Tứ Bài Lâu

Lượt đọc: 7 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3

❊ ❊ ❊

1

Anh biết thời đại học chị gái vẫn rất vui vẻ.

Chị học khoa Cơ khí Nông nghiệp thuộc Học viện Nông nghiệp Đông Bắc. Ở Cáp Nhĩ Tân. Trong những bức ảnh gửi về nhà, hậu cảnh có "tòa nhà máy bay" của học viện, tức là hình dáng tòa nhà nhìn từ trên cao xuống trông như một chiếc phi cơ khổng lồ, giương rộng hai cánh lớn. Vào thời đại ấy, kiểu kiến trúc phong cách Liên Xô như thế tự nó đã là một biểu tượng của ánh sáng và hy vọng. Trong học viện có chuyên gia Liên Xô, sinh viên năm trên nghe chuyên gia trực tiếp giảng bài bằng tiếng Nga. Lúc thực tập đương nhiên đều học lái máy kéo, chị gái tự nhiên cũng có bức ảnh thò đầu ra khỏi buồng lái máy kéo cười rạng rỡ — về sau cả nhà mới hiểu ra rằng lái máy kéo là một việc tương đối đơn giản, nhà nước mở trường đại học như thế, đặt chuyên ngành như thế, mời chuyên gia như thế không phải để đào tạo mấy tay lái máy kéo, mà là đào tạo một lứa nhân tài cao cấp có thể thiết kế, chỉ đạo chế tạo máy kéo cũng như vận dụng tổng thể máy móc nông nghiệp. Sau khi tốt nghiệp đại học, chị lại học thêm hai năm nghiên cứu sinh, do chuyên gia Liên Xô đích thân làm người hướng dẫn.

Ngoài giờ học, chị và các bạn hát "Bé ngoan", hát "Hoa hòe bao giờ nở", hát "Nửa vầng trăng nhô lên", hát "Katyusha", hát "Hoa thù du nở rộ", hát "Cỗ xe tam mã", cũng hát "Bảo bối", hát "Ha! Vạn Long", hát "Ôi, mẹ ơi"... Hơn nữa trong trường còn thịnh hành chơi đàn guitar, kiểu gảy Hawaii, cây guitar rất to, phải đặt trên bàn, khi gảy phải đeo bao ngón, dùng thanh kim loại tròn miết dây... Chị vẫn giữ biệt danh hồi trung học là "Bím Tóc Nhỏ", tết hai bím tóc dài đen dày, đuôi sam buộc nơ bướm bằng dải vải màu sặc sỡ, hè đến chị cùng nhiều nữ sinh lập tức đổi sang mặc váy liền thân kiểu Nga hoặc áo sơ mi váy ngắn; dạo ấy mỗi dịp cuối tuần trường đều mở dạ hội khiêu vũ, nhảy những điệu giao lưu đoan chính, đúng mực... Có một lần dạ hội kết thúc, một cậu bạn học đeo kính khoa khác thầm thương trộm nhớ chị đã không kìm lòng được mà đuổi theo chị, đó là kiểu đuổi theo của thập niên 50, cậu ta giữ khoảng cách hai ba mươi bước, giả vờ vô tình nhưng lại bám riết không tha, mưu toan tìm một góc khuất khỏi đám đông và những ánh mắt thừa thãi để lao lên thổ lộ tấc lòng với chị... Cậu ta đã lén gửi cho chị mấy bức thư tình, trút nỗi lòng như lửa đốt dầu sôi ngoài rặng cây bên cửa sổ mỗi khi nghe tiếng đàn guitar của chị từ ký túc xá vang lên bản "Ôi, mẹ ơi" và các khúc ca khác... Trong "tòa nhà máy bay" của nông viện có một chiếc cầu thang xoắn ốc, chị men theo cầu thang xoắn ốc né tránh đi lên, kẻ si tình kia đuổi theo đường xoắn ốc lên trên, nhưng rốt cuộc người đó vẫn ôm hận nơi chiếu nghỉ, bởi vừa khéo có một đám người từ tầng trên cùng đi xuống, chị liền lẩn vào đám người đó, sờ sờ ngay trước mắt lướt qua người kia trở lại tầng trệt, rồi biến mất giữa biển người mênh mông hơn...

Anh biết, khi ấy chị thuộc về anh Đạt Dã. Dẫu vì chị lên Cáp Nhĩ Tân học, mỗi năm chỉ có thể về Bắc Kinh sum họp cùng anh Đạt Dã vào kỳ nghỉ đông và nghỉ hè, nhưng thư từ qua lại giữa hai người vô cùng dồn dập và đúng hẹn.

Cứ nghỉ là chị về Bắc Kinh, thường còn dẫn theo ba bốn hoặc thậm chí bốn năm cô bạn cùng lớp hay cùng khoa, nhà họ ở phương Nam xa hơn, phải chuyển tàu ở Bắc Kinh hoặc nhân tiện muốn tham quan Bắc Kinh một chút, không đủ tiền ở nhà trọ cũng chẳng có người thân thích để nương nhờ, bèn được chị đưa về nhà mình. Gian ngoài nhà anh liền dùng hai tấm phản ghép thành một chiếc giường lớn, buổi tối chị ngủ chen chúc cùng chúng bạn, thường là phải nằm ngang, gác chân lên ghế đặt cạnh mép giường mới đủ chỗ, còn anh và người anh ba học đại học ở ngoại thành gặp cảnh ấy đành phải vào buồng trong của bố mẹ kê tạm chỗ nằm, dẫu vậy cả nhà anh chẳng hề có chút phiền hà nào với bạn bè của chị, còn phần lớn các bạn ở lại cũng rất tự nhiên, ca hát, đùa cười. Có một lần, một cô bạn béo lùn người Phúc Kiến, nửa đêm lăn vào lòng chị nũng nịu làm nũng: "Ái dà, Doanh Ba, mình đau bụng, đau bụng quá..." Đêm đó những người bạn trọ khác đều mua được vé tàu rời đi rồi, gian ngoài chỉ còn chị và cô bạn đang phát ra tiếng rên rỉ: "Doanh Ba, mình đau bụng quá nè —", chị đành phải bò dậy tìm thuốc cho cô ta uống... Chẳng hiểu sao, tiếng "Doanh Ba, mình đau bụng quá nè —" vọng qua tấm rèm cửa ấy lại để lại ấn tượng sâu sắc cho anh và anh ba lớn hơn chị một tuổi ở gian trong. Nhiều năm sau, anh và anh ba vẫn bắt chước cái giọng nũng nịu rên rỉ ấy trước mặt chị: "Doanh Ba, mình đau bụng quá nè —". Lần đầu bắt chước chị cười khanh khách, sau đó chỉ mỉm cười, rồi sau nữa nét mặt dửng dưng, sau sau nữa có một bận anh và anh ba lại nhắc đến chuyện này, chị bực bội nói: "Bạn nào? Ai cơ? Đau bụng gì chứ? Mấy người thật vô vị!"

2

Quá trình phân công tốt nghiệp của đám chị gái kể ra cứ như một câu chuyện cổ tích. Thời ấy người ta thật sự tranh nhau đi đến những nơi gian khổ nhất, đến những nơi tổ quốc cần nhất, có lẽ trong lòng ai đó có tâm lý sợ khó khăn, có những nỗi bất đắc dĩ, nhưng biểu hiện ra bề ngoài quả thực là chen nhau chọn những nơi như Tây Tạng, Thanh Hải, Ninh Hạ, Cam Túc, Tân Cương, Quý Châu. Không chỉ có thế, trong suốt 6 năm học tập và sinh hoạt, một vài cặp nam nữ đã tự nhiên xác định quan hệ yêu đương, thế là nếu tỉnh nào, nơi nào, đơn vị nào vừa vặn cần hai chỉ tiêu tốt nghiệp, mọi người nhất định sẽ nhường họ chọn trước, các đôi các cặp chọn xong còn thừa lại mới đến lượt người độc thân chọn, chẳng hề xảy ra xích mích, thậm chí chưa từng xuất hiện lấy một mầm mống cãi cọ hay giằng co nào, việc phân công diễn ra vô cùng suôn sẻ, rồi ai nấy đường ai nấy đi.

Năm đó Bắc Kinh không có chỉ tiêu, ai cũng biết chị có anh Đạt Dã đang đợi ở Bắc Kinh nên đều không để chị đi nơi xa, mà chị lại chủ động từ bỏ Thiên Tân, vì Thiên Tân có hai chỉ tiêu, vừa hay có một đôi bạn thi từ Thiên Tân lên, lẽ ra nên để họ về lại Thiên Tân, vậy là chị về dạy học tại một trường chuyên khoa nông nghiệp ở Hà Bắc.

Chị không còn xem cuộc sống là một đóa hồng đang hé nở, không còn vui tươi, không còn nghe thấy chị hát "Bé ngoan" hay bất cứ bài hát nào khác, không còn gảy đàn guitar, và khi sum họp cùng người nhà không còn nói năng hoạt bát nữa, tất cả đều bắt đầu từ sau khi chị đến ngôi trường chuyên khoa ấy.

Rất lâu sau, chị từng nói chuyện với anh một lần, lúc ấy anh cũng đã đi làm, không nhớ rõ là vì nguyên cớ gì, tóm lại chị đã tâm sự với anh, anh vỡ lẽ ra rằng chị chính là người nguội lạnh triệt để sớm nhất trong tất cả mọi người của dòng họ.

Trường chuyên khoa nông nghiệp đó cơ sở vật chất rất đơn sơ, điều kiện sống vô cùng kham khổ, điều này đối với chị vốn chẳng thấm tháp gì, chị từng đọc tiểu thuyết Liên Xô "Nơi xa Mát-xcơ-va", chị từng chuẩn bị tư tưởng cho một nơi xa Bắc Kinh hơn, gian khổ hơn, và ngọn lửa thanh xuân của chị vốn dĩ cũng nhất định có thể chiến thắng sự hẻo lánh của vùng miền và sự kham khổ của cuộc sống... Lý do khiến chị nguội lạnh đi là vì chị đột ngột chạm mặt với vuốt sắc cuộc đời và sự dữ tợn của nhân tính đang ập thẳng vào mặt...

Đó là một ngôi trường chuyên khoa nhỏ bé, cán bộ giảng viên cộng lại chỉ có chừng trăm người, sau khi chị đến trình diện, lần đầu tiên xuống nhà ăn lấy cơm, gặp các giáo viên khác đương nhiên đều lắc lắc bím tóc vui vẻ chào hỏi, thế nhưng vừa rửa xong cặp lồng cơm về tới ký túc xá, cô Vương cùng phòng được phân công đến trước chị hai năm liền căng thẳng bảo chị: "Em không được làm thế! Sao em lại có thể chào hỏi phần tử phái hữu, lại còn ngồi ăn chung, nói nói cười cười..." Chị giật thót, vội hỏi thăm cô ta xem những ai là phần tử phái hữu, rồi khắc sâu vào lòng: ông lão trông hiền từ nhân hậu kia là một, người phụ nữ béo mặc áo vá chằng vá đụp luôn đội chiếc mũ đồng phục cũ cắt tóc ngắn kia là một, người mặt trắng trẻo đeo kính kia là một, người trông như nông dân vóc dáng thô kệch vốn dạy môn chính trị thế mà cũng là một...

Khi chị mới tới trường, phong trào chống phái hữu vừa quét qua đợt thứ nhất, chưa dạy hết một học kỳ thì liền có đợt thứ hai, đợt thứ ba, kinh tâm động phách nhất là cô Vương cùng phòng có một hôm trong đại hội phê phán các phần tử phái hữu khác cũng bị lãnh đạo trường điểm tên, tuy chưa lập tức tuyên bố cô là phái hữu, nhưng điều đó chẳng khác nào một bản án tử hình về mặt chính trị. Tan họp về phòng, chị không biết nên nói chuyện với cô ta hay không nên nói chuyện, còn khuôn mặt cô Vương không chỉ biến thành màu xám bẩn như cái giẻ lau, mà gần như chẳng dám để ánh mắt chạm vào chị, hai người cùng chung một phòng, chỉ có sự tĩnh lặng như nấm mồ... Tim chị đập thình thịch, bước ra khỏi ký túc xá, mang tâm trạng cầu cứu đi tìm vị lãnh đạo trường, một gã đàn ông cao gầy, mí mắt phải có vết sẹo, hàm răng ố vàng, hỏi ông ta mình phải sống chung với cô Vương thế nào. Gã đàn ông lớn tiếng chỉ thị cho chị: "Giám sát nhất cử nhất động của cô ta, bất cứ lúc nào cũng phải vạch trần báo cáo với tổ chức!" Chị từng bước một như thể mắt cá chân bị đeo chì lê về ký túc xá, thầm nghĩ: Cô Vương là người rất tha thiết muốn cách mạng cơ mà, lời ăn tiếng nói trước kia của cô ấy mình không biết, nhưng từ ngày về trường đến nay lời nói hành động của cô ấy mình thật sự không bới ra được vấn đề hữu khuynh nào, vả lại từ hôm nay cô ấy căn bản chẳng còn lời ăn tiếng nói hành động gì nữa, mình vạch trần báo cáo cô ấy kiểu gì đây?... Chị tới trước cửa ký túc xá, đẩy cửa ra — chị thốt lên một tiếng thét thất thanh không sao kìm nén nổi...

Cô Vương ấy vốn dạy môn kỹ thuật điện, cô đã dùng một phương pháp vạn phần chuẩn xác hoàn toàn đúng nguyên lý điện học để giật điện tự sát, khuôn mặt đông cứng vẻ kinh hoàng và đau đớn tột cùng của cô như một tia sét sắc lẹm, đánh vỡ tan trụ cột tinh thần được dệt nên bởi những thứ như "Cuộc sống hạnh phúc" trong lòng chị. Có lẽ ngay khoảnh khắc ấy, thời thanh xuân thuần khiết của chị đã chấm dứt, trong thâm tâm chị sau này rốt cuộc còn lại những gì, đã trở nên sâu không lường được, còn thứ lộ ra bên ngoài, lại là sự trầm tĩnh và lạnh lùng sau một phen lạnh buốt thấu xương.

Mãi đến năm 1960 khi chuyển khỏi ngôi trường chuyên khoa nhỏ bé ấy, chị rốt cuộc không bị quy thành "phái hữu" hay diện trù bị "phái hữu" (phái hữu khống chế nội bộ), theo lời chị kể lại sau này, quả thực phải coi là một kỳ tích. Bởi vì về sau, gã đàn ông cao kều chủ trì việc trường kia căn bản chẳng cần anh phải có biểu hiện phát ngôn gì, gã cứ như ra vườn rau nhổ hành hoa vậy, cần mấy cọng thì nhổ bấy nhiêu cọng... Gã nhổ "hành hoa" phái hữu theo chỉ tiêu cấp trên quy định, vả lại do bản thân gã có một niềm đam mê đặc biệt với việc nhổ "hành hoa", nên gã còn cố hết sức vượt chỉ tiêu. Đáng sợ hơn là dẫu toàn trường có hơn trăm cán bộ công nhân viên, tính ra theo ước tính kẻ địch chỉ chiếm một, hai, ba hoặc cùng lắm là năm phần trăm thì xác suất bị nhổ chỉ có một phần hai mươi, nhưng gã lại chỉ chăm chăm dán mắt vào chừng hai mươi trí thức có trình độ đại học, cho nên chị nằm trong phạm vi này, xác suất bị nhổ vọt lên tới một phần tư...

Những năm ấy chị luôn sống trong một nỗi kinh hoàng tột độ trong tâm can, vậy mà lúc họp hành, lúc lên lớp, lúc lao động, thậm chí lúc đi đường, ăn cơm, đi vệ sinh đều không được để lộ chút dấu vết nội tâm nào qua nét mặt, lời nói hay cử chỉ. Chị nhớ có một buổi hoàng hôn, chị xách phích nước nóng lấy xong đi về ký túc xá, trên con đường nhỏ nhìn thấy gã đàn ông cao kều chủ trì việc trường đang đứng cách hai mươi bước trò chuyện với cán bộ nhân sự, chị không kìm được liếc nhìn sang, mà vị lãnh đạo tay gõ tàn thuốc, để lộ hàm răng vàng khè phả khói thuốc cũng vừa vặn liếc nhìn chị một cái. Trong khoảnh khắc hai ánh mắt giao nhau ngắn ngủi ấy, tim chị thắt lại một cái dữ dội, bởi vì chị cảm thấy đối phương rõ ràng mang ánh mắt của một tên đồ tể đang đo lường độ béo gầy. Về sau chị kể lại chi tiết này với anh đã nhiều lần thanh minh, chị nói đồ tể không phải một phép ẩn dụ, không mang màu sắc phản kháng hay lên án, thậm chí không mang nghĩa xấu, đó là chỉ người đồ tể như một nghề nghiệp chính đáng, người đồ tể như thế vốn dĩ nên có ánh mắt mang tính nghề nghiệp như thế. Chị thấy kinh sợ là vì tự đáy lòng chị cảm thấy bản thân với tư cách là một người tốt nghiệp đại học (không chỉ cử nhân mà còn là nghiên cứu sinh) mang tội nghiệt quá nặng nề, hoặc đổi một cách ví von, chị tự biết mình là cọng hành đã lỡ mọc quá to béo trong vườn rau, người muốn nhổ nhìn nó một cái không có nghĩa là tội ác, mà chính bản thân nó phải hiểu sâu sắc rằng số phận của nó vốn dĩ phải là như thế...

Nay ngẫm nghĩ kỹ lại, anh đã hiểu vì sao chị vào những kỳ nghỉ về nhà ở Bắc Kinh lại ít nói kém vui, vì sao làm bất cứ việc gì cũng thiếu hứng thú, vì sao buổi tối ngâm chân nước đã nguội ngắt từ lâu mà chị vẫn ngồi trên chiếc ghế đẩu nhỏ, hai khuỷu tay chống trên đầu gối, hai tay đỡ cằm, cứ ngồi ngây ra như thế rất lâu...

Trong bối cảnh xã hội lớn, hoàn cảnh xã hội nhỏ mà mỗi người trải qua lại chẳng hề giống nhau, tựa như sau một trận mưa rào, có nơi đọng nước rất sâu, nhiều ngày không cạn, có nơi biến thành bùn lầy lội, nhưng có nơi lại chỉ ẩm ướt một lúc rồi nhanh chóng khô ráo như cũ... Anh nhớ, viện thiết kế của chị họ Điền Nguyệt Minh dường như không đáng sợ đến thế, ít nhất từ cách ăn nói và tâm trạng của chị họ có thể nhận thấy bản thân chị ấy không có cảm giác khủng hoảng gì, cũng có thể tiếp nhận những chuyện xảy ra trong viện một cách khá thong dong. Có một ngày chủ nhật chị ấy lại lắc la lắc lư đến nhà cậu mợ, anh và mẹ — tức mợ của chị ấy — đều nói: "Khéo thật khéo, Băng Long Trân vừa mới về..." Chị ấy liền tỏ vẻ chẳng có gì lạ mà nói: "Sao, tự nó nói à? Mọi người vẫn chưa biết sao? Sao nó vẫn còn chạy sang đây? Trường của nó đã quy nó thành "phái hữu" rồi đấy!" Nói xong lại cười hì hì chuyển sang chuyện khác, đòi mợ lấy thịt kho và dưa muối cho ăn. Sau này hồi tưởng lại cảnh tượng ấy, anh vô cùng kinh ngạc, kinh ngạc không chỉ vì Băng Long Trân, mà càng vì chị họ Điền Nguyệt Minh, đối với phong trào chống phái hữu, đối với việc người bạn đồng hương, bạn học chơi thân với nhau bao nhiêu năm bị quy thành "phái hữu", chị ấy chẳng hề thấy kinh ngạc hay tiếc nuối, đương nhiên chị ấy cũng không tích cực lao vào đấu tranh hay từ đó thật sự nhìn Băng Long Trân bằng con mắt khác, chị ấy có hoàn cảnh cụ thể của mình, và có thiên tính đặc thù để ứng phó với hoàn cảnh ấy...

Cúc Cầm hồi đầu phong trào chống phái hữu từng bị hai tờ báo chữ lớn phê phán, nhắm vào một câu phát ngôn của chị, là câu gì anh không nhớ rõ, tóm lại chị Cúc Cầm lại có trải nghiệm và cách ứng phó của riêng mình. Chị thản nhiên đối mặt với hai tờ báo chữ lớn đó, nhớ có một bận chị tặng vé cho cả nhà anh đi xem đoàn văn công biểu diễn, rạp hát rất gần nơi đóng quân của đoàn, diễn xong chị liền dẫn cả nhà anh sang đoàn văn công, dắt thẳng mọi người tới trước hai tờ báo chữ lớn ấy, trước mặt người trong đoàn, chị nói một cách vô cùng tự nhiên: "Phê phán đúng lắm! Tiếng chuông cảnh tỉnh gõ thật kịp thời! Mọi người cùng xem đi, cùng giúp đỡ và giám sát tôi nhé!" Kết quả ngọn lửa chống phái hữu chỉ bén vào người chị đúng một chút xíu ấy, phong trào qua đi chị bình an vô sự, lại còn được kết nạp Đảng sau đó vài năm. Khi chị gái của anh đã nguội lạnh đi thì Cúc Cầm vẫn cứ hớn hở tươi vui, ôm ấp nhiệt huyết không hề suy giảm, hoặc chí ít là sự ấm áp đối với xã hội và cuộc đời. Đương nhiên mãi sau này anh mới biết, kỳ thực tận sâu trong lòng Cúc Cầm cũng luôn cuộn trào những đợt sóng hoang mang.

Anh và bố mẹ cho đến tận trước khi Điền Nguyệt Minh chạy tới vạch trần, thật sự không hề biết Băng Long Trân đã sa lầy ngay từ đầu phong trào chống phái hữu. Băng Long Trân đúng là có những phát ngôn dông dài trong đợt "minh phóng" (trăm hoa đua nở), lại còn có liên quan đến một tờ tạp chí in thạch dân gian nào đó của trường đại học lúc bấy giờ, căn cứ vào hệ quy chiếu chính trị khi đó, quy cô làm phái hữu thì chẳng oan chút nào, cho nên cuộc đấu tranh ấy phản chiếu vào nội tâm cô, e rằng không phải nỗi kinh hoàng vô tội như của chị gái, mà là những cảm xúc khác... Trước khi bị chị họ Điền Nguyệt Minh vạch trần, cô quả thực có phần kỳ quặc, dạo ấy cô không chỉ chủ nhật nào cũng từ khu ngoại thành phía tây đến nhà anh từ sáng sớm tinh mơ, mà bao giờ cũng phải ăn xong cơm tối mới chịu về trường, chơi ròng rã cả ngày. Vả lại anh nhớ mồn một, ngày 1 tháng 10 năm ấy, anh với tư cách là Đội viên Thiếu niên Tiền phong tham gia diễu hành về đến nhà, phát hiện Băng Long Trân đã ngồi sẵn ở nhà mình rồi. Đội ngũ Đội viên Thiếu niên Tiền phong bao giờ cũng được duyệt trước, qua Thiên An Môn trước cơ mà, đội ngũ diễu hành của các trường đại học còn xếp mãi phía sau, sao cô ấy đã diễu hành xong và đến nhà anh từ sớm thế? Mẹ bày ra một bàn đầy thức ăn ngày lễ, mọi người vào chỗ thưởng thức, anh hỏi tới, Băng Long Trân mới thừa nhận mình đã rút lui khỏi đội ngũ diễu hành từ sớm vì thấy trong người hơi khó chịu... Đến giờ anh vẫn nhớ cách ăn mặc của Băng Long Trân vào ngày Quốc khánh năm đó, cô mặc một chiếc áo khoác dạ màu cà phê rất đẹp, trên cổ áo cài một chùm hoa lụa màu hồng phấn thanh nhã, mái tóc ngắn chải chuốt gọn gàng, trên đỉnh đầu còn thắt một dải ruy băng sa-tanh hồng phấn, đúng là kiểu trang phục chỉ khi đón tết và tham gia đại lễ mới có. Thế nhưng thực chất khi ấy khoa của cô ở trường đã mở biết bao cuộc họp phê phán cô, cô đã bị gọi là "phần tử phái hữu tư sản", chỉ là chưa chính thức tuyên bố đội mũ chụp mũ mà thôi... Phải nói rằng Băng Long Trân khi ấy vẫn còn khá kiềm chế, cô vẫn có thể tìm cho mình một bến đỗ bình yên như nhà anh, vẫn có thể trấn tĩnh tự nhiên không để lộ dấu vết trước mặt người nhà anh, vẫn có thể ăn mặc như thế kia, và khéo đâu cô thật sự định diễu hành theo đoàn, không phải vì cơ thể khó chịu mà là bị quần chúng cách mạng đuổi ra khỏi hàng ngũ diễu hành mới dạt đến nhà anh... Tóm lại, dẫu thế nào đi nữa, muôn vàn biến đổi và giày vò trong nội tâm cô lúc đó lại thuộc về một trường hợp khác so với chị gái...

Chị gái trong phong trào chống phái hữu không phải chịu đòn tấn công trực diện, sự việc trôi qua chị vẫn trong sạch như chị họ Điền Nguyệt Minh, thế nhưng trạng thái tinh thần và cấu trúc tâm lý của chị từ sau bận ấy đã có một sự thay đổi to lớn...

Trước khi chị tốt nghiệp đại học được phân công về Hà Bắc chuẩn bị đi nhận công tác, có một hôm chị họ Điền Nguyệt Minh, chị kết nghĩa Cúc Cầm, bạn học Băng Long Trân, bốn người phụ nữ thanh xuân ấy đứng dưới cây hợp hoan ngoài nhà anh, được anh hai chụp cho một bức ảnh. Bốn người phụ nữ trên ảnh thật như bốn đóa hồng đang cố xòe hết cánh hoa tròn trịa, chị họ Nguyệt Minh kiều diễm như minh tinh màn bạc, chị Cúc Cầm sảng khoái hào phóng phong thái đường hoàng, Băng Long Trân ra dáng một nữ giáo sư đĩnh đạc, duy chỉ có chị gái, một bím tóc dài buông trước ngực, một bím tóc vắt sau lưng, hai bàn tay như không biết để vào đâu bèn đan chéo dưới eo chiếc váy liền thân, vẫn chưa thoát hết vẻ học trò...

Sau khi Băng Long Trân bị đánh thành phái hữu, chị gái và chị Cúc Cầm đều chủ động đốt bức ảnh ấy đi, chị họ Nguyệt Minh thì chọn cách cắt bỏ bóng dáng Băng Long Trân ở góc mép, duy chỉ có Băng Long Trân là giữ mãi bức ảnh ấy. Rất nhiều năm sau, anh nhìn thấy bức ảnh ố vàng đó ở nhà Băng Long Trân, cô lẩm bẩm chỉ vào hình bóng mình trên ảnh nói: "Hai mươi ba tuổi, mới hai mươi ba tuổi thôi..."

Sau khi thấy bức ảnh cũ ấy ở nhà Băng Long Trân, anh từng nhắc với chị gái, chị lạnh lùng bảo: "Hai mươi ba nỗi gì, Băng Long Trân hồi trung học đã khai bớt tuổi rồi, năm đó chị ta phải hai mươi lăm."

3

Năm đó vào kỳ nghỉ hè diễn ra phong trào đại luyện gang thép, chị gái được chỉ định thiết kế lò cao nhỏ, có thời hạn phải luyện ra sắt, chị không thể về Bắc Kinh. Chị viết thư bảo anh Đạt Dã đến thăm, anh Đạt Dã hồi âm bảo cơ quan của anh ấy cũng phải đại luyện gang thép — lúc đó anh ấy đã chuyển sang làm phó trưởng phòng của một phòng thuộc Phòng Giáo dục quận, anh ấy thật sự không dứt ra được, đề nghị đợi "sau khi có tin thắng trận 1070 hẵng hay". 1070 là con số mà già trẻ gái trai cả nước thời ấy đều biết rõ, tức là toàn dân ta phải đồng loạt ra quân, dùng phương pháp thủ công, ngày đêm dốc sức, tranh thủ vượt sản lượng gang thép của nước Anh trong thời gian sớm nhất, chỉ tiêu gang thép "vượt Anh đuổi Mỹ" đó là 10,7 triệu tấn. Khi ấy không riêng gì anh Đạt Dã, mà từ trên xuống dưới biết bao nhiêu người đều tràn trề niềm tin cho rằng đạt tới chỉ tiêu này chẳng cần nhiều thời gian, thậm chí một năm nửa năm là thực hiện được.

Thế nhưng khi kỳ nghỉ hè sắp cạn, anh Đạt Dã đột nhiên đi Hà Bắc, đến ngôi trường chuyên khoa nông nghiệp của chị. Anh ấy không báo trước cho chị, xuất hiện vô cùng đột ngột.

Sự xuất hiện từ trên trời rơi xuống của anh Đạt Dã hẳn đã khiến chị vui mừng khôn xiết. Cảnh tượng lúc mới gặp gỡ, ít nhất từ phía chị tôi có thể mường tượng được. Nhưng về sau dường như không ổn. Không ổn thế nào, chi tiết đến nay vẫn là một bí mật sâu kín.

Chị gái về sau chỉ kể cho tôi một chi tiết, đó là khi anh Đạt Dã tới thăm chị có mang theo một ít đồ ăn, trong đó có hai hộp hoa quả đóng hộp, chính là loại hộp thủy tinh béo nắp sắt đến nay vẫn còn bán. Vào cái thời đó, đây là loại thực phẩm rất hiếm hoi, đắt đỏ và cao cấp. Chị nhận lấy vô cùng mừng rỡ, cảm kích và trân quý, nhưng ở nơi nghèo nàn ấy chị nhất thời không lấy ra được thứ gì để chiêu đãi anh Đạt Dã, bèn buột miệng bảo: "Hay là anh ăn một hộp dứa ngâm đường nhé", không ngờ anh Đạt Dã lại dựa lưng vào ghế, buông một câu: "Được, em mở một hộp đi!" Chị mang tâm trạng bất ngờ ngoan ngoãn mở một hộp dứa ngâm đường cho anh ấy, anh Đạt Dã đón lấy ngay, lại còn không chút do dự cầm lấy chiếc thìa sắt chị đưa sang, thản nhiên dùng thìa sắt múc từng miếng dứa đưa vào miệng, chẳng mấy chốc vừa chuyện trò vừa ăn sạch bách chỗ dứa trong hộp, chỉ thiếu nước bưng cả hộp lên húp cạn chỗ nước đường bên trong, mà trong suốt quá trình đó, anh Đạt Dã chẳng hề có mảy may ý tứ mời chị cùng ăn...

Tôi trong một thời gian rất dài đều không hiểu được, ít nhất là không hiểu một cách sâu sắc, tại sao chị lại canh cánh trong lòng mãi chuyện anh Đạt Dã ăn mất một trong hai hộp hoa quả đóng hộp do chính anh ấy mang tới...

Nghe nói chuyến ghé thăm đột ngột lần đó của anh Đạt Dã trông có vẻ bồn chồn bất an, lại còn bực bội buồn bực, nhưng anh ấy lại đòi chị phải nhanh chóng đồng ý, Quốc khánh năm đó về Bắc Kinh cưới anh ấy. Đó lẽ ra phải là lời cầu hôn mà chị mong mỏi bấy lâu, thế nhưng chị lại từ chối, đương nhiên không phải từ chối cưới anh Đạt Dã, mà là từ chối cái kỳ hạn cưới đột ngột bị giới hạn như một tối hậu thư ấy...

Anh Đạt Dã ngủ nhờ một đêm trong ký túc xá giáo viên nam của trường, chiều hôm sau liền rời đi. Toàn thể cán bộ nhân viên trong trường phen này đều biết chị đã có một vị hôn phu ở Bắc Kinh. Nhưng chỉ có bản thân chị mới hiểu rõ, chính sau bận đó, thư từ giữa hai người đã nảy sinh vấn đề, hoặc là chị gửi thư đi rất lâu mà anh Đạt Dã khác thường bặt vô âm tín, hoặc là có hồi âm nhưng hoàn toàn mất đi sự nồng nhiệt và yêu thương thuở nào...

Sau khi nếm trải cú sốc kinh hoàng đến từ chính trị, chị lại nếm trải cú sốc kinh hoàng đến từ tình cảm... Chị kinh hãi nhận ra rằng, ngay cả đóa hoa mối tình đầu tưởng chừng vững như bàn thạch giữa chị và anh Đạt Dã cũng hoàn toàn có thể đột ngột héo tàn rơi rụng, chẳng thể kết trái đơm hoa... Trước Tết năm sau chị về Bắc Kinh, cuộc đời phơi bày trước mắt chị một phương diện còn tàn khốc hơn, hơn nữa lại rõ ràng mười mươi — anh Đạt Dã thừa nhận với chị, đã được 3 năm rồi, nghĩa là ngay từ trước khi chị tốt nghiệp Học viện Nông nghiệp Đông Bắc, một cô giáo dạy văn cấp hai đã theo đuổi anh ấy. Cô giáo đó biết làm thơ, biết đánh đàn piano, ban đầu anh từ chối, anh né tránh, nhưng rốt cuộc chị luôn ở nơi xa, còn nàng Tây Thi biết làm thơ và đàn hát kia lại ở ngay Bắc Kinh, có thể xuất hiện bên cạnh bất cứ lúc nào, anh rốt cuộc đã bị cô ta đánh gục, anh từ cảm động sinh ra hảo cảm rồi đáp lại ân tình mà cũng đem lòng yêu cô ta...

Việc anh Đạt Dã đột ngột chạy tới ngôi trường chị dạy ở Hà Bắc là một biểu hiện của sự giằng xé nội tâm, anh ấy có cảm giác áy náy thậm chí là cảm giác tội lỗi với chị, anh biết mình đã không còn thực sự yêu thương chị nữa, nhưng anh phải tiếp tục yêu chị, và phải thực hiện một nghĩa vụ dường như đã được định sẵn từ lâu là kết hôn với chị. Thế nhưng khi anh đề nghị cưới vào dịp Quốc khánh năm ấy, vạn lần không ngờ lại nhận được sự cự tuyệt đầy kiêu hãnh của chị, thế là trở về Bắc Kinh, anh càng lún sâu vào lưới tình do những vần thơ và nốt nhạc của cô giáo dạy văn kia dệt nên...

Những điều thiêng liêng và tốt đẹp trong lòng chị đã vỡ vụn quá nhiều rồi!

Trước khi trở lại Hà Bắc vào kỳ nghỉ đông năm ấy, chị đã có một hành động kinh người: trong tình trạng không hề báo trước với anh Đạt Dã, chị đột ngột đến văn phòng của anh trước giờ tan sở ở Phòng Giáo dục, lại còn mang theo bánh nướng kẹp thịt đầu heo và hoa quả. Trước mặt cấp trên cấp dưới của anh Đạt Dã, cứ như thể chị và anh Đạt Dã đã hẹn ước từ lâu, chị bảo muốn ở lại văn phòng cùng anh uống nước trà ăn bữa tối, rồi buổi tối cùng đi xem đêm dạ hội ca múa của đoàn văn công bên Cúc Cầm.

Đồng nghiệp của anh Đạt Dã đều về hết, anh Đạt Dã và chị ở lại trong căn phòng làm việc ấy rất lâu, rất lâu, họ chẳng hề ăn chỗ đồ ăn kia, càng không đi xem đêm diễn ca múa nào.

Anh Đạt Dã từng nói những lời như thế này: "Đừng cứ ở mãi đây, có người trực đêm đấy, đừng để gây ảnh hưởng không tốt..."

Chị gái từng nói những lời như thế này: "Anh chạy tới trường chúng tôi ở Hà Bắc, đã gây cho tôi ảnh hưởng thế nào? Anh bỏ rơi tôi, tôi trở về trường làm sao mà ngẩng mặt lên làm người?"

Không còn là tâm sự yêu đương nữa.

Nó biến chất thành một cuộc đàm phán quái đản.

Chị dùng tình cảm để lay động, dùng lý lẽ để thuyết phục, dùng đạo nghĩa để ràng buộc anh Đạt Dã.

Đáng thương nhất là lại còn phải dùng tình cảm để lay động. Chị vuốt ve bàn tay anh Đạt Dã đặt trên bàn, lại còn thuận thế nép vào lồng ngực anh...

Thế nhưng anh Đạt Dã lại tàn nhẫn khẽ đẩy chị ra. Anh nói với chị, không còn đường cứu vãn nữa, anh chuẩn bị kết hôn với cô giáo dạy văn kia, anh thừa nhận mình có tội với chị, anh nói trong lòng anh rất đau khổ, anh khẩn cầu chị tha thứ...

Đêm đó về đến nhà, chị trở nên lạnh lùng và nghiêm nghị hơn. Không có nước mắt, không có lời nói, không có biểu cảm, chị lặng lẽ rửa mặt chải đầu, lặng lẽ nằm xuống, nhưng suốt một đêm không hề chợp mắt, ngửa mặt nhìn lên trần nhà, trong lòng chỉ tràn ngập một ý nghĩ lạnh băng và cứng rắn: Mình nhất định phải tìm một đối tượng khác ở Bắc Kinh, chỉ có như vậy mình mới có thể trốn chạy khỏi ngôi trường chuyên khoa nông nghiệp đáng sợ kia.

Từ đó anh Đạt Dã biến mất khỏi nhà tôi.

Đối với tôi, anh ta cũng chẳng còn là anh gì nữa, anh ta là một kẻ mang họ Đạt Dã, một kẻ xa lạ chẳng có nửa điểm can hệ tới tôi.

4

Đạt Dã biến mất.

Anh Dũng bước vào cuộc đời chị gái, đồng thời trở thành một thành viên trong gia tộc chúng tôi.

Anh Dũng là do Cúc Cầm giới thiệu cho chị. Nói chính xác hơn, là do Cúc Cầm và người bạn đời của chị ấy là Thường Diên Mậu cùng giới thiệu cho chị.

Thường Diên Mậu thuộc đội ca kịch trong đoàn văn công. Tuổi tác anh khi ấy chưa lớn, nhưng đạo diễn phân vai lại toàn giao cho anh đóng vai ông già, có lẽ vì giọng anh cơ bản thuộc tông trầm, lại thêm khí chất chững chạc; mỗi khi lên sân khấu hóa trang khá phiền phức, vì cứ phải dán râu, vẽ nếp nhăn các thứ, dần dà da mặt anh trở nên thô ráp vô cùng, dưới sân khấu lúc không hóa trang trông dáng vẻ cũng luôn già dặn hơn tuổi thật; trước khi cưới Thường Diên Mậu ở phòng ký túc xá độc thân hai người, bạn cùng phòng của anh chưa từng đổi bao giờ, chính là Khuất Tấn Dũng. Khuất Tấn Dũng lớn hơn Thường Diên Mậu mấy tuổi, tòng quân sớm — năm 1945 Đông Bắc vừa giải phóng là anh đã nhập ngũ, trước khi nhập ngũ từng làm chân chạy việc trong cửa hiệu, trước đó nữa thì ở nông thôn giúp cha anh làm thuê làm mướn cho địa chủ; sau khi nhập ngũ thoạt đầu làm hậu cần một thời gian, về sau nhờ đạo diễn đoàn văn công trong một dịp tình cờ đã nhìn trúng diện mạo vạm vỡ, hào sảng đậm chất công nông của anh, lại nghe anh nói vè đếm thẻ rất cừ bèn thu nhận anh vào đoàn văn công, từ diễn những tiết mục nhỏ đơn giản đến diễn nhị nhân chuyển rồi diễn ca kịch ngắn, cho tới khi được điều về đoàn văn công lớn ở Bắc Kinh diễn đại ca kịch. Anh từng bước trở thành diễn viên không thể thiếu trong đoàn ca kịch — tuy giọng hát không xuất sắc lắm chẳng thể hát vai chính lĩnh xướng, nhưng từ những vai chính diện như chính ủy uy vũ cho tới vai phản diện gian xảo như kẻ phản bội anh đều cáng đáng được, bởi vậy hầu như mỗi vở kịch mới do đoàn ca kịch dàn dựng, tên anh luôn có mặt trong danh sách "diễn viên chính" trên bảng quảng cáo, thường đứng từ vị trí thứ tư đến thứ bảy.

Anh vẫn còn nhớ cảnh tượng lần đầu tiên anh Dũng tới nhà ra mắt bố mẹ mình, hôm đó anh ấy không mặc quân phục mà mặc thường phục, bước vào nhà khoác một chiếc áo măng tô dạ đen chất vải cực kỳ cao cấp, đội mũ đồng phục bằng dạ, vóc dáng mới vạm vỡ đĩnh đạc làm sao, một diện mạo tràn trề vẻ nam tính làm sao, chỉ là nhìn qua tuổi tác thực sự đã không còn trẻ, dẫu anh cạo râu nhẵn nhụi, chân tóc và tóc mai lộ ra dưới mũ dạ cũng đen nhánh chỉnh tề, khi anh nhìn thấy anh ấy vẫn luôn có cảm giác đây là một người chú chứ không phải một người anh.

Chị gái nhanh chóng xác định mối quan hệ với anh Dũng, đồng thời bắt tay vào việc dựa vào mối quan hệ này để chuyển công tác về Bắc Kinh. Dịp nghỉ ngắn ngày 1 tháng 5, chị cũng về Bắc Kinh, "gặp gỡ tìm hiểu" với anh Dũng vài ngày rồi lại vội vã chạy về ngôi trường chuyên khoa ở Hà Bắc. Anh cùng anh Dũng ra ga tiễn chị, mua vé vào sân ga tiễn thẳng tới tận ke ga, tiễn cho tới khi đoàn tàu chuyển bánh và khuất khỏi tầm mắt. Anh lại bắt gặp một lần nữa ánh mắt hai người nhìn nhau, lặng lẽ nhìn nhau, một bên vẫn là chị gái, bên kia lại không còn là anh Đạt Dã mà đã là anh Dũng, khung cảnh cũng không còn ở trước chiếc tủ năm ngăn trong buồng trong ở nhà, mà là sân ga. Chị đã lên tàu ngồi vào chiếc ghế cạnh cửa sổ, đẩy cửa sổ trượt lên, lộ ra từ ngực trở lên, đôi mắt chị to đến lạ kỳ, to hơn bất cứ lần nào anh từng thấy trước đây, đôi mắt ấy rõ ràng đang cất lời, lời nói chẳng hề phức tạp, rất dễ đọc hiểu, ngay cả một đứa vừa tròn 16 tuổi như anh cũng thấu suốt trong lòng, đó là một câu nói rất giản đơn nhưng cũng rất mãnh liệt, vừa mang tính mệnh lệnh lại vừa chan chứa sức mê hoặc, đó là: "Anh không được thay đổi đấy, và phải mau chóng chuyển em về Bắc Kinh"; anh Dũng đứng trên ke ga, áo quần phẳng phiu, anh tư bừng bừng, thế nhưng lại không thể đáp lại bằng nét mặt phong phú và ánh mắt bộc lộ tâm can; vị trí anh Dũng đứng dẫu đối diện với ô cửa sổ chị thò mặt ra nhưng lại không áp sát, giữ một khoảng cách vài bước chân, đoàn tàu chuyển bánh anh chỉ giơ tay vẫy chào, cũng không hề lao tới để bắt tay từ biệt chị lần nữa. Theo phỏng đoán trong lòng cậu thiếu niên 16 tuổi khi ấy, anh cứ ngỡ anh Dũng đã có thể biểu diễn phóng khoáng trên sân khấu như thế, thì nơi sân ga này dẫu có lao tới hôn lên má chị cũng chẳng có gì quá trớn, song anh dự đoán chẳng trúng chút nào, anh Dũng chỉ đứng nghiêm vẫy tay từ biệt chị, trên mặt chỉ có nụ cười mỉm nhàn nhạt đầy vẻ hàm súc. Đương nhiên ánh mắt anh Dũng vẫn luôn bắt nối với ánh mắt của chị, vẽ thành một đường chéo ngày càng kéo dài, cho tới khi rốt cuộc buộc phải đứt đoạn, nhưng nhìn từ bên cạnh, toàn bộ khung cảnh ấy thực sự không giống cái nhìn nhau và nỗi chia ly của đôi lứa yêu nhau, mà dường như là người anh trai hoặc thủ trưởng đang tiễn đưa em gái hoặc cấp dưới lên đường đến một "nơi tổ quốc cần nhất" nào đó...

Nhiều năm sau, cái nhìn nhau lặng lẽ giữa chị và anh Đạt Dã trước chiếc tủ năm ngăn, cái nhìn nhau lặng lẽ trong ngoài cửa sổ tàu trên sân ga giữa chị và anh Dũng, hai khung cảnh ấy, hai "thước phim" ấy, đã bao lần tái hiện, chiếu đi chiếu lại trong tâm trí anh. Chẳng hiểu sao anh dấy lên một nỗi chua xót, xót cho chị gái, xót cho cuộc đời, xót cho số phận khôn lường, xót cho những điều quý giá bị đập vỡ, xót cho những thứ hăm hở tranh giành đón rước về kỳ thực lại mang bản chất của thứ hàng nguy hiểm tiềm tàng, và xót cho những suy nghĩ tàn khốc buốt nhói gần như chẳng thể thốt nên lời, không sao tỏ rõ. Phải rồi, anh đã sớm muốn viết một cuốn sách mang tên "Chị Gái", lúc đầu vì sao không viết, chẳng rõ nữa, về sau vì sao cũng mãi không viết? Giờ đây vỡ lẽ ra, có lẽ là do không nỡ, phải, không nỡ, không nỡ lòng đặt bút...

5

Chị gái kết hôn với anh Dũng vào dịp Quốc khánh năm đó. Khi rời khỏi nhà tôi, tôi thấy mẹ lấy từ trong chiếc rương gỗ long não viền đồng cổ kính của bà ra một đôi vòng tay bằng vàng, trịnh trọng trao cho chị, còn chị thì đem một xấp dày nhật ký thời cấp ba và đại học buộc lại với nhau, đưa cho mẹ rồi bảo: "Đừng giữ lại, mẹ rảnh thì đốt đi! Mẹ, mẹ nhớ kỹ, đốt đi nhé! Con không muốn tự tay đốt, mẹ đốt giúp con, nhé, mẹ?" Mẹ có chút ngỡ ngàng đón lấy...

Trong 5 năm đầu sau khi cưới, trông chị có vẻ hạnh phúc và mãn nguyện, an nhàn và êm ả.

Chị Cúc Cầm quả thực là ngôi sao may mắn trong đời chị gái. Chẳng lẽ chỉ vì sau trận đại hỏa hoạn năm xưa, chị gái khoác tay chị Cúc Cầm mồ côi cả cha lẫn mẹ, lặng lẽ đi dạo mấy vòng trên sân trường Thục Hương, mà đấng tối cao nơi cõi u minh cứ luôn để chị Cúc Cầm ở mỗi trạm chuyển tiếp trên đường đời của chị gái ra sức đỡ đần và luôn tác thành nên việc tốt?

Chị Cúc Cầm giới thiệu đối tượng cho chị, vun vén cho hôn sự của chị và Khuất Tấn Dũng; trong quá trình chị liên hệ chuyển công tác, chị Cúc Cầm lại vừa khéo quen biết vị cán bộ nhân sự ở cơ quan chị muốn về (một đồng chí nam năm xưa cùng nhập ngũ, nhưng vì không thích hợp biểu diễn trên sân khấu nên đã sớm chuyển ngành), kết quả là cưới xong chưa đầy hai tháng đã chuyển công tác thành công. Đó là một cơ quan nghiên cứu có chuyên môn đúng với ngành chị theo học, ở đó có thể cũng có kẻ thích nhổ "hành hoa", nhưng ít nhất chắc chắn sẽ không thô bỉ và u mê như gã "tướng nhổ hành" cao gầy răng vàng ở trường chuyên khoa Hà Bắc kia. Huống hồ, người chị lấy là Khuất Tấn Dũng mang quân hàm Đại úy, xuất thân bần hàn, giữ chức Phó Bí thư Chi bộ trong đội diễn viên, chị nhờ thế mà thuộc diện thân nhân quân đội, như vậy người ta cũng khó mà coi chị như một "cọng hành" được nữa... Tôi nghĩ, nỗi kinh hoàng từng bao trùm tâm can chị, những năm ấy ít nhất đã bị cô đặc, đóng băng rồi cất giấu sâu trong góc khuất của tâm hồn.

Thế nhưng chị lại càng không còn là người chị của thời học sinh nữa. Cây guitar năm xưa chị không vứt đi, nhưng chẳng bao giờ gảy lại, nó được cất trong chiếc hộp lớn màu đen kịt, nhét sâu vào sát vách tường dưới gầm giường đôi.

"Tấn Dũng! Đừng hái lá già! Hái ngọn trên ấy! Hái lá non ấy!"

Chị nhoài nửa thân trên ra khỏi cửa sổ tầng lầu, vừa rửa mặt bằng xà phòng thơm xong, mái tóc ngắn chải chuốt gọn gàng, mặt mày hồng hào rạng rỡ, hàm răng trắng muốt, vui vẻ chỉ đạo.

Khuất Tấn Dũng ở khoảng đất trống ngoài cửa sổ đang hái những chiếc lá rau dền mọc dại.

Khoảnh khắc này tôi nhớ mãi, nó mang một ý nghĩa biểu tượng nào đó đối với cuộc sống giai đoạn ấy của chị.

Sau khi kết hôn, chị theo Khuất Tấn Dũng sống trong khu văn công, đó là một đại viện ở vùng ven, trong viện có rất nhiều tòa nhà, có tòa dùng làm văn phòng, tập luyện, có tòa dùng làm ký túc xá. Nhưng thời ấy trong đại viện chưa xây nhà tập thể khép kín, mỗi tòa nhà đều là kiểu "nhà ống", tức là chính giữa mỗi tầng là một hành lang dài rộng, hai bên hành lang là từng căn phòng lớn, hai đầu là nhà vệ sinh và phòng lấy nước. Khi ấy đoàn văn công bố trí cho các thành viên ở trong những "nhà ống" như thế, ai đã kết hôn đương nhiên hai vợ chồng ở chung một phòng, ai chưa kết hôn thì hai hoặc thậm chí bốn người cùng giới ở chung một phòng. Nếu sau khi cưới sinh con thì lại có một tòa nhà khác, cũng là "nhà ống", chuyên dành cho bảo mẫu và trẻ con ở, nếu đón người già ở quê lên cũng bố trí ở tòa nhà đó. Trong tòa nhà ấy, mỗi tầng đều có từ một đến hai gian phòng được mở ra làm bếp chung, dạo ấy chưa có bình gas hóa lỏng, càng không có đường ống dẫn khí đốt, trong bếp chung là một dãy bếp than kê sát tường, than tổ ong đun nấu thì chất đống ngoài hành lang, đống nào của nhà nào ai nấy đều tự biết rõ... Chị gái và Khuất Tấn Dũng, Cúc Cầm và Thường Diên Mậu sống cùng một tòa nhà, vợ chồng chị ở tầng một, vợ chồng Cúc Cầm ở tầng hai, cùng một hướng, ở giữa chỉ ngăn cách bởi một mặt sàn gác; vợ chồng Cúc Cầm có con gái trước, vợ chồng chị cũng nhanh chóng có con trai, con cái và bảo mẫu đều ở tòa nhà bên kia, "phòng nuôi trẻ" của hai nhà cũng nằm sát vách; ăn cơm nếu không xuống nhà ăn thì đều sang "phòng nuôi trẻ" ăn, thi thoảng mới có ngoại lệ, chẳng hạn như chủ nhật, lúc đó tôi đang học ở trường sư phạm, sang tìm chị, chị và anh Dũng liền giữ tôi ở lại căn phòng họ ở để chơi, rồi dùng bếp dầu đun nấu riêng vài món để ăn. Hôm ấy tôi lại đến, chị ngoài các món khác còn dự định xào một đĩa rau dền bèn sai anh Dũng nhảy qua cửa sổ ra bãi đất trống sau nhà để hái. Trên bãi đất trống ấy mọc đầy hoa cỏ cây cối hoang dại, thỉnh thoảng có chim chóc ong bướm hót ca bay lượn, tôi bảo đẹp thật đấy, chị lại cau mày: "Đẹp đẽ gì, trừ mùa đông ra thì ba mùa còn lại muỗi bay vào nườm nượp, đốt chết người ta!" Dẫu chị từng nói thế, nhưng hôm ấy khi chị mở cửa sổ tầng lầu nhoài nửa người ra chỉ huy anh Dũng, rõ ràng là vô cùng thỏa mãn, tâm trạng khoan khoái tột cùng.

Căn phòng trong kiểu "nhà ống" ấy có gian rất rộng, mỗi phòng diện tích phải đến 20 mét vuông khéo còn hơn, khi đó chị và anh Dũng sắm giường đôi mới, tủ đứng mới có gương soi lớn, tủ búp phê nhỏ mới có cánh kính kéo lùa, cùng một bộ ghế sofa tay vịn gỗ kèm bàn trà mới toanh, một bộ bàn ghế gấp mới, lại có cả giá để chậu rửa mặt mới các thứ, cộng thêm chiếc đài thu thanh ba băng tần mà anh Dũng đã sắm từ trước to như chiếc tivi màu cỡ lớn ngày nay, là loại đắt tiền nhất, âm thanh chuẩn nhất và kiểu dáng thực sự mới mẻ đường hoàng nhất thời bấy giờ, rồi bức ảnh cưới lớn cỡ 20 inch chụp ở hiệu ảnh Trung Quốc trên phố Vương Phủ Tỉnh treo trên tường do kỹ thuật viên cao cấp nhuộm màu từ ảnh đen trắng, cuốn lịch treo tường cỡ lớn in tranh "Mười đại công trình kiến trúc" Bắc Kinh bằng giấy dó hảo hạng nguyên khổ thời ấy rất khó kiếm, không phát hành công khai trong nước mà chỉ dùng làm ấn phẩm tuyên truyền đối ngoại, cùng với chiếc hộp sắt tròn đựng bánh quy Con Gà Vàng Thượng Hải hoa văn bắt mắt lộ ra sau cánh kính kéo lùa của chiếc tủ nhỏ để quần áo, hộp "Lạc Khẩu Phúc" hình trụ tròn và vài hộp thiếc đựng trà hình vuông... Tất cả đều khiến tôi cảm thấy chị gái mình đã bước vào một cuộc sống khá giả và vô cùng cao cấp. Huống chi mỗi lần đến gần tòa nhà họ ở, vì có vài cặp vợ chồng diễn viên tự mua đàn piano đang luyện thanh trong phòng, liền có những tiếng hát mộc mạc êm ái kiểu "í i y i í", "ô ô hô ô ô" và tiếng đàn piano tong tong tinh tinh liên tục nâng cao tám độ rồi hạ thấp tám độ vọng lại, khiến tôi có cảm giác thiêng liêng như đang bước vào điện đường nghệ thuật.

Anh nhớ, mỗi lần anh Dũng đến thăm bố mẹ mình, tức bố mẹ vợ của anh Dũng, bao giờ cũng xách một túi to, thậm chí hai túi to đầy ắp hoa quả, bánh kẹo hoặc những món quà khác. Ngay cả đến "thời kỳ ba năm khó khăn" (1959 - 1961), khi đã rất khó mua được thực phẩm ngoài định lượng, anh Dũng tới vẫn luôn xách theo những túi đồ to tướng, khi thì là đồ khao thưởng mang về sau chuyến lưu diễn phục vụ bộ đội, khi thì là trứng gà hoặc đậu tương do đoàn văn công phát như một khoản phúc lợi nội bộ... Tác phong của anh Dũng là số lượng phải nhiều, anh dường như luôn sợ đồ mình biếu người khác bị ít, cho nên số lượng thường nhiều đến mức không cần thiết, thậm chí khiến người nhận phải khó xử, chẳng hạn đến năm 1963 việc cung ứng khá hơn, anh có thể một lần xách tới 5 cân bánh ngọt cao cấp hoặc 10 cân đào, thời đó lại chưa có tủ lạnh, kết quả thường dẫn tới việc bánh ăn không kịp bị mốc hoặc đào bị thối hỏng. Chị gái từng nói anh trước mặt cả nhà: "Khuyên thế nào cũng vô ích, anh ấy cứ phải thế này trong lòng mới chịu được, con người anh ấy là thế, em khuyên nhiều anh ấy lại tưởng em keo kiệt..." Anh nhớ mỗi khi anh sang chỗ chị gái và anh Dũng ở đoàn văn công chơi cũng y như vậy, anh Dũng pha trà cho anh bao giờ cũng hận không thể cho nửa cốc trà búp rồi mới dội nước sôi vào, kết quả là thứ trà cao cấp hãm ra lại chát đắng khó nuốt, sau vài lần anh đành phải hễ thấy anh Dũng vừa cầm lấy hộp trà là la lớn: "Anh Dũng, em không cần nhiều trà thế đâu!" Lúc ăn cơm xới cơm cho anh bao giờ cũng phải xới ngọn có ngọn, gắp thức ăn cũng luôn phải gắp vun đầy bát cơm của anh mới cam lòng...

Anh nhớ, đối lập với sự hào phóng quá mức về mặt vật chất của anh Dũng, lại là sự kiệm lời quá mức của anh ấy, điều này hoàn toàn nằm ngoài dự liệu của anh, bởi vì anh Dũng trên sân khấu hiếm khi đóng vai ít lời, mà vai nào cũng tròn trịa. Anh vạn lần không ngờ anh Dũng dưới sân khấu chẳng những không thạo ăn nói, mà cũng chẳng hề luyện thanh. Mỗi khi sang chỗ chị gái và anh Dũng chơi, anh luôn hy vọng anh Dũng hát một đoạn, hoặc chí ít nhân lúc có mặt anh thì luyện thanh như các diễn viên ở những phòng khác, dẫu chỉ "í i y i í" một hồi cũng tốt; thế nhưng, kỳ lạ thay, chưa từng có lấy một lần. Anh, anh hai, anh ba đều từng trước mặt chị gái nài nỉ anh Dũng: "Anh hát cho bọn em nghe một đoạn đi!" Anh ấy chỉ tiếp tục làm mấy việc như thái rau băm thịt trộn nhân nhào bột cán vỏ gói sủi cảo cho các em ăn, mỉm cười, cũng chẳng giải thích, chỉ là nhất quyết không hát. Chị gái nhìn không đành lòng bèn thay anh giải thích với các em trai: "Mấy đứa thử nghĩ xem trên sân khấu anh ấy toàn diễn những vai gì? Toàn là những vai hầu như chẳng có nổi một đoạn hát hoàn chỉnh, nói trắng ra là nhân vật chính hát ca kịch, còn anh ấy chỉ đang diễn kịch nói thôi!" Nhưng Cúc Cầm, Thường Diên Mậu thì khác, nhà họ có đàn piano, anh và anh hai, anh ba đều từng nghe họ luyện thanh, họ cũng từng nhận lời hát cho người thân bạn bè nghe tại nhà...

Anh nhớ, anh Dũng gói sủi cảo rất khéo, kho thịt sốt nâu rất ngon, hễ anh hoặc anh hai, anh ba vừa tới là anh Dũng liền tất bật lo toan, hoặc vội vã đạp xe ra chợ gần đó mua sắm, hoặc vội vàng rửa rau thái thịt vo gạo bắc nồi, thường là chị gái ngồi tiếp chuyện với khách, đến lúc đứng bếp mới lại gần lò... Đương nhiên sau bữa cơm uống trà anh Dũng cũng tới ngồi trò chuyện, dáng vẻ rất vui tươi, nhưng cơ bản chỉ là hỏi gì đáp nấy, hiếm khi có lời kể hay bàn luận nào dài quá ba phút...

Anh nhớ, chị gái từng thổ lộ, anh Dũng có một bận bỗng dưng ghen tuông vô cớ, nguồn cơn là do anh họ của anh, em họ của chị gái — tức Điền Tinh Minh, em trai của Điền Nguyệt Minh — từ Thượng Hải đi công tác Bắc Kinh, trước đó chẳng gửi thư cũng chẳng gọi điện, đột ngột xông vào chỗ chị gái. Chị vừa thấy Điền Tinh Minh liền reo hò mừng rỡ, Điền Tinh Minh cũng mang bộ mặt khôi hài đổi giọng the thé gọi to "chị họ nhỏ", hai người sau hồi mừng rỡ ríu rít liền người một câu tôi một câu không ngớt chuyện trò. Anh Dũng cũng như những lần em vợ hay khách quen khác tới, lập tức tất bật làm cơm làm nước, lúc ăn cơm cũng múc cơm xới đầy thìa, gắp thức ăn gắp đầy đũa, ăn xong cũng bốc nắm trà to tướng hãm ra thứ nước trà đặc quánh người ta... Thế nhưng sau khi Điền Tinh Minh đi rồi, sắc mặt anh Dũng u ám như thanh sắt nguội ngắt, chị miêu tả vẻ mặt ấy quả thực có chút phong thái của nhân vật Othello dưới ngòi bút Shakespeare, đến lúc lên giường đi ngủ rốt cuộc bùng nổ, gặng hỏi chị bằng giọng ủ ê nghèn nghẹn: "Thế nào gọi là 'Xoáy Tóc'? Cô với nó rốt cuộc là quan hệ thế nào?!" Chị gái tốn bao nhiêu công sức giải thích với anh, kể rằng quan hệ giữa nhà mình với anh em họ bên nhà cô ruột vô cùng khăng khít, hồi nhỏ có mấy năm hai nhà sống chung một chỗ, mỗi tối dưới chân tường xếp một hàng bô tráng men, đám anh em họ chưa trưởng thành ngồi sát sàn sạt từng đứa trên bô, vừa tiểu tiện đại tiện vừa trêu chọc tào lao thậm chí xô đẩy đùa nghịch, chị gái với Điền Tinh Minh sàn sàn tuổi nhau nhất, luôn ngồi ở hai chiếc bô cạnh nhau, vì trên trán Điền Tinh Minh giữa đám tóc mọc thừa ra một cái xoáy nên tên mụ gọi là "Xoáy Tóc", cả họ đều gọi cậu ấy như thế, chẳng phải do một mình chị tự nghĩ ra... "Xoáy Tóc" khi ấy làm bác sĩ đi theo đội thể thao ở Thượng Hải, cậu ấy học y học thể thao... Anh nhớ chị gái kể với anh, trạng thái "Othello" ấy của anh Dũng kéo dài gần một tuần mới chịu phai nhạt dần. Anh vô cùng khó hiểu, anh Dũng là một diễn viên ca kịch, lại từng theo học các lớp bồi dưỡng ngắn hạn ở học viện hý kịch và nhạc viện, cớ sao ngay cả tình cảm ruột thịt thông thường giữa chị em họ mà anh ấy cũng không thể thấu hiểu, không thể bao dung? Chẳng phải người ta đều bảo giới văn nghệ sĩ trong vấn đề quan hệ nam nữ đều khá cởi mở, hay nói cách khác là khá thoải mái đó sao? Những chuyện phong lưu ong bướm trong đoàn văn công của anh Dũng nhiều không đếm xuể, cũng không ngừng có người vì "vấn đề lối sống" mà "phạm sai lầm" bị kỷ luật, cớ sao anh Dũng lại có thể hẹp hòi, có thể cứng nhắc đến mức ấy?

Anh nhớ, sau này nhị ca từng phân tích, ở đoàn văn công của Dũng ca, các nữ diễn viên nếu không gả cho nam diễn viên cùng đoàn hoặc đoàn bạn thì cũng đi làm phu nhân thủ trưởng, rất hiếm ai gả ra ngoài quân đội, đặc biệt là gả cho dân thường. Các nam diễn viên thì lại khác, nếu không cưới được nữ diễn viên, nữ mỹ thuật, nữ hậu đài hoặc các cô gái ở khâu khác trong đoàn mình hay đoàn bạn, thì rất khó kết duyên được trong giới văn nghệ nữa, phần lớn là do người thân bạn bè mai mối cưới một người phụ nữ bình thường ngoài xã hội. Học vấn và nghề nghiệp của họ phần nhiều không cao lắm, nào là giáo viên tiểu học, thủ quỹ ngân hàng, nhân viên bán hàng ở trung tâm thương mại, nữ công nhân nhà máy, thậm chí là phụ nữ nội trợ từ nông thôn lên không đi làm, vân vân. Cưới được người vợ có bằng cao đẳng và làm cán bộ trong cơ quan nhà nước đã là chuyện không dễ, còn cưới được người có bằng nghiên cứu sinh, đàng hoàng làm việc ở cơ quan nghiên cứu khoa học, tướng mạo lại ưa nhìn, lứa đầu lại lập tức sinh ngay một cậu con trai mập mạp kháu khỉnh như A tỷ, thì trong cả đoàn văn công ấy Dũng ca là trường hợp duy nhất. Sau lưng ai nấy đều bảo anh tuy lỡ dở đến ngoài ba mươi mới lập gia đình, nhưng quả đúng là "đến sau vượt trước", khiến cả đoàn trên dưới đều phải đỏ mắt ghen tị. Anh nhớ lại thật kỹ, Dũng ca đối với A tỷ đúng là nâng như nâng trứng hứng như hứng hoa, mà rất nhiều diễn viên trong đoàn, bao gồm cả một cô đào xô-pranô nào đó ngoài xã hội danh tiếng lẫy lừng chuyên đóng vai chính trong các vở ca kịch, nghe nói vì được thủ trưởng sủng ái, khán giả sùng bái nên ngạo khí ngút trời chẳng thèm để ai vào mắt, thế mà lại nhìn A tỷ bằng con mắt khác, cực kỳ muốn kết giao. Anh từng có lần đến chỗ A tỷ và chạm mặt đại minh tinh có ảnh chụp chân dung trong trang phục diễn xuất được in lên bìa tạp chí ấy. Vị đại minh tinh bưng một tách trà tự pha mang từ phòng mình sang, đứng giữa phòng A tỷ, đối diện với A tỷ đang dựa vào chồng gối trên giường cắm cúi đan quần len cho con nít, miệng cứ một tiếng "Doanh Ba", hai tiếng "Doanh Ba" bắt chuyện làm thân như muốn lấy lòng, vậy mà A tỷ lại làm bộ chẳng màng để ý. Anh vô cùng kinh ngạc khi thấy A tỷ trước sau đều không hề mời vị đại minh tinh kia ngồi, và khi A tỷ dường như chỉ buột miệng nói vu vơ một câu rằng một đoạn hát trong vở ca kịch mới diễn của đại minh tinh "nghe cũng xuôi tai đấy", vị đại minh tinh kia lại cam tâm tình nguyện hớp một ngụm trà làm sạch giọng, rồi hát liền hai câu trọn vẹn để làm A tỷ vui lòng. Âm thanh cộng hưởng như lúc chính thức bước lên sân khấu biểu diễn chấn động đến mức làm mọi vật có lỗ hổng trong phòng đều rung lên ong óng, cảnh tượng ấy càng khiến anh ngạc nhiên không sao tả xiết; thế nhưng A tỷ vẫn cứ dựa vào chồng gối tiếp tục đan sợi len của mình, tuy khóe môi mỉm cười nhưng đầu không hề ngẩng lên, ánh mắt lại càng chẳng buồn liếc về phía người đang hát...

Anh nhớ những chuyện này, khi nhiều năm sau Dũng ca hấp hối trên giường bệnh, bị tử thần vờn như vờn con mồi hành hạ đến mức chỉ còn da bọc xương không nỡ nhìn, anh lại nhớ đến một câu bình phẩm năm xưa của A tỷ về thân hình vạm vỡ của Dũng ca: "Úi chà, thịt trên ngực anh ấy dày lắm, em có dùng hết sức mà véo cũng chẳng tài nào chạm nổi vào xương sườn của anh ấy..."

Anh nhớ, những chuyện vặt vãnh đã trôi vào dĩ vãng, những chuyện chỉ liên quan đến một A tỷ bình thường không thể bình thường hơn nay đã bước vào hàng ngũ các bà lão, những chuyện đối với cả thế giới và nhân loại này thực sự là có cũng được mà không có cũng chẳng sao, nhẹ tựa lông hồng, như sương như khói...

Anh cứ nhớ mãi.

Chỉ mỗi anh nhớ!

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.