Tứ Bài Lâu

Lượt đọc: 17 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 10

❊ ❊ ❊

Một ngày nọ của hơn bốn mươi năm về trước, thành phố núi Trùng Khánh vẫn quấn quanh làn sương mù ẩm mốc như thường lệ, một người phụ nữ trẻ tuổi bước lên những bậc đá cao vút, tìm đến Hải quan Trùng Khánh rồi bước vào một gian văn phòng. Năm ấy, mỗi sáng sớm cha tôi đều ngồi trong gian phòng đó. Cho đến nay vẫn còn lưu lại một tấm ảnh, trong ảnh chắn ngang một chiếc bàn làm việc bề thế, chiếc ống cắm bút trên bàn vì quá gần ống kính máy ảnh nên hình bóng nó phình to thành một con quái vật, thân ống tựa như một khuôn mặt quỷ đang phồng mang trợn má thổi khí, mớ bút chì và bút lông xòe ra trên miệng ống chính là những bím tóc dựng đứng trên đầu con quỷ ấy; thời thơ ấu, tôi luôn gặp phải con quái vật này trong những giấc mơ. Còn về nhân vật chính trong tấm ảnh — người cha ngồi sau chiếc bàn làm việc, khi ấy rốt cuộc ông có dáng vẻ thế nào, tôi lại chẳng thể hình dung nổi; tôi là đứa con trai út của cha, khi ông chụp tấm ảnh đó tôi khoảng chừng năm tuổi, tôi chỉ nhớ được dáng vẻ của cha lúc về già.

Những năm tháng tuổi già, cha từng tình cờ nhớ lại cảnh tượng năm đó: "... Bát nương con vừa ngồi xuống là khóc nấc lên, lấy chiếc khăn tay quẹt nước mắt; kỳ thực có việc gì to tát đâu, cha chỉ ra tay hai ba cái là giải quyết xong cho cô ấy, giọt lệ chưa kịp ráo thì cô ấy đã bật cười rồi..."

Năm ấy Bát nương tìm đến cha là để kiếm một tấm vé tàu đi Nam Kinh. Cha thi đỗ vào hải quan từ năm mười tám tuổi, tính đến lúc đó cũng đã lăn lộn hơn hai mươi năm, rốt cuộc cũng từ một nhân viên kiểm tra dưới đáy leo lên được chức trưởng khoa ngồi bàn giấy, lấy thân phận trưởng khoa hải quan mà kiếm một tấm vé tàu đi Nam Kinh thì tự nhiên dễ như trở bàn tay.

Nương nương tức là có nghĩa dì/cô. "Từ điển Hán ngữ hiện đại" coi chữ "Nương" phồn thể là "Nương", đọc là niang, nhưng người Tứ Xuyên chúng tôi, ít nhất là trong gia tộc tôi, lại đọc "nương nương" thành liangliang, cả hai đều là thanh dương bình, chữ thứ hai không đọc nhẹ; người Tứ Xuyên nói chung không phân biệt hai phụ âm l và n, quen phát âm l mà không thạo phát âm n. Do đó, Bát nương đối với tôi tuyệt đối không phải là "Bát nương", mà là bǎliāng.

Bát nương không phải em gái ruột của mẹ tôi, cha của bà và ông ngoại tôi là anh em chú bác, năm xưa trong các đại gia tộc thường thịnh hành việc xếp thứ tự chung trong cùng một thế hệ, mẹ tôi xếp thứ ba trong số các chị em cùng trang lứa, cho nên người cùng thế hệ với Bát nương đều gọi mẹ tôi là "Tam tỷ".

Thuở ấy đại gia tộc con đàn cháu đống, Bát nương dù đã xếp tới hàng thứ tám thì mọi người cũng chẳng lấy làm lạ, thế hệ chúng tôi cũng không thấy có gì đáng kinh ngạc, bởi nếu muốn kinh ngạc thì mẹ của Bát nương được mọi người gọi là Cửu ngoại bà, dường như còn có cả Thập ngoại bà, Thập nhất ngoại bà nữa kia; nhưng bên họ hàng nhà mẹ, mấy chục năm qua có qua lại với nhà tôi thì chỉ có duy nhất nhánh của Cửu ngoại bà, mà trong nhánh này, chi của Bát nương lại đi lại thân thiết nhất.

Năm đó Bát nương đi tàu rời Tứ Xuyên đến Nam Kinh là để học đại học, bà học Học viện Nông nghiệp Kim Lăng. Rất nhiều năm sau, khi lật giở cuốn an-bum ảnh ở nhà bà, bà chỉ cho tôi xem một tấm ảnh chụp bên cạnh tượng đá khi tốt nghiệp cùng vài người bạn cùng lớp đi chơi Minh Hiếu Lăng. Người ở giữa tết hai bím tóc ngắn nhỏ và không thẳng, với một vẻ tiêu sái tự nhiên làm lộ rõ đường cong thắt lưng, bên trên mặc áo ngắn, bên dưới không mặc váy mà là quần dài, Bát nương cười hề hề bảo: "Tiêu rồi! Con xem này! Hồi đó ta mốt ghê chưa!" Người phụ nữ tóc ngắn với nét mặt mơ hồ trong ảnh quả thực rất tân thời, khiến tôi chẳng tài nào liên hệ được Bát nương trước mắt với hình bóng ấy; kể từ khi tôi biết nhận thức, tức là sau khi theo cha mẹ chuyển đến Bắc Kinh rồi đoàn tụ với Bát nương ở đó, tôi luôn cảm thấy Bát nương tuy có nét tính cách lạc quan hoạt bát, nhưng phong thái diện mạo của bà thực sự chẳng dính dáng gì đến hai chữ "tân thời", điều chí mạng nhất là bà trước sau đều không nói sõi tiếng phổ thông, hay nói đúng hơn không phải bà không thể nói sõi mà là dứt khoát không thèm nói sõi, ở cơ quan bà dùng tiếng Tứ Xuyên để nói chuyện với người ta, ra phố mua đồ cũng dùng tiếng Tứ Xuyên, ở nhà thì khỏi phải bàn, chỉ có điều ở cơ quan và ngoài phố bà tránh dùng các từ ngữ đặc thù của tiếng Tứ Xuyên mà thôi. Khi nói chuyện với họ hàng chúng tôi, bà liên tục dùng tiếng địa phương, ví như "tiêu rồi" là một từ cảm thán được bà dùng mọi lúc mọi nơi, phát âm thành wanlao, hai âm thượng thanh, nhấn mạnh, và chữ sau kéo dài giọng ra.

"Tiêu rồi" trong miệng bà phần nhiều biểu thị sự tán thưởng, kinh ngạc vui mừng, ngưỡng mộ, cảm kích, chẳng hạn như:

"Tiêu rồi, vẽ đẹp quá đi thôi!"

"Tiêu rồi, mấy đứa đến rồi đấy à!"

"Tiêu rồi, nổi tiếng rồi cơ đấy!"

"Tiêu rồi, mua nhiều chuối thế này để làm cái chi vậy!"

---❊ ❖ ❊---

Mỗi khi Bát nương dùng từ cảm thán "tiêu rồi" này, mười lần thì có đến tám chín lần kèm theo một tràng cười sảng khoái. Tiếng cười ấy của bà trong đám thân thích bạn bè chúng tôi vốn nức tiếng gần xa, ai nấy đều thích nghe, thường hay nhắc tới.

Một ngày nọ vào đầu thập niên 50, Bát nương lại đến khu tập thể hải quan ở ngõ Tiền Lương tại Bắc Kinh của chúng tôi, nhưng người mà mẹ tôi đón vào cửa không chỉ có một mình Bát nương, mà còn có một người khác, là một người đàn ông dáng người rất cao lớn. Khi đó tôi còn học tiểu học, nhưng vốn sống tích lũy được đã đủ để tôi đoán ra ông là thân phận gì, có điều tôi có thế giới riêng của mình, chẳng hạn như tôi còn có bộ xếp hình chưa ghép xong, cuốn truyện tranh chưa đọc hết, bức tranh con cá voi lớn chưa vẽ xong, cho nên nhân lúc cha mẹ đón tiếp chào mời, tôi liền chuồn mất; nhớ lúc ngồi vào bàn ăn, mẹ ra lệnh cho tôi: "Chào Bát di phu đi!" Tôi còn chưa kịp phản ứng thì Bát nương đã dùng một tràng cười chặn đứng mệnh lệnh này: "Tiêu rồi! Nghe khó nghe chết đi được! Bát di phu cái chi mà Bát di phu, đừng gọi thế, chú ấy họ Tào, con cứ gọi là chú Tào là được rồi!" Tôi ngước mắt nhìn chú Tào, chú có một khuôn mặt chữ điền rất dễ nhìn, đang mỉm cười với tôi; tôi chẳng nhớ lúc đó mình có gọi "chú Tào" hay không, tóm lại sau này, trong số những người thân thích tôi qua lại đã có thêm chú Tào.

Trên bàn ăn, cha và chú Tào trò chuyện rất rôm rả, chú Tào nói một giọng phổ thông rất hay; họ uống rượu xong, cha sai tôi đi xới cơm cho chú Tào, mẹ liền ngăn lại bảo: "Khoan đã! Đừng múc cơm, có màn thầu này..." Hóa ra ở dưới bếp Bát nương đã nói với mẹ, chú Tào là người Sơn Đông, thích ăn đồ bột, hơn nữa: "Tiêu rồi! Chú ấy ghét cay ghét đắng cơm gạo, chỉ cần có bất kỳ món bột nào, màn thầu này, bánh nướng này, bánh bao này, mì sợi này... cho dù là bánh ngô oa oa đầu, chú ấy đều thấy ngon hơn cơm trắng, chị bảo có lạ đời không cơ chứ?" Chú Tào quả thực đúng như vậy. Dẫu bao nhiêu năm qua, mỗi khi bày tỏ ý kiến trước đám đông chú luôn nói: "Hạt lương thực nào làm ra cũng chẳng dễ dàng, đều nên ăn cả, cơm trắng tôi đâu phải không ăn được..." Nhưng tôi từng ngồi ăn bao nhiêu bữa với chú Tào, chưa từng thấy chú ăn một bát cơm trắng nào, đôi khi món chính ngoài cơm ra chẳng có thứ gì khác, chú liền chỉ uống rượu và gắp thức ăn.

Bát nương và chú Tào làm công tác nghiên cứu ở Viện Nghiên cứu Khoa học Nông nghiệp ở vùng ngoại ô phía tây bắc. Dạo ấy mỗi tháng họ đều vào thành ghé nhà tôi một hai lần. Họ đối xử với tôi rất tốt. Tôi lên cấp hai rồi, kỳ nghỉ hè buồn chán vô cùng. Vốn dĩ nghỉ hè tôi có thể đến chỗ anh họ nhỏ. Khi anh làm nhân viên bán hàng ở một cơ quan lớn tại Tây Uyển, ngoài cửa sau ký túc xá là một bãi cỏ lớn, lại có một nhà hát lộ thiên rộng thênh thang, đi không xa nữa còn có một khu vườn hoa rất lớn, từ nơi đó có thể nhìn thấy núi Vạn Thọ... Nhưng sau này anh họ nhỏ vào Đại học Bắc Kinh học, tôi đành phải sang tá túc chỗ Bát nương và chú Tào, họ nhiệt tình chào đón tôi đến nhà ở lại; bấy giờ họ sống trong khu ký túc xá của cơ quan tại trấn Hải Điến, từ nơi đó đến Di Hòa Viên cũng chẳng xa. Tôi đã không còn nhớ rõ tình cảnh chi tiết năm ấy, ví như khi đó họ ở một phòng hay hai phòng? Chỉ nhớ mang máng Bát nương chuẩn bị cho tôi một chiếc giường đơn tỏa ra mùi thơm của xà phòng, nhớ những bữa cơm luôn có một đĩa to cà chua xào trứng bưng lên cho tôi; khi ấy con gái lớn của họ dường như đã chào đời, vậy thì ít nhất cũng phải ở hai phòng, bởi tôi nhớ mang máng có một người bảo mẫu da rất đen trông trẻ, hơn nữa hễ tan làm là chú Tào lại quấn quýt cả buổi với cô em họ tôi, bế con bé trêu đùa, hoặc đút cho nó ăn thứ gì đó; khi ấy tôi còn nhỏ tuổi, tính tình lại hướng nội, chẳng biết nói chuyện với Bát nương và chú Tào ra sao, mỗi ngày chỉ biết đến Di Hòa Viên, đến đó tôi cũng ít khi đi dạo loanh quanh mà mang giá vẽ tìm một góc lấy cảnh vẽ tranh màu nước, đến nay tôi vẫn còn giữ một bức tranh vẽ trong kỳ nghỉ hè năm đó, vẽ ở dưới bức tường phía đông chếch về nam của đình Tri Xuân, vẽ cầu Ngọc Đái trên Tây Đê cùng ngọn Ngọc Tuyền Sơn ở đằng xa, nửa phần dưới của bức tranh hoàn toàn là mặt hồ, tôi đã dùng rất nhiều nét cọ vụn vặt để thể hiện làn sóng nước, hoàn toàn đi ngược lại quy tắc kỹ pháp của tranh màu nước; rất nhiều năm sau, khi lật xem tư liệu lịch sử hội họa phương Tây, tôi kinh ngạc phát hiện ra làn sóng nước trong bức tranh tập vẽ thời thiếu niên này của mình lại khá giống với kỹ thuật điểm họa mà Seurat và những người thuộc trường phái ấn tượng từng sử dụng; tôi không phải dựa vào điều này để tự phụ, mà là ngộ ra một sức mạnh vô hình trong cõi u minh chi phối cảm nhận của con người.

Mỗi lần đi thực tế vẽ tranh ở Di Hòa Viên về nhà Bát nương, dĩ nhiên tôi đều mang tranh ra khoe với họ, tiếng tán thưởng "Tiêu rồi! Tiêu rồi!" cùng một tràng vỗ tay cười vui của Bát nương chẳng tạo cho tôi bao nhiêu rung động, ngược lại việc chú Tào nghiêng đầu nhìn đăm đăm vào bức "Nhìn về phía tây hồ Côn Minh" theo lối "điểm họa" của tôi suốt mười mấy giây, rồi buông một câu đều đều: "Ừ, nên chuyện đấy!", lại khiến toàn thân tôi chấn động, tựa như vừa nghe thấy một lời tiên tri đầy uy quyền.

Cô con gái đầu lòng của chú Tào và Bát nương được đặt tên là Giản, cha tôi từng trêu đùa họ thế này: "Có phải có một dạo, hai người cứ toàn ra bên khe suối để hò hẹn yêu đương không đấy!" Bát nương the thé cãi lại: "Tiêu rồi! Ai mà thèm cùng chú ấy chạy đến mấy cái xó xỉnh kaka đó chứ!" Đoạn bà liền cười, mặt ửng hồng, mắt sáng lấp lánh; chữ kaka trong tiếng Tứ Xuyên có nghĩa là góc xó xỉnh trong tiếng Bắc Kinh. Chú Tào đối với lời trêu chọc này thì chẳng bận tâm, trên mặt chỉ nở nụ cười nhàn nhạt.

Thời ấy không những chưa đề ra chuẩn mực "chỉ sinh một con là tốt", mà còn đang nhấn mạnh "đông người dễ làm việc", chú Tào và Bát nương dĩ nhiên sẽ không kế hoạch hóa gia đình. Nhưng rất kỳ lạ, sau em họ Giản, Bát nương bị sẩy một cái thai nam đã thành hình, đến thai thứ ba thì tìm đủ mọi cách giữ gìn mới giữ được, đủ tháng đủ ngày vào viện sinh nở, sinh ra cũng coi như thuận lợi, thậm chí vừa thấy ánh mặt trời cũng cất lên chút thanh âm, nhưng ngay sau đó liền phát hiện dây rốn quấn quanh cổ, bác sĩ bất lực không gỡ ra được, một bé trai bụ bẫm hồng hào vừa mới lọt lòng đã lìa đời. Đòn đả kích này đối với vợ chồng họ vô cùng nặng nề, sau khi Bát nương xuất viện, mẹ dắt tôi đến nhà thăm họ, chú Tào gầy rộc và đen sạm đi, Bát nương hiếm khi cười, ngay cả câu cảm thán "tiêu rồi!" cũng ít dùng, chỉ có em họ Giản đã biết đạp chiếc xe ba bánh nhỏ chạy vòng quanh sân là "cách giang do xướng Hậu đình hoa", để tiếng cười the thé của con bé lọt qua khe cửa, khe cửa sổ vào phòng; tôi bấy giờ đã 15 tuổi, đã đọc xong bốn tập dày cộp của "Jean-Christophe", tự cho mình rất thấu hiểu nỗi gian truân của cõi đời, trong lòng vô cùng tiếc thương và xót xa cho chú Tào cùng Bát nương.

Về sau Bát nương lại mang thai, việc sinh nở cũng rất thuận lợi, tôi có thêm một cô em họ tên là Thấm. Cha tôi từng bình phẩm trong lúc trà dư tửu hậu: "Chú Tào của con thích thơ từ cổ, có chút phong thái của nghệ sĩ, nhưng khó tránh khỏi câu nệ cứng nhắc, đặt tên cho con gái mà chọn chữ quá mức trúc trắc, hiếm gặp! Chữ 'Giản' người miền nam kẻ miền bắc đọc khác nhau, đọc chuẩn là jian, đặt ở cuối tên nghe gượng gạo; chữ 'Thấm' thì Bát nương con toàn gọi thành 'Tâm', thực ra âm chuẩn phải đọc là qin..."

Sau Thấm, Bát nương lại mang thai, không chỉ chú Tào và Bát nương, mà cả nhà chúng tôi cũng thầm cầu nguyện lần này sinh ra sẽ là một bé trai, kết quả là, đứa trẻ sinh ra quả nhiên là con trai, nhưng dây rốn lại quấn cổ, bác sĩ lại bất lực không gỡ nổi, Bát nương lại lưu lại một ký ức đau đớn tột cùng rằng "nó còn khóc được hai tiếng đấy", còn chú Tào đứng đợi ngoài phòng sinh lại phải đón nhận một tin dữ như sét đánh ngang tai...

Bát nương từ đó mất đi vẻ tươi nhuận vốn có, nếp nhăn nơi khóe mắt và trán hằn sâu không tan, chúng tôi đều sợ bà sẽ vĩnh viễn đánh mất tiếng cảm thán the thé "tiêu rồi" cùng tràng cười rộn rã ấy, nhưng may sao, nửa năm sau nét quyến rũ trong tính cách của bà đã hồi phục. Có một bận cả nhà họ đến nhà tôi chơi ngày chủ nhật, khi ấy bà đã chuyển đến Viện Nghiên cứu Nuôi ong bên cạnh chùa Ngọa Phật ở Hương Sơn chuyên nghiên cứu về loài ong, đồng thời làm chủ biên một tờ tạp chí "Nuôi ong Trung Quốc", bà thao thao bất tuyệt kể về đạo nuôi ong, tôi nhớ bà đã nói: "... Đừng có tưởng ong mật chỉ biết đi hút phấn hoa, đôi khi ong thợ còn cố ý bay tọt vào hố phân, gom một ít muối vô cơ mang về tổ, đó cũng là thành phần không thể thiếu để luyện mật đấy! Bọn tôi theo dõi ghi chép, xét nghiệm phân tích đi phân tích lại, tiêu rồi! Đúng thật là có cái nội tình như vậy đó..." Bà cười, chúng tôi cũng cười, bà cười vì loài ong, chúng tôi vừa cười vì loài ong vừa cười vì bà; nhưng tôi để ý thấy, chú Tào không cười mấy, song cũng tuyệt nhiên chẳng có nét biểu cảm bi thương hay chán chường nào, chú Tào lúc nào cũng giữ vẻ điềm tĩnh như thế, tôi nghĩ có lẽ là do chú đã được chuyển lên Bộ Nông nghiệp làm cán bộ, trong hình dung của tôi, một bộ của quốc gia hẳn phải là một nơi vô cùng ghê gớm, trong những gian văn phòng cao ráo rộng thênh thang ấy, những vị cán bộ ngồi bên chiếc bàn làm việc dày dặn vững chãi đều là những người nghiêm nghị, không hề cợt nhả. Bộ cơ mà! Cái tính cách như của Bát nương mà đặt vào văn phòng của bộ thì chẳng tương xứng chút nào, còn chú Tào dường như lại ăn khớp một cách hoàn hảo.

Về sau nữa Bát nương lại sinh thêm một cô em họ tên là "Quyên", sinh xong liền làm phẫu thuật thắt ống dẫn trứng. Một buổi tối nọ, tôi nằm trên giường mí mắt đã díp lại, vài câu chuyện phiếm của cha mẹ dưới ánh đèn gian ngoài bỗng khiến tôi giật mình, tôi cố hết sức chớp mắt, dỏng tai lên để bắt trọn từng lời từng chữ vọng vào từ gian ngoài:

"... Bát muội kỳ thực chẳng cần phải mang gánh nặng tư tưởng ấy, xã hội mới bây giờ sinh con trai con gái gì chẳng như nhau; vả lại, nhà họ Tào đâu có tuyệt tự, chẳng phải người vợ trước của chú ấy đã sinh được một mụn con trai sao? Chắc cũng mười lăm, mười sáu tuổi rồi nhỉ?"

"Không chỉ mười lăm đâu, phải mười sáu rồi! Tôi có hỏi Bát muội, hồi chú ấy theo đuổi em, có nói cho em biết chú ấy đã có vợ con chưa? Bát muội bảo sao lại không nói, vừa nói đã rơi nước mắt, bảo là thực sự khi ấy chú ấy không phản kháng đến cùng, do cha mẹ sắp đặt, tổng cộng chẳng chung phòng được mấy đêm, sau đó liền cùng bạn học đại học chạy đến vùng giải phóng; giờ giải phóng rồi, hôn nhân tự do, cái cuộc hôn nhân sắp đặt kia sớm đã hữu danh vô thực, nay chỉ còn thiếu một thủ tục, làm thủ tục xong thì cái danh cũng chẳng còn... Đợt ấy hai người cùng tham gia một đoàn khảo sát nông nghiệp, xong việc quay về Bắc Kinh thì chú ấy đi làm thủ tục ly hôn, Bát muội mới chịu cưới chú ấy..."

"Bát muội trước sau vẫn chưa từng gặp người vợ trước kia sao?"

"Chưa gặp, mà cũng chẳng cần gặp! Đứa con trai thì từng gặp rồi, nhưng sau này Bát muội mãi không sinh được con trai, mới bảo với chú ấy rằng, anh đi thăm con trai anh thì em không có ý kiến, nhưng anh đừng dẫn nó về cái nhà này, cũng đừng để nó tìm đến chỗ em, không phải em lòng dạ hẹp hòi, mà thực sự em sợ trong lòng đau xót, chịu không nổi..."

"Nói cho cùng thì vẫn là hẹp hòi, việc gì phải thế?"

"Bà nói nghe nhẹ tênh! Bát muội tuy là người làm khoa học, nhưng chuyện này rốt cuộc chẳng thể giải thích thấu đáo bằng khoa học được: Tại sao hễ họ sinh con gái thì thuận buồm xuôi gió, mà hễ sinh con trai thì y như rằng gặp nạn! Cả hai lần đều bị dây rốn quấn cổ! Lúc gỡ dây rốn đều nghe thấy đứa con trai khóc được mấy tiếng, vậy mà không gỡ nổi, đành trơ mắt nhìn nó chết ngay trước mặt! Số Bát muội khổ thật!"

"Thế người vợ trước số không khổ chắc? Nghe nói vẫn cứ ở mãi trong nhà cha mẹ chú ấy, tính từ phía người con thì không còn là con dâu nữa, nhưng tính từ phía cha mẹ chồng thì vẫn là người con dâu đích thực, giữ tròn đạo hiếu..."

"Cũng đúng! Ly hôn thì ly hôn rồi, nhưng cô ấy không về nhà mẹ đẻ, nghe nói nhà mẹ đẻ cũng không cho về, cô ấy chỉ đành tiếp tục làm dâu một cách danh không chính ngôn không thuận như thế! Bây giờ chỉ còn lại ông bố chồng, mẹ chồng là do một tay cô ấy chăm sóc đến phút lâm chung, nằm liệt giường ròng rã mấy năm trời, chỉ riêng việc dọn dẹp mấy vết loét ép đã đủ hành hạ người ta rồi... Cũng may có đứa con trai ruột bên cạnh, từng ngày lớn khôn thành người!"

"Thằng bé có hiếu thuận với mẹ nó không?"

"Còn phải nói! Nghe bảo vừa hiểu chuyện một cái là đã nói với mẹ: 'Mẹ ơi, con không bao giờ sang bên kia nữa đâu, con là của một mình mẹ thôi, mẹ cứ chờ xem, vài năm nữa con đi kiếm tiền, con sẽ để mẹ được sống sung sướng hơn cả bọn họ!'... Đứa con ngoan biết bao! Nhưng nét mặt, nghe đâu vẫn giống bố nó hơn..."

---❊ ❖ ❊---

Lắng nghe những mẩu đối thoại khiến tôi sững sờ ấy, tôi tỉnh cả ngủ. Chú Tào hóa ra còn có một góc khuất sâu kín đến nhường này...

Do tính tò mò, về sau tôi thu thập được thêm nhiều thông tin hơn. Nghe nói gia đình chú Tào vốn là một vọng tộc từ Sơn Đông chuyển đến Bắc Kinh làm quan lớn, cuối thời Thanh từng sở hữu một tòa trạch viện vô cùng bề thế ở phía đông thành Bắc Kinh; tôi thậm chí còn dựa theo lời đồn ấy mà đạp xe đến con ngõ nơi có tòa viện lạc đó để thám thính. Một đầu con ngõ vì mở rộng đường sá nên đã bị dỡ bỏ, sau một bức tường mới xây vội vã ở phần đất còn sót lại, lộ ra một gò đất khô cằn không còn hoa cỏ, trên gò có một gian tứ giác đình xập xệ, nghe nói đó chính là một thắng cảnh trong hoa viên nhà họ Tào năm xưa; cha tôi rất am hiểu về những tòa trạch viện cổ ở Bắc Kinh, ông bảo trước kia cũng giống như quan niệm "chân nhân bất lộ tướng", những trạch viện u nhã, tiện nghi của người giàu cũng chú trọng "môn tường bất lộ phổ". Hoàng tộc vì có điển chế quy định rõ ràng, nên quy cách cổng viện chính là nhãn mác thể hiện địa vị, đập ngay vào mắt người ta; còn tư dinh của các quan chức kinh thành và phú thương quyền quý thì có thể làm được việc "giàu mà không lộ"; bởi vậy, có những cánh cổng trông có vẻ hết sức bình thường, nhưng vừa bước qua bình phong lại là hết lớp nhà này đến lớp nhà khác lộng lẫy xa hoa; hoặc giả nhà cửa không tính là quá chói mắt, nhưng bước qua một cánh cổng vòm tròn, bên trong lại là một khu hoa viên mang đậm phong vị Tô Châu của miền Giang Nam, đá Thái Hồ xếp thành hòn non bộ, cầu ván uốn lượn bắc qua hồ nước mọc đầy bèo rong, hiên quán bên bờ hồ mở tung cánh cửa sổ để lộ chiếc bàn đặt đàn, bên hành lang quanh co có bụi trúc hoặc giàn tử đằng, vân vân và mây mây; có nhà thậm chí còn dựng đình trên đồi. Nhưng thông thường đứng từ đường phố hay ngõ hẻm bên ngoài viện, không những tuyệt đối chẳng thể nhìn thấy đình trên núi bên trong, mà ngay cả những bức tường xám xịt đơn điệu và con đường bụi bay mù mịt kia cũng khiến người ta khó lòng liên tưởng tới đình đài lầu các, ao hồ chim cá. Thời thơ ấu của chú Tào chắc hẳn thường lên gian đình trên gò đất ấy nghỉ ngơi vui chơi nhỉ? Nhưng thời thế đổi thay đã làm tan rã những đại gia đình này, và cũng xé lẻ luôn cả dinh cơ của họ, trạch viện họ Tào không chỉ sớm đã trở thành nơi ngụ cư chen chúc của nhiều hộ gia đình, mà trải qua việc phá dỡ cải tạo cục bộ còn làm lộ ra gian đình trên núi vốn năm xưa không thể nhìn thấy từ ngoài tường, gian đình tàn tạ ấy giữa tiếng ồn ào náo nhiệt của phố xá ban ngày chẳng biết cảm nhận được những gì, và trong màn đêm tĩnh mịch lại đang mơ những giấc mộng ra sao.

Có một lần khi đi ngang qua con ngõ ấy, tôi bắt gặp một người phụ nữ từ trong khoảng sân có gian đình trên núi bước ra, người đẫy đà, bưng một chiếc chậu rửa mặt sứt mẻ đựng rác, đi về phía trạm rác để đổ. Bà bước đi khá nhanh thoăn thoắt nhưng lại có chút run rẩy xiêu vẹo, nhìn kỹ lại thì bên dưới là một đôi chân bó gót sen, chẳng hiểu sao tôi lập tức khẳng định ngay bà ấy chính là người vợ trước của chú Tào, thế là tôi vờ như xe đạp bị hỏng liền dừng lại sửa, đợi người phụ nữ kia đổ rác xong đi ngược trở lại, tôi bèn cố ý đứng bên cạnh ngắm nghía bà thật kỹ. Bà có một khuôn mặt tròn toát lên vẻ hiền lành và thuận phục, đôi mắt rất to và lồi, bờ môi lại dài và mỏng; khi bóng bà khuất sau cánh cổng viện, tôi tò mò tự hỏi: Bà ấy làm sao vượt qua từng ngày và từng đêm đây? Bà thực sự chẳng khác nào gian đình tàn tạ trên núi kia, tuy vẫn còn tồn tại nhưng đã bị người đời ruồng bỏ. Trong lòng tôi dâng lên niềm thương cảm sâu sắc đối với bà, nhưng tôi lại không đứng trên lập trường của bà để oán trách chú Tào.

Cùng với việc từng bước dấn thân vào xã hội, tôi ngày càng nhận thức sâu sắc rằng sự kết hợp hoàn toàn xây dựng trên nền tảng tình cảm tự nguyện giữa chú Tào và Bát nương là vô cùng tốt đẹp và hiếm có.

Anh chị em ruột của Bát nương sau này đều sống ở Thượng Hải. Người mà tôi gọi là Thất cữu cữu là con trai trưởng của Cửu ngoại bà, cũng là người con trai duy nhất, ở Thượng Hải là một nha sĩ nức tiếng hàng đầu. Vợ của ông là một bác sĩ sản khoa có uy tín, tôi gọi là Thất cữu mẫu, tôi có một thứ tình cảm đặc biệt đối với bà, bởi năm xưa khi tôi cất tiếng khóc chào đời ở Thành Đô, chính bà là người đỡ đẻ cho mẹ tôi; Thất cữu cữu và Thất cữu mẫu đều là những trí thức lương thiện và an phận nhất, về mặt chuyên môn lại là đồng nghiệp của nhau, nhưng họ không phải tự do yêu đương mà là do người ta mai mối thành đôi, họ sống chung một mái nhà mà lại như nước với lửa, thường xuyên vì những chuyện vặt vãnh vô thưởng vô phạt nhất mà cãi cọ không thôi, thậm chí thường thốt ra những câu như "Thế thì ly hôn quách đi cho xong?!", "Đi thì đi! Đi ly hôn đi!", nhưng họ trước sau chưa từng thực sự đi ly hôn, bởi vì quan niệm đạo đức của họ giống nhau đến kinh ngạc, tự đáy lòng đều cho rằng ly hôn là một hành vi mất mặt tuyệt đối không thể đem ra thực hiện; họ cũng hoàn toàn chẳng có duyên với sự lãng mạn, tuy buồn khổ nhưng cũng chẳng hề có bất kỳ toan tính ngoại tình nào; họ cứ thế dằn vặt ràng buộc lấy nhau suốt một thời gian dài. Sau này Thất cữu cữu ốm nặng qua đời, Thất cữu mẫu tận tâm tận lực chăm sóc, tiễn đưa Thất cữu cữu đi rồi thì bản thân bà cũng đã già nua xế bóng. Bà nhớ lại Thất cữu cữu chẳng hề có chút cảm giác ngọt ngào, nhưng cũng tuyệt đối không có ý định gom góp ánh tà dương để ủ mật. Họ không sinh con đẻ cái, điều này lại càng làm tăng thêm nỗi cô quạnh lúc tuổi già của Thất cữu mẫu. Ngoài người anh trai là Thất cữu cữu ra, Bát nương còn có ba người chị gái, tôi lần lượt gọi họ là Tứ nương, Ngũ nương và Lục nương. Tứ nương từ những năm tháng xa xưa ở quê nhà Tứ Xuyên đã bị gia đình sắp đặt hôn nhân, để phản kháng cuộc hôn nhân ép buộc này, bà từng đơn thương độc mã trốn khỏi quê, chạy lên tỉnh lỵ, điều này vào thời bấy giờ được coi là một hành vi vô cùng dũng cảm. Bởi vì quê nhà là chốn hẻo lánh nghèo nàn, ngay cả những người có học thức nhất, có thân phận nhất cũng rất ít khi chủ động chống lại số phận; nhưng sự phản kháng của Tứ nương cuối cùng lại chuốc lấy thất bại — bà con gần xa ở tỉnh lỵ đều từ chối cưu mang bà lâu dài, bà lại chẳng tìm được lối thoát nào khác. Thế là cuối cùng bà bị Cửu ngoại công đuổi đến tận tỉnh thành bắt được, áp giải về quê nhét vào kiệu hoa, bà làm sao có được hạnh phúc cơ chứ? Ngũ nương thì cả đời sống độc thân. Lục nương qua người ta giới thiệu đã cùng chồng xây dựng một gia đình thoạt nhìn có vẻ êm ấm, sinh được vài đứa con, về sau rốt cuộc cũng tan vỡ, lười chẳng buồn làm thủ tục ly hôn mà chọn cách ly thân vĩnh viễn. So sánh như vậy mới thấy Bát nương thực sự là người hạnh phúc nhất trong cả nhà; còn chú Tào, chú yêu Bát nương bằng cả tấm chân tình, dẫu chú từng tha thiết mong mỏi Bát nương sẽ sinh cho mình một mụn con trai, nhưng sau khi nguyện vọng này tan thành mây khói, tình yêu của chú dành cho Bát nương chẳng hề suy giảm chút nào, tình phụ tử thể hiện trên người ba cô em họ Giản, Thấm, Quyên lại càng chứng minh cho tình yêu của chú đối với Bát nương ngày thêm sâu đậm. "Người có tình rốt cuộc cũng thành quyến thuộc" xưa nay tỷ lệ thành hiện thực vốn chẳng cao, nhìn từ bên ngoài, chú Tào đối với Bát nương thực sự chẳng khác nào đứa con cưng may mắn trong chuyện tình duyên và hôn sự.

Còn nhớ ở nhà chú Tào và Bát nương, tôi từng thấy một tấm ảnh chụp vô cùng thành công, đó là hồi hai người đang đắm say trong men tình, chụp bên lan can boong tàu thủy, khi ấy họ cùng tham gia một đoàn khảo sát, đi tàu từ nơi này sang nơi khác, họ tựa vào lan can tàu, tư thế tự nhiên mà tao nhã, gió sông thổi tung làn tóc rối, họ nhìn nhau đắm đuối, trong ánh mắt và trên gương mặt như phun trào ngọn lửa vô hình của thanh xuân và ái tình, cảnh tượng họ thu hút lẫn nhau ấy há chẳng phải là báu vật rực rỡ và vĩnh hằng nhất trên cõi đời này sao?

Chú Tào từng đưa ra lời tiên đoán "Ừ, nên chuyện đấy" cho bức tranh phong cảnh màu nước thời niên thiếu của tôi, lời tiên đoán ấy tuy không hoàn toàn ứng nghiệm chính xác, nhưng cũng chẳng hề rơi vào khoảng không — sau này tôi không trở thành họa sĩ, nhưng lại trở thành một nhà văn — đến nay tôi vẫn thầm cảm kích chú Tào vì đã phát hiện và thúc đẩy năng lực sáng tác nghệ thuật tiềm ẩn trong tôi.

Lên đại học, tôi và chú Tào đã trở thành bạn bè. Đây là một chuyện vô cùng vi diệu. Bát nương đối với tôi mãi mãi chỉ là một người bề trên thân thương, còn chú Tào người vốn vui buồn không lộ ra mặt lại dần dà kết thành đôi bạn vong niên với tôi.

Trước khi tốt nghiệp trung học, tôi đã bắt đầu có những bài viết ngắn đăng trên các phụ trương báo chí, phản ứng của Bát nương đối với việc này chẳng qua là cười tít mắt, vỗ tay trêu chọc tôi: "Ôi dào, tiêu rồi! Thành đại văn hào rồi cơ đấy à?" Chú Tào lại cố gắng cùng tôi bàn luận về những vấn đề khiến thoạt nghe tôi vô cùng kinh ngạc, chẳng hạn như: "Bản tính cốt lõi của tản văn rốt cuộc là gì?", "Cuối bài văn cứ dùng dấu chấm lửng để kết thúc liệu có phải là hạ sách chăng?" Tôi từng đăng một bài tản văn nhan đề "Ngắm núi từ cầu Ngân Đính", miêu tả phong cảnh đặc dị của vùng nước Thập Sát Hải ở phía tây bắc thành Bắc Kinh, chú rất để tâm, bèn khích lệ tôi: "Cháu cũng giống như chú, tuy không sinh ra ở Bắc Kinh nhưng lại lớn lên ở Bắc Kinh, sau này e rằng cũng sẽ gắn bó lâu dài với Bắc Kinh, chi bằng cháu chuyên tâm nghiên cứu về Bắc Kinh, tập trung viết về Bắc Kinh, việc này đòi hỏi phải thâm nhập sâu vào mọi phương diện thực sự thể hiện nét đặc sắc của Bắc Kinh..." Thế là chú xui tôi đi uống nước đậu lên men, ăn sách bò nướng xào giòn, cho đến việc nhai thử món dồi tuyết sương ngửi mùi thì thum thủm; chú tỉ mỉ dẫn dắt tôi đào sâu tìm hiểu: "Món xào gan rõ ràng không phải là xào, hơn nữa thành phần chính lại là lòng già, thế tại sao lại gọi là xào gan? Món tiểu đỗ nhi rõ ràng làm từ bàng quang lợn, bàng quang chứ đâu phải là bao tử, tức không phải là dạ dày, vậy sao lại gọi là tiểu đỗ nhi? Trong đó đều pha trộn tâm lý vi diệu của người Bắc Kinh xưa..." Những cuộc đàm đạo như thế thường diễn ra trên bàn ăn nhà chú, khi Bát nương và các em họ đã ăn xong tản đi chỗ khác, còn hai chúng tôi thì vẫn nhâm nhi chén rượu. Thói quen uống rượu của tôi là do chú Tào dạy cho, Bát nương thường hay cảm thán: "Tiêu rồi?! Một mình uống chưa đủ, lại còn kéo người ta xuống nước, có ai làm chú như ông không cơ chứ?" Chú Tào đối diện với lời ấy chỉ cười nhạt, đôi khi thậm chí còn khẽ gật đầu: "Phải rồi phải rồi, tôi là đầu sỏ gây tội mà!" May thay tửu lượng của chú Tào vốn không lớn, lại uống rất chậm, lại còn cầu kỳ phải có từ hai món nhắm trở lên. Do đó, việc chú dắt tôi vào con đường rượu chè chỉ đem lại cho tôi muôn vàn điều thú vị, chứ chưa từng mang lại chút khó chịu nào cho thể xác lẫn tinh thần của tôi. Thứ chúng tôi uống nhiều nhất không phải bia hay rượu trắng, mà là rượu hoàng tửu, hâm nóng ấm rồi mới uống, nhấp từng ngụm từng ngụm nhỏ, trong những lúc ăn uống chuyện trò ấy, chú Tào đã vô hình trung tiếp thêm cho tôi động lực để bước chân vào thế giới văn học nghệ thuật.

Bát nương yêu chú Tào, một trong những nguyên do là bà thấy chú Tào có tài, không chỉ có tài trong chuyên môn nông nghiệp mà còn có tài năng văn nghệ, Bát nương từng hớn hở khoe khoang với mẹ tôi tại nhà tôi rằng: "Tam tỷ à, chị làm sao đoán được, chú ấy vẽ tranh biếm họa mới tài làm sao chứ! Trong cơ quan tổ chức triển lãm, dán đầy tranh biếm họa của chú ấy, úi chà, cười chết đi được, vẽ cái gã mắc bệnh chủ nghĩa cá nhân thì cái đầu phình to như quả bí ngô; vẽ cái kẻ hay dỗi hờn cảm tính thì tự thắt nút cả người mình lại, tiêu rồi! Người vây quanh xem cứ cười ngặt nghẽo không dứt thôi!..." Nhưng bản thân chú Tào lại tỉnh táo nhận thức được rằng, tranh biếm họa của chú, thư pháp của chú, những bài tản văn chú viết riêng để giải khuây cho đã cơn nghiền, thảy đều còn cách việc xuất bản công khai trên sách báo một khoảng cách khá xa, do đó, chú gửi gắm kỳ vọng lên ba cô em họ, đây là điều tôi tự cảm nhận được, chú chưa từng bộc lộ rõ ràng trước mặt tôi, chú luôn giữ trọn phong thái hàm súc trầm tĩnh của mình, dĩ nhiên lại là Bát nương, thường hay để lộ ra nỗi kỳ vọng ấy của bà cùng chú Tào một cách quá đỗi nồng nhiệt, nhớ có một bận bà đến nhà tôi, tay xách một món đồ rất lớn, mẹ tôi vừa nhìn thấy đã giật mình: "Bát muội, em sắp đi xa đấy à?" Mặt bà rạng rỡ lớn tiếng giải thích: "Ai đi xa đâu nào! Chị nhìn xem, đây đâu phải va-li hành lý, đây là cây đàn phong cầm đấy chứ! Hiệu Anh Vũ của Thiên Tân nhé, em cứ muốn mua cho mấy đứa nhỏ như con Giản suốt mà chẳng bao giờ gặp được cái hiệu danh tiếng này, hôm nay đến đây chơi, trên đường vừa khéo lại đụng phải, đúng là người lành ắt có trời giúp mà!" Mẹ tôi hỏi bà mua hết bao nhiêu tiền, con số bà nói ra khiến mẹ tôi phải thốt lên: "Tiêu rồi! Sao em lại chịu chi đến thế hả trời!" Bát nương phấn khích đến mức giậm chân một cái, mái tóc ngắn cũng rung rinh theo: "Tụi em chính là mê nghệ thuật mà! Cứ mong cho mấy đứa nhỏ như con Giản có thể bước chân vào cửa thôi!" Cảnh tượng ấy đến nay tôi nhớ lại vẫn còn sống động như in, trên đời này người khát khao yêu chuộng nghệ thuật đạt đến mức độ như Bát nương tôi có lẽ rất nhiều, nhưng giãi bày niềm đam mê cháy bỏng ấy một cách chân thật và mãnh liệt đến thế, sợ rằng chẳng có mấy ai đâu nhỉ?

Xét về mặt say mê nghệ thuật, ba cô em họ quả thực đã thừa hưởng tâm tính của chú Tào và Bát nương, nhưng dường như các em đều thiếu đi sự thâm trầm của người cha mà lại thừa thãi nét phóng khoáng của người mẹ, nhớ có một lần, chúng tôi cùng đi xem buổi biểu diễn của đoàn ca kịch thuộc đoàn văn công quân đội, vở kịch diễn hôm đó là một vở ca kịch tầm thường nhạt nhẽo, thời thế đổi thay sẽ chẳng bao giờ được dàn dựng lại nữa, bởi vì anh rể Khuất Tấn Dũng của tôi từng là diễn viên của đoàn ca kịch ấy, có tham gia diễn xuất trong vở kịch đó, cho nên tôi và các em họ ngồi dưới khán đài đợi mở màn đều mang vẻ mặt rất đỗi tự hào, khi tấm màn nhung kéo ra, nhận ra người anh rể ấy trên sân khấu, cả ba cô em họ đều reo hò thành tiếng, lúc nghỉ giữa màn diễn, tôi dẫn các em vòng ra hậu trường, ở hậu trường các em không chỉ nhìn thấy người anh rể họ quen thuộc, mà còn gặp cả Thường Diên Mậu người từng theo anh rể họ đến nhà tôi chơi. Dịp ấy mấy em cũng vừa khéo đến nhà tôi chơi, từng trò chuyện qua lại, các em chỉ vì được nhìn thấy người mình quen biết ở cự ly gần nơi hậu trường với khuôn mặt đã thay đổi qua lớp hóa trang đậm đà, lại đang lắc lư eo thon chuẩn bị cho cảnh diễn tiếp theo, mà vỗ tay nhau tíu tít biểu lộ một niềm vui sướng cuồng nhiệt đầy hồn nhiên — bao nhiêu năm sau nhớ lại, tôi vẫn thấy đó là một thước phim không bao giờ phai nhạt. Năm ấy tôi từng ngấm ngầm thấy xấu hổ thay cho các em, tôi cho rằng các em đã bộc lộ cảm giác thần bí và lòng sùng bái đối với nghệ thuật một cách quá trần trụi, quá mất thể diện, nhưng bây giờ ngẫm lại, sự bộc lộ không hề che giấu xuất phát từ thiên tính ấy, há chẳng rực rỡ, long lanh, thuần khiết và ngát hương như những giọt sương mai trong ánh bình minh hay sao, sau này sự gian truân của cuộc sống cùng những phiền toái của cõi nhân sinh đều đã mài thành lớp chai dày trong tim các em, muốn nhìn thấy lại sự bộc lộ phóng khoáng của những thiếu nữ thuần tình như thế nữa, là điều vĩnh viễn không thể nào.

Tôi từng thảo luận về "Hồng Lâu Mộng" với chú Tào, có một lần tôi bảo với chú rằng, trong "Hồng Lâu Mộng" đoạn miêu tả Giả Trân, Giả Dung quỳ khóc thảm thiết sau khi Giả Kính nuốt kim đan mất mạng khiến tôi cảm thấy họ vừa có mặt giả tạo làm màu, lại vừa có mặt chân tình bộc lộ từ tận đáy lòng, chú lại không cho là đúng, lạnh lùng bảo tôi: "Chú có kinh nghiệm việc này — toàn là làm bộ làm tịch cả thôi." Khi ấy tôi không tranh luận tiếp với chú, nhưng trong lòng lại nghĩ chú đã bỏ qua đặc tính của nghệ thuật đỉnh cao trong việc miêu tả nội tâm nhân vật nhiều tầng lớp. Về sau, tôi mới dần dần thấm thía chú Tào có cái lý riêng của chú, chú từng sống trong đại gia đình, từng tích lũy vốn sống của mình trong tòa trạch viện có ngôi đình nhỏ trên gò đất kia, chú biết quá rõ các mối quan hệ tông pháp hay nhân tế chằng chịt có thể vắt kiệt nhân tính đến mức khô khốc, giả tạo nhường nào.

Rất lâu sau này tôi mới biết chú Tào ở Bắc Kinh còn có một người em trai ruột, cũng sinh được ba cô con gái, nhưng hai gia đình họ dường như cực kỳ hiếm khi qua lại. Sau khi "Đại cách mạng văn hóa vô sản" bùng nổ, cha của họ đã bị đả kích, sau khi bị "hồng vệ binh" phẫn nộ đấu tố đã bị trục xuất về nguyên quán ở Sơn Đông. Người vợ trước cùng đứa con trai của chú Tào vốn sống chung với cha họ thì không bị "hồng vệ binh" đuổi về Sơn Đông cùng. Bởi vì "hồng vệ binh" cảm thấy hai mẹ con họ thực sự khó mà quy vào cùng một giuộc với tên "quỷ hút máu già" kia, có "hồng vệ binh" còn cho rằng hai mẹ con họ chính là đối tượng bị tên "quỷ hút máu già" kia "hút máu", do đó liệt họ vào hàng "hồng ngũ loại" mà phát động họ "tạo phản". Đứa con trai duy nhất ấy của chú Tào vốn dĩ hầu như không qua lại với cha đẻ và chú ruột, nhưng sau khi ông nội bị đả kích, anh ta đã mấy lần tìm đến nhà họ chạy vọt, hy vọng họ nghĩ cách giúp ông nội có thể quay về thành phố, ít nhất ở nguyên quán cũng bớt chịu khổ sở, nhưng nghe nói người chú ruột kia đã lạnh lùng cự tuyệt, cho rằng sớm đã vạch rõ ranh giới, nay càng không thể đánh mất lập trường; chú Tào có động lòng, nhưng lại bó tay bất lực. Nghe nói người con trai giậm chân một cái, trừng mắt lườm cha một cái rồi quay gót bỏ đi như một cơn gió, từ đó không bao giờ bước chân tới cửa nữa. Đến nay tôi vẫn không dám đem chuyện này ra hỏi chú Tào, tôi nghĩ nội tâm chú nhất định vô cùng phức tạp, chú có lẽ đã sớm chán ghét cái đại gia đình do người cha thao túng năm xưa, cuộc hôn nhân sắp đặt áp đặt lên người chú từng đe dọa đến hạnh phúc căn bản của cuộc đời chú; nhưng đối với người cha sau ngày giải phóng đã có được tư cách ủy viên Văn sử quán, chưa chắc chú đã không có sự tôn trọng và tình cảm nhất định, chú thực sự nên nghiên cứu lại mối quan hệ nhân vật trong "Hồng Lâu Mộng", kinh nghiệm sống của con người ta quả thực cần phải không ngừng gạn lọc và tái cấu trúc trong những hoàn cảnh mới.

"Cách mạng văn hóa" khiến gia đình tôi, gia đình chú Tào cùng những gia đình thân thích bè bạn khác lần lượt rơi vào cảnh biến động phiêu dạt, đầu những năm 70, chú Tào và Bát nương dẫn theo ba cô con gái đến trường cán bộ "Ngũ Thất" ở Hà Nam. Khi "Cách mạng văn hóa" mới nổ ra, trạng thái của Bát nương có thể nói là vô tâm vô tính, còn trạng thái của chú Tào có thể nói là luống cuống chẳng biết xoay xở ra sao. Nhớ dạo các "trận chiến phái phái" dấy lên, Bát nương còn từng đến nhà chị gái tôi, khi đó cha mẹ tôi đang từ Trương Gia Khẩu đến chỗ chị để lánh nạn vũ đấu, bà lại tỉnh bơ miêu tả lại với cha mẹ tôi cảnh tượng khai màn cuộc đấu tố như sau: "... Đang họp được nửa chừng, úi chà, một đám người xông thẳng vào luôn á, trên cánh tay ai nấy đều đeo cái băng đỏ dài cả thước, là đội chiến đấu tư tưởng Mao Trạch Đông, 'đội cảm tử tiễn ôn thần' của phái bên kia, bọn họ chẳng nói chẳng rằng, vớ lấy ghế đẩu không người ném tới tấp lên khán đài, tiêu rồi! Hội trường hỗn loạn như một tổ ong vỡ, em cũng hùa theo gào lên: 'Đừng có đánh nhau mà!', kết quả là, chẳng biết đứa nào xô em một cái, suýt chút nữa là ngã dúi dụi dưới gót chân người ta rồi đó!..." Kể đến đây bà lại bật cười hề hề, khiến mẹ tôi sốt ruột vỗ vào mu bàn tay bà mà bảo: "Bát muội ơi, nguy hiểm quá chừng, sao em không trốn đi chứ! Chúng nó đánh nhau thì can hệ gì đến em!" Bát nương gật đầu lia lịa, nhưng dường như chẳng hề cảm thấy đứng trước một tình cảnh hoang đường đến thế thì nên cảm thấy sợ hãi hay thê lương. Cũng dễ hiểu thôi, Bát nương không phải đảng viên, không phải phái đương quyền, làm "uy quyền học thuật phản động giai cấp tư sản" thì cũng chưa đủ tầm, cả hai phái đều chẳng thèm để bà vào mắt, thậm chí đều xem bà như không tồn tại, bởi vậy áp lực tâm lý của bà không lớn. Chú Tào ở bộ giữ chức phó xứ trưởng, cũng chẳng phải hạng "đương quyền" gì bắt mắt cho cam, nhưng khi hai đại phái đấu đá nhau, chú lại trở thành đối tượng mà cả hai bên cùng tranh thủ lôi kéo, kẹp ở chính giữa, thái độ khó bày tỏ, bước chân khó cất bước, kết quả dường như là ngả theo phái bảo vệ Đàm Chấn Lâm, bị phái bên kia coi là "lão bảo", lần này người ta liền truy cứu đến xuất thân của chú, đến "hành vi kiểu Trần Thế Mỹ" của chú, cho đến việc chú từng "dùng tranh biếm họa để tấn công đảng, thuộc thành phần hữu phái lọt lưới", vân vân và mây mây; trước khi họ xuống trường cán bộ "Ngũ Thất", tôi từng đến thăm chú Tào và Bát nương một lần, chú Tào kéo tôi uống rượu trắng, khác thường ở chỗ chẳng có thức ăn nhắm, chỉ dùng vài nhánh tỏi để đưa cay, hơn nữa lần đầu tiên chú trả lời chẳng ăn nhập vào đâu, lại còn lẩm bẩm một mình, cuối cùng nói năng lộn xộn cả lên, tôi chẳng biết phải làm sao, trái lại Bát nương ở bên cạnh khuyên giải: "Tiêu rồi! Trời đã sập xuống đâu, có chuyện chi ghê gớm đâu mà tự rước sầu chuốc muộn vào người cho khổ, chẳng phải trúng kế bọn chém đầu kia hay sao!" Cuối cùng Bát nương bóc cho mỗi người chúng tôi một chiếc bánh ú thịt nóng hôi hổi bốc khói nghi ngút, ép chúng tôi ngừng uống rượu mà ăn chiếc bánh ú ấy.

Đến đầu thập niên 70, anh hai, chị gái, rồi cả chú Tào, Bát nương, tất cả đều rời khỏi Bắc Kinh, bị điều chuyển về các địa phương khác, chỉ còn lại một mình tôi bơ vơ nơi góc tây bắc kinh thành, tựa như một con bọ đất co ro trong khe tường, qua được ngày hôm nay chẳng biết ngày mai sẽ ra sao, gượng gạo chịu đựng qua những tháng ngày u ám và ngột ngạt.

Những ngày xám xịt rốt cuộc cũng vẫn là ngày tháng. Điểm tốt của ngày tháng chính là nó sẽ trôi đi, anh chủ động cũng được mà bị động cũng xong, nó trước sau vẫn sẽ cuốn anh cùng tiến về phía trước. Trong những tháng ngày xám xịt rốt cuộc cũng vẫn có những điểm sáng. Cho dù là điểm sáng nhỏ nhoi như hạt vừng, cũng luôn có thể phát ra chút ánh sáng le lói sưởi ấm cõi lòng. Trong mấy năm trời ấy, những lá thư thân nhân bè bạn từ nơi xa gửi về căn phòng nhỏ phía đông trong khu nhà tập thể ngõ hẻm của tôi chính là điểm sáng trong cuộc đời tôi, là ánh sao lung linh trong tâm khảm.

Một ngày nọ, tôi nhận được thư của chú Tào gửi từ trường cán bộ "Ngũ Thất" ở Hà Nam, một xấp giấy thư dày cộm, chữ viết chi chít ken dày, khiến tôi mừng rỡ khôn xiết. Hóa ra đó là một ngày nghỉ hiếm hoi, chú ngồi trên chiếc ghế đẩu nhỏ, vén đệm giường lên, lấy dát giường làm bàn, cặm cụi viết gần như suốt cả ngày trời chỉ dành riêng cho tôi. Điều này khiến tôi vô cùng cảm động. Chú viết về nỗi nhớ nhung Bắc Kinh, ngòi bút cứ thế tuôn trào không bờ bến, viết về nỗi khát khao được húp một bát nước đậu nóng hổi, ăn kèm với chiếc bánh quẩy tiêu khuyên rán vàng ruộm, hoặc miếng bánh bạc thúy phồng rộp những bọng nước nhỏ xíu; lại khát khao dưới bóng cây hòe lớn nơi ngõ nhỏ Bắc Kinh, để gió chiều thổi những cánh hoa hòe rụng đầy đầu đầy vai; thậm chí khát khao đón những cơn gió cát mùa xuân táp thẳng vào mặt, để hít hà thấy một mùi "hương thơm của cát bụi". Chú lại viết về cuộc sống ở "trường cán bộ", viết về cảnh mọi người ngồi bệt dưới đất xem phim suốt một buổi tối ra sao, trọn vẹn hơn hai tiếng đồng hồ chiếu toàn là phim tài liệu về việc đón tiếp Quốc vương Sihanouk, vậy mà mọi người đều chăm chú dõi theo, xem một cách ngon lành, thậm chí chiếu xong rồi vẫn còn thòm thèm chưa thỏa. Lại viết về một hôm nọ tập hợp xếp hàng, đi bộ mười mấy dặm đến một quảng trường trong trấn để xem một đoàn kịch của huyện diễn vở kịch mẫu "Sa Gia Bạng", bởi vì người đi xem quá đông, chỗ ngồi khán giả lại không có độ dốc thoai thoải, rốt cuộc ngoài mấy hàng đầu ra thì những người phía sau hầu như chẳng ai nhìn thấy gì trên sân khấu, thế là chen lấn xô đẩy, thế là cãi vã to tiếng, thế là xô xát giằng co, cuối cùng đến mức đánh nhau túi bụi, mẩu mía và bã mía bay rợp trời, cơn khát thẩm mỹ của con người ta đã biến thành một màn giải tỏa đầy tính nguyên thủy... Đọc xong lá thư này tôi thấy vô cùng ủ rũ, tôi nhớ chú Tào da diết, khát khao được ngồi cùng bàn đối ẩm với chú, tựa như tôi có thể vỗ về tâm hồn đang cô quạnh trong sâu thẳm và vẫn hằng ôm ấp những ước mơ kia của chú.

Mấy năm sau, "bè lũ bốn tên" đã bị đập tan, tình hình bắt đầu có những biến chuyển mang tính căn bản, tôi nhận được một tấm "vé xem phim nội bộ" do tạp chí "Văn học thiếu nhi" thuộc Nhà xuất bản Thiếu nhi Trung Quốc gửi tặng nhân dịp đình bản được phục hồi, tác phẩm công chiếu là bộ phim phương Tây "Con rắn". Địa điểm chiếu phim là một hội trường nội bộ, tôi mang theo một cảm giác vinh dự chưa từng có cầm vé bước vào hội trường ấy, từ lúc bước xuống xe buýt cho đến khi vào đến cổng lớn hội trường, tôi đã chen qua đám đông nghẹt thở những người đang đứng chờ vé, xin vé, thậm chí toan cướp vé; phim bắt đầu chiếu, tôi ngồi ở hàng ghế đầu, bỗng nhiên nghe thấy từng hồi va đập dữ dội, không phải phát ra từ màn bạc, mà là cánh cổng lớn của hội trường vốn đã đóng chặt đang bị một số người vì quá muốn vào xem mà không vào được nên phẫn nộ xông vào húc mạnh, âm thanh ấy thể hiện rõ ràng họ không phải dùng tay vỗ, dùng cùi chỏ gõ hay dùng chân đá, mà là dùng cả thân xác trần trụi để tông vào, thực sự là kinh tâm động phách! Tôi chẳng thể nào xem tiếp bộ phim được nữa, tôi bỗng nhiên nhớ tới lá thư này của chú Tào, tôi nhìn thấu được một niềm khát khao thuần phác nhất và một nỗi cô đơn tăm tối nhất tận đáy sâu tâm hồn những con người bình thường, cùng với sự giãy giụa hung bạo hòng thoát khỏi nỗi cô đơn ấy, sống mũi tôi bỗng cay cay.

Kỳ thực không lâu sau khi gửi lá thư ấy cho tôi thì chú Tào đã quay về Bắc Kinh, có điều rất lâu sau tôi mới biết chuyện, bởi vì sau khi về Bắc Kinh chú không hề đến tìm tôi, phỏng chừng chú cũng chẳng được húp bát nước đậu, chẳng được ăn bánh tiêu khuyên hay bánh bạc thúy, thậm chí cũng chẳng được tìm lại hương thơm hoa hòe cùng mùi cát bụi nồng nàn.

Là do tổ chức thông báo và cho phép chú trở về Bắc Kinh.

Bắc Kinh khi ấy đang rầm rộ xây dựng hệ thống đường sắt ngầm trên diện rộng, phần lớn nhiệm vụ thi công do bộ đội công binh đảm nhiệm, đơn vị này có một đội xe tải khổng lồ chịu trách nhiệm vận chuyển đất đá cùng đủ loại vật liệu xây dựng; tài xế của đội xe phần lớn là những binh sĩ nghĩa vụ còn rất trẻ, họ thiếu kinh nghiệm, đặc biệt là trước đây đã quen với việc tác nghiệp ngoài đồng bãi, khi bước vào thành phố đông đúc người xe này thì khó lòng thích ứng ngay được, dĩ nhiên cũng bởi vì trong số người dân Bắc Kinh luôn có một bộ phận không nhỏ chẳng hề có tâm lý sợ sệt xe cộ, đặc biệt là những người trẻ tuổi đi xe đạp, từ đó thường xuyên gây ra những vụ tai nạn giao thông thảm khốc.

Trong vô số những vụ tai nạn như thế suốt mấy năm đó, có một vụ xảy ra ở Đông Đơn. Một tài xế lái xe tải lớn của bộ đội công binh đã tông chết một người đi xe đạp trên làn đường dành cho xe thô sơ. Người chiến sĩ lái xe gây tai nạn và người công nhân bị tông chết đều mới chỉ ngoài hai mươi tuổi. Cậu thanh niên bị tông chết kia đi một chiếc xe đạp Phượng Hoàng mới toanh mua chưa được mấy ngày, trên cổ tay đeo một chiếc đồng hồ Thượng Hải toàn thép chống sốc chống nước cũng mới tinh mua chưa được mấy ngày.

Bộ đội công binh vô cùng coi trọng từng vụ tai nạn do thuộc cấp của họ gây ra, thậm chí đã sớm thành lập hẳn một văn phòng chuyên trách, điều động một số nhân sự tinh thông tháo vát, xử lý từng sự vụ liên quan theo đúng quy trình bài bản. Sau khi vụ tai nạn này xảy ra, họ cũng xử lý kịp thời, hào phóng và chu đáo như mọi khi.

Họ xác minh thân phận của người đã khuất, trước tiên chủ động đến nhà máy nơi nạn nhân làm việc để xin lỗi, rồi được phía nhà máy hộ tống đến tận nhà người gặp nạn, chân thành tạ lỗi với mẹ của người công nhân ấy, không chỉ người gây tai nạn nước mắt ngắn dài quỳ sụp trước gối xin nhận bà làm mẹ để phụng dưỡng bà suốt đời, mà toàn bộ chiến sĩ trong một tiểu đội của người gây tai nạn đều chân thành vây quanh bà thề thốt: "Mẹ ơi! Tất cả chúng con đều là con trai của mẹ!" Đơn vị không chỉ cam kết chịu toàn bộ chi phí mai táng, bồi thường cho bà 5.000 nhân dân tệ tổn thất nhân mạng, mà tiểu đội của người gây tai nạn còn dự định gánh vác toàn bộ việc nhà giúp bà, từ mua gạo mua than mua rau cho đến nấu cơm giặt giũ, thậm chí còn muốn đọc báo kể chuyện chuyện trò giải khuây cho bà. Nhưng người mẹ đối với tất cả những điều này chỉ có một phản ứng duy nhất là không hề có bất kỳ phản ứng nào. Đôi mắt bà mở trừng trừng to như hai chiếc chuông đồng, bờ môi mím chặt lại mỏng manh như một vết dao cứa. Bà ngồi yên ở đó không khóc không nói, chẳng nhúc nhích lay chuyển.

Bà chính là người vợ trước của chú Tào. Người chết vì tai nạn giao thông chính là đứa con trai duy nhất của chú Tào.

Đến nay tôi chưa từng hỏi chú Tào về chuyện này. Mà cũng chẳng nên hỏi. Nhưng đến nay tôi vẫn không khỏi băn khoăn suy nghĩ, người vợ trước của chú rốt cuộc còn sống trên cõi đời này hay không? Sinh tồn trên cõi đời này ra sao? Chú Tào chưa từng yêu bà. Cha mẹ chồng cũng chẳng thể trao cho bà tình thương. Chỉ có đứa con trai do chính tình yêu của bà chắt chiu vun vén nên mới có thể đền đáp lại cho bà bằng tình yêu thương, khiến sinh mệnh xám xịt của bà le lói chút ánh sáng. Dòng chảy cuộc đời nương tựa lẫn nhau của hai mẹ con vừa mới chạm tới một khởi điểm mới, mười mấy năm trời bà dùng mười đầu ngón tay làm việc cật lực hơn mười tiếng mỗi ngày (thêu khăn trải bàn và khăn ăn xuất khẩu), ngậm đắng nuốt cay nuôi con học xong trung học, lại nhờ chính sách chăm sóc của chính phủ mà không phải đi lên núi xuống làng mà được phân phối vào một nhà máy rất lớn, trở thành thợ tiện trong một phân xưởng quy mô, và bắt đầu lĩnh những đồng lương đầu tiên, sắm sửa quần áo giày tất mới cho bà, liên tục nói với bà: "Mẹ ơi, kể từ hôm nay là con nuôi mẹ rồi, mẹ được nghỉ ngơi rồi đấy!" Thằng bé còn biết mang về nhà món thịt bò kho và lê trắng Bắc Kinh mà bà thích ăn nhất, lại dưới sự giục giã của bà mà tự sắm cho mình chiếc xe đạp mới cùng chiếc đồng hồ mới, nào ngờ cái khởi điểm mới vừa chạm tới ấy lại chính là điểm kết thúc ập đến bất thình lình. Bà mất đi đâu phải chỉ là một đứa con trai, mà là toàn bộ sinh mệnh của mình. Số phận của bà cớ sao lại bi thảm đến nhường này? Trong cõi u minh thực sự có đấng chủ tể hay sao? Ai lại nỡ lòng nhẫn tâm đến thế?

Giữa thập niên 70, chú Tào và Bát nương lại quay về Bắc Kinh, mang theo cô em họ Quyên. Giản ở lại Hà Nam. Hồi ở trường cán bộ "Ngũ Thất", họ đều ngỡ rằng sẽ không bao giờ có thể quay về Bắc Kinh được nữa, mà Giản đã học xong trung học, cho nên đã vào làm công nhân ở một nhà máy địa phương, khi vừa có được cơ hội đó, Bát nương còn từng bày tỏ trong thư gửi cho tôi rằng họ vô cùng vui mừng, bởi không phải đứa con cùng trang lứa nào của các học viên "Ngũ Thất" cũng đều có thể vào một nhà máy quốc doanh như thế làm công nhân chính thức, có rất nhiều đứa đành phải về các thôn xóm lân cận trường cán bộ để cắm rễ sản xuất. Còn em họ Thấm thì họ cho làm con nuôi của Thất cữu cữu và Thất cữu mẫu ở Thượng Hải, khiến Thấm nhanh chóng trở thành một cô gái Thượng Hải với giọng nói nũng nịu điệu đà.

Sau khi chú Tào và Bát nương trở về Bắc Kinh, tôi đến thăm họ. Cả nhà ba người chen chúc trong một căn nhà cấp bốn chật hẹp, trước đây ở Bắc Kinh họ chưa từng phải ở nơi tồi tàn đến thế, nhưng nét mặt ai nấy đều rạng rỡ hớn hở, bởi dù sao cũng đã về được Bắc Kinh và lại có hộ khẩu Bắc Kinh rồi. Bát nương vừa tiếp đãi, bảo tôi chen vào ngồi uống rượu cùng chú Tào vừa cằn nhằn: "Chỉ tội nghiệp con bé Tiểu Giản! Than ôi, lúc đầu chi bằng cứ để nó cắm chốt ở mấy làng gần đây, anh bảo ai mà ngờ được chứ? Chính sách bây giờ cho phép những đứa cắm chốt được làm thủ tục về, còn vào nhà máy quốc doanh rồi thì nhất loạt không được theo bố mẹ về Bắc Kinh, than ôi..." Trải qua đợt tôi luyện ở trường cán bộ, Bát nương đã biến thành một bà già đích thực, trên mặt thêm bao nhiêu nếp nhăn, tính tình lạc quan vốn có cũng chẳng còn lộ ra mấy, tiếng than "Thôi rồi!" cũng ít hẳn đi. Chú Tào thì dường như chẳng có gì thay đổi, so ra, chú trông trẻ hơn Bát nương rất nhiều, có lẽ hôm ấy vừa mới tắm gội, cắt tóc xong chăng, tôi thấy chú Tào còn phong độ, tuấn tú hơn cả ngày trước. Chú vẫn là người vui buồn không lộ ra mặt, nét mặt nhàn nhạt, vừa uống vừa tán gẫu với tôi, những chuyện chú nói ra miệng chẳng phong phú, sinh động bằng những gì viết trong thư gửi cho tôi, chú cơ bản là hỏi tôi chuyện nọ chuyện kia một cách bâng quơ, tôi nói rất nhiều, còn tôi hỏi gì, chú đều có hỏi có đáp, nhưng đều vô cùng vắn tắt.

Chẳng bao lâu sau đã có bước ngoặt lớn khi "Bè lũ bốn tên" sụp đổ. Bố của chú Tào từ quê cũ trở về Bắc Kinh để thực hiện chính sách giải quyết chế độ, ông cụ đương nhiên không tiện đến ở cùng người vợ cả của chú Tào, còn bên chỗ người em trai chú Tào, hoặc là không hoan nghênh ông cụ hoặc là ông cụ không muốn đến, rốt cuộc ông dọn đến ở chỗ chú Tào. Điều kiện nhà ở của chú Tào chẳng được cải thiện là bao, chỉ là có thêm một gian bếp, ông cụ bèn kê một tấm ván trong bếp rồi tàm tạm ở lại. Mãi đến lúc này tôi mới được biết ông cụ Tào này, ông ăn mặc rách rưới nhưng diện mạo gọn gàng sạch sẽ, lại còn hồng hào khỏe mạnh, dưới cằm để một chỏm râu bạc, hô ứng với đôi lông mày trắng dài, gặp tôi thì hòa nhã dễ gần, lễ phép chu toàn, khi nói chuyện để lộ hàm răng trắng còn nguyên vẹn, khiến tôi thầm đoán, thời trẻ chắc hẳn ông còn phóng khoáng phong lưu hơn cả chú Tào. Đồng thời trong lòng tôi cũng thầm nghĩ: Ngày xưa ông sở hữu một khu nhà vườn lớn như thế, cái đình trên hòn non bộ bằng đất kia diện tích cũng lớn hơn gian bếp thấp bé này, năm tháng đổi dời, giờ đây giữa chốn kinh hoa ông lại chỉ có thể tồn tại thế này, đúng là không thể không phục bài "Hảo liễu ca chú" trong "Hồng Lâu Mộng"!

Bát nương và người bố chồng này vốn dĩ chẳng nhận nhau, vì ông cụ nhận định con dâu cả của mình là người vợ cả kia, mà người vợ cả ấy cũng tận tâm tận lực giữ tròn đạo dâu con với ông; đến nông nỗi này, Bát nương và ông cụ Tào chỉ đành giáp mặt sống chung, vả lại còn là trong một không gian cực kỳ chật hẹp, theo quan sát lạnh lùng từ bên ngoài của tôi, họ dần dà cũng quen đi. Có một lần tôi đến chỗ họ, ông cụ Tào ra ngõ đi dạo, Bát nương vừa làm cơm vừa chủ động nói với tôi: "Ông cụ nhà này tính tình tốt hiếm thấy, anh xem bất tiện thế này mà ông cũng chịu đựng được, chưa từng đòi hỏi điều gì, cũng chưa từng than vãn nửa câu... Phải rồi, ông chỉ có một điều yêu cầu chúng tôi, bao gồm cả con Tiểu Quyên, phải làm được cho ông, đó là 'tuyệt đối đừng đem chuyện tuyệt tự nói cho người ở Tào Lâu biết'. Anh hiểu chưa? Thôi rồi! Anh vẫn chưa hiểu ra ư? Anh biết nhánh nhà họ Tào của ông đấy, bố ông chỉ sinh độc một mình ông, nhánh của ông có hai mươi người con trai thì chú Tào của anh để lại cho ông một đứa cháu đích tôn, khó khăn lắm mới nuôi lớn đến ngoài hai mươi tuổi thì lại bị xe tải lớn tông chết, ông chẳng phải là tuyệt tự rồi sao? Mấy người già như ông không coi Tiểu Giản, Tiểu Thấm, Tiểu Quyên là người nhà họ Tào đâu, sớm muộn gì cũng gả đi mà! Chuyện này giáng cho ông đòn đả kích lớn hơn nhiều so với việc bị 'Hồng vệ binh' trục xuất, ông không sợ người làng Tào Lâu ở quê đấu tố ông phản động thế này thế nọ, ông chỉ sợ tin này truyền về người ta sẽ cười nhạo ông tuyệt tự... Thực ra chúng tôi việc gì phải đi nói chuyện này và biết tìm ai mà nói cơ chứ? Nhưng chỉ sợ người làng Tào Lâu sớm muộn gì cũng nghe ngóng được tin tức... Than ôi, ông cụ nhà này cũng thật đáng thương! Anh xem, chen chúc trong cái xó xỉnh nhà bếp thế này mà sống qua ngày..."

Thực ra xét về quan hệ họ hàng, Bát nương cùng chú Tào và ba cô em họ mới là họ hàng của tôi, ông cụ Tào đã chẳng mấy can hệ đến tôi, người vợ cả kia của chú Tào lại càng không dính dáng chút nào, nhưng số phận của ông cụ Tào, số phận của người vợ cả ấy, đến nay thỉnh thoảng vẫn lay động tâm can tôi, khiến tôi miên man suy nghĩ, xót xa cảm thán. Tâm can tôi có phải là quá mềm yếu rồi không?

13

Cái thú vị lớn nhất của đời người nằm ở sự đổi thay. Biến chuyển bất ngờ là cái thú nồng đậm nhất. Khi chú Tào và mọi người lưng cắm lên trời mặt cúi xuống bùn để cấy mạ, gặt lúa ở "trường cán bộ", khi họ hết lần này đến lần khác bị răn dạy phải xác định tư tưởng sống ở "trường cán bộ" theo kiểu "lâu dài", thậm chí là "cả đời", làm sao họ ngờ được vài năm sau, chẳng những có thể trở về Bắc Kinh, khôi phục công tác ở cơ quan, mà còn được ra nước ngoài khảo sát, mà nơi khảo sát lại chính là nước Mỹ?

Đoàn khảo sát mà chú Tào tham gia bay sang Tây Âu trước rồi mới bay sang Mỹ, giữa chừng dừng lại ở Paris một ngày, nhờ thế chú Tào đã được du ngoạn Paris hoa lệ mà mình hằng ao ước bấy lâu. Chú Tào vừa uống rượu hoàng tửu với tôi, vừa thong thả khoan thai tán gẫu về Paris và New York. Chú kể lúc ở Paris, một thành viên trong đoàn của họ, chẳng biết là trước khi lên máy bay ăn phải thứ gì không sạch sẽ, hay là đồ ăn trên máy bay có món bị biến chất mà không nhận ra, vừa xuống máy bay thì bụng dạ đã cồn cào quấy phá, bởi vì họ chỉ lưu lại Paris một ngày, đoàn đi công tác nước ngoài bằng công quỹ chỉ có thể hành động tập thể, trên người mỗi cá nhân chẳng có lấy một cắc tiền tệ ngoại hối mạnh, ngôn ngữ lại bất đồng, thế nên chỉ có thể đi tham quan tập thể — đại sứ quán điều một chiếc xe buýt lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho các đoàn ra nước ngoài đi ngang qua Paris, ngồi xe buýt đó có thể lướt nhanh ngắm cảnh quan Paris, tháp Eiffel, Nhà thờ Đức Bà, bảo tàng Louvre, Khải Hoàn Môn, quảng trường Concorde, mỗi nơi dừng lại tối đa nửa tiếng, ít nhất chỉ cho mười lăm phút — thành viên nọ đương nhiên không nỡ bỏ lỡ cơ hội ngàn năm có một này, bởi vì sau khi khảo sát từ Mỹ về họ không còn đi qua Paris nữa, ông ấy đoán bản thân sau này chẳng còn khả năng du ngoạn Paris, bèn cắn răng chịu đựng cơn quặn thắt trong bụng mà bước lên xe du lịch, lúc đầu đi qua vài điểm, còn gắng gượng trấn áp được đám "phái tạo phản" trong bụng xuống, về sau thì không chịu nổi nữa, quả thực là sống không bằng chết, tìm nhà vệ sinh thì không biết tìm, có chỗ thu tiền thì không vào được, tìm được một chỗ lại sợ trễ giờ xe buýt quay lại, kết quả hồn xiêu phách lạc, lúc ngồi trên xe rốt cuộc nhịn không nổi nữa mà xả thẳng ra quần, khiến mọi người xung quanh bịt mũi chê cười. Chú Tào kể xong nỗi éo le của người này bèn tặc lưỡi cảm thán: "Đó có lẽ là số mệnh, là cái gọi là duyên phận đấy — ông ấy với Paris chẳng có duyên đến thế, giờ hỏi lại, ông ấy hối hận tại sao hôm đó không ở lại luôn nhà khách sứ quán — ông ấy bảo suốt dọc đường chẳng đọng lại được ấn tượng gì, ấn tượng duy nhất chỉ là sự chật vật nhếch nhác và mùi hôi thối của chính mình..."

"Cháu thì không tin số cháu đã định sẵn phải sống cả đời ở Hà Nam! Lại vô duyên với Bắc Kinh!"

Người ngắt lời chú Tào là cô em họ Tiểu Giản. Cô bé lại một lần nữa từ Hà Nam lên Bắc Kinh thăm người thân. Vì sự trở về của cô, nhà Bát nương lại càng thêm chật chội. Bát nương lén nói với tôi, buổi tối chú Tào đành phải ngủ trên bàn học — đừng thấy chú ấy từng đi Mỹ, lại còn dạo chơi Paris!

Cô em họ Tiểu Giản từ Hà Nam trở về khiến tôi suýt chút nữa không nhận ra, đó không chỉ vì cô bé đã trưởng thành, dung mạo đã thay đổi, gương mặt vốn tràn ngập những đường cong mềm mại của cô nay đã có vài chỗ — như cằm, cánh mũi — biến thành những đường gấp khúc thô cứng; quan trọng hơn là tính tình của cô dường như đã khác hẳn ngày xưa. Năm xưa khi xách chiếc đàn phong cầm, vẻ ngây thơ và niềm vui trong mắt cô đã đi đâu mất rồi? Lại còn lúc ở hậu trường gặp những diễn viên như anh Dũng của tôi, vẻ kinh ngạc ngây ngô mộc mạc và niềm vui sướng cuồng nhiệt bừng bừng sức sống sao lại biến mất không còn tăm tích? Năm xưa cô bé còn có một mặt vô cùng bẽn lẽn trước người lạ, vậy mà theo lời tự thuật của chính cô, bây giờ cô dường như chẳng hiểu lòng tự trọng và thể diện trên cõi đời này đáng giá mấy đồng!

Tôi đưa mắt kinh ngạc nhìn cô em họ Tiểu Giản. Trước kia tôi không để cô bé vào mắt, một mặt cố nhiên là vì cô bé còn nhỏ, mặt khác là vì cô quá đơn thuần, những thứ đơn thuần chúng ta có thể thích nhưng sẽ không đặc biệt để tâm. Cô em họ Tiểu Giản đã trưởng thành ngồi trước mặt tôi, ánh mắt lạnh lùng nghiêm nghị, giọng điệu chua ngoa cay độc, cô trút lên tôi, cũng trút lên bố mẹ, cho đến cả ông nội, những kinh nghiệm đường đời mà cô vừa mới tích lũy nhưng lại vô cùng nặng nề:

"... Ga chỗ chúng cháu là ga xép, mỗi lần tàu hỏa chỉ dừng đúng một phút, lên xe đương nhiên làm gì có chỗ ngồi trống, có khi ngay cả ngoài cửa nhà vệ sinh cũng chen chúc ngồi mấy người. Ban đầu da mặt cháu mỏng, cứ thế mà nhịn, bác cứ nhịn đi, vài tiếng, mười mấy tiếng đồng hồ, bác đừng hòng ngồi xuống, cứ đứng suốt về tận Bắc Kinh! Chỗ ngồi phải tự mình tìm! Số mệnh của mình phải tự mình giành lấy! Duyên phận không tự trên trời rơi xuống đâu! Đạo lý đơn giản thế này, cháu có được dễ dàng lắm sao? Không dễ đâu!... Bây giờ cháu vừa lên xe là chen thẳng vào trong toa, cháu hỏi từ ghế số một, hỏi từng người một, hỏi từng hàng ghế một, người ta không thèm để ý, cháu cũng chẳng giận, nhưng cháu cũng không dừng lại mà cứ hỏi; người ta trả lời khó nghe, hoặc lừa cháu, cháu cũng chẳng bận tâm, đằng nào cháu cũng phải hỏi tiếp; hỏi cái gì? Cứ hỏi: 'Bác xuống ga nào?' Cứ hỏi từng hàng như thế, hỏi đến người xuống ở ga gần nhất, cháu liền vứt bỏ sĩ diện bảo người ta: 'Được rồi, bác xuống xe thì chỗ này cháu ngồi, cháu đứng ngay cạnh bác đợi nhé.' Người ta vui cũng được, không vui cũng được, cháu cứ đứng chết dí ở đấy chờ. Đừng tưởng mặt dày đến mức này là giữ chắc được chỗ ngồi, có khi người xuống xe vừa nhấc mông ra, có kẻ đã cướp trước cháu mà đặt mông lên rồi, thế nên sau này cháu lại dày mặt thêm vài phần nữa, hỏi ổn thỏa người ngồi trên ghế rồi, cháu còn phải nói rõ ràng với những người đứng xung quanh: 'Chỗ này là tôi chờ, bác ấy xuống xe là đến lượt tôi ngồi, cảm ơn các bác nhé! Ai trong các bác không đồng ý thì nói sớm một tiếng, để tôi còn lên phía trước chờ chỗ khác!' Thế là giữ chắc được. Qua chừng hơn một tiếng đồng hồ là cháu được ngồi, ngồi xuống là thật, nó khác hẳn với đứng, vả lại chỗ này là do tự cháu giành được, ngồi thấy thoải mái lạ thường... Cũng có người nhìn cháu, làm như chê cháu còn trẻ thế lại là con gái mà sao chẳng biết giữ thể diện, cháu bèn nhìn đi chỗ khác, ném cho người ta nụ cười khẩy, thể diện? Cháu đâu làm mất mặt ai, vả lại, thể diện đáng mấy đồng?..."

Cô em họ Tiểu Giản cứ thế bắt đầu cuộc chiến đấu tìm kiếm "chỗ ngồi" cho cuộc đời mình. Bát nương đã từng lén rơi nước mắt, hối hận năm xưa không nên vì một thoáng sai lầm mà đẩy Tiểu Giản vào nhà máy đó, hại con bé phải lưu lạc một mình nơi đất khách; xót xa vì tính nết của Tiểu Giản trở nên thô ráp đến thế, thậm chí nói chuyện với bố mẹ cũng trở nên cứng nhắc và thực dụng; buồn vì chú Tào và bản thân bà thiếu đường đi nước bước, không có cách nào đưa Tiểu Giản về lại Bắc Kinh... Bát nương cũng từng nhờ tôi xem có tìm được mối manh nào không, dùng cách thức đổi chỗ công tác để điều cô em họ Tiểu Giản về Bắc Kinh. Tôi vò đầu bứt tai sầu não, đừng nói là không có manh mối, dẫu có tìm được người quê gốc ở cái huyện Hà Nam đó, người ta làm sao lại chịu rời Bắc Kinh mà về quê cũ chứ?

Kỳ nghỉ phép thăm thân của cô em họ Tiểu Giản đã hết hạn, trước khi cô về lại chỗ làm, Bát nương làm một bàn đầy ắp thức ăn, tôi cũng góp vui đưa tiễn cô. Trên bàn ăn, cô em họ Tiểu Giản chỉ gắp một món duy nhất mà cô thích nhất — món chả thịt kẹp củ sen tươi, đối với đôi mắt rưng rưng của Bát nương và nếp nhăn giật giật trên trán chú Tào, dường như cô hoàn toàn dửng dưng, cuối cùng cô bình tĩnh đến cực điểm mà nói: "Mọi người đều đừng bận lòng nữa, ngay cả anh họ nhỏ cũng đừng dò la giúp em nữa, mọi người đều là những người chỉ biết dựa vào tổ chức, dựa vào người khác, dựa vào vận may để giải quyết vấn đề, bước chân ra khỏi cửa là da mặt mỏng, lưỡi mềm nhũn, chẳng giải quyết được gì đâu. Em nghĩ kỹ rồi, tự em có cách — sau khi về em sẽ tự mình chạy vạy, đến từng nhà mà hỏi, nhà các bác có ai làm việc ở Bắc Kinh không? Có ai nghỉ hưu muốn lá rụng về cội về quê cũ không? Ở cơ quan nào tại Bắc Kinh? Đơn vị đó có cho đổi chỗ không?... Em không tin cả một huyện mà không hỏi ra được một người!..."

Hai năm sau, cô em họ Tiểu Giản quả nhiên đã dùng cách này để tự điều chuyển mình về Bắc Kinh, làm nhân viên thống kê trong một kho hàng ở vùng ngoại ô gần đó.

14

Mỗi khi lòng phiền muộn, tôi lại kéo một tờ giấy ra, viết lên đó một dòng trước: "Rốt cuộc mình đang phiền muộn về cái gì?", sau đó liệt kê ra 1, 2, 3, 4... Liệt kê xong thì bình tĩnh cân nhắc từng mục, chia chúng thành các cấp độ A, B, C hoặc nhiều hơn một chút, tiếp đó có thể gạch bỏ từng mục dưới cấp C — cái này thực ra chẳng đáng để phiền lòng, cái này thực ra rất dễ loại bỏ hoặc thực hiện, cái này là "tự mình đa tình", vân vân — mấy điều còn lại thì tập trung tinh thần suy nghĩ, hơn nữa cố gắng nghĩ theo hướng tốt đẹp, rộng rãi. Cuối cùng, nhìn vào tờ giấy đó, trong lòng thấy nhẹ nhõm hơn nhiều, mặc dù tình hình chẳng hề có chút biến chuyển nào.

Gia đình chú Tào và Bát nương đã về Bắc Kinh từ lâu, bố mẹ tôi vẫn chưa được giải quyết chế độ, chị gái và anh hai vốn làm việc ở Bắc Kinh cũng chưa về lại được Bắc Kinh; bản thân tôi tuy đã cưới vợ sinh con, lập nên một gia đình nhỏ, coi như tạm được an ủi, nhưng sự nghiệp trắc trở đủ bề, kinh tế vô cùng túng thiếu, những chuyện phiền muộn thực sự chất đống như núi.

Trong mấy năm đó, người thân duy nhất của tôi ở Bắc Kinh chính là gia đình chú Tào và Bát nương, xuất phát từ sự quan tâm dành cho họ, một ngày nọ tôi cũng kéo một tờ giấy ra, liệt kê một loạt những nỗi phiền muộn của họ, sau khi phân tích tổng hợp các nỗi phiền muộn đó, tôi gom tất cả các mũi tên hướng về một chữ duy nhất, rồi dùng bút chì đỏ khoanh đậm chữ đó lại. Đó là chữ "Nhà".

Cô em họ Tiểu Giản tuy đã đổi chỗ công tác về được Bắc Kinh nhưng lại không có ký túc xá để ở, lúc làm thủ tục hoán đổi, đơn vị tiếp nhận đã nói trước rồi — người có thể nhận, còn chỗ ở xin tự lo — sau khi về Bắc Kinh, cô bèn mua cho gia đình một chiếc giường tầng khung sắt, để cô em họ Tiểu Quyên ngủ tầng dưới, còn cô ngủ tầng trên. Chiếc giường tầng bằng sắt kê sát ngay cạnh chiếc giường đôi của chú Tào và Bát nương, ở giữa kéo một tấm rèm vải, ngủ như thế được một thời gian, chú Tào cảm thấy rất gượng gạo bất tiện, sau đó đổi thành Bát nương và Tiểu Quyên ngủ giường đôi, Tiểu Giản ngủ giường dưới của giường tầng, còn chú Tào mỗi tối leo lên giường trên ngủ. Nhưng ngủ thế này được một dạo, lại vì tạng người chú Tào quá to lớn, cứ trở mình một cái là cả phòng kêu cọt kẹt rầm rĩ, Tiểu Giản bảo chẳng khác nào động đất, cuối cùng chú Tào và Tiểu Giản lại đổi chỗ cho nhau — đừng quên ngoài gian bếp còn có ông nội, sức khỏe ông cụ đã sụp đổ, ban đêm cứ nhịn không được mà ho sù sụ; cả nhà ngủ như thế vào giữa mùa hè lại càng thêm đau khổ.

Không gian họ cùng chung sống chật hẹp đến vậy, thế mà ban ngày ít nhất cũng luôn có ba người phải ở nhà, ông nội thì khỏi phải nói rồi, Bát nương vì được chẩn đoán mắc bệnh tim mạch vành nên đã nghỉ hưu sớm; cô em họ Tiểu Quyên vì thi trượt đại học nên quyết tâm ở nhà ôn tập một năm để thi lại; thế là nảy sinh biết bao nhiêu va chạm khó bề tránh khỏi.

Đương nhiên, hy vọng vẫn ở phía trước, cơ quan của chú Tào đang xây khu nhà tập thể, tòa nhà mới vừa đào móng thì ban phân phối nhà của cơ quan đã bắt đầu làm việc. Để công bằng hợp lý, người ta chấm điểm cho từng người dựa trên mười mấy yếu tố, tôi nghe Bát nương kể lể, họ có hy vọng được phân một căn hộ ba phòng ngủ, mấu chốt là có ông nội ở cùng, bởi vì ba thế hệ được cộng thêm năm điểm so với hai thế hệ, nếu ba thế hệ của họ mà có một bà nội hoặc bà ngoại, vì nhà họ có hai cô con gái, thì sẽ bị trừ đi hai điểm trong số năm điểm đó, bởi vì người ta cho rằng con gái có thể ở chung phòng với bà nội hoặc bà ngoại.

Dạo ấy tôi đến chỗ chú Tào, Bát nương, hoặc thỉnh thoảng chú Tào, Bát nương ghé qua tổ ấm nhỏ của tôi, chủ đề của chúng tôi thường bất giác quay sang chuyện nhà cửa. Cô em họ Tiểu Giản rất ít khi đến nhà tôi, còn cô em họ Tiểu Quyên thì tuyệt nhiên không đến, bởi vì từ sau khi thi trượt đại học, cô bé đã hạ một quyết tâm có phần thái quá. Theo lời chú Tào và Bát nương, ở nhà cô bé cũng rất ít khi nói chuyện với họ, với chị gái và ông nội thậm chí có thể không nói thì không nói một lời, suốt ngày ngồi trước bàn học nơi góc phòng để ôn bài — chiếc bàn học đó mọi người đều tự giác không dùng đến, nhường trọn vẹn cho cô bé dùng — mỗi khi tôi đến nhà họ, cô bé thường chẳng buồn ngẩng đầu lên mà tiếp tục học thuộc lòng, làm bài tập, cho nên ấn tượng mà cô để lại cho tôi chỉ có hai tròng kính cận tròn xoe phản chiếu bóng sáng le lói, cùng với tiếng kêu thỉnh thoảng thốt lên: "Mọi người nói nhỏ một chút có được không hả?!" Đến giờ ăn cô thường chẳng thèm ra chiếc bàn nhỏ nơi gian bếp, mà để Bát nương bưng cơm nước đến tận bàn học cho cô.

Thế nhưng một ngày nọ bỗng có người gõ cửa căn phòng cấp bốn nhỏ bé của chúng tôi, mở cửa ra tôi sững sờ: Là cô em họ Tiểu Quyên. Tôi mời cô vào phòng, chỉ thấy trước mắt là hai tròng kính cận nặng độ của cô đang phát ra ánh sáng lạnh lẽo. Tôi thực sự không tài nào nghĩ ra lý do cô bé chạy đến tìm tôi. Cô tháo kính xuống, lúc này tôi mới phát hiện cô vốn cũng có một đôi mắt chan chứa tình cảm, tôi nhìn thấy khóe mắt cô đẫm lệ, cô rút khăn tay ra lau nước mắt, lúc này lòng tôi thắt lại, hốt hoảng hỏi: "Có chuyện gì thế?" Cô dùng giọng bi thương nói với tôi: "Ông nội mất rồi... Bố em đột nhiên phát bệnh, mẹ em bảo anh sang giúp một tay..."

Tôi cất bước cùng cô em họ Tiểu Quyên đến thẳng nhà Bát nương, giúp đỡ lo liệu mọi việc. Tôi nhận ra không chỉ chú Tào sau khi mất cha đã bộc phát tình cảm con cái mãnh liệt tự đáy lòng, mà Bát nương và các cô em họ cũng thực sự tuôn trào nỗi đau buồn vượt ngoài dự liệu của tôi. Hóa ra trước lúc lâm chung, ông nội đã gắng gượng nói với họ câu trăn trối cuối cùng: "Xin lỗi, bố đã không thể kiên trì đến cùng vì chuyện chia nhà..." Quả thực, theo cách tính điểm và quy định của ban phân phối nhà, ông nội vừa mất, nhà họ không còn khả năng được chia căn ba phòng ngủ nữa mà chỉ có thể được chia căn hai phòng ngủ.

Khi tôi đi cùng chú Tào đi gửi hũ tro cốt của ông cụ Tào, tôi cảm nhận sâu sắc rằng hũ tro cốt đó trong bảng tính điểm phân phối nhà trị giá đúng trọn vẹn năm điểm. Trong đầu tôi chẳng hiểu sao lại hiện lên hòn non bộ bằng đất và cái đình bốn góc trong khoảng sân con ngõ nhỏ kia. Về sau tôi lại đạp xe đến bên ngoài bức tường sân đó ngó nghiêng, hòn non bộ cùng cái đình bốn góc đều chẳng còn nữa, nơi đó đang xây một tòa nhà lầu. Những cư dân vốn có đều đã dọn đi hết, bởi thế tôi cũng chẳng thể nào gặp lại một bà cụ bó chân bưng chậu đất bẩn đi đổ rác ở nơi ấy nữa. Đi rồi, đi cả rồi, những thứ nên đi đều đang rời đi.

15

Thứ đi thì cứ đi, thứ đến thì cũng lại đến. Những điều mong mỏi và những điều chưa từng ngờ tới, thứ nên đến đều sẽ đến.

Sau những năm 80, mọi phương diện của gia đình tôi đều có những biến chuyển tốt đẹp ở các mức độ khác nhau, chuyện này tạm thời không bàn tới; gia đình chú Tào và Bát nương cũng ngày một khấm khá lên, điều đầu tiên chính là cuối cùng đã dọn vào khu nhà ở mới — căn hộ chung cư ở Đoàn Kết Hồ, vả lại còn được chia căn ba phòng ngủ — sau khi lời trăn trối trước lúc lâm chung của ông cụ Tào truyền ra ngoài, đã dấy lên sự đồng cảm rộng rãi; hơn nữa không chỉ trong nhà rành rành có hai cô con gái lớn, mà vấn đề hộ khẩu của cô em họ Tiểu Thấm ở Thượng Hải lại gặp rắc rối, rất có thể cô buộc phải theo chính sách liên quan đến "con em trường cán bộ" mà chuyển ngược về Bắc Kinh, điều này lại càng thúc đẩy việc có được căn ba phòng ngủ trong tay.

Sau khi gia đình chú Tào vui vẻ chuyển vào nhà mới, Bát nương bèn đi Thượng Hải, một là để thăm anh chị em bao năm không gặp, hai là để giải quyết dứt điểm nơi chốn hộ khẩu cho cô em họ Tiểu Thấm — chuyện này chẳng còn là mối bận tâm trong lòng bà nữa, bởi bất kể Tiểu Thấm cuối cùng nhập hộ khẩu ở Thượng Hải hay về Bắc Kinh đoàn tụ thì đều đáng mừng cả, chỉ cần không còn lơ lửng nữa là được. Ngoài ra còn có một chuyện vui — Thẩm Tích Tùng, người con trai đã 35 tuổi bao năm không tìm được đối tượng của Tứ nương, rốt cuộc tuyên bố sẽ làm đám cưới vào dịp Quốc khánh, Bát nương vừa vặn có thể kịp dự hôn lễ của anh ta để chung vui một phen.

Bát nương đi Thượng Hải được một tuần, bỗng một buổi trưa nọ chú Tào đến nhà tôi, vợ tôi đi làm rồi, tôi lại không biết nấu nướng, bèn mời chú Tào lên quán Thịt nướng Quý bên cầu Ngân Đĩnh cạnh Thập Sát Hải để nhâm nhi vài chén. Mãi đến khi ngồi vào bàn, tôi mới nhận thấy ánh mắt của chú Tào có phần là lạ. Ban đầu tôi cứ ngỡ Bát nương đi vắng, chú buồn chán nên mới tìm tôi để giải khuây, nhìn ánh mắt ấy tôi thầm đoán trong nhà xảy ra chuyện gì chăng, là cô em họ Tiểu Giản lại có biểu hiện kỳ quặc gì? Hay là cô em họ Tiểu Quyên sau khi lại thi trượt đại học lần nữa thì tinh thần không ổn định? Tôi chỉ nhìn chú Tào, chờ chú mở lời.

Chỗ ngồi của chúng tôi cạnh cửa sổ, nhìn ra ngoài là những rặng dương cao vút bên bờ hồ, cùng hình bóng chúng in xuống mặt hồ đang rung rinh không ngừng theo làn gió thoảng, một ông lão bán kẹo hồ lô tựa vào hàng rào sắt bên hồ gật gù ngủ gà ngủ gật, những xiên kẹo hồ lô cắm trong ngoài chiếc hộp kính chẳng ai đoái hoài, lại dẫn dụ mấy cánh bướm trắng dập dờn bay lượn; chú Tào nhìn ra ngoài cửa sổ hồi lâu, mới nhấp một ngụm rượu trắng, u uất nói với tôi: "Tứ nương của cháu mất rồi..."

Tôi giật nảy mình. Tôi tiếp xúc với Tứ nương rất ít, chỉ có một năm bà từ Thượng Hải lên Bắc Kinh khuây khỏa, ở tại nhà Bát nương, khi ấy đám Tiểu Giản vẫn còn nhỏ, tôi từng cùng bà và Bát nương dẫn hai cô em họ đầu tiên đi chơi Di Hòa Viên, dọc đường phải đổi xe mấy lần, lần nào vừa chen lên xe buýt công cộng là Tứ nương cũng tranh đi mua vé cho mọi người, cái điệu bộ ấy hệt như đang đi cướp ngân hàng vậy, nếu mọi người không lên cùng một cửa xe, sau khi mua vé xong bà nhất định sẽ kéo giọng sang sảng bằng tiếng Tứ Xuyên đặc sệt mà hét lớn: "Mua vé rồi nhé! Bát muội các em đừng mua nữa đấy!" Tiếng hét ấy vang dội khắp xe, khiến bao nhiêu người vừa nhìn bà lại vừa quay đầu nhìn ngó đối tượng được đoán chừng là "Bát muội các em", lần nào cũng làm tôi ngượng chín cả người. Tứ nương trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng nói chuyện bằng cái giọng sang sảng ấy, ở nhà cũng thế, mà giọng điệu ấy nghe qua đa phần hệt như đang cãi cọ: "Kìa! Để cho nó vững vàng một chút xem nào!" "Ai bảo thế hả! Thế thì làm sao mà được!" "Thôi rồi! Chẳng lẽ có ai lừa các người chắc!" Thực ra, bà vung cái giọng oang oang ấy lên nói chuyện chẳng những tuyệt đối không phải cãi cọ, mà là đang dốc hết lòng dạ bày tỏ sự vồ vập thân tình. Đây có lẽ là một đặc điểm lớn của người Tứ Xuyên chúng tôi, cái gọi là nói chuyện vô cùng "hết mình". Mấy năm trước tôi về Tứ Xuyên ở trong một khách sạn, chập tối vừa ngả lưng lên giường định dưỡng thần một lát, liền nghe thấy ngoài hành lang một tràng tiếng cãi vã chửi bới ầm ĩ, mấy người đều vung giọng the thé, âm thanh vừa the thé vừa dồn dập, lại còn lẫn cả tiếng đập thùm thụp vào người và tiếng thét chói tai, tôi thực sự nhịn không nổi nữa bèn bật dậy mở cửa ra can ngăn, nào ngờ định thần nhìn lại, hóa ra là mấy cô cậu nhân viên phục vụ đang đùa giỡn nhau vô cùng thân thiết, bất kể là việc họ cắt ngang lời nhau lớn tiếng cười mắng, hay là vỗ vai đấm lưng nhau, cùng với những tiếng thét chói tai, đều chỉ chứng minh tâm trạng vui vẻ và sức sống tràn trề của họ. Tứ nương chính là một người Tứ Xuyên điển hình tràn ngập tinh thần vui tươi và sức sống bừng bừng như thế. Chưa từng nghe nói bà có bệnh tật gì, tuổi tác cũng chưa tính là quá già, huống hồ người con trai độc nhất mà bà yêu quý lại sắp bước vào động phòng hoa chúc đại hỷ đại khánh, sao bà lại có thể "mất" được chứ?

Chú Tào chỉ mải uống rượu, chẳng mấy khi gắp thức ăn. Tôi khuyên chú nếm thử một chút món thịt nướng phong vị của quán và món thịt cừu xào ngọt "Tha tự mật", chú Tào chậm rãi gắp miếng thức ăn, nhấp ngụm rượu, hai mắt không nhìn tôi mà nhìn ra ngoài cửa sổ, dùng cái giọng điệu như thể đang kể một chuyện gì đó ở tận châu Phi hoàn toàn chẳng can hệ gì đến chúng tôi, nhàn nhạt thông báo với tôi: "Em Thấm của cháu gọi một cú điện thoại đường dài, bảo chú vào Thượng Hải đón Bát nương của cháu về. Bà ấy bị chuyện của Tứ nương làm cho bàng hoàng ngây dại rồi. Hôn sự của anh họ cháu mọi thứ đã lo liệu xong xuôi, chỉ chờ thết tiệc làm lễ ở một nhà hàng trên đường Nam Kinh. Ngay sáng ngày chuẩn bị làm lễ, Tứ nương của cháu bỗng muốn ra phố mua thêm một món đồ, lúc bà ấy ra cửa anh họ cháu đã can ngăn, bảo món đồ ấy lúc nào mua chẳng được, việc gì phải vội thế? Bà ấy lại cứ nằng nặc đòi đi mua bằng được. Thế là cứ thế mà đi. Kết quả, lúc băng qua đường, bà ấy lách qua đầu một chiếc xe bánh mì đang đỗ bên đường để đi tới, liền bị một chiếc xe tải chở hàng đột ngột lao tới tông phải, chết ngay tại chỗ."

Nghe xong lời kể này tôi chẳng nuốt nổi miếng nào nữa, lại là tai nạn xe cộ! Tôi thẫn thờ nhìn ra ngoài cửa sổ, trên mặt hồ trôi mấy chiếc lá dương, ông lão bán kẹo hồ lô đang vươn vai ngáp dài, ở bờ đối diện xéo một đứa trẻ đang chơi quay cù, truyền lại những tiếng vo ve từng chập. Lòng tôi trống rỗng, dời ánh mắt trở lại, vừa vặn chạm phải ánh mắt của chú Tào, tôi phát hiện trong tròng mắt chú Tào đã thêm vào một yếu tố nào đó mà tôi chưa từng quen thuộc, lòng tôi khẽ run lên.

"Đúng thế," chú Tào uống một ngụm rượu lớn, lấy mu bàn tay quệt môi rồi nói, "Bên phía chú, là tai nạn xe cộ chết người, người chết là con trai; bên phía Bát nương của cháu, lại là tai nạn xe cộ chết người, người chết là mẹ đẻ. Đều ở trên đường lớn, giữa thanh thiên bạch nhật. Rốt cuộc chuyện này là thế nào?"

Lòng tôi chùng xuống. Từ nhỏ tôi đã tiếp nhận nền giáo dục vô thần luận, chủ nghĩa duy vật, nhưng những biến cố mà chú Tào và Bát nương phải gánh chịu không thể không khiến tôi sinh mối hoài nghi. Đối với những đòn đả kích có thể nhận thức được nguồn cơn, chúng ta có thể dùng lý trí để chống đỡ nó, còn đối với những đòn đả kích thần bí không rõ nguyên do, chúng ta biết lấy đâu ra sức kháng cự và điểm tựa để chống đỡ đây?

16

Bát nương và cô em họ Tiểu Thấm đã trở về Bắc Kinh. Tôi đến thăm họ, mọi người đều lảng tránh không nhắc đến chuyện của Tứ nương.

Ngày tháng cứ thế trôi qua, chuyện đau lòng dần dà cũng nguôi ngoai. Về sau cô em họ Tiểu Thấm tìm được một công việc khá tốt ở Cục Lâm viên; cô em họ Tiểu Quyên nếm mật nằm gai rốt cuộc cũng thành công, thi đỗ chuyên ngành tiếng Indonesia của Đại học Bắc Kinh; cô em họ Tiểu Giản thì đang tích cực tìm đối tượng, cái vẻ bạo dạn của cô chẳng khác nào năm xưa tìm chỗ ngồi trên tàu hỏa và chủ động lùng sục manh mối đổi chỗ công tác, khiến chú Tào và Bát nương không mấy lo lắng bận tâm về chuyện hôn nhân của cô, mặc dù những cô gái cùng lứa trong khu nhà đều lần lượt lấy chồng, thậm chí đã sinh con đẻ cái.

Tôi cũng từng mấy lần làm mối cho cô em họ Tiểu Giản, cô đều rất thản nhiên đi tiếp xúc, xem xét. Có lần tôi giới thiệu cậu con trai cả của người được gọi là cô Hương tính theo bên đằng nội tôi cho cô, hẹn gặp nhau ở ngoài cửa Thần Vũ của Cố Cung, tôi đưa Tiểu Giản đến cửa Thần Vũ, bỗng nhiên trước tiên có hai cô gái một cao một thấp thoắt cái bước ra, đon đả gọi tôi: "Anh họ nhỏ!" Sau đó cậu em họ kia của tôi mới lộ diện — hai cô em gái của cậu ta chẳng biết là do hiếu kỳ hay là sợ anh trai hành động khinh suất, bị lừa gạt, mà ngang nhiên nghênh ngang đến tham gia buổi gặp mặt này, tôi ngượng ngập vô cùng, chuyện này trước đó chưa từng giao hẹn, mà cũng chưa từng liệu trước; cô em họ Tiểu Giản lại chẳng hề hoảng hốt, đàng hoàng đường hoàng đến quầy vé mua năm chiếc vé vào cửa, dẫn mọi người cùng vào Ngự Hoa Viên dạo chơi. Năm con người cứ thế túm tụm vào nhau, ra cái thể thống gì chứ? Tôi muốn cáo lui, lại sợ Tiểu Giản sau đó càng oán trách tôi; hai cô nàng kia đường hoàng tự coi mình là chị chồng em chồng, tuyệt nhiên không có ý né tránh, cậu em họ lớn kia thì mặt mày sượng sùng, dường như có nỗi khó xử khó nói ra, Tiểu Giản lại càng thêm trấn tĩnh, cô dứt khoát chủ động đón chuyện hai người vốn chẳng can hệ gì kia, bắt chuyện tán gẫu với họ, thành thử ra tôi và cậu em họ lớn bị gạt sang một bên; tôi ghé tai hỏi nhỏ cậu em họ lớn — thực ra là chàng trai tạm gọi là em họ lớn chứ chẳng hề có quan hệ huyết thống thực sự — "Cậu thấy phong thái của cô em họ tôi thế nào?" Cậu ta ậm ừ đáp: "Đương nhiên rồi, người anh giới thiệu thì làm sao mà kém được?" Tôi biết trong chuyện tìm đối tượng, cậu ta vô cùng kén chọn về nhan sắc và phong thái của đằng gái, đây cũng là nguyên nhân chủ yếu khiến cậu ta ngần ấy tuổi rồi mà vẫn chưa giải quyết xong chuyện hôn nhân. Nhưng từ ánh mắt liếc nhìn lấm lét của cậu ta có thể đoán ra, hai cô em gái chưa xuất giá của cậu ta dường như còn yêu cầu khắt khe hơn về dung mạo và phong thái của chị dâu tương lai, mặc dù về phương diện nhan sắc phong thái thì bản thân họ rốt cuộc ở mức độ nào cũng vẫn là một vấn đề học thuật có thể tranh cãi không dứt.

Tại một gian đình, mọi người ngồi xuống, cậu em họ lớn mua năm que kem phát cho mọi người, nhưng ba người phụ nữ vẫn xúm lại nói chuyện, tạo thành thế trận hai chọi một, tôi nhận ra họ đang tiến hành một cuộc chiến nụ cười, những lời nói ra dường như đều rất nhạt nhẽo, rất lễ phép, rất đúng mực, nhưng trong nụ cười treo trên mặt ấy lại chĩa ra những đầu kim ngọn cỏ vô hình, cô em họ Tiểu Giản tuy có phần "thân cô thế cô", nhưng chẳng hề tỏ ra yếu thế, rất có khí phách của Lạn Tương Như đứng giữa triều đình nước Tần.

Cuộc gặp mặt lần này đương nhiên chẳng đem lại kết quả tích cực nào. Hơn nữa từ đó về sau tôi tuyệt đối không ôm đồm cái thứ việc khó xơi này nữa, Tiểu Giản thì lại chẳng hề để lộ với tôi chút bất mãn nào về chuyến dạo chơi Ngự Hoa Viên Cố Cung lần ấy.

17

Một ngày Chủ nhật nọ, tôi đến thăm chú Tào, Bát nương, trong nhà chỉ có một mình Bát nương, bà nói với tôi chưa được mấy câu thì bỗng bộc phát nỗi oán hờn đối với cô em họ Tiểu Giản, điều này khiến tôi khá ngạc nhiên; rõ ràng bà đã nhẫn nhịn rất lâu nhưng cuối cùng không kìm nén nổi, oán hờn một khi đã trào ra thì bà cũng chẳng còn kiêng dè gì nữa, cứ mặc cho nó phun trào xối xả.

Bát nương nói với tôi, Tiểu Giản bây giờ ích kỷ đến đáng sợ, chẳng hạn có hôm cô mua về một cân thịt băm, lúc cất vào tủ lạnh trong nhà lại cứ phải buông một câu: "Cái này là của con, thứ Sáu mời khách gói hoành thánh đấy." Cơ quan của cô được nghỉ thứ Sáu, thỉnh thoảng cô mời mấy người đồng nghiệp thân thiết về nhà, kê dọn bàn ghế ra bật máy phát nhạc tập nhảy khiêu vũ giao tiếp đã đành, lại còn tụ tập cùng nhau gói sủi cảo hoặc hoành thánh, ăn uống nói cười rôm rả; kết quả thứ Sáu hôm đó đám đồng nghiệp cô hẹn chẳng hiểu sao không một ai đến, Bát nương rất tự nhiên lấy chỗ thịt băm cô mua ra định nướng bánh nhân thịt cho cả nhà ăn, Tiểu Giản nhìn thấy liền xông tới, chẳng nể nang chút mặt mũi nào mà ngăn cản: "Đừng động vào thịt băm của con! Mọi người có thịt băm của mọi người mà, dùng thịt mọi người mua ấy!" Bát nương đương nhiên không vui, không tránh khỏi cằn nhằn: "Mẹ làm bánh nhân thịt chẳng lẽ con không ăn à?" Tiểu Giản liền vặn lại ngay: "Mỗi tháng con chẳng đóng tiền ăn rồi sao?" Những chuyện đại loại như thế đã trở thành cơm bữa. Ngoài ra, Bát nương cau chặt mày nói với tôi, Tiểu Giản bây giờ ăn mặc ngày càng kỳ dị quái đản, ngoài phố mua lung tung mấy thứ hàng xuất khẩu chuyển sang nội địa kỳ hình dị dạng đã đành, lại còn tự tay cắt may mấy bộ trang phục "quả thực mất mặt", chẳng hạn thứ vải mà Bát nương nhìn vào thấy chỉ có thể may đồ ngủ, quần ngủ, Tiểu Giản lại cứ may thành váy liền thân, rồi còn nghênh ngang mặc lên người, đung đưa bước ra phố; theo như chính Tiểu Giản tuyên bố, cô muốn nghiên cứu thiết kế thời trang, tương lai sẽ tự mở một tiệm may mặc, chuyên kinh doanh đồ nữ thời thượng nhất. Bát nương cho rằng đầu óc cô e là có chút không bình thường rồi, nhưng lại chẳng thể dạy bảo cô lấy nửa lời, "Cái miệng của nó, hệt như con dao gọt hoa quả vừa lấy từ tủ lạnh ra, vừa sắc lại vừa lạnh, ngay cả chú Tào của anh cũng chịu thua nó!" Bát nương vừa nói vừa liên tục lắc đầu.

Đúng lúc Bát nương vừa cằn nhằn với tôi xong thì ổ khóa cửa căn hộ vang lên lạch cạch, cô em họ Tiểu Giản từ ngoài trở về, cô mặc một chiếc váy liền thân kết hợp những mảng lớn màu trắng và màu đen, vẻ mặt như không có chuyện gì xảy ra, Bát nương đón đầu hỏi: "Sao thế? Chiều nay không đi làm à?" Tiểu Giản thản nhiên bảo bà: "Chiều nay con đổi ca với người khác rồi, con ở nhà nghỉ nửa ngày." Bát nương chán ghét đánh giá bộ váy liền thân quả thực kỳ quặc của Tiểu Giản một lượt, sầm mặt đi vào bếp nấu cơm, Tiểu Giản thì lại hứng khởi trò chuyện với tôi. Cô nhờ tôi tìm giúp mấy cuốn tạp chí thời trang nước ngoài, dẫu là mượn xem cũng được, cô bảo ở Nhật Bản có một loại tạp chí tên là "Doreme" đối với cô là có giá trị tham khảo nhất; tôi hỏi cô tại sao lại may váy thành từng mảng lớn trắng đen như thế, phần cổ áo sao lại bất đối xứng, gấu váy bên dưới sao lại là đường vạt chéo? Cô thao thao bất tuyệt với tôi. Điều để lại ấn tượng sâu sắc nhất cho tôi chính là luận điểm của cô về màu sắc: "Màu sắc đẹp nhất trên đời là ba màu đen, trắng, xám; còn nói về phối màu, đỏ và đen là chủ đề vĩnh cửu, chiều nay em sẽ thử may một chiếc áo cánh dơi, đen tuyền phối đỏ tươi, đợi em mặc vào rồi anh xem nhé —" Đang nói thì trong bếp vang lên mấy tiếng xẻng va vào thành chảo sắc lẻm, Tiểu Giản bước vào hỏi: "Mẹ, có cần con xào giúp không?" Bát nương hung hăng gắt gỏng đáp lại cô: "Mày còn giúp tao à? Mày không làm tao tức chết là may lắm rồi!"

Hỏng rồi! Một trận khẩu chiến giữa hai mẹ con cứ thế nổ ra, tôi bước lại định can ngăn, họ đã đấu khẩu kịch liệt, lời nọ đớp lời kia, tôi hoàn toàn không tài nào chen miệng vào được.

"Con làm sao cơ? Con động chạm gì đến mẹ nào?"

"Tao ngứa mắt cái bộ dạng quái gở ấy của mày!"

"Con mặc của con, có ép mẹ mặc đâu, vướng víu gì đến mẹ?"

"Trắng toát với đen sì, làm đám ma đấy à? Đừng có lượn qua lượn lại trước mắt tao!"

"Tránh xa mẹ ra thì có gì khó? Nhưng những chuyện xui xẻo của mẹ có nhiều đến mấy cũng chẳng đổ lên đầu con được đâu!"

"Tao có chuyện xui xẻo gì? Tao không như mày, lớn ngần này rồi mà gả cũng chẳng gả nổi!"

"Gả không nổi thì vướng gì đến mẹ? Chê con cứ ở lì trong nhà này chứ gì? Lúc chia nhà có một phần điểm số của con đấy, con ở đây là danh chính ngôn thuận!"

"Ai chê mày ở trong nhà này? Mày đừng có ngậm máu phun người!"

"Thôi đi thôi đi, con còn lạ gì mẹ nữa, bản thân hồ đồ nghỉ hưu sớm, cả ngày rúc ở trong nhà, còn ra cái dáng vẻ của người trí thức nữa không? Rõ rành rành một bà nội trợ tầm thường, rảnh rỗi không có việc gì làm là đi kiếm chuyện gây sự với người khác!"

"Thôi rồi! Lòng tốt của tao biến thành lòng lang dạ thú rồi! Năm xưa nếu không phải vì tìm cách đưa mày về Bắc Kinh, tao có phải sầu muộn đến mức hóa thành bà già thế này không?"

"Về Bắc Kinh là con dựa vào chính mình!"

"Được lắm được lắm! Mày cứ một mình mà sống đi! Sớm biết chuốc lấy cái kết cục thế này thì tao đã chẳng hoan nghênh mày về!"

"Con về được hay không chẳng phụ thuộc vào việc mẹ hoan nghênh hay không hoan nghênh!"

"Trời đất ơi! Coi như tao chưa từng sinh ra đứa con gái như mày!"

"Nhưng mẹ lại cứ sinh ra đứa con gái như con đấy!"...

Tôi xoay như chong chóng giữa hai mẹ con họ, liên tục xua tay khẩn cầu đôi bên: "Thôi mà thôi mà, đừng nói nữa đừng nói nữa..." nhưng chẳng có chút tác dụng nào.

Một hồi chuông cửa vang lên. Nhà họ lắp chuông cửa có nhạc, tấu bản "Gửi Elise", thế mà tấu tận nửa phút mới dứt. Trong nửa phút này, Bát nương và Tiểu Giản cuối cùng cũng chịu ngừng chiến. Tôi bước ra mở cửa căn hộ, người đứng ngoài cửa tôi không quen biết.

"A, bác Đinh đấy à!" Bát nương đón ra cửa, mặt mày tươi cười rạng rỡ.

"Bác Đinh, bác đến rồi ạ!" Cô em họ Tiểu Giản cũng nhẹ nhàng đón ra cửa, vẻ mặt hòa nhã vui tươi.

Tuy là khách không hẹn mà đến, nhưng rõ ràng cả hai mẹ con đều chân thành hoan nghênh. Nghe ba người họ qua lại vài lượt đối đáp, tôi liền hiểu ra, bác Đinh là người làm mối cho Tiểu Giản, công việc mai mối này ít nhất cũng đã kéo dài được một thời gian khá lâu.

"Bác đến đúng lúc lắm! Hôm nay vừa khéo có món mướp đắng xào mà bác thích nhất!" Bát nương luống cuống tay chân lăng xăng chuẩn bị.

"Bố cháu vừa mua một vò rượu Gia Phạn, để cháu đi hâm rượu cho bác nhé!" Cô em họ Tiểu Giản vui vẻ xoay người, như nhảy múa đi lấy vò rượu đó.

Tôi bèn nhân cơ hội cáo từ, bảo có việc bận. Cả ba người đều kiên quyết giữ tôi ở lại ăn trưa, tôi nói quả thực có bạn đang đợi tôi, muốn mời tôi ăn vịt quay, lúc này họ mới chịu để tôi đi.

Bước đi trên đường lớn, tôi hồi tưởng lại cảnh tượng mẹ con Bát nương và Tiểu Giản cãi nhau vừa rồi. Gió thổi tạt vào mặt, vài hạt cát mịn táp vào da, ram ráp ngưa ngứa. Có lẽ, cuộc đời ắt phải như thế. Tôi mỉm cười.

18

Cô em họ Tiểu Giản đã kết hôn. Chú rể chính là người do bác Đinh kia giới thiệu. Họ làm đám cưới du lịch, trên tuyến đường sắt Bắc Kinh - Thượng Hải có người thân, cho nên chặng đầu là Thái Sơn — Khúc Phụ — Nam Kinh — Trấn Giang — Vô Tích — Tô Châu — Thượng Hải; Thượng Hải là nơi có nhiều họ hàng nhất, bởi thế chặng sau lại lấy Thượng Hải làm "căn cứ địa" để "tiến đánh" Hàng Châu, Hoàng Sơn, Cửu Hoa Sơn; cuối cùng từ Thượng Hải đi máy bay về lại Bắc Kinh, để thưởng thức cái thú bay lượn trên không trung một phen.

Trong thời gian vợ chồng cô em họ Tiểu Giản đi du lịch trăng mật, tôi đến nhà chú Tào và Bát nương, chú Tào phát tướng rồi. Chú vốn dĩ đã cao to vạm vỡ, nay lại càng khôi ngô lực lưỡng đến kinh người, Bát nương chỉ vào chú nói với tôi: "Thôi rồi! Anh xem kìa! Cái eo của ông ấy làm sao mà chịu nổi chứ! Con Tiểu Giản định cắt cho ông ấy chiếc quần, đo mấy lần kích thước, cầm kéo trong tay mà chẳng dám hạ kéo xuống vải! Con Tiểu Giản bảo tôi: Mẹ ơi, eo của bố sao lại to thế này chứ! Cứ thế mà cắt thì bề ngang bề dọc rộng y như nhau, mắt nhìn vào không quen đâu! Tôi mới bảo nó: Kích thước đâu có biết lừa người, con cứ theo kích thước mà hạ kéo thôi!... Thôi rồi! Nếu mà còn phát phiếu vải như năm xưa thì phiếu vải của cả nhà gom lại cho một mình ông ấy sợ cũng chẳng đủ dùng! Hề hề hề hề..." Bát nương tuy lưng đã hơi còng, tóc hoa râm, hễ nói chuyện là nếp nhăn trên mặt lại rung rinh theo từng lời nói, nhưng việc Tiểu Giản thành gia lập thất dường như đã khiến tính tình bà lấy lại được đôi phần lạc quan và khoáng đạt.

Chú Tào vì thất bại trong cuộc cạnh tranh đề bạt cán bộ cấp ty cục ở Bộ — nguyên nhân bề mặt là không đủ điều kiện "trẻ hóa", chú đã 59 tuổi; còn Bát nương thì đinh ninh nguyên nhân sâu xa là "bên trên ông ấy không có người che chở" — cho nên dự định chẳng bao lâu nữa sẽ nghỉ hưu theo chế độ ly hưu, như vậy hai ông bà già họ đều sẽ lui về sống cuộc đời gia đình. Tôi bèn khuyên họ cùng nhau viết sách, tôi nhớ từ hồi đầu những năm 50, họ đã từng cùng đứng tên đăng bài viết về bảo vệ thực vật trên "Nhân dân Nhật báo" — khi ấy "Nhân dân Nhật báo" định kỳ đăng tải một số bài viết mang tính chuyên môn — bố mẹ tôi năm xưa từng đặt báo dài hạn và đọc rất kỹ "Nhân dân Nhật báo", từng rất đỗi tự hào về họ, lại còn cắt ra lưu giữ, nhiều lần dùng để khích lệ tôi vươn lên. Về sau Bát nương lại càng công bố nhiều bài nghiên cứu về ngành nuôi ong, nhớ mang máng có một bài cũng đăng trên "Nhân dân Nhật báo", chiếm gần như trọn vẹn cả một trang, ở giữa còn có mấy biểu đồ đường cong, bảng biểu số liệu các thứ, hồi đó quan hệ Trung - Xô rạn nứt, giữa Trung Quốc và Mỹ vẫn chưa thiết lập quan hệ ngoại giao, vậy mà cơ quan nghiên cứu khoa học nông nghiệp của cả hai nước Liên Xô và Mỹ đều từng gửi thư đến tòa soạn "Nhân dân Nhật báo", yêu cầu được liên lạc với Bát nương.

Tôi nhắc lại những "chiến tích oanh liệt năm xưa" ấy, khơi gợi nỗi niềm hoài niệm của chú Tào và Bát nương, họ bèn từ tủ sách, tủ tường lấy ra rất nhiều bìa hồ sơ cùng sách báo, ngồi trên ghế sô pha lật giở ra xem, trong bìa hồ sơ là biết bao nhiêu mẩu báo cắt dán đã ố vàng, những bài viết chuyên môn họ công bố năm xưa nhiều hơn rất nhiều so với hai bài mà tôi nhớ; rất nhiều cuốn từ điển nông nghiệp dày cộp, trong danh sách ban biên soạn đều có tên họ; mà tập đóng gộp san của tờ "Nuôi ong Trung Quốc" lại càng thấm đẫm toàn bộ tâm huyết của Bát nương, bà vuốt ve tờ ấn phẩm đó rồi nói với tôi: "Anh có tin không? Năm xưa nhân viên biên tập chuyên trách chỉ có độc một mình tôi, từ đặt bài, sửa bài, biên tập, nộp bản thảo, lên ma-két, chạy xuống nhà in cho đến gửi trả nhuận bút, đều là một mình tôi cáng đáng hết, ấn phẩm cũng cứ thế in ra từng kỳ một, còn các tòa soạn bây giờ xem, hở ra một tí là hai ba mươi con người, than ôi, thời chúng tôi ngày ấy..."

Tôi ra sức cổ vũ họ "khua chiêng gõ trống làm lại từ đầu", chú Tào thở dài sườn sượt nói: "Sau này chú bỏ dở nghiên cứu khoa học sang làm công tác hành chính, hoang phí mất rồi!" Bát nương vỗ vỗ lên đầu gối bảo: "Thôi rồi! Anh tưởng viết thứ bài này cũng giống như anh viết tiểu thuyết chắc? Không có thiết bị thí nghiệm, không có lượng lớn số liệu, không có tài liệu mới nhất, nhốt mình trong cái căn hộ này thì làm sao mà viết ra được?... Tiếc thật đấy, năm xưa những đề tài thí nghiệm đó mới làm được một nửa, phong trào chính trị vừa ập tới, không đình chỉ thì cũng bị nhỡ nhàng, về sau ngay cả nhà giàn thí nghiệm cũng bị bãi bỏ, đổi thành nhà kính trồng dưa chuột, cà chua, bảo rằng thế mới trực tiếp tạo phúc cho nhân dân; lại còn cả một viện nghiên cứu nuôi ong đường hoàng như thế, thời 'Cách mạng Văn hóa' bảo giải thể là giải thể luôn, hơn mười năm sau mới khôi phục lại, thiết bị, đàn ong thì còn dễ khôi phục, chứ tài liệu thì sao? Đều thất lạc hết cả rồi, đừng nói là người nghiên cứu khoa học có kinh nghiệm khó tìm, ngay cả người nuôi ong có kinh nghiệm cũng khó kiếm lắm thay..."

Trò chuyện đến cuối cùng, chú Tào và Bát nương cùng nêu cho tôi một ví dụ, một người bạn tốt của họ, sau khi nghỉ hưu vẫn miệt mài viết sách lập thuyết, viết một cuốn sách học thuật chuyên khảo về loài mạt ve, gửi đến nhà xuất bản, biên tập viên đọc xong hết lời khen ngợi "tuyệt vời". Nhưng cứ ngâm lại không chịu xuất bản, bởi vì phát hành đăng ký mua ở Tân Hoa Xã, lượng đăng ký mua còn chưa tới 100 cuốn, nhà xuất bản thực sự chịu lỗ không nổi, kết quả là mời tác giả tự bỏ ra 3000 tệ để in, anh thử nghĩ xem người làm nghiên cứu khoa học lấy đâu ra tiền tích lũy, huống hồ lại đã nghỉ hưu, cộng thêm tính tình nhút nhát, ít quan hệ, muối mặt đi cầu xin người thân bạn bè mãi mới gom đủ 2000 tệ, nhà xuất bản đã định đem đi sắp chữ in ấn, phòng tài vụ hạch toán xong lại bảo biên tập viên đến tìm ông ấy nói rằng, nếu muốn in thì số tiền ông ấy cần bù vào không phải là 1000 tệ mà là 2000 tệ, nếu ông ấy không bù thêm 1000 tệ nảy sinh kia, vậy thì sau khi in xong sẽ phải tự mình tiêu thụ 300 cuốn, vị tác giả nọ nghe xong huyết áp lập tức tăng vọt, trong nhà rối loạn cả lên, sau đó đành quyết định chờ thêm một thời gian, xem nhà xuất bản có trúng quả phát tài được một món nào không để mấy cuốn sách học thuật như của ông có thể được in ấn bình thường, cứ thế chờ đợi mất 3 năm. Một ngày nọ có người mang đến cho vị tác giả ấy một cuốn sách mới xuất bản ở nước ngoài về lĩnh vực này, người đó cũng thật là lắm chuyện! Việc gì phải đưa cho ông ấy xem chứ — ai ngờ ông vừa xem qua liền ngất lịm đi, sau khi tỉnh lại tính khí trở nên cáu bẳn cùng cực, người nhà sơ suất không để ý, mấy ngày sau ông vô cớ nổi trận lôi đình, thế là lập tức bị xuất huyết não mà qua đời! Hóa ra cuốn sách nước ngoài kia công bố thành quả mới nhất của một nhà khoa học nước ngoài trong đề tài đó vào năm ấy — mà thành quả đó trong bản thảo của tác giả người Trung Quốc chúng ta đã sớm thể hiện từ lâu rồi!

"Cho nên, chúng tôi cũng chẳng mơ tưởng đến chuyện đó nữa..." Kể xong cảnh ngộ éo le của người bạn mình, chú Tào thu dọn đống sách vở bày la liệt trên bàn trà lại, tuyên bố với tôi, "Chú sau khi ly hưu về nhà thì luyện chữ thôi, chú thích thư pháp..." Bát nương thì như mất mát điều gì, lẩm bẩm tự nói một mình: "Than ôi, con Tiểu Giản coi như đã ổn định rồi, còn con Tiểu Thấm, con Tiểu Quyên nữa..."

19

Về sau tôi chuyển nhà, dọn đi rất xa chỗ của chú Tào và Bát nương, cộng thêm việc tôi chìm nổi chốn danh lợi, suốt ngày bận rộn túi bụi, cho nên rất ít khi đến nhà họ. Cô em họ Tiểu Giản thì thỉnh thoảng vẫn ghé qua nhà tôi tạt ngang một chốc. Sau này cô có con trai, liền dắt theo cả con trai tới.

Cô em họ Tiểu Giản hễ đến nhà chúng tôi, trong lời nói lúc nào cũng không thể thiếu một cái tên, chẳng hạn như: "Màu sắc của bộ quần áo này Hiểu Cường thấy đẹp đấy", "Nếu theo tính nết của Hiểu Cường thì anh ấy chẳng thèm xem chương trình này đâu", "Anh viết mệt rồi thì nên làm một bài tập thể dục tại chỗ, không cần rời khỏi chỗ ngồi cũng được, hệt như anh Hiểu Cường ấy..." Ban đầu, tôi và vợ đều không nắm bắt được cái tên này, không khỏi hỏi cô: "Ai thấy đẹp cơ?" "Ai? Tính nết thế nào?" "Hệt như ai cơ?"... Về sau, tai chúng tôi nghe đến nỗi mọc cả chai, thường chẳng đợi cô mở miệng đã chủ động trêu chọc cô: "Nếu có Hiểu Cường ở đây, anh ấy có cho thêm ớt không nhỉ?" "Chị làm thế này có phải ngốc hơn Hiểu Cường không?" "Chuyện này em có phải thỉnh thị Hiểu Cường rồi mới quyết định được không đấy?"... Cô em họ Tiểu Giản nghe xong lúc nào cũng cười tít mắt, cười đến nỗi nếp nhăn hằn cả lên mũi, có thể nhận thấy, cô không chỉ yêu người chồng Hiểu Cường của mình, mà quả thực là sùng bái anh ta.

Hiểu Cường họ Nghiêm. Kết tinh của cô em họ Tiểu Giản và anh ta — đứa con trai bảo bối ấy, được đặt tên là Nghiêm Tự, Tiểu Giản trịnh trọng giải thích: "Anh Hiểu Cường lật tung cả cuốn 'Từ Hải', cuối cùng mới chọn định được chữ 'Tự' này, riêng chữ 'Tự' thì chẳng là gì, vấn đề là ghép chữ 'Nghiêm' với chữ 'Tự' lại với nhau, 'Nghiêm Tự' vừa phù hợp với quan niệm luân lý của văn hóa phương Đông, lại vừa phù hợp với quan niệm lý tính của văn hóa phương Tây, đọc lên lại thuận miệng, mọi người không thấy đúng là như thế sao?"

Chúng tôi đương nhiên nhiều lần giục cô em họ Tiểu Giản dẫn bố của Nghiêm Tự đến nhà chúng tôi chơi để được chiêm ngưỡng phong độ một phen. Nhưng cô luôn miệng bảo anh ấy bận: "Bận đến mức một ngày dường như không phải 24 tiếng, dường như việc lên giường đi ngủ là mua sắm một món hàng xa xỉ đắt tiền, ngay cả ăn cơm dường như cũng là hoang phí thời gian..." Chúng tôi đành phải từ hình bóng của bé Nghiêm Tự mà suy đoán dung mạo phong thái của Nghiêm Hiểu Cường, chẳng cần phải nói, trong tưởng tượng của chúng tôi, anh ta luôn hiện lên với một dáng vẻ tháo vát, thông minh mẫn tiệp.

Bản thân tôi cũng bận rộn, lần nào cũng bảo tiện dịp sẽ ghé qua chỗ vợ chồng em họ Giản xem sao, rốt cuộc cũng chỉ là nói đầu môi chót lưỡi. Em họ Giản đã miêu tả cặn kẽ cho chúng tôi nghe về tổ ấm nhỏ của mình, nhờ đó chúng tôi biết nó nằm trong một con ngõ lớn thuộc khu vực Đông Tứ, là một khu tứ hợp viện khá khang trang do mấy hộ gia đình cùng chung sống. Bố của Nghiêm Hiểu Cường đã mất từ lâu, mẹ anh dẫn theo anh và người anh trai ở tại hai gian sườn tây. Căn nhà đó mấy chục năm trước từng có người Nhật ở, cho nên sàn gỗ cao hơn mặt đất bên ngoài, lại có cửa trượt bằng gỗ rất độc đáo. Sau khi em họ Giản kết hôn với Nghiêm Hiểu Cường, họ đã bít kín cánh cửa thông giữa hai gian nhà, đôi vợ chồng trẻ ở một gian, mẹ và anh trai của Nghiêm Hiểu Cường ở một gian, phòng nào đi cửa phòng nấy, nhưng dùng chung một gian bếp dựng thêm bên ngoài. Thỉnh thoảng họ nấu ăn chung, nhưng phần lớn thời gian là tự nấu tự ăn riêng biệt. Em họ Giản và Nghiêm Hiểu Cường đã tận dụng những nét đặc thù vốn có của căn nhà để bài trí thành một không gian sinh hoạt kiểu Nhật: trước khi vào phòng phải cởi giày, trong phòng trải kín chiếu cói; sát tường kê một bộ sofa cực thấp, cơ bản là dùng mấy chiếc đệm mềm ghép lại mà thành, do chính tay em họ Giản tự thiết kế và may lấy; Nghiêm Hiểu Cường thì thiết kế rồi tự đóng một chiếc bàn thấp vừa có thể gấp gọn lại vừa có thể kéo dài ra, vừa làm bàn ăn, vừa làm bàn trà kiêm bàn làm việc. Bản thân họ đã quen ngồi bệt dưới đất, em họ Giản làm một đống đệm ngồi hình tròn có, hình vuông có, hễ khách đến nhà, họ liền mời khách ngồi lên đệm, chê thấp quá thì có thể ngồi chồng một xấp đệm lên nhau. Chăn màn đồ ngủ ban ngày đều cất gọn trong tủ âm tường, tối đến mới lấy ra trải lên chiếu cói để ngủ. Nhờ vậy, căn phòng vốn nhỏ hẹp vào ban ngày lại mang lại cảm giác không gian vô cùng rộng rãi, thoáng đãng. Bốn bức tường điểm xuyết vài món đồ thủ công mỹ nghệ mà họ đắc ý, rèm cửa do em họ Giản may theo mẫu trên tạp chí nước ngoài, chạm đất và có tới ba kiểu khép mở. Nghiêm Hiểu Cường còn dùng máy khoan bê tông khoan mấy lỗ trên xà nhà, đóng bu lông nở vào rồi treo mấy chậu cây lá xanh, trong đó có một chậu trầu bà cùng tuổi với Nghiêm Tự, nay cành lá đã rủ xuống dài hơn ba thước...

Em họ Giản còn kể rất cặn kẽ cả những chuyện mà vốn dĩ chẳng cần thiết phải nói cho chúng tôi nghe. Mẹ của Nghiêm Hiểu Cường, tức mẹ chồng cô, ăn ở với họ rất hòa thuận — trong lời ăn tiếng nói của em họ Giản thoáng lộ ra một sự so sánh, rằng mẹ của Nghiêm Hiểu Cường cũng là trí thức về hưu, nhưng tấm lòng cởi mở hơn Bát nương rất nhiều, không bao giờ so đo kiếm chuyện vì những chuyện lông gà vỏ tỏi — thế nhưng người anh trai kia của Nghiêm Hiểu Cường lại một trời một vực so với người em. Trí tuệ của anh ta phát triển có vấn đề, đi học đến lớp ba tiểu học là không thể lên lớp được nữa, nhưng lại nhanh chóng lớn phổng phao, to con vạm vỡ, cuối cùng đành phải làm việc ở một xưởng nhỏ chuyên dán hộp giấy của khu phố. Hoàn cảnh như thế đương nhiên là chẳng lấy nổi vợ, xem chừng chỉ có nước ở với mẹ suốt đời, mai này mẹ mất đi, chẳng biết một thân một mình anh ta sẽ sống ra sao. Người anh trai này ngày thường không gây phiền toái gì cho họ, nhưng có một lần Nghiêm Hiểu Cường đi công tác nhiều ngày chưa về, anh trai anh bỗng chạy sang bên gian phòng của vợ chồng em họ Giản, tay giơ hai mảnh giấy, mặt cười ngây ngô, dồn dập nói với em họ Giản: "Tôi mời cô đi xem phim! Mời cô đi xem phim!" làm em họ Giản luống cuống tay chân. Lại chính là bé Nghiêm Tự xông ra, ngẩng đầu đuổi bác: "Đi đi đi! Mẹ cháu không đi xem phim với bác đâu! Mẹ cháu chỉ đi xem phim với cháu thôi!" Sau đó mẹ Nghiêm Hiểu Cường cứ liên tục nói "xin lỗi" với em họ Giản vì chuyện này. Kết luận của em họ Giản là, mẹ chồng dù có thấu tình đạt lý đến đâu, việc có một người anh chồng trong tình trạng như thế rốt cuộc vẫn khiến người ta không chịu nổi, cho nên sớm muộn gì cũng phải dọn ra ngoài ở riêng.

Nghiêm Hiểu Cường không chỉ là niềm tự hào của em họ Giản, mà còn là niềm tự hào của chú Tào và Bát nương. Vào một dịp Quốc khánh nọ, tôi vội vã ghé qua chỗ chú Tào và Bát nương chào một tiếng, vì còn phải chạy sô một sự kiện khác nên chỉ ngồi chưa đầy nửa tiếng là xin phép về. Suốt nửa tiếng đồng hồ đó chú Tào hầu như chẳng hề hỏi han gì về tình hình của tôi và gia đình tôi, dù chúng tôi đã ngót nửa năm không gặp mặt. Chỉ một câu buột miệng hỏi của tôi: "Tiểu Giản với Hiểu Cường sao không qua chơi ạ?", thế là khơi mào cho cả một tràng dài những lời khen ngợi Nghiêm Hiểu Cường từ miệng chú. Tôi cười bảo: "Đúng là con rể quý rồi!" Bát nương đứng bên cạnh the thé giọng: "Thôi đi! Cháu tưởng chú Tào của cháu coi Hiểu Cường là con rể đấy à! Cháu mà cứ mở mồm ra là con rể với chẳng con rể khéo ông ấy còn phật ý ấy chứ! Ông ấy coi Hiểu Cường như con trai ruột thịt kia kìa! Con Giản giờ trông cứ như con dâu ấy!" Nhìn nét mặt biểu cảm phong phú của Bát nương, thực ra bản thân thím ấy nào có khác gì đâu? Lúc họ tiễn tôi xuống thang máy, trước mặt bao nhiêu người quen lẫn người lạ đang đợi thang máy, Bát nương oang oang cất giọng gợi ý với tôi: "Bên giới văn học các cháu dạo này chẳng phải đang chuộng cái thể loại phóng sự văn học đó sao? Hiểu Cường nhà thím thực ra là một nhân vật rất điển hình đấy nhé! Sao cháu không phỏng vấn nó một buổi đi! Cháu viết về nó đi!" Chú Tào cũng hùa theo: "Đúng là một điển hình tự học thành tài đấy!"

Nghiêm Hiểu Cường đúng là tự học thành tài thật. Anh lớn hơn em họ Giản hai tuổi, thời "Cách mạng Văn hóa" anh xuống nông thôn Cát Lâm cắm chốt tám năm, sau khi về thành phố thì được phân công làm nhân viên nấu ăn trong nhà ăn của một đơn vị trực thuộc Bộ Tư pháp, học được những ngón nghề cơ bản của cả làm bánh trái lẫn nấu nướng món mặn. Về sau anh lại bái một bác thợ mộc già ở đơn vị đó làm thầy, rèn giũa được tay nghề mộc rất cừ; rồi sau đó nữa anh tự học các giáo trình khoa học xã hội bậc đại học, lần lượt thi đỗ từng môn trong các kỳ thi giáo dục thường xuyên, lấy được tấm bằng cử nhân đại học chính quy do cơ quan hữu quan công nhận. Nhờ một cơ hội ngẫu nhiên, một vị Thứ trưởng trong Bộ phát hiện ra anh, bèn điều anh về bên cạnh làm thử thư ký. Anh không chỉ phản ứng nhanh nhạy, khéo ứng đối, có tài văn chương, mà trong quá trình tháp tùng Thứ trưởng đi công tác, anh còn bộc lộ năng lực tháo gỡ những vụ việc lùng bùng đùn đẩy trách nhiệm, cộng với vốn kiến thức sâu rộng và sự hài hước đúng mực, khiến Thứ trưởng ngoài giờ xử lý công vụ bận rộn còn nhận được từ anh những gợi mở và niềm vui bất ngờ.

20

Cuối cùng tôi cũng được gặp Nghiêm Hiểu Cường. Đó là một đêm mưa phùn lất phất, thoạt tiên tôi nhận được một cuộc điện thoại, người ở đầu dây bên kia bảo mình là Nghiêm Hiểu Cường, hỏi xem tôi có tiện tiếp khách không. Tôi hỏi anh đang gọi điện từ đâu? Anh bảo ngay chỗ trạm điện thoại công cộng dưới chân tòa nhà. Tôi cười nói: "Bậy nào, đã tới tận dưới nhà rồi sao không lên thẳng đây?" Anh vui vẻ đáp: "Biết anh là người bận rộn, thường không tiếp khách chưa hẹn trước; em thế này đã thấy ngại lắm rồi, hơi có phần gượng ép anh." Tôi bảo: "Lên mau đi! Vợ chồng anh mừng còn không kịp nữa là! Đang mong gặp chú mãi đây!"

Khi Nghiêm Hiểu Cường đứng trước mặt chúng tôi, tôi cảm thấy ngoài vóc dáng hơi thấp bé một chút ra, mọi mặt khác đều rất khớp với những gì tôi hằng tưởng tượng. Trên khuôn mặt tròn chưa dứt hẳn nét ngây thơ, hai hàng lông mày rậm giao nhau ở ấn đường, đôi mắt sáng lấp lánh lộ rõ vẻ thông minh, bờ môi dày thắm sắc máu, hễ cười toe toét là để lộ hai hàm răng trắng nhỏ đều tăm tắp. Anh vai rộng lưng dày, rất chắc nịch, nhưng dáng người lại trông vô cùng gọn gàng, mỗi cử chỉ hành động đều toát lên vẻ hoạt bát, dứt khoát.

"Sao Tiểu Giản không cùng sang?" Vợ tôi vừa rót trà cho anh vừa hỏi.

"Hì hì, cô ấy còn chưa biết em tới đây đâu ạ..." Nghiêm Hiểu Cường ngồi xuống rồi cười toe toét nói. "Đáng lẽ phải đến bái kiến anh chị từ sớm, nhưng thật sự là không dứt ra được — thế hệ chúng em bị 'Cách mạng Văn hóa' làm lỡ mất tuổi xuân, nên giờ phải bẻ một ngày làm mấy ngày mà liều mạng bù lại. Tình hình đại khái của em thì anh chị đều biết cả rồi, hai hôm nay lại có bước tiến triển mới — em chuyển công tác sang Tòa soạn Báo Pháp chế Trung Quốc rồi, tòa soạn quyết định ngoài việc ra báo hàng ngày sẽ làm thêm một tờ ấn phẩm 'Văn học Pháp chế'. Em cùng mấy ông anh em nhận thầu vụ này, lập tức lên một kế hoạch trọn gói, đấy, chiều nay vừa mới nhận thẻ 'Nhà báo', em liền theo kế hoạch chạy bổ sang chỗ anh họ để đặt bài đây — cho nên hôm nay em đúng là không có việc thì chẳng bước chân tới điện Tam Bảo đâu ạ. Đồng nghiệp ai cũng bảo em 'ở gần bờ nước được ngắm trăng trước', anh họ à, anh thế nào cũng phải cho em tóm được vầng trăng nhé, dẫu không vớ được trăng rằm tròn như mâm ngọc thì được mảnh trăng non cong cong như lưỡi liềm cũng tốt rồi..."

"Sao chú lại không làm thư ký cho bác Thứ trưởng kia nữa?" Tôi hỏi anh. "Chỗ đó mới đúng là gần bờ nước, vầng trăng bên đó mới to mới tròn chứ!"

"Ầy," Nghiêm Hiểu Cường thẳng thắn nói, "đó không phải là tâm nguyện căn bản của em, chẳng qua chỉ là một bậc thang đường đường chính chính mà thôi — ngay từ hồi vừa về thành phố, em đã ao ước có một ngày được làm phóng viên, làm biên tập viên rồi kia!" Anh đưa tấm "Thẻ nhà báo" mới coong cho tôi xem. Tôi đưa trả lại, anh lại chủ động đưa cho vợ tôi xem, rồi trịnh trọng tuyên bố: "Giản còn chưa được thấy đâu đấy nhé! Anh chị là người được mục kích trước cô ấy một bước rồi đấy!"

Tôi vui vẻ nói: "Thế là vợ chồng anh được hân hạnh đi trước một bước rồi! Có điều, chú khoan vội giục đặt bài được không? Chúng ta cứ trò chuyện thoải mái trước đã, nghe Tiểu Giản với chú Tào Bát nương kể về chú suốt, chú tuổi còn trẻ mà hiểu biết rộng thật đấy, phông kiến thức phong phú ghê..."

Thế là anh thao thao bất tuyệt chuyện trò với tôi. Đĩa hạt hướng dương lớn mà vợ tôi bưng lên bị hai chúng tôi vừa nói vừa cắn, cắn sạch bách không còn một hạt, dưới chân ghế sofa vương đầy vỏ hướng dương.

Nghiêm Hiểu Cường kể về những trải nghiệm mắt thấy tai nghe khi tháp tùng Thứ trưởng đi công tác: "...Trước đây em chỉ biết đến những khách sạn lớn, nhà hàng sang trọng lộ diện ngoài mặt phố, đi theo hầu mấy chuyến mới biết hóa ra còn có những nơi ẩn mình kín kẽ mà thực tế lại cao cấp hơn nhiều. Có người dân sống ở thành phố đó mấy chục năm, đừng nói là chưa từng bước chân vào những nơi như thế, thậm chí nghe còn chưa từng nghe tên, cũng chẳng mấy khi thấy được cảnh tượng bên trong qua phim ảnh truyền hình hay tranh vẽ, vì được bảo mật tuyệt đối, ngay từ lối vào cách rất xa khu nội bộ, thậm chí ngoài lối vào đã có lính gác bồng súng đứng gác rồi... Mà cũng đừng tưởng tượng bên trong dát vàng dát ngọc, xa hoa lộng lẫy tột bậc, nhất là bây giờ mở cửa rồi, mấy khách sạn liên doanh Trung - ngoại mới thực sự là sang trọng và tuyệt đối hiện đại, còn cái kiểu nơi chốn em kể lại mang đặc điểm khác. Chẳng hạn như cảm giác không gian cực kỳ rộng rãi, tiền sảnh thênh thang trống huếch trống hoác, phòng vệ sinh to một cách vô lý, ghế bành kiểu cũ nặng nề trịch trịch, rồi cả ống nhổ bụng phệ bằng đồng nữa. Phong cách kiến trúc có thể là cổ điển phương Tây, cột trụ kiểu Corinth, khung cửa sổ kiểu Gothic, hoặc có cả lò sưởi trang trí hoa văn Rococo, nhưng bên trong bây giờ gần như tuyệt đối không treo tranh sơn dầu, không đặt tượng khỏa thân kiểu Tây, mà toàn treo tranh thủy mặc hoặc hoành phi thư pháp, bày biện đồ thủ công mỹ nghệ tráng men Pháp Lam hay đồ sơn mài chạm khắc... Nói thật lòng, ở trong những nơi đó chưa chắc đã thoải mái gì cho cam, vắng vẻ đìu hiu, cứ có một cảm giác là lạ thế nào ấy..." "Lại nói đến cái thói ăn uống nhậu nhẹt bên dưới, khó mà dẹp bỏ cho nổi. Bác Thứ trưởng của bọn em đúng là không thích bên dưới bày tiệc tiếp đãi, chưa nói đến việc theo quy định thì không được phép tổ chức những bữa tiệc như thế, mà ngay cả khi quy định cho phép thì bản thân bác Thứ trưởng cũng là người ghét cay ghét đắng chuyện xã giao trên bàn ăn. Nhưng anh biết không? Đôi khi mình cứ phải lập lờ một chút, xuôi xị một chút, nhập gia tùy tục, nếu không thì hỏng việc ngay! Có một lần bọn em xuống một huyện nọ, Thứ trưởng sa sầm nét mặt, bảo dứt khoát không tham dự bữa tiệc tối, vì bác ấy nghe phong phanh người ta vì chuẩn bị bữa tiệc này mà đặc ý điều cả một xe tải chở cá tươi sống từ hồ chứa nước cách huyện lỵ mấy chục dặm về. Ban đầu em cũng cùng một lòng một dạ với Thứ trưởng, cũng có cái khí thế chung mối thù hằn, thà gặm hai cái màn thầu uống mấy chén trà thô cho xong bữa, nhưng anh đoán xem chuyện gì xảy ra? Em đi lượn một vòng bên ngoài là hết cả cương quyết nổi, vì em thấy bên ngoài nhà ăn dọn tiệc tụ tập rất đông người. Dò hỏi ra mới biết, phần lớn đều là nhân viên bình thường, có người trong tay còn cầm sẵn cặp lồng không, họ đều bảo hiếm hoi lắm mới có dịp được ăn một bữa cá tươi thanh toán bằng công quỹ, lại còn tính lấy cặp lồng trút một ít mang về cho gia đình nếm thử của ngon vật lạ. Một kế toán mặt dài gầy gò bảo với em: 'Các anh từ chối tiệc, dĩ nhiên là giữ được thanh liêm cho các anh, nhưng ngần này con người chúng tôi lại chẳng được miếng cá tươi nào vào mồm nữa — mà số cá tươi này cũng đâu thể ném ngược lại hồ chứa được; thế rồi sẽ ra sao? Các anh vừa đi khỏi, một nửa số cá sẽ bị năm sáu vị đầu sỏ chia chác nhau theo giá thanh lý, lại còn dùng xe công chở tới tận cửa tủ lạnh từng nhà; nửa còn lại thì có thể trở thành món loại một trong căng tin ngày mai, chúng tôi phải mất một nắm tướng phiếu ăn mới nếm được một đĩa; rốt cuộc là, các anh thanh liêm, mấy ông sếp cũng chẳng phạm lỗi lầm gì, chỉ có chúng tôi là chịu thiệt không được chấm mút tí cá bao cấp nào!' Em lượn về đem tình hình này thưa lại với Thứ trưởng, em khuyên bác ấy ráng chịu khó một chút, mắt nhắm mắt mở tới dự bữa tiệc này đi, ai ngờ lại thuyết phục được bác ấy. Kết quả là, bọn em tới nhà hàng đó, cả làng cùng vui; em thầm tính trong bụng, tổng cộng năm bàn, có tới bốn mươi tám người ngồi bồi hai người bọn em ăn cá; nhưng ăn xong về tới chỗ nghỉ, em mới bảo với Thứ trưởng: 'Bác nghĩ kỹ mà xem, nếu chỉ có một bàn, tám người tiếp chúng ta, vậy thì bốn bàn kia bốn mươi người chẳng phải nhịn hết sao? Thế thì mười người chúng ta chẳng phải càng biến thành kẻ hưởng đặc quyền hơn à? Cứ như thế này, vô hình trung lại tăng thêm phúc lợi cho bốn mươi nhân viên cấp dưới!' Thứ trưởng tuy không cho là đúng, nhưng đến giờ em vẫn nghĩ thế này: Cán bộ bên dưới trông vào đồng lương còm đúng là hiếm khi được bữa cải thiện ra trò, các bữa tiệc lớn nhỏ khác nào một dạng phúc lợi, anh mà muốn tước bỏ thứ phúc lợi người ta đã quen hưởng bấy lâu nay thì khó lắm thay..."

Chúng tôi lại từ chuyện cơ quan của họ chuyển sang chuyện việc nhà thường nhật, Nghiêm Hiểu Cường thản nhiên và đầy vẻ tự tin nói: "Thực ra, rất nhiều mâu thuẫn trong gia đình hoàn toàn không cần phải mang thế giới quan, tu dưỡng tư tưởng hay đạo đức ra để mổ xẻ, càng mổ xẻ theo kiểu đó lại càng bế tắc tồi tệ hơn... Ví dụ như Giản với mẹ cô ấy, bao năm nay cứ hục hặc mãi, thoạt đầu em cũng luôn cố áp mấy cái mô hình lý thuyết kiểu 'khoảng cách thế hệ' vào để giải thích. Về sau nghĩ thông suốt rồi mới thấy, cuộc sống vốn phức tạp, con người ta lại càng phức tạp hơn, chịu tác động bởi đủ loại nhân tố, có những nhân tố mà trước đây chúng ta rất ít khi để ý, thậm chí bỏ qua hoàn toàn. Chẳng hạn như nhân tố tâm lý, vấn đề tâm lý thường chẳng dính dáng gì đến thế giới quan hay nhân sinh quan của một con người cả; rồi còn cả nhân tố sinh lý nữa, đôi khi sự đa nghi, nhạy cảm thái quá, bực dọc cáu bẳn, thất thố, ăn nói lộn xộn của con người ta hoàn toàn không phải, hoặc chủ yếu không phải do thị phi lẫn lộn hay yêu ghét đảo điên thực sự, mà là vì một số trục trặc về mặt sinh lý, như nội tiết mất cân bằng, hệ tuần hoàn không thông suốt, hệ dẫn truyền thần kinh bị nghẽn mạch và rối loạn tạm thời, vân vân; cho nên dạo này em thường khai thông cho Giản, bảo cô ấy đừng xem những lời cằn nhằn, quở trách cũng như nỗi bực dọc, bất mãn của mẹ là thứ gì đó sâu xa ghê gớm, thực ra đơn giản lắm, đó chỉ là trạng thái bệnh lý của người mắc bệnh mạch vành mà thôi, bởi vậy gặp phải những tình huống đó thì lòng đừng nên gợn chút hiềm khích nào, chỉ nên chan chứa tình thương yêu xót xa mà chăm lo bảo vệ sức khỏe cho bà; Giản đang dần dần thích nghi với phương pháp mà em đưa ra..."

Cách nói chuyện lưu loát cuốn hút của Nghiêm Hiểu Cường đã kéo cả chị dâu vốn đang bận việc khác sang ngồi nghe. Thấy vợ chồng tôi đều hào hứng, anh lại càng chuyện trò không chút e dè: "...Thực ra, tất nhiên rồi, Giản có một số khuyết điểm và nhược điểm sờ sờ ra đó, nhưng ngay từ lần đầu tiên gặp gỡ, em đã cảm nhận được cô ấy đôi khi ngoài cứng trong mềm, đôi khi lại ngoài mềm trong cứng, sâu thẳm trong người cô ấy chôn giấu một tiềm năng rất lớn, tiềm năng mà em nói ở đây chính là sức sáng tạo, em mê cái sức sáng tạo ấy! Cô ấy đam mê thiết kế thời trang, ấp ủ giấc mộng trở thành một nhà thiết kế thời trang nổi tiếng, người khác có thể cho rằng cô ấy viển vông, hão huyền, hoặc nghĩ con đường dẫn tới lý tưởng đó gần như không thể nào mở ra được. Nhưng em lại cho rằng bất kể cô ấy có thực hiện được ước mơ đó hay không, thì chuỗi hành động phấn đấu vì nó tự thân đã mang một vẻ đẹp rồi; tất nhiên, hiện giờ cô ấy còn non nớt lắm, ví dụ như em thấy cô ấy đang quá sa đà vào việc tạo ấn tượng thị giác thật mạnh mẽ đập ngay vào mắt người nhìn, đó rõ ràng chưa phải là gu thẩm mỹ đỉnh cao trong thiết kế thời trang; em góp ý thẳng, cô ấy tức giận run người, giậm chân giậm cẳng cãi lại em lia lịa, ơ kìa, em lại rất thích cái vẻ bướng bỉnh tự bảo vệ mình ấy của cô ấy, em dự đoán rằng, dựa vào cái tính bướng bỉnh này, rất có thể cô ấy sẽ chẳng đi theo bài bản thông thường mà lại từ một ngóc ngách bất ngờ đánh thốc ra, gặt hái được một thành công vượt ra ngoài cái gu thưởng thức đỉnh cao thông thường ấy chứ!..."

Nếu không phải vì trời đã quá khuya, sợ anh không kịp chuyến xe buýt cuối cùng, vợ chồng tôi thật lòng muốn giữ anh ở lại hàn huyên thêm lúc nữa. Ngoài trời mưa vẫn đang rơi, tôi tiễn anh xuống chân cầu thang, anh mang theo ô, bung ô ra rồi chào tạm biệt tôi. Dưới ánh đèn đường, giữa làn mưa giăng mắc mịt mùng, khuôn mặt anh ngời ngời nhựa sống, cười dặn với theo: "Đừng quên việc chính đấy nhé — cho bọn em một truyện ngắn đề tài pháp chế vào số ra mắt đấy!" Tôi có chút lưu luyến không nỡ rời, dường như chỉ là tìm chuyện để nói mà hỏi bâng quơ: "Cơ quan chú đóng ở đâu thế?" Anh bảo: "Ở bên trong công viên Đào Nhiên Đình ạ. Bọn em thuê tạm mấy gian phòng trong công viên. Tòa nhà của tòa soạn sắp xây xong rồi, xây xong là bọn em dọn qua hết."

"Đào Nhiên Đình! Một nơi tao nhã đẹp đẽ biết bao! Thực ra cứ làm việc mãi ở trong đó lại hay đấy chứ!" Tôi thuận miệng đáp.

Anh cười cười, quay người bước đi. Tôi nhìn theo bóng lưng anh, cất giọng gọi với: "Sau này phải năng ghé chơi đấy nhé!"

"Em sẽ ghé thường xuyên mà!" Anh không ngoái đầu lại, chỉ gửi lại một lời hứa hẹn trong trẻo dứt khoát.

Tôi đứng nhìn theo bóng lưng che ô của anh cho tới khi khuất hẳn vào màn đêm mịt mùng ngoài tầm với của ánh đèn đường.

21

Đào Nhiên Đình là một công viên nổi tiếng ở phía tây nam thành Bắc Kinh. Bố tôi lúc sinh thời thích nhất là Đào Nhiên Đình, ông bảo trong số các công viên nội thành Bắc Kinh chỉ duy nhất Đào Nhiên Đình là có được phong vị hoang dã hiếm thấy, lại thêm nơi đây có phần mộ của nàng Sài Kim Hoa — một nhân vật truyền kỳ đầu thế kỷ, rồi những dấu tích gợi niềm hoài cổ như mộ vẹt, mả mèo ngọc; chiếc cổng chào lớn dỡ từ ngã tư Đông Tứ hồi đầu thập niên 50 cũng được chuyển về dựng trong Đào Nhiên Đình. Gia đình tôi suốt những năm 50 đều sống gần khu vực cổng chào Đông Tứ. Vì vậy, đến ngồi nghỉ hay dạo quanh dưới chân chiếc cổng chào lớn ở công viên Đào Nhiên Đình cũng là một trong những cách để tôi tìm về ký ức xưa.

Còn nhớ có lần bố dạo chơi Đào Nhiên Đình cùng tôi, dưới rặng liễu rủ bên bờ hồ, ông dường như lơ đãng buông một câu: "Đúng là một chốn tuyệt vời! Đời người ai rồi cũng phải chết, giá như được nhắm mắt xuôi tay ở chốn này thì cũng thỏa nguyện rồi!"

Quả nhiên có người đã chết ở Đào Nhiên Đình. Chết rất thảm. Không phải ai khác, chính là Nghiêm Hiểu Cường.

Chỉ đúng ba ngày sau cái đêm anh che ô từ biệt tôi, vào một buổi hoàng hôn tĩnh mịch, công viên vắng bóng khách tham quan, góc sân mà Báo Pháp chế Trung Quốc mượn dùng bên ngoài tuyệt nhiên không một bóng người. Nghiêm Hiểu Cường vì quá nhiệt tình với công việc, cứ bận bịu mải miết mãi cho tới lúc tan sở đã lâu, người khác về sạch cả rồi, anh mới rời dãy nhà đó rảo bước ra ngoài sân. Thực ra cũng chẳng hẳn là cái sân, vì không có cổng ngõ đàng hoàng gì cả, chỉ là giữa hai bức tường chừa ra một khoảng hở để người ta ra vào. Anh vừa bước ra khỏi khoảng hở đó, vạn lần không ngờ tới, một chiếc xe tải chở hàng lao vun vút tới đâm sầm vào anh, hất ngã văng ra đất. Xe tải phanh gấp trượt dài hơn chục mét mới dừng lại được, tài xế và phụ xe nhảy xuống nhìn, người nằm lăn lóc bên vệ đường đã máu me be bét, sợ đến hồn xiêu phách lạc. Đương nhiên, họ lập tức khiêng nạn nhân lên xe, tức tốc chở tới bệnh viện cấp cứu.

Đúng lý ra trong công viên thì không được phép có xe cơ giới lưu thông, nhưng ngặt nỗi lúc đó một góc của Đào Nhiên Đình đang thi công, thành thử có xe tải được cấp phép ra vào; theo quy định, xe chạy trong công viên không được vượt quá mười cây số một giờ, chỗ khúc quanh càng không được vượt quá năm cây số, thế nhưng hôm đó gã tài xế thấy con đường trước mắt vắng hoe không một bóng người, lại đang vội đi ăn cơm tối, nên không tuân thủ tốc độ quy định mà phóng bạt mạng; trớ trêu thay đúng lúc đó Nghiêm Hiểu Cường lại bước ra từ khe hở bức tường. Giá như chiếc xe tải đi chậm lại một chút, hoặc tốc độ dẫu có nhanh nhưng xuất phát sớm hơn đôi chút; lại giá như bước chân của Nghiêm Hiểu Cường chậm hơn một chút, khi xe tải lao vút qua vẫn chưa kịp bước ra khỏi khe tường, hoặc giả Nghiêm Hiểu Cường bước nhanh hơn một chút, lách ra sớm hơn, khi xe tải lao tới tài xế đã kịp nhìn thấy bóng dáng anh, có lẽ tất cả cũng chỉ là một phen hú hồn hú vía chứ không đến nỗi gây ra thảm kịch kinh hoàng đến thế. Nhưng hai vật thể chuyển động lại cứ ngặt nghèo đâm sầm vào nhau ngay tại khe hở bức tường ấy: một bên là khối sắt thép khổng lồ lao như xé gió, một bên là thân xác phàm trần mỏng manh không chút phòng bị, hỏi sao không nát tan thảm khốc cho được? Điều khiến người ta ngẫm lại càng thêm xót xa là, khung cảnh xung quanh nơi xảy ra tai nạn nào phải chốn xe cộ như nước hay dòng người nườm nượp, mà trái lại, mặt hồ sóng sánh lăn tăn, rặng dương liễu thướt tha mềm mại, bên chân tường hoa hoàng thứ mai đang bung nở rực rỡ, bên bồn hoa ven bờ những bông cúc bách nhật tròn vành vạnh thi nhau khoe sắc thắm.

Đầu Nghiêm Hiểu Cường bị đập vỡ nát, óc đã trào cả ra ngoài, đội ngũ y tế đã dốc hết mọi biện pháp cũng không sao níu giữ được mạng sống của anh. Nhưng mấy vị bác sĩ và y tá sau đó đều tắc lưỡi cảm thán — cơ thể Nghiêm Hiểu Cường vốn thuộc tạng người khỏe mạnh nhất, sức sống dồi dào nhất, sức đề kháng ngoan cường nhất, đầu anh đã vỡ toác, não tủy và máu tươi đã quyện chặt thành một mớ hỗn độn, thế nhưng trái tim anh lại đập ròng rã, ròng rã suốt một hồi lâu khiến người ta không nỡ nhìn biểu đồ điện tâm đồ xé lòng người ấy, nó cứ co thắt, co giật, giãy giụa, thoi thóp, thổn thức, khẽ run lên bần bật... tựa hồ như có một thanh âm vô hình đang gào thét: "Không! Đừng mà! Không chết! Không thể chết! Không muốn chết! Không chịu chết đâu!..."

Nhân viên y tế lục từ túi áo Nghiêm Hiểu Cường ra tấm "Thẻ nhà báo" thấm đẫm máu tươi, lúc bấy giờ mới liên hệ được với Báo Pháp chế Trung Quốc. Người của tòa soạn vội vã chạy tới, bàng hoàng chết lặng, mấy người đến chẳng ai nỡ lòng đóng vai kẻ báo tin dữ cho em họ Giản, cuối cùng đành phải để người phụ trách của đơn vị gây tai nạn vừa chạy tới đứng ra gánh vác việc này. Gặp em họ Giản, họ dĩ nhiên chỉ bảo bị tai nạn xe cộ, đang cấp cứu trong bệnh viện, bảo cô đừng quá hoảng sợ. Nghe đâu trên chuyến xe cùng họ tới bệnh viện, em họ Giản bình tĩnh đến mức khiến bọn họ phải kinh ngạc. Về sau em họ Giản kể với tôi, tâm trạng của cô lúc đó là tin chắc mười mươi Nghiêm Hiểu Cường vẫn còn sống, cùng lắm là tàn tật một chút, mà một Nghiêm Hiểu Cường tàn tật thì đối với cô vẫn đáng kính, đáng yêu như xưa, thành thử cô chẳng mấy hoảng hốt — thế nhưng khi em họ Giản bước chân vào bệnh viện, thi thể Nghiêm Hiểu Cường đã được phủ kín bằng một tấm khăn trải giường màu trắng toát.

Điều khiến tất cả những người có mặt đều lấy làm lạ lùng là, em họ Giản không hề gào khóc thảm thiết, cũng chẳng ôm mặt thút thít, thậm chí không thấy lấy một giọt nước mắt nào trên khóe mi. Cô cứ thế ngồi phịch xuống chiếc ghế dài nơi hành lang, ngồi thẳng đơ như khúc gỗ, hai bàn tay đặt ngay ngắn trên đầu gối, trên mặt nở một nụ cười lạnh tanh. Mặc cho những người vây quanh nói gì, khuyên nhủ gì, cô cứ mặc nhiên ngồi bất động ở đó mà cười lạnh lùng, cười mãi cho tới khi đêm đen trôi qua, ánh ban mai rọi qua khung cửa sổ bệnh viện.

22

Cái chết của Nghiêm Hiểu Cường là đòn giáng nặng nề nhất giáng xuống gia đình chú Tào Bát nương. Họ hàng thân thích sau lưng xì xào bàn tán: Rốt cuộc là có chuyện gì thế, sao nhà bọn họ lại liên tiếp ba lần có người chết vì tai nạn xe cộ? Mà chi tiết các vụ tai nạn lại càng lúc càng ly kỳ quái đản. Tôi cũng một mình trầm ngâm suy nghĩ rất lâu. Những suy nghĩ ấy chỉ toàn mang lại đau đớn và vô ích.

Tôi đến nhà chú Tào để an ủi họ. Bát nương đã suy sụp hoàn toàn, thím ấy đã mất sạch phong thái ngày xưa, hiện ra trước mắt tôi không phải là vẻ đau thương mà là sự gắt gỏng điên tiết. Vừa thấy tôi bước vào phòng, thím liền ngoảnh mặt vào trong cất giọng the thé gọi: "Anh họ mày đến thăm mày kìa, mày ra đây xem nào!" Từ gian phòng bên kia, em họ Giản bước ra, đầu tóc bù xù, mặt mày sưng húp. Nhìn thấy cô ấy, tôi chỉ khẽ gật đầu chào một tiếng, chẳng biết nói gì; Bát nương trừng mắt lườm cô một cái, rồi ngay trước mặt tôi lớn tiếng quở trách: "Mày cũng mở mồm nói lấy một câu xem nào! Không thì mày khóc đi chứ! Nhục nhã chưa kìa! Mày, mày, mày... chồng mày chết mà mày cũng không biết đường khóc à!" Chú Tào bước tới kéo Bát nương sang một bên, rồi bảo với em họ Giản: "Anh họ con không phải người ngoài, bây giờ con không muốn nói gì thì cứ vào trong dựa lưng nghỉ một mình đi, lát nữa hẵng hay."

Tôi và chú Tào lại dỗ Bát nương vào một gian phòng khác để nghỉ ngơi. Tôi thoáng thấy bóng em họ Thấm và em họ Quyên ngồi nép sát vai nhau ở gian phòng thứ ba, thật tội nghiệp cho hai đứa nhỏ, bỗng dưng phải cùng gánh vác nỗi hỗn loạn và đau thương từ thảm họa bất ngờ ập xuống gia đình này.

Tôi và chú Tào ngồi trên ghế sofa ngoài phòng khách, lặng lẽ nhìn nhau. Mái tóc ngắn cắt tỉa rất gọn gàng của chú Tào nay đã bạc trắng hoàn toàn. Tuy chú có đẫy đà ra nhưng da dẻ vẫn khá săn chắc, nếp nhăn trên mặt không nhiều lắm, song nơi đáy mắt đã chất chứa thêm muôn vàn ẩn ức khó lường được kìm nén vào trong, hai khóe miệng hơi trễ xuống. Xưa nay tôi vẫn luôn cho rằng chú Tào là một bậc trượng phu cứng cỏi, trải qua hết đòn giáng bất ngờ này đến đòn giáng bất ngờ khác, đặc biệt là thảm họa quái đản tột cùng lần này, nhìn sang, tôi thấy chú Tào dường như vẫn chưa bị quật ngã, chưa bị nghiền nát. Đương nhiên, chỉ có trời mới biết chú đang phải gánh chịu áp lực lớn đến nhường nào, nhất là dấu hỏi bí hiểm kia: Tại sao lại liên tiếp ba lần?

Tôi chẳng biết phải an ủi chú thế nào, theo bản năng buột miệng hỏi: "Bé Nghiêm Tự đâu rồi ạ?"

"Ở bên chỗ bà nội nó rồi. Bà nội nó chịu cú sốc còn lớn hơn chúng ta, chẳng phải vậy sao?"

"Mọi người đều phải giữ gìn sức khỏe, phải nuôi nấng thằng bé Nghiêm Tự nên người..." Tôi biết những lời mình nói ra thật yếu ớt, vô tích sự.

"Cái Giản mãi vẫn không khóc được ra tiếng, Bát nương của cháu không hiểu nổi nó; ban đầu chú cũng lo tinh thần cái Giản không gượng nổi, nhưng giờ chú thấy cũng chẳng có gì bất thường cả — tính tình nó từ hồi đi làm công nhân ở Hà Nam về đã rất kỳ lạ rồi. Sự kỳ lạ của nó, xét riêng bản thân nó thì lại là lẽ tự nhiên, cho nên chúng ta cứ thuận theo tự nhiên thôi..."

"Vâng, đúng thế ạ." Tôi thấy an lòng phần nào khi thấy chú Tào vẫn giữ được sự lý trí đến vậy. Quả thực tôi cũng đồng tình với nhận định của chú. Hơn nữa tôi lại nhớ tới những lời Nghiêm Hiểu Cường nói với tôi đêm hôm đó, tôi cho rằng sự cáu bẳn hiện giờ của Bát nương cùng nỗi chán ghét hằn học đối với em họ Giản, thực chất cơ bản đều là phản ứng sinh lý khi bệnh tim mạch vành trở nặng mà thôi. Tôi nói với chú Tào: "Người mất thì cũng đã mất rồi, có níu kéo cũng chẳng về được nữa. Những người còn sống chúng ta phải nương tựa vào nhau, tự biết bảo trọng lấy thân. Bát nương là đối tượng trọng điểm cần được bảo vệ của cả nhà, dạo này Tiểu Thấm với Tiểu Quyên phải chịu khó chăm sóc thím nhiều hơn một chút, hai mươi tư trên hai mươi tư giờ bên cạnh thím đừng để lúc nào vắng người."

Chú Tào gật đầu, trong mắt bỗng trào ra hai giọt lệ, chú nhìn ra ngoài cửa sổ, giọng chắc nịch: "Cháu nói đúng đấy. Đừng nhìn cái nhà này thế này mà lầm, bà ấy là người yếu đuối nhất, cái nhà này không có chú thì được, chứ không có bà ấy là không xong đâu."

23

Sau khi chú Tào nghỉ hưu theo chế độ, mỗi ngày chú dành phần lớn thời gian để luyện thư pháp; bệnh tim mạch vành của Bát nương thỉnh thoảng lại tái phát, mấy bận phải đưa vào bệnh viện cấp cứu; cô con gái lớn của họ sau ba năm chịu tang chồng cũng đã tái giá, cô con gái thứ hai và thứ ba cũng lần lượt kết hôn, cả ba cô con gái sinh ra đều là con trai, chuyện này cũng lạ lùng thật, chú Tào và người anh em của chú tổng cộng có sáu cô con gái, mà sáu cô con gái sinh ra thế hệ thứ ba toàn bộ đều là giống đực. Giả sử ông nội Tào của các cô vẫn còn sống trên đời, chẳng biết ông cụ sẽ cảm thán ra sao? Chuyện gia đình chú Tào Bát nương gặp phải ba vụ tai nạn xe cộ, theo năm tháng dần trôi xa, những lời xì xào bàn tán của họ hàng thân thích cũng ít dần theo từng năm, mấy năm gần đây phần lớn người thân dường như đã lãng quên hẳn.

Hai năm nay, tôi rất ít khi gặp mặt gia đình chú Tào Bát nương, những lúc gặp nhau lại càng hiếm khi nhắc tới chuyện xưa. Thế nhưng trong những lần trò chuyện, có một bận Bát nương tình cờ bảo với tôi —

"Cháu có biết hôm Tứ nương chết, bà ấy ra phố là để mua cái gì không? Chỉ để mua một đôi dây giày, một đôi dây giày đáng giá có một hào bạc, thứ mà mua cũng được không mua cũng chẳng sao, nhất là hoàn toàn không việc gì phải ra đường vào đúng cái giờ khắc ngày hôm đó để mua!"

Tôi sững người, nhưng không thuận theo câu chuyện của thím để nói tiếp, tôi đánh trống lảng sang chuyện khác để trò chuyện cùng thím.

Lại có một lần em họ Giản bỗng nhiên nói với tôi —

"Lần cuối cùng em về Hà Nam, tới cái thị trấn nơi nhà máy của tụi em đóng quân ở ngoài huyện để làm thủ tục cuối cùng, em đứng bên này bàn làm việc, bỗng nhiên thấy cổ chân nhồn nhột, có thứ gì đó đang cọ vào người mình, em cúi đầu nhìn xuống, hóa ra là một con mèo, nhìn kỹ lại thì chính là con mèo mướp vàng mà cả nhà em nuôi từ bé hồi còn ở 'trường cán bộ'. Em giật bắn mình, thuận miệng bảo với người đang làm thủ tục cho em: 'Sao lại thế này? Mèo nhà tôi mà. Các anh nuôi nó à?' Người đó cúi đầu nhìn, ngạc nhiên bảo: 'Chỗ bọn tôi làm sao mà nuôi mèo được?' Thế là anh ta vừa giậm chân vừa quát tháo xua đuổi con mèo chạy mất... Chẳng hiểu sao mấy ngày nay em cứ đột nhiên nhớ lại chuyện đó, trong lòng cứ hối hận mãi, lúc ấy sao mình không cúi người xuống bế con mèo lên mà âu yếm nó một chút? Dẫu chỉ là cúi người xuống xoa đầu nó một cái thôi cũng được, bước ra khỏi văn phòng rồi là em vội vã chạy đi bắt xe khách đường dài ngay, em chẳng buồn ngoái lại nhìn xem, biết đâu con mèo ấy vẫn đang đứng trong sân, nơi góc phố, cứ dõi mắt nhìn theo em, chờ đợi em... Em cứ thế bỏ đi, quên bẵng mất nó! Mấy hôm nay mới chợt nhớ ra..."

Tôi rất kinh ngạc khi thấy em họ Giản lại có được một tâm trạng như thế, nhưng tôi cũng không thuận theo đề tài của cô để nói tiếp, chẳng mấy chốc cô ấy cũng chuyển sang bàn luận với tôi về chuyện thiết kế thời trang.

Còn chú Tào, có một lần vừa nhâm nhi chén rượu hoàng tửu vừa bảo với tôi —

"...Nó chết rồi mà trông vẫn tuấn tú lắm, đúng là một chàng trai khôi ngô tuấn tú làm sao!"

Tôi buột miệng tiếp lời, nhưng lập tức hối hận ngay —

"Chú đang nói tới Hiểu Cường đấy ạ?"

Đương nhiên không phải. Đầu Nghiêm Hiểu Cường đã bị đâm nát bấy, dù là chuyên gia trang điểm tử thi giỏi giang đến mấy cũng khôn bề phục hồi lại diện mạo khôi ngô cho anh được. Những tia máu đỏ trong mắt chú Tào như đang khẽ rung rẩy. Tôi lập tức kể sang những chuyện tai nghe mắt thấy trong chuyến đi Hạ Môn của mình.

Dịp Tết năm ngoái tôi sang chúc Tết chú Tào Bát nương, thấy khắp các bức tường nhà chú Tào treo đầy những tác phẩm thư pháp của chú, sau khi chiêm ngưỡng xong, tôi thuận miệng nhờ chú viết cho mấy bức liễn vuông, đều viết chữ "Phúc", để tôi mang về dán lên các cánh cửa phòng trong nhà, chú vui vẻ nhận lời ngay. Nhưng vì lúc đó không có sẵn giấy đỏ nên hẹn nhau khi nào viết xong sẽ báo tôi qua lấy; ai ngờ đi chúc Tết về chưa được mấy hôm, tôi đã phát hiện trong hòm thư dưới tầng một chiếc phong bì lớn bằng giấy xi măng, bóc ra xem thì ra là mấy bức liễn chữ "Phúc" hình vuông chú Tào đã viết xong xuôi, từng chữ "Phúc" đều vô cùng có thần thái, có thể mường tượng ra chú nhất định đã viết nhiều gấp mấy lần con số đó, rồi chọn đi chọn lại, chọn ra những bức mình ưng ý nhất để kịp thời gửi cho tôi. Trong lòng tôi dâng lên một nỗi ấm áp khôn nguôi.

Thế nhưng tôi lại không dán những bức liễn chú Tào gửi lên cửa. Ban đầu là do bận rộn không dứt ra được; về sau lấy ra, định cầm lọ hồ dán lên rồi, chẳng hiểu sao trong lòng lại nảy sinh một sự cản trở tâm lý, thế là lại đặt xuống; đến tận bây giờ mấy bức liễn đó vẫn còn nằm xếp ngay ngắn trong chiếc phong bì giấy xi măng lớn kia. Giả như một ngày nào đó chú Tào bỗng có nhã hứng, chẳng quản đường sá xa xôi ghé qua nhà tôi chơi cho khuây khỏa, không nhìn thấy những bức liễn mà tôi tha thiết xin, chú cặm cụi viết rồi gửi tới, nếu chú cất lời trách hỏi sao tôi không dán lên, tôi biết phải trả lời chú thế nào đây?

Tôi không biết nữa.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.