơi tay. Tối đến, nó lại ngồi dưới gốc cây hoa dạ hợp, ôm chặt thằng Bảy khi ấy mới hơn một tuổi vào lòng, khe khẽ hát ru, dỗ dành trêu đùa cho nó vui...

Đáng lẽ ra, tôi phải đem chuyện mình được vào trong điện Tỳ Lô, tận mắt ngắm nhìn Phật Tỳ Lô, chiếc tảo tỉnh khổng lồ và Thiên Long Bát Bộ khoe khoang một trận với bố tôi mới phải; nhưng chỉ vì xảy ra vụ xem "phim rách" ấy, tôi liền ngậm tăm không nói. Bố tôi cũng vì thế mà suốt cả cuộc đời chưa từng được tận mắt chiêm ngưỡng những tinh hoa kiến trúc cổ và trân bảo nghệ thuật Phật giáo mà người hằng mong mỏi.

8

Từ sau bận ấy, vào một dịp Quốc tế Thiếu nhi "1 tháng 6", công đoàn của bộ quyết định phát quà nhân ngày lễ cho tất cả con em chưa đến tuổi vị thành niên của cán bộ công nhân viên. Công đoàn cử cán bộ chuyên trách đến tận phòng thường trực của khu tập thể chúng tôi để phát cho trẻ con trong viện. Đám trẻ con đủ tư cách nhận quà trong viện lập tức xếp thành hàng dài dằng dặc trước phòng thường trực, ríu ra ríu rít hệt như chiếc cầu ô thước để Ngưu Lang Chức Nữ bước qua.

Nhà tôi chỉ có mình tôi thuộc diện thiếu nhi, hơn nữa, cùng với việc mấy anh chị lớn lần lượt đi làm, kinh tế nhà tôi trong khu tập thể dần vươn lên tầng lớp trên, tiêu chuẩn tiền tiêu vặt của tôi cũng tăng lên bình quân mỗi ngày một hào (năm đó đã thực hiện cải cách tiền tệ, 100 đồng cũ đổi thành 1 xu, 1000 đồng cũ thành 1 hào, 10000 đồng cũ thành 1 đồng, cứ thế suy ra). Phần quà "1 tháng 6" đợt ấy là mỗi đứa trẻ một túi giấy kẹo xốp hình người. Hồi đó kẹo xốp hình người đối với tôi đã chẳng còn là của hiếm, tôi đã được ăn kẹo sữa Đại Bạch Thỏ của Thượng Hải và kẹo toffee Nghĩa Lợi của Bắc Kinh, nên đối với việc xếp hàng nhận quà, tôi chẳng mấy mặn mà.

Khỏi phải nói Cam Phúc Vân hăng hái thế nào với đợt phát quà lần này. Khi nghe tin chạy ra xếp hàng, cô ta đã đứng vào đoạn giữa, nhưng vẫn hớn hở ngóng đợi giây phút đến lượt mình. Cô ta sẽ thay mặt cho tám đứa trẻ trong nhà nhận liền một lúc (hồi đó vợ chồng bác thợ mộc họ Cam lại sinh thêm em trai của Cam Thất là Cam Bát), vì thế trong lòng cô ta sẽ ôm cả một đống kẹo khiến lũ trẻ con cả viện phải thèm thuồng đến chết!

Chuyện qua nhiều năm, tôi thật sự không tài nào phân tích nổi động cơ tâm lý của mình lúc đó, có lẽ chỉ đơn thuần là muốn nghịch ngợm ác ý một chút thôi. Tôi nhặt tám chín hòn bi ve đã bị sứt mẻ lỗ chỗ, đặt ở bên trong cửa vòm tròn, ngay chỗ Cam Phúc Vân bước qua thế nào cũng giẫm phải. Sau đó, tôi đứng từ đằng xa sang một bên, lại còn vẫy thêm mấy thằng con trai cũng quen thói nghịch ngợm như mình, chực chờ khoảnh khắc đầy kịch tính ấy xuất hiện.

Cam Phúc Vân nhận được tám phần kẹo rồi, cô ta dùng hai lòng bàn tay và hai cẳng tay cẩn thận nâng tám túi giấy kẹo xếp chồng lên nhau, bước đi dè dặt như đi trên băng mỏng, nụ cười hạnh phúc rạng rỡ khắp khuôn mặt, hướng về phía cửa vòm mà đi tới. Hễ bước qua cửa vòm là tới nhà cô ta rồi, và lúc này, mấy đứa em của cô ta bất chấp tiếng quát tháo của mẹ, đều ùa ra trước cửa đón, chúng sắp sửa được chia sẻ chút phúc lợi ngọt ngào do công đoàn ban cho...

Thế nhưng, Cam Phúc Vân vừa bước chân qua cửa vòm, liền giẫm trúng ngay tám chín hòn bi sứt mà tôi đã rải sẵn từ trước. Thế là cô ta ngã sóng xoài ra đất, đống túi kẹo trong lòng lập tức văng tung tóe đầy đất, túi rách kẹo lăn, hỗn độn không sao tả xiết!

Ngay khoảnh khắc cô ta ngã nhào, tôi nhảy cẫng lên sung sướng, vỗ tay cười ầm ĩ, mấy thằng bạn đứng cùng tôi cũng hùa theo, vừa nhảy vừa cười.

Bỗng nhiên, tôi nghe thấy một âm thanh vô cùng lạ lẫm khiến linh hồn tôi phải rùng mình run rẩy. Tôi bất giác khựng lại, nín bặt tiếng cười, ngây dại nhìn sang — đó là tiếng khóc của Cam Phúc Vân đang nằm bò dưới đất, đó có lẽ là tiếng khóc thê lương nhất, đau đớn nhất, phẫn uất nhất và tuyệt vọng nhất mà tôi từng nghe thấy trong suốt cuộc đời mình...

Thật chẳng muốn nhớ lại những chi tiết ấy chút nào. Hỡi người bạn lãng quên của tôi, mắt lưới của bạn không thể thưa thêm chút nữa sao?

Tôi vốn tưởng Cam Phúc Vân sẽ chẳng biết khóc. Trên thực tế, tôi cũng chỉ nhìn thấy và nghe thấy cô ta khóc đúng một lần này. Tiếng khóc ấy hoàn toàn do một tay tôi tạo ra.

Công đoàn của bộ năm đó, chẳng biết vị cán bộ nào đã nghĩ ra cái sáng kiến tặng mỗi đứa trẻ một túi giấy kẹo xốp hình người, đúng là chẳng phải ý kiến hay ho gì! Vả lại, có lẽ để cho thực tế, để tiết kiệm chi phí, người ta mua sỉ trực tiếp từ nhà máy bánh kẹo, cho nên những chiếc kẹo xốp hình người ấy đều không có vỏ bọc giấy kiếng, cứ thế trần trụi — trớ trêu thay đêm trước hôm phát kẹo lại vừa mưa một trận, mặt đất bên trong cửa vòm chỗ thì đọng nước, chỗ thì nhớp nháp ướt át. Phần lớn kẹo xốp hình người văng ra từ lòng Cam Phúc Vân đều bắn tung tóe rơi vào vũng nước, hoặc dính chặt trên nền bùn đất ẩm ướt...

Trong tiến trình lịch sử văn minh nhân loại, đó dĩ nhiên là một chuyện nhỏ nhặt quá đỗi tầm thường; trong cả một đời đầy biến động thăng trầm của tôi, đó dĩ nhiên cũng chẳng phải chuyện gì đáng để nhắc tới... Thế nhưng viết đến đây, tâm can tôi không kìm được run rẩy, chí ít, đối với bản thân tôi, cần phải đào sâu tìm hiểu xem, tại sao cái ác đôi khi lại có thể ngự trị và sai khiến chúng ta một cách nhẹ nhõm, tự nhiên đến thế?

Sau khi bố mẹ tôi lần lượt về nhà, tôi cứ nơm nớp lo sợ chờ người nhà họ Cam sang tố cáo, hoặc là Cam Phúc Vân tới, hoặc là mẹ cô ta tới, hoặc giả đích thân bác thợ mộc họ Cam ra mặt, bởi vì việc tôi làm thực sự quá thất đức!

Trời nhá nhem tối hẳn, bên nhà họ Cam chẳng có ai sang nhà tôi cả. Tôi ngồi trước bàn học lòng dạ bồn chồn, chẳng học nổi bài, tâm trí cứ để tận đâu đâu. Bỗng nhiên, tôi ngửi thấy một mùi hương ngọt ngào, hay nói đúng hơn, là có một mùi thơm ngọt ngào luồn qua khe cửa sổ, xộc thẳng vào mũi tôi. Tôi nghĩ đó không phải hương hoa của đợt hoa hợp hoan đầu tiên, mùi hương ấy đáng lẽ phải thoang thoảng, và không nên có vị ngọt; tôi bất giác bước ra khỏi phòng để thám thính. Thế rồi tôi phát hiện Cam Phúc Vân và mẹ cô ta đang bận rộn trong gian bếp nhỏ của nhà họ. Tôi rón rén lại gần, từ ô cửa sổ nhỏ của gian bếp ngó vào trong, tôi hiểu ra ngay: Họ đã đem những chiếc kẹo xốp bị bẩn rửa qua nước, lúc này đang bỏ những cái kẹo bị hỏng vào một chiếc chảo sắt, pha thêm chút nước, nấu chảy ra thành mạch nha trước đã...

Đến khi trời tối mịt, cả một chảo nước đường to tướng trông như chiếc bánh nướng lớn (hoặc gọi là tương đường, vì trong kẹo xốp có rất nhiều thành phần khác) của nhà họ đã nguội và đông đặc lại thành một khối. Cam Phúc Vân cầm một con dao, cắt dọc khối đường ấy thành từng dải, rồi lại cắt ngang thành từng miếng. Thế là nhà họ lại có một đống kẹo xốp hình người đã được khử trùng. Chỉ có điều bên ngoài không còn lớp óng ánh như ngọc trai nữa thôi — mẹ Cam Phúc Vân liền đem những miếng kẹo do nhà tự chế biến ấy chia cho bầy con của mình. Cuối cùng Cam Phúc Vân cũng được chia một phần. Cô ta cùng mấy đứa em ngồi dưới tán cây hợp hoan, vui vẻ chơi trò vỗ tay, chốc chốc lại bỏ vào miệng một viên kẹo. Cô ta dường như đã hoàn toàn quên khuấy chuyện bị tôi hãm hại...

Tôi thầm nghĩ, có lẽ cô ta không nhận ra việc mình vấp ngã là do tôi giở trò bẫy hại. Một mình cô ta ôm tám túi kẹo đi đường, vốn dĩ đã hơi giống làm xiếc đi trên dây thép, việc ngã nhào dường như cũng chẳng có gì lạ.

Thế nhưng, sáng hôm sau, tôi vừa bước ra khỏi cửa phòng liền phát hiện, trên bậu cửa sổ bên ngoài phòng tôi, không thừa không thiếu, đặt ngay ngắn chín hòn bi sứt đã khiến cô ta vấp ngã.

9

Có một ngày, vào Chủ nhật, mẹ tôi bỗng nhiên từ ngoài sân chạy bổ vào nhà, vẻ mặt hốt hoảng nói: "Chết rồi! Bác thợ Cam tự chặt vào tay rồi!" Vừa nói, bà vừa vội vội vàng vàng tìm thuốc đỏ, băng gạc.

Bố đang đọc sách, nghe thấy vậy liền bật dậy khỏi ghế sô pha. Tôi co cẳng chạy tót ra sân.

Hồi ấy, bác thợ Cam thường tranh thủ thời gian rảnh rỗi để đóng đồ gỗ cho bà con hàng xóm trong viện. Như vậy cũng tiện kiếm thêm chút tiền phụ thu bù đắp sinh hoạt. Hôm đó bác đóng tủ đứng lớn cho một gia đình trưởng phòng ở khu tứ hợp viện bên trong. Gỗ của nhà nọ không được xẻ sẵn thành ván ở xưởng cưa, nên bác thợ Cam buộc phải tốn rất nhiều sức lực tự xẻ súc gỗ đó thành những tấm ván để gia công tiếp. Có lẽ vì mấy ngày liền việc công việc tư đều quá bận rộn, cơ thể mệt mỏi, tinh thần uể oải. Cũng có thể chỉ là do lỡ tay nhất thời. Chẳng hiểu thế nào, tay phải bác giáng một nhát rìu xuống, lại chém trúng ngay bắp tay trái của mình, thịt lập tức toác ra lật ngược lại, máu tươi bắn toe toét đầy mặt đầy ngực bác... Khi tôi chạy tới xem trò náo nhiệt thì đã có mấy người đàn ông xúm lại đỡ bác, giúp bác bóp chặt mạch máu để cầm máu. Bác vẫn đứng giang rộng hai chân như cũ, hệt như một ngọn bảo tháp bị ráng chiều nhuộm đỏ. Bộ râu rung rung, trong hai mắt đong đầy vẻ xấu hổ và tự trách...

Bác thợ Cam phải nhập viện. Dù việc chữa trị vết thương đã có bảo hiểm y tế chi trả, nhưng đối với gia đình bác, đó vẫn không chỉ là tai họa về thể xác, mà còn là tai họa về kinh tế.

Năm đó, tôi và Cam Phúc Vân đều tốt nghiệp tiểu học. Tôi tiếp tục học lên, còn Cam Phúc Vân thì không học tiếp nữa, đi làm công nhân thời vụ ở thương trường Long Phúc Tự. Về lại viện chúng tôi, ngoài việc gánh vác đủ thứ việc nhà cùng cha mẹ, cô ta còn nhận giặt cả vỏ chăn ga trải giường cho hàng xóm, qua việc giặt giũ này để kiếm thêm chút tiền phụ giúp gia đình.

Mỗi khi đi học trung học về đến nhà, tôi thường thấy trên dây phơi ngoài cửa vòm phơi đầy một dãy vỏ chăn được giặt trắng tinh, gió thổi làm những chiếc vỏ chăn bay phần phật, mép chăn cuộn lại, lúc gần khô cứ kêu phần phật, phần phật.

Lên trung học quả thực hoàn toàn khác với hồi tiểu học. Trạng thái tâm lý của học sinh trung học và tiểu học quả thực không thể đem ra so sánh. Tôi đến trường trung học không cần phải đi xuyên qua Long Phúc Tự nữa, bài vở dần dà nặng thêm, tôi cũng hiếm khi cố ý ghé vào trong đó chơi, mà bên trong Long Phúc Tự cũng dần đổi thay diện mạo, không còn phong vị của hội chợ chùa nữa, biến thành một trung tâm bách hóa tổng hợp quy mô lớn theo kiểu "gộp chung các mặt hàng". Sau khi thực hiện "công tư hợp doanh", nơi đó lại dựng lên các sảnh bán hàng, rất nhiều tiết mục vốn có nếu không bị cấm thì cũng tự động biến mất, chẳng hạn như cái rạp "chiếu phim rách" kia. Những điều tai nghe mắt thấy và trải nghiệm thời tiểu học dần dần đều biến thành những bóng hình mộng mị xa xăm. Về sau nữa, như giấc mộng xuân thoảng qua không vết tích, tôi hầu như chẳng còn nhớ là từng có những chuyện như thế nữa.

Không còn là bạn học với Cam Phúc Vân, chúng tôi coi như dứt hẳn qua lại. Dù vẫn sống chung trong một khoảng sân nhỏ sau cửa vòm, chạm mặt nhau suốt ngày, nhưng trong tâm lý của tôi, cô ta hoàn toàn là một nhân vật chẳng còn chút dính dáng nào tới mình. Tôi có vắt óc cũng không nhớ nổi trong khoảng thời gian đó, mỗi khi chạm mặt cô ta, tôi có gật đầu chào hay mỉm cười với cô ta không, bởi vì trong lòng tôi, ngay cả ý nghĩ cố tình lờ cô ta đi cũng chưa từng xuất hiện. Cô ta gặp tôi có gật đầu hay cười với tôi một tiếng hay không, tôi cũng chẳng tài nào tìm ra nổi một mẩu ký ức nhỏ nhoi, bởi trong thâm tâm mình, tôi chưa từng mong cầu lấy một cái gật đầu hay một nụ cười từ cô ta.

Về sau, chẳng nhớ rõ là học xong lớp bảy hay là chưa học xong lớp bảy. Một hôm mẹ tôi nói trong bữa cơm: "Phúc Vân ốm rồi, đợt này ốm nặng thật đấy, không ăn không uống gì, lại chẳng chịu nằm yên, cứ tựa vào chăn mà ngồi dựa trên giường..." Tôi cũng chẳng buồn nghe tiếp, vì vừa ăn cơm tôi vừa nghiêng đầu đọc cuốn truyện thiếu nhi Mỹ "Phù thủy xứ Oz". Sau bữa cơm, chắc là bố mẹ đều sang nhà họ Cam, họ khuyên bác thợ Cam đừng chỉ lấy thuốc bảo hiểm y tế của mình cho Cam Phúc Vân uống linh tinh, bệnh của nó xem ra không phải cảm mạo thông thường, vẫn nên đàng hoàng đưa đến bệnh viện khám xét cẩn thận rồi bốc thuốc đúng bệnh. Cần thiết thì phải nhập viện, phẫu thuật. Bố bảo có thể giúp bác xin trợ cấp đặc biệt từ bộ. Mẹ bảo có thể đứng ra quyên góp chút đỉnh trong viện cho nhà bác. Lúc ra về, bố mẹ để lại cho họ 30 đồng, vợ chồng bác thợ Cam bảo thế cũng được, xin vay tạm, mai này có tiền nhất định sẽ trả. Hôm sau chắc là bác thợ Cam đèo Cam Phúc Vân bằng xe đạp tới bệnh viện Long Phúc khám, mang về cả đống thuốc bắc. Kể từ đó, trong khoảng sân nhỏ của chúng tôi luôn thoang thoảng mùi sắc thuốc bắc, chẳng giống chút nào với những miêu tả tôi đọc được trong "Hồng Lâu Mộng" sau này, cứ như thể có một thứ hương thuốc sánh ngang với hương hoa, hương phấn sáp. Không, mùi thuốc trong khoảng sân nhỏ sau cửa vòm của chúng tôi có thể nói là một thứ mùi hôi hám kỳ quặc, thật tiếc cho hoa hợp hoan dạo ấy, chúng không thể dùng hương thơm dịu nhẹ thanh tao của mình để tạo nên nét đặc trưng cho khoảng sân nhỏ của chúng tôi được nữa.

Giờ đây nghĩ lại, căn bệnh mà Cam Phúc Vân mắc phải chính là ung thư gan. Hơn 30 năm trôi qua rồi mà vẫn chưa có thuốc đặc trị, huống chi là ngày ấy! Tội nghiệp cho cô ta, chẳng mấy chốc đã bị cổ trướng, bác thợ Cam đành phải kê riêng cho cô ta một chiếc giường, để cô ta ngày đêm quấn chăn, tựa lưng vào đống gối mà rên rỉ đau đớn. Những lúc không rên rỉ, Cam Phúc Vân lại ngơ ngơ ngác ngác nhìn ra ngoài cửa phòng, tôi nghĩ cô ta nhất định đang ngắm nhìn những cánh hoa hợp hoan đón gió rụng xuống mặt đất ra sao...

Một hôm tôi đi học về, ở cổng khu tập thể bỗng nhiên đụng mặt bác thợ Cam. Bác đang cõng Cam Phúc Vân đi ra ngoài, lưng còng xuống, nửa khuôn mặt dưới rậm rạp râu ria đen sì. Cam Phúc Vân dùng hai cánh tay khẳng khiu như cọng đay ôm lấy chiếc cổ thô bè của bố. Tôi bất giác hỏi: "Hai bác cháu đi viện Long Phúc ạ?"

Bác thợ Cam trả lời tôi: "Không, lên Thiềm Cung xem phim."

Tôi giật nảy mình. Liếc nhìn Cam Phúc Vân đã gầy gò biến dạng, trong đôi mắt ti hí chưa từng một lần xinh đẹp của cô ta bỗng phát ra một luồng sáng hạnh phúc và mãn nguyện khôn cùng!

Mãi sau này tôi mới biết, đó là lần đầu tiên trong đời Cam Phúc Vân được bước chân vào một rạp chiếu phim đàng hoàng để xem một bộ phim, và đó cũng là lần cuối cùng, là lần duy nhất trong suốt quãng đời ngắn ngủi của sinh mệnh ấy.

Mãi rất lâu về sau tôi mới tỉnh ngộ, hồi học tiểu học, mỗi bận lớp tổ chức đi xem phim tập thể, ủy viên văn thể đi thu tiền, thu đến dãy của chúng tôi, Cam Phúc Vân luôn nói: "Tớ xin phép nghỉ..." Hồi đó tôi nào có để tâm! Nhà cô ta lắm việc, nghỉ thì nghỉ, liên quan gì đến tôi, tôi căn bản chẳng hề nghĩ tới. Bởi vì nhà cô ta không có tiền cho cô ta xem phim, nên cô ta chưa từng được xem buổi nào! Mà vé tập thể cho học sinh tiểu học ngày ấy chỉ tốn có 500 đồng cũ (tương đương 5 xu bây giờ)! Tôi cũng mới bàng hoàng vỡ lẽ — lần ấy cô ta dẫn tôi vào điện Tì Lô ngắm tượng phật Tì Lô, trần nhà hoa văn tổ ong và bát bộ thiên long, rồi ngỏ ý muốn tôi bao cô ta một buổi xem phim ở rạp Thiềm Cung, cô ta đã phải hạ quyết tâm lớn dường nào, đã phải đánh đổi gần như toàn bộ lòng tự trọng, ôm ấp kỳ vọng to lớn biết bao, khao khát một niềm vui hiếm hoi đến mức nào. Thế mà tôi lại dẫn cô ta tới trước cái lán bạt "chiếu phim rách" kia, lừa gạt cô ta, trêu chọc cô ta, lại còn khiến cô ta bị bố mẹ mắng cho một trận, đánh cho một trận tơi bời!

Thế nhưng lúc đó, một đứa học sinh trung học như tôi vẫn chưa thể thấu hiểu được tất cả những điều này, chưa hiểu thế nào là cuộc sống, chưa hiểu con người, chưa hiểu người khác, và cũng chẳng hiểu nổi chính mình.

Tôi chỉ hơi lấy làm lạ một điều, trời dần trở lạnh, bệnh của Cam Phúc Vân không thấy đỡ mà ngày càng nặng thêm, vậy mà bác thợ Cam vẫn kê giường bệnh của cô ta ngay lối ra vào, hơn nữa lúc nào cũng vén nửa tấm rèm cửa lên, để lộ bộ dạng ốm yếu bệnh tật của cô ta ra ngoài. Nhìn từ cửa sổ phòng tôi ở sang lại càng rõ mồn một. Để làm gì cơ chứ? Không sợ người ta thấy gai mắt, thấy ghê tởm sao?

Cam Phúc Vân vốn dĩ tuyệt đối chẳng thể gắn liền với hai chữ xinh đẹp — khi cha mẹ sinh ra cô ta đã bị thiếu thốn từ trong bụng mẹ, sau này lại sớm phải gánh vác gánh nặng mưu sinh, cho nên trên gương mặt phẳng lì kia, mũi tẹt mắt ti hí, chẳng có lấy nửa nét duyên dáng. Tóc cô ta lúc nào cũng vàng hoe xơ xác, chưa từng được dày dặn bao giờ. Cổ cô ta hơi ngắn, lưng đã còng từ sớm, bàn chân lại to bè so với người. Kể từ ngày ngã bệnh, tóc cô ta rụng từng nắm lớn, sắc mặt xanh xao, môi thâm sì, cộng thêm chứng cổ trướng ngày càng trầm trọng, nhìn vào quả thực khiến người ta liên tưởng đến con dạ xoa xanh đã nhìn thấy trong điện Tì Lô. Hồi ấy, tôi từng có suy nghĩ vớ vẩn thế này: Cam Phúc Vân, biết đâu đúng là dạ xoa trong bát bộ thiên long đầu thai vào nhà bác thợ Cam cũng nên?

10

Cam Phúc Vân chết rồi.

Cụ thể chết ra sao, sau khi chết đưa đi hỏa táng thế nào, vợ chồng bác thợ Cam có khóc không, mấy đứa em của cô ta phản ứng ra sao, lúc ấy tôi chẳng để ý, chẳng hỏi han, nên hoàn toàn không có chút ấn tượng nào.

Nghĩ lại cái chết của cô ta, dường như trong tôi còn có một thoáng nhẹ nhõm. Bởi vì từ cửa sổ phòng tôi nhìn ra, không còn phải trông thấy cái khuôn mặt xấu xí của con dạ xoa xanh ấy nữa.

Tôi dám cá rằng, những người trong khu tập thể chúng tôi sẽ nhanh chóng quên bẵng một nhân vật chẳng có chút trọng lượng nào như Cam Phúc Vân. Cô ta từng đến cõi đời này để tồn tại, để sống, nhưng cô ta ra đi quá đỗi vội vàng. Khi cô ta mất, vẫn còn chưa đầy 17 tuổi.

Nhà tôi chẳng bao lâu sau cũng chuyển đi, bộ xây dựng một khu nhà tập thể mới, trong nhà tầng nhà nào cũng có nhà vệ sinh riêng, mùa đông có lò sưởi. Vào thời đại đó, đây được coi là những tiện nghi vô cùng ghê gớm rồi, hồi ấy người ta không những chẳng biết tủ lạnh, máy giặt là cái thau gì, mà ngay cả đun bếp ga cũng hiếm khi nghe nói tới. Dù là ga bình hay ga đường ống, nhà bộ trưởng cũng chẳng có. Nhưng làm cán bộ dẫu sao đãi ngộ cũng khác người thường, bố tôi bấy giờ đã được bổ nhiệm làm chuyên viên, nên chúng tôi chuyển sang khu nhà tập thể mới. Bác thợ Cam là một trong số những nhân viên giúp nhà tôi dọn đồ. Đến lúc xong xuôi, mẹ nằng nặc giữ mọi người ở lại ăn cơm, nhưng ai nấy đều bảo không ăn, nằng nặc đòi về. Mẹ bèn giữ mọi người lại uống trà, ăn dưa hấu. Sau khi mọi người về hết, mẹ thu dọn chén trà, bỗng thấy dưới đáy một chiếc chén có đè 30 đồng. Mẹ đang ngơ ngác, tôi liền bảo bà: "Đấy là chén của bác Cam uống đấy ạ!" Mẹ bấy giờ mới thốt lên "Ối chà". Hóa ra năm xưa vì chuyện đưa Cam Phúc Vân đi viện khám bệnh, bố mẹ từng cho bác thợ Cam 30 đồng, bác nghĩ sau này gặp nhau không còn tiện nữa, nên nhân lúc giúp chuyển nhà liền trả lại số tiền ấy.

Sau đó bố tôi chuyển công tác, tôi học xong trung học rồi lại lên đại học. Bác thợ Cam cùng cả gia đình bác hoàn toàn trở thành một sự tồn tại chẳng dính dáng gì đến quỹ đạo cuộc sống của chúng tôi. Tôi không nhớ sau đó có lần nào gia đình chúng tôi ngồi ăn cơm hay trò chuyện với nhau mà nhắc tới bác thợ Cam hay ai đó trong nhà bác ấy không. Chúng tôi gần như đã quên sạch gia đình bác thợ Cam. Còn về Cam Phúc Vân đã khuất thì lại càng chẳng nằm trong tâm trí chúng tôi, tôi dám chắc ngay cả trong dòng hồi tưởng cũng chưa từng xuất hiện lấy một vệt sáng đom đóm le lói nào về cô ta.

Về sau, gia đình chúng tôi, đặc biệt là bố mẹ, chìm nổi theo những con sóng dữ của thời đại. Trước thời kỳ "Cách mạng Văn hóa", bố được điều về dạy học ở một học viện quân sự tại Trương Gia Khẩu. Trong những năm "Cách mạng Văn hóa", hai phái "tạo phản" đối lập trong học viện quân sự nơi bố công tác xảy ra hỗn chiến vũ trang, bố mẹ đành phải bỏ nhà trốn về Bắc Kinh, tạm lánh ở nhà chị gái một thời gian. Về sau chỗ chị gái ở cũng không yên ổn, nhờ một người bạn cũ giúp đỡ, bố mẹ mới dọn vào một cơ quan tương đối yên bình — nơi được đặc cách không phải làm phong trào quần chúng, không cho phép bên ngoài xông vào quấy phá — mượn một gian văn phòng bỏ trống để tạm bợ dung thân. Và chính trong những năm tháng loạn lạc binh đao ấy, một ngày nọ bố mẹ đã tình cờ gặp lại bác thợ Cam trên phố.

Lần tao ngộ ấy giữa bố mẹ và bác thợ Cam đã khơi dậy trong lòng đôi bên biết bao tình cảm vốn đã lắng xuống và chai sạn bấy lâu. Khỏi phải nói, họ nối lại liên lạc. Chỗ ở tạm bợ của bố mẹ hoàn toàn không thể thu xếp cuộc sống gia đình, bếp lò nấu cơm đành phải đặt ngoài hành lang trước cửa, người đi qua kẻ đi lại đều thấy vướng víu. Bố mẹ cứ mãi không học được cách ủ than giữ lửa, bếp thường xuyên bị tắt làm gián đoạn việc nấu nướng, đành phải chạy ra phố mua đồ ăn sẵn. Những lúc buồn phiền, họ chẳng muốn đi đâu khác, lại thêm bác thợ Cam tha thiết mời mọc, họ liền mang chút đồ ăn sang nhà bác Cam giết thời gian. Hồi ấy bác thợ Cam vẫn sống trong hai gian nhà cấp bốn nhỏ nằm trong khoảng sân có cửa vòm ở khu tập thể số 35 ngõ ấy. Các cán bộ trong bộ chìm nổi chốn quan trường, lên voi xuống chó, dọn đi dọn lại, riêng bác thợ Cam thì trước sau vẫn là thợ mộc, triều đại nào, thời kỳ nào, môn phái nào cũng cần có một người thợ mộc làm việc cho họ, bác như tảng đá giữa dòng nước xiết không hề lay chuyển, trước sau vẫn như một. Bốn đứa con đầu của bác lúc ấy đều đã đi làm, đứa vào nhà máy làm công nhân, đứa nhập ngũ đi bộ đội, đứa làm nhân viên bán vé xe điện, đứa thì đi thanh niên xung phong về nông thôn. Còn lại bốn đứa nhỏ đang đi học. Cam Thất lúc đó chắc đã học đến cấp hai. Hồi ấy khu tập thể số 35 đã đông nghẹt người, người ta chẳng còn ý nghĩ tiết kiệm tiền thuê nhà nữa, chỉ có ham muốn cơi nới thêm diện tích ở. Nhưng lúc đó những người công nhân tầng lớp dưới như bác thợ Cam thì không thể nào được phân thêm nhà ở nữa. Thế là cả nhà họ xúm vào tự làm lấy, dựng thêm những gian nhà tạm bợ dưới tán cây hợp hoan, mở rộng đáng kể tổng diện tích ở, rốt cuộc cũng tạm coi là đủ chỗ chen chúc.

Bấy giờ tôi đang bị đưa về lao động ở vùng nông thôn xa xôi ngoại thành. Mãi sau này tôi mới được trở về Bắc Kinh. Hôm về đến Bắc Kinh, tôi hăm hở lần theo địa chỉ có sẵn tìm đến chỗ ở của bố mẹ, chẳng ngờ lại va phải ổ khóa cửa, chỉ thấy trên cửa dán một mảnh giấy để lại cho tôi, bảo tôi sang nhà bác thợ Cam để "chung vui".

Nói thực lòng, hôm đó tôi chẳng có chút ham muốn hay tâm trạng nào để chung vui với cả nhà bác thợ Cam cả, tôi chỉ có cả một bụng tâm sự muốn trút riêng với bố mẹ. Nhưng tôi đành phải đi.

Bước vào khu tập thể số 35 nơi tôi từng trải qua thời thơ ấu và niên thiếu, tôi chẳng hề nảy sinh chút cảm giác dâu bể nào, cũng chẳng gợi lên được mấy phần ký ức, tâm hồn tôi đã bị mài giũa trở nên chai sạn thô ráp, tôi dửng dưng, hay thậm chí có thể nói là hơi thiếu kiên nhẫn bước vào chiếc cửa vòm tồi tàn kia. Đối với khoảng sân bên trong cửa vòm nay đã trở nên chật chội đến thế, tôi chẳng thấy ngạc nhiên; đối với căn nhà cũ nay đã có người hoàn toàn xa lạ dọn vào ở, tôi thậm chí còn chẳng buồn đoái hoài. Mà khi bước vào nhà bác thợ Cam, nhìn thấy cả một nhà đông nghẹt những người, tôi chỉ cảm thấy phiền toái rối bời...

Bác thợ Cam cùng người vợ nay tóc cũng đã hoa râm, da dẻ nhăn nheo, đang ngồi cùng bố mẹ tôi quây quần bên chiếc bàn con kê trên phản uống rượu ăn đồ nhắm, mấy đứa con khác — trong đó chắc chắn có Cam Thất — thì đang ở bên giường phía sau nhà, chẳng biết đang học bài hay đang nô đùa. Cả căn phòng nồng nặc mùi gà quay loại rẻ tiền và rượu trắng dỏm, dưới đất vương vãi đầy vỏ lạc, vỏ hạt dưa và xương gà. Dù bản thân tôi cũng đã bị đưa đi rèn luyện, cùng ăn cùng ở cùng lao động với người ta, nhưng nhìn thấy bố mẹ lại vồn vã đến đây để cùng chia sẻ một thứ niềm vui mà chúng tôi không thể hiểu nổi với vợ chồng bác thợ Cam, tôi vẫn vô cùng kinh ngạc.

Tôi còn chưa kịp chào hỏi họ thì đã thấy bác thợ Cam đứng dậy đón tôi, mặt bác đỏ gay, đầu cạo trọc lốc, râu cũng cạo sạch nhẵn, nửa khuôn mặt xanh rì toàn chân râu lởm chởm, trông lại có vẻ trẻ hơn năm xưa rất nhiều. Bác nhìn thấy tôi dường như mừng rỡ khác thường, tay phải nâng một chén rượu kề dưới môi mình, tay trái nâng một chén rượu chìa về phía tôi. Bắp tay trái để trần ấy có một vết sẹo lồi ngoằn ngoèo như con giun, tôi nghe thấy bác nói rành rọt: "Tốt quá rồi! Con rể tôi đến rồi — nào nào nào, hai bố con mình cạn một ly!" Về sau tôi chẳng còn nhớ được gì nữa. Tôi dường như đã phải cắn răng nén cơn sốt ruột để trải qua buổi chiều muộn hôm ấy. Nhưng khi theo bố mẹ trở về căn phòng làm việc tạm dùng làm nhà, thấy họ có vẻ rất vui, tôi cũng không để lộ ra điều gì.

11

Về sau "bè lũ bốn tên" bị đập tan, về sau bố mẹ tôi về sống ở quê nhà cách bác thợ Cam rất xa, rất xa, còn bản thân tôi tuy vẫn ở Bắc Kinh, nhưng tôi đã lập gia đình, lấy vợ sinh con, có cuộc sống riêng của mình, tôi với bố mẹ, các anh, chị gái cũng hiếm khi gặp mặt, dĩ nhiên càng không có thời gian qua lại với người hàng xóm cũ như bác thợ Cam, hình bóng bác thợ Cam lại dần dà trôi ra khỏi vòng tròn cuộc sống của chúng tôi. Chí ít đối với tôi, tôi gần như chẳng bao giờ nhớ tới bác ấy, càng không nhớ tới cả cái gia đình đông đúc của bác ấy...

Bố tôi qua đời năm 1978 vì xuất huyết não đột ngột. Năm 1988, mẹ tôi đang sống cùng anh hai ở Thành Đô, Tứ Xuyên thì đột ngột phát hiện mắc ung thư, khối u nằm ở gan, tin này như sét đánh ngang tai. Khi bác sĩ nói rõ sự thật cho anh hai và tôi biết, hai người đàn ông chúng tôi lập tức trào nước mắt, chúng tôi không thể nào chấp nhận nổi sự thật này!

Thế nhưng mẹ tôi lại đón nhận sự thật ấy. Bà điềm tĩnh, kiên nghị, bình thản và ngoan cường, không ngừng chiến đấu với căn bệnh ung thư quái ác.

Tôi không muốn kể lể về chuyện mẹ tôi qua đời vì bệnh ung thư. Điều này đối với hàng ngàn hàng vạn con người khác trên cõi đời này thực ra cũng chẳng tính là gì. Hầu như mỗi ngày đều có những bệnh nhân ung thư qua đời. Người ta đã quá quen với ung thư, quen với cái chết rồi.

Tôi chỉ muốn kể về ngày hôm đó, khi mẹ tôi cũng đã xuất hiện triệu chứng cổ trướng, và bắt đầu rụng tóc. Bà tựa vào giường bệnh, lúc đó trong phòng bệnh chỉ có hai mẹ con tôi. Tôi nắm lấy tay mẹ, mẹ cũng nắm lấy tay tôi, tôi nhìn mẹ, mẹ cũng nhìn tôi. Tôi không biết phải nói gì với mẹ mới phải, thì mẹ lại vô cùng tỉnh táo bảo tôi: "Doanh Hải à! Con còn nhớ Cam Phúc Vân không? Đứa con gái lớn của bác thợ Cam ấy, Cam Phúc Vân, con bé mất chắc cũng hơn hai mươi năm rồi nhỉ? Căn bệnh của mẹ bây giờ, chính là bệnh năm xưa con bé mắc phải đấy. Con có biết trước khi lâm chung, vì sao con bé cứ nằng nặc đòi bố nó kê giường bệnh ngay lối ra vào, lại còn bắt bố nó lúc nào cũng phải vén nửa tấm rèm cửa lên không? Từ gian phòng con ở năm xưa nhìn sang, vừa vặn trông thấy con bé đúng không? Thật ra, là vì con bé muốn được thường xuyên nhìn thấy con đấy! Con bé đối với con có một thứ tình cảm rất đặc biệt, đến lúc sắp chết, nó mới thú nhận với bố nó — ngay cả mẹ nó nó cũng không dám nói thẳng. Nó nhân lúc chỉ có một mình bố ở bên cạnh, có lẽ là vào cái lần bố nó cõng nó đến rạp Thiềm Cung xem phim ấy, nó đã khẽ thủ thỉ với bố nó. Mẹ nghĩ, con bé cũng chẳng có ý gì quá sâu xa đâu, chỉ là bấy giờ nó đã gần 17 tuổi rồi, với hoàn cảnh gia đình như thế, việc nó sớm biết nghĩ là điều tất nhiên. Con thì cũng chưa chắc đã đáng yêu đến thế đâu. Nói thật lòng, hồi ấy con e là đầu óc còn mông muội, ngây ngô ngốc nghếch, lại có những lúc rất đáng ghét, rất khó ưa. Nhưng con thử nghĩ xem, thế giới cuộc sống của con bé chỉ nhỏ bé chừng ấy, hai nhà chúng ta lại vừa khéo ở đối diện nhau, lại cùng chung một cái cửa vòm, cùng hưởng bóng mát và hương thơm của một cây hợp hoan. Hồi học tiểu học, hai đứa lại ngồi chung một bàn, chỗ dựa tình cảm của con bé cũng chỉ có thể gửi gắm lên người con... Thế nên dạo ấy, bác thợ Cam mới bảo nó rằng con mau khỏe lại đi! Con khỏi bệnh rồi, bố sẽ sang thưa chuyện với ông bà Tưởng, để thằng Doanh Hải cưới con về làm vợ! Kể từ bận ấy, bác thợ Cam quý con đặc biệt, trong lòng lúc nào cũng coi con như con rể của bác. Bây giờ con đã khôn lớn trưởng thành, lấy vợ sinh con rồi, mẹ kể những chuyện này cho con nghe, chắc con không để bụng nữa đâu nhỉ... Nghĩ lại, Cam Phúc Vân thật là bất hạnh! Chưa kịp đợi đến ngày tháng sung túc đủ đầy thì đã ra đi như thế, cũng chẳng được tận hưởng biết bao niềm vui bình dị nhất của kiếp nhân sinh, như tình yêu, hôn nhân, sinh con đẻ cái... cứ thế mà lụi tàn như một đốm đom đóm. Còn mẹ, mẹ thấy mãn nguyện lắm, mẹ đã cống hiến nhiều, cũng nhận lại được nhiều... những gì nên có mẹ đều đã có đủ rồi. Nhìn lại một đời, mẹ cũng chẳng có mấy điều hổ thẹn hay cắn rứt với lương tâm, nếu giờ mẹ có ra đi, cũng chẳng còn gì hối tiếc nữa!..."

Nghe những lời này của mẹ, tôi từ lặng lẽ rơi nước mắt chuyển thành bật khóc nức nở. Mẹ lấy Cam Phúc Vân ra để so sánh với bản thân, nhìn lại những được mất của một đời, tựa như một tia chớp giáng xuống, soi rọi lương tri của tôi, xé toạc sự tê liệt vô cảm bấy lâu nay trong tôi, trước mắt tôi lại hiện lên hình ảnh một con dạ xoa xanh. Kể từ đó, tôi tin chắc rằng, đó thực sự là linh vật hộ pháp mang lại điềm lành, chứ tuyệt nhiên không phải một con ác quỷ dữ tợn...

12

Tôi bước ra khỏi con ngõ ấy, cõi lòng dần dần bình lặng lại.

Tôi không muốn dò la xem Cam Thất rốt cuộc dựa vào đâu mà phát tài lớn đến thế; cũng không muốn dò la xem những anh chị em khác của nó đều đã phát tài hay mỗi người một số phận. Tôi lại càng không muốn dò la xem vợ chồng bác thợ Cam liệu có còn sống hay không, trước sự giàu sang của con cái, họ có phản ứng tâm lý ra sao, họ sẽ cùng Cam Thất dọn vào khoảng sân nhỏ mua bằng bộn tiền kia, hay vẫn bám trụ lại trong căn nhà cũ dưới tán cây hợp hoan sau chiếc cửa vòm ấy... Phải, tôi đều không muốn hỏi han gì nữa, bởi vì tất cả những điều đó thực sự chẳng còn chút liên quan nào tới tôi. Tôi chỉ biết có một chuyện không cần phải dò hỏi, đó là trong khu tập thể số 35 của con ngõ này, trong khoảng sân nhỏ bên trong chiếc cửa vòm ấy, dưới tán cây hợp hoan xòe rộng như chiếc lọng khổng lồ kia, từng sống và cũng từng chết đi một người con gái tên là Cam Phúc Vân, trước khi nhắm mắt xuôi tay, cô đã thầm yêu một người đàn ông tuyệt đối chưa từng yêu cô, không thể nào yêu cô, thậm chí ngay trong dòng hồi tưởng của ngày hôm nay cũng chẳng hề yêu cô một mảy may, mai sau lại càng không thể nào huyễn hoặc để yêu cô, một người đàn ông kém cô một tuổi. Người đàn ông tuyệt đối không yêu cô ấy, trong tâm trí hoàn toàn không có hình bóng cô, thậm chí ngay cả việc thực sự tốn công tốn sức để khinh ghét cô, bắt nạt cô cũng chưa từng làm, chẳng qua chỉ là thuận hứng nhất thời, thi thoảng trêu chọc và làm tổn thương cô một chút, ấn tượng duy nhất của người ấy về cô, gom góp lại, chẳng qua chỉ là một ký hiệu quái đản: Dạ Xoa Xanh.

Tôi không muốn dò hỏi thêm điều gì nữa. Tôi từng đến Long Phúc Tự — nơi ấy bây giờ là một tòa nhà cao tầng hiện đại, người ta gọi là "Tòa nhà Long Phúc". Ngày thường nơi đây mở cửa sáu tầng đại sảnh kinh doanh, giữa các tầng có thang cuốn liên kết với nhau, bên trong bày bán đủ mọi thứ hàng hóa bách hóa thời thượng nhất, từ thực phẩm nguyên hộp nhập khẩu cho đến nước hoa, keo xịt tóc, kem giảm béo, từ trang sức vàng bạc cho đến thiết bị vệ sinh, từ sô pha da thật cho đến dàn máy hát karaoke — để thăm dò: Những văn vật trong ngôi chùa năm xưa, chẳng hạn như trần nhà hoa văn tổ ong vô song thiên hạ trong điện Tì Lô, rốt cuộc đã trôi dạt về phương nào? Người ta bảo tôi, tất cả những thứ có thể dùng để xây dựng công trình phòng không ngầm, trong thời kỳ "Cách mạng Văn hóa" đều đem ra dùng để "đào hầm sâu" cả rồi, coi như là "biến phế liệu thành bảo vật", "dùng đồ cổ vào việc nay" vậy. Còn về cái trần hoa văn tổ ong kia, nghe nói ban đầu cũng định dùng làm cột chống trong hầm, nhưng dỡ thế nào cũng không tài nào tháo rời ra được. Về sau người ta lại tính bổ vụn ra bằng rìu để làm củi đốt lò gạch. Nhưng nghe nói nhát rìu bổ xuống chỉ tóe hoa lửa, nẩy ngược lại khiến hổ khẩu của người cầm rìu suýt nữa nứt toác, mà thứ gỗ ấy vẫn kiên cố chẳng hề suy suyển. Thế rồi, có một bác nhân viên già bảo tôi, nghe đâu đã chuyển vào cất giữ trong Ung Hòa Cung rồi. Tôi lại từng đến Ung Hòa Cung để hỏi thăm, trong hơn mười năm ấy Ung Hòa Cung đã mấy lần đổi quyền quản lý, những người được hỏi bây giờ đều ngơ ngác chẳng hay biết gì. Xem ra cũng chẳng còn ở Ung Hòa Cung nữa. Vậy thì rốt cuộc nó đã đi đâu rồi? "Trần tổ ong biết chốn nào tìm, chỉ còn trơ trọi dấu chân người dạo chơi." Trần tổ ong còn như thế, chuyện người việc đời khác lại nỡ nào gặng hỏi thêm. Cho nên, tôi nghĩ thôi thì cứ mặc kệ đừng dò la làm gì nữa. Những gì đã qua hãy để nó qua đi, những gì đã chìm vào quên lãng hãy cứ để nó chìm vào quên lãng.

Hỡi người bạn của tôi, sự lãng quên, xin chào bạn! Hãy mở rộng thêm mắt lưới của bạn nhé. Tôi ôm lấy bạn.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.