18
Nghĩ đến tất cả những điều này, trong hơi thở, tổng cảm thấy có một mùi cát sắt chưa nguội hẳn...
Là một đội viên của đội tuyên truyền công xưởng, sư phụ Vương mờ nhạt đến mức thường bị mọi người quên lãng. Ông không phải là đảng viên, phân công trong đội tuyên truyền lại rất mơ hồ. Trong các buổi họp, ông chưa từng phát biểu, ngoài đời cũng chẳng mấy hoạt náo. Tại sao lại phái một công nhân như thế vào đội tuyên truyền? Lúc bấy giờ, trong đơn vị cũng chẳng có ai suy xét cho sâu xa...
Nhớ lại mùa hè năm đó, đến vùng nông thôn nhặt lúa mì, mọi người ở nhờ nhà nông dân, một chiếc giường kang ngủ mười mấy người. Cậu và sư phụ Vương nằm sát bên nhau, sư phụ Vương nằm sát vách tường. Ban đêm, chiếc gối của sư phụ Vương ấy lại tỏa ra một thứ mùi đặc biệt. Có một đêm, cậu không nhịn được bèn hỏi: "Mùi này... không chua không hôi, ừm, ngửi khá thơm... Đây là mùi gì thế?" Sư phụ Vương nói với cậu: "Cậu thấy thơm thật á? Người như tôi, cũng bị huân thành một mùi thế này rồi sao? Đây chắc là mùi cát sắt ở phân xưởng đúc đấy!"
Sau đó, có dạo cậu đã quên mất thứ mùi ấy.
Mười mấy năm sau, cậu đã chuyển khỏi đơn vị cũ, hơn nữa còn dọn đến một khu dân cư mới ở ngoại ô. Khu dân cư ấy cách không xa mấy nhà máy lớn, trong đó có một nhà máy chính là nơi sư phụ Chung và sư phụ Vương làm việc. Có một hôm, cậu đến nhà máy đó để phỏng vấn, những người tiếp đón cậu đều không phải là thành viên đội tuyên truyền từng đến đơn vị cũ của cậu năm xưa. Phỏng vấn xong, cậu liền hỏi thăm về sư phụ Chung, người ta bảo rằng vì con trai út vào nhà máy thay ca nên ông đã nghỉ hưu trước thời hạn, chuyển đi nơi khác trông kho rồi. Cậu cũng không hỏi thêm những người khác nữa... Người tiếp đón đưa cậu đi dạo một vòng cư ngựa xem hoa trong nhà máy, đang đi, bỗng nhiên có một thứ mùi quen thuộc xộc thẳng vào khoang mũi cậu, thế là cậu vô thức hỏi thăm về sư phụ Vương. Đối phương nói: "Sao cơ, hồi đó chú ấy cũng là đội viên tuyên truyền, từng đến đơn vị của anh thời đó á? Chú ấy vẫn còn chứ, chú ấy ở ngay trong nhà máy, ký túc xá của chú ấy ở ngay phía sau này, giường của chú ấy bao nhiêu năm nay có dịch chuyển đi đâu đâu, chú ấy chính là người lão làng của xưởng chúng ta đấy!..." Tiếp đó liền dẫn cậu đi đến khu ký túc xá đó.
...Đó là một căn phòng tập thể rất lớn, bên trong có khoảng sáu, bảy chiếc giường đơn, vì rất gần phân xưởng đúc nên thoang thoảng mùi cát sắt chưa nguội hẳn... Sư phụ Vương thật trùng hợp lại đang có mặt trong ký túc xá, cởi trần, chẳng biết ban nãy đang làm gì, nghe tiếng gọi liền quay người lại, trông thấy cậu đứng ngay trước mặt, trên gương mặt vốn thiếu biểu cảm bỗng hiện lên những nếp nhăn có lẽ là vui mừng bất ngờ...
Cho đến tận ngày hôm đó, cậu mới thực sự quen biết sư phụ Vương.
Tình trạng sinh hoạt của sư phụ Vương đã kéo tấm màn che phần đời trước kia mà cậu chưa từng thực sự thấu hiểu, tất nhiên, chỉ là một góc thôi...
Sư phụ Vương vẫn luôn độc thân. Tại sao lại độc thân mãi? Không rõ. Trong mắt cậu, sư phụ Vương là một người đàn ông hoàn toàn khỏe mạnh, sẽ không có uẩn khúc gì về mặt sinh lý. Ký túc xá công nhân trong nhà máy nhiều năm nay vốn chật chội, công nhân chưa kết hôn, cho dù là công nhân lâu năm, cũng không thể được phân nhà ở riêng, chỉ có thể được phân cho một chiếc giường trong ký túc xá tập thể.
Sư phụ Vương với tư cách là một thành viên đội tuyên truyền, khi vào đơn vị cũ của cậu, đã ba bảy, ba tám tuổi rồi. Sư phụ Chung đặc biệt thuyết phục lãnh đạo nhà máy lúc bấy giờ, đưa người thợ đúc vốn không phải đảng viên, cũng chẳng phải là phần tử tích cực trong "Cách mạng Văn hóa", lại ít nói ít cười này vào đội tuyên truyền, xuất phát từ một động lực rất mộc mạc: để sư phụ Vương có được một chiếc giường khá khẩm hơn — đó là thật. Khi đội tuyên truyền vào đơn vị bọn họ, hai vị sư phụ ở chung một căn phòng không hề nhỏ, so với việc sư phụ Vương lúc đó ở nhà máy phải chen chúc mười mấy người một phòng, thì đúng là hơn hẳn rồi!
Đáng lẽ ra, những công nhân đến từ nông thôn vào thập niên năm mươi, dọn vào ký túc xá của nhà máy lớn, trong lòng đều thấy thỏa mãn. Bởi vì thứ có được không chỉ là một chiếc giường, mà còn sở hữu cả hộ khẩu thành thị, có mức lương mà người ở lại thôn quê nghe thấy phải gọi là con số thiên văn, ngủ không còn là chiếc giường đất kang nữa mà là giường gỗ, ăn cơm có nhà ăn, tắm gội có nhà tắm, xem phim có hội trường... Thế nhưng, đại đa số bọn họ đều lần lượt kết hôn, dọn khỏi ký túc xá tập thể, những người được bổ sung vào tiếp tục là từng lứa thanh niên trẻ tuổi, còn những kẻ bám trụ không đi, những gã trai tân như sư phụ Vương, thì chiếc giường của ông ngày càng giống như một gốc cây khô trước mùa xuân vạn vật...
Độ tuổi của sư phụ Vương đã xấp xỉ năm mươi lăm rồi, vậy mà vẫn độc thân. Nhà máy sau đó có một quy định, công nhân lớn tuổi độc thân, như nam đến sáu mươi, nữ đến năm mươi lăm, có thể được phân phối cho một căn nhà ở riêng. Nhưng chỉ qua những gì cậu nhìn thấy, nghe thấy và cảm nhận được trong mấy lần đến ký túc xá của sư phụ Vương sau này, trong lòng cậu cũng không kìm được mà thấy lo lắng thay cho sư phụ Vương: làm sao mà cắn răng chịu đựng cho đến sáu mươi được cơ chứ! Chiếc giường đó của ông, thực sự khiến người ta nhìn thấy mà xót xa...
...Không phải là những người trẻ tuổi cùng phòng không tôn trọng sư phụ Vương, bọn họ thậm chí còn sợ chọc giận sư phụ Vương nên vô cùng tôn trọng và chăm sóc ông... Bọn họ luôn nhường cho sư phụ Vương chọn vị trí thích hợp nhất, chủ động châm nước nóng vào phích nước cho sư phụ Vương, không bắt sư phụ Vương phải quét dọn vệ sinh, khi bọn họ cảm thấy những trò đùa cợt và câu chuyện bựa của hội mình có lẽ sẽ khiến sư phụ Vương "chạnh lòng", bọn họ sẽ rụt cổ rụt lưỡi, cười trừ tạ lỗi với sư phụ Vương... Nhưng điều này ngược lại càng khiến sư phụ Vương thêm lúng túng. Thế là, sau đó ngoài giờ ngủ ra, sư phụ Vương đều cố gắng ở lì trong vườn hoa của nhà máy, hoặc đi dạo ra ngoài con đường lớn ngoài nhà máy...
Ông có thế giới của ông, nói thật lòng, thế giới của sư phụ Vương không giao thoa nhiều với thế giới của cậu, cậu không đặt sư phụ Vương thường trực trong lòng, cậu chỉ thỉnh thoảng đến nhà máy, ngồi chơi trong ký túc xá của sư phụ Vương. Có đôi khi, cậu chỉ gặp sư phụ Vương trên con đường của khu dân cư, thế là hai bên chào hỏi, đứng lại trò chuyện vài câu, chỉ vậy mà thôi...
Đó là lúc thập niên tám nhớ sắp kết thúc, có một buổi chiều chạng vạng, cậu nhớ ánh hoàng hôn trải dài xiên xẹo lên tòa nhà bản lớn ven đường của khu dân cư, khiến những ô cửa kính trên một bức tường đều biến thành màu cam đỏ rực rỡ. Ngay dưới tòa nhà đó, cậu lại tình cờ hội ngộ sư phụ Vương. Sau vài câu hỏi thăm xã giao qua loa, sư phụ Vương bỗng nhiên nói ra một câu nằm ngoài dự đoán của cậu: "Tiểu Ung, cậu bây giờ có rảnh không? Cậu chưa ăn gì đúng không? Tôi... tôi có chút việc, muốn... muốn bàn với cậu cho một chủ ý... Hai chú cháu mình, cùng uống chút bia, thế nào?"
Đúng vậy, có lẽ hai mươi năm trước, sư phụ Vương với tư cách là đội viên tuyên truyền, từng gọi cậu là "Tiểu Ung", nhưng sau khi bọn họ nối lại liên lạc, cậu không nhớ sư phụ Vương từng xưng hô với mình như thế, cứ mỗi lần gặp mặt, sư phụ Vương luôn dùng cái gật đầu, hoặc một nụ cười nhạt nhòa để thay cho tiếng gọi. Hơn nữa, dù có hỏi gì đáp nấy với cậu, nhưng chưa từng đề nghị muốn bàn bạc chuyện gì với cậu bao giờ...
Bọn họ chọn một góc khuất trong một quán ăn nhỏ, ngồi đối diện nhau, gọi ba món nguội hai món nóng, gọi hai lít bia. Cậu không hỏi gì cả, chỉ đợi sư phụ Vương mở lời. Sư phụ Vương lại cúi đầu ăn món ăn, uống rượu, một lúc lâu sau mới ngẩng đầu lên, đột ngột hỏi: "Cậu nói xem, cứ thế này... có được không?"
Cậu cười bảo: "Thế nào cơ ạ? Cháu còn chưa rõ tí nào cả! Chú phải nói rõ đầu đuôi cho cháu nghe đã chứ!"
Mấy nếp nhăn lớn trên mặt sư phụ Vương giật giật, lúc này mới kể tỉ mỉ đầu đuôi sự việc cho cậu nghe. Hóa ra, em trai của sư phụ Vương cũng là công nhân lâu năm trong nhà máy đó. Chỉ là bình thường sư phụ Vương không hay qua lại với em trai cho lắm — nhà người ta là một đại gia đình đông đúc, ngoài thím út ra, còn có ba đứa cháu trai hai đứa cháu gái, bây giờ đều đã kết hôn, sinh con đẻ cái thế hệ sau rồi; hai cụ thân sinh ở cùng vợ chồng người em trai, trong nhà lại còn có cả mẹ vợ nữa, vì thế sư phụ Vương cho rằng mình đến đó chỉ thêm "vướng chân vướng tay"! Mỗi dịp Tết đến xuân về, người em trai vẫn luôn sai cháu trai đến gọi ông sang ăn sủi cảo đoàn viên, thì ông có sang. Nhưng sang đó ngoài hỏi thăm vài câu ra thì chỉ cúi đầu ăn sủi cảo, chấm thật nhiều giấm Lạp Bát, ăn xong, hút điếu thuốc, rồi không cách nào ngồi lại thêm được nữa, liền cáo từ, quay về chiếc giường trong ký túc xá tập thể của mình... Gần đây, người cháu út tìm gặp ông, đứa cháu này cũng là công nhân trong nhà máy của họ, bảo rằng đã đăng ký kết hôn rồi, nhưng theo quy định của nhà máy, thợ trẻ như nó ít nhất phải năm năm sau mới được phân phòng; mà sư phụ Vương đây, cũng cần phải đợi thêm hai năm nữa mới có thể được phân cho một căn phòng của riêng mình; thế là, đứa cháu út liền nảy ra một ý tưởng: bọn họ gộp lại để xin nhà ở, như thế bọn họ sẽ có khả năng trong đợt phân nhà vòng tới, chắc chắn phân được một căn hộ mới hai phòng ngủ! Ban đầu, sư phụ Vương còn chưa nghĩ thông suốt: "Thế nhà máy có đồng ý không?" Đứa cháu út liền gọi ông một tiếng "Bố"... Đó chính là một cách, quả thực là một cách! Ngay sau đó em trai ông cũng tới, cũng là ý này, nói ngắn gọn chính là nhận đứa cháu út làm con nuôi, như thế ông đã trở thành gia chủ của một gia đình bốn người (vợ cháu trai, sau khi nhận nuôi thì chính là con dâu, đã mang thai tám tháng), theo phương án phân nhà của nhà máy — cái đó phải tính điểm từng mục một — gia đình ba thế hệ bốn người như bọn họ, số điểm đạt được vừa vặn phù hợp với điều kiện được phân một căn hộ hai phòng ngủ ở tòa nhà mới...
Cậu nghe xong lời kể ngắt quãng, đệm thêm chút ngập ngừng lắp bắp của sư phụ Vương, không bày tỏ thái độ ngay lập tức. Cậu nhìn gương mặt dẫu có mấy nếp nhăn lớn nhưng không thể gọi là già nua của sư phụ Vương, đôi mắt ấy vẫn còn rất tinh anh, khí chất và sinh khí... bờ vai của sư phụ Vương rất tròn trịa và rộng rãi, toàn thân toát lên chút khí chất nam tính mạnh mẽ... Trong lòng cậu thầm nhủ: Sư phụ Vương chưa đầy sáu mươi tuổi, chẳng lẽ thực sự không thể tìm được một người phụ nữ xứng đôi để kết làm bạn đời nửa đời sau sao? Chi bằng kết hợp với gia đình người cháu vốn chẳng có mấy họ hàng thân thích ấy, còn hơn là tìm một người góa phụ có thể đem lại tình yêu cho ông...
Thế nhưng, dưới ánh nhìn mong mỏi chân thành của sư phụ Vương, cậu cảm thấy bản thân thực sự không thể "gây thêm phiền phức"... Suy nghĩ một lát, cậu nói: "Cháu thấy, thế này rất tốt... Chú có thể ngay lập tức có một căn phòng của riêng mình rồi... Không còn cảnh chỉ có mỗi một chiếc giường nữa... Một căn phòng của chính mình, đóng cửa lại, ta là nhất, tuyệt vời biết bao!"
...Mọi chuyện cứ thế mà quyết định. Mấy tháng sau, cậu đến tòa nhà mới đó thăm sư phụ Vương. Sư phụ Vương mập lên, y phục cũng ngăn nắp hơn rất nhiều, bảo rằng hiện nay lãnh đạo phân xưởng rất quan tâm, đi làm cơ bản không cần động tay động chân, chỉ là chỉ đạo cho đám thợ trẻ, thực tế tương đương với kỹ thuật viên, cứ ngâm như thế thêm hai năm nữa, đến hạn là làm thủ tục nghỉ hưu, có thể cầm được chín mươi phần trăm tiền lương đấy! Nếu nghỉ hưu sớm thì thiệt thòi, giống như sư phụ Chung, chỉ cầm được bảy mươi phần trăm...
Sư phụ Vương kể với cậu, con trai và con dâu đều rất hiếu thảo, đứa cháu trai mập mạp mà con dâu sinh ra, ông cực kỳ thích, đã bảo là con nuôi thì còn cách một lớp, chứ cháu nội thì không cách lớp nữa, nhìn từ bé đến lớn, sao có thể không phải máu ruột thân thích được cơ chứ!
Đôi vợ chồng trẻ ở căn phòng lớn trong căn hộ, trang trí khá sành điệu, ông ở căn nhỏ hơn, tuy nhỏ hơn nhưng trông rất sáng sủa, ông không cho vợ chồng trẻ trang trí phòng cho mình, ông nói tường trắng nền xi măng nhìn vào không thấy nhức mắt; ông đã mang chiếc giường gỗ ngủ mấy chục năm trong ký túc xá tập thể, cùng với một cái tủ đựng tạp vật và chiếc rương gỗ lớn dùng mấy chục năm nay, đều chuyển đến đây hết. Ông nói những thứ đó không thể vứt đi được, đều là bạn đồng hành bao nhiêu năm của ông, có tình cảm rồi! Ông chỉ sắm sửa hai thứ mới, một là chiếc ti vi màu điều khiển từ xa hai mươi mốt inch thời thượng nhất lúc bấy giờ, hàng nguyên đai nguyên kiện của Nhật Bản; hai là hai chiếc ghế sô-pha đơn và một chiếc bàn trà; thế này thì ông đóng cửa lại, pha một ly trà, hút một điếu thuốc, ngồi trên ghế sô-pha, vắt chân chữ ngũ, chọn chương trình ti vi mình thích để xem, chẳng khác nào tiểu thần tiên chứ lị! Ông thích xem chương trình ti vi gì? Một là kịch, đặc biệt là Bình kịch, Kinh kịch cũng thích, còn có tấu hài nghệ thuật các thứ, phim truyền hình thì thích xem thể loại võ thuật, như Hoắc Nguyên Giáp các thứ, cực kỳ thích...
Đôi vợ chồng trẻ tối nào cũng làm cơm sẵn cho ông ăn, còn hay mua rượu cho ông, ông cũng chẳng thích loại rượu nào khác, hễ uống là uống rượu nhị oa đầu. Nhưng thỉnh thoảng ông vẫn muốn tự mình nấu cơm ăn, không phải không hài lòng với cơm vợ chồng trẻ nấu, vợ chồng trẻ cũng hiểu, cùng gộp lại lấy căn nhà này với họ, mục đích vẫn là "cuối cùng đã có gia đình của riêng mình", thỉnh thoảng ông tự tay làm chút cơm, trong lòng thấy sảng khoái, thế nên bọn họ cũng không ngăn cản. Thỉnh thoảng ông cũng ngồi ở phòng khách cùng vợ chồng trẻ, cùng xem chiếc ti vi mà vợ chồng trẻ mua, coi như niềm vui chung của cả nhà. Ngoại trừ việc đùa giỡn với cháu nội ra. Bình thường ông sẽ không bước vào thế giới của vợ chồng trẻ, vợ chồng trẻ lại càng hầu như không bước vào căn phòng của ông; cứ sống như vậy, ngược lại ai nấy đều thấy vô cùng thoải mái.
Sư phụ Vương dần thích tiếp đón vài vị khách trong căn phòng của mình, nhưng những vị khách đến thăm thực sự chẳng có mấy người, người đến thường xuyên hơn một chút, một người là sư phụ Chung, còn một người chính là cậu — kẻ mớm chữ kiếm ăn...
Đối với sư phụ Vương, sự tiếp xúc của cậu không thể coi là không nhiều, thế nhưng mỗi khi cáo từ bước ra, ngẫm nghĩ lại những cuộc qua lại của bọn họ, vẫn không thể chắt lọc ra được bao nhiêu điều sâu sắc chừng nào. Nội tâm của sư phụ Vương, rốt cuộc đang cuộn trào những gì? Với tư cách là một sinh mệnh cá thể độc lập, giá trị của sư phụ Vương rốt cuộc nằm ở đâu? Đời sống tinh thần của sư phụ Vương, ngoài xem "Hoa vi môi" hay "Hoắc Nguyên Giáp" ra, còn có những gì nữa? ...Cậu vốn tưởng rằng sư phụ Vương không biết chữ mấy, không hay đọc sách, nhưng có một lần, trên chiếc bàn trà trong phòng sư phụ Vương, cậu nhìn thấy một cuốn "Bành Đức Hoài tự thuật" có cả dấu vân tay bấm lên, vô cùng kinh ngạc. Cậu hỏi sư phụ Vương: "Chú đang đọc ạ?" Sư phụ Vương đáp: "Đang đọc đến mức con mắt nóng hừng hực đây... Trong những người tốt, chú phục nhất là ông ấy!" Câu nói này khiến trong lòng cậu chấn động.
Đúng vậy, cho dù đã dọn vào tòa nhà mới, trong căn phòng của sư phụ Vương, trên chiếc giường đó của ông, vẫn tỏa ra một thứ mùi đặc trưng, cậu thực sự cảm thấy không hề khó ngửi, đó chính là mùi cát sắt chưa nguội hẳn...
Sau đó chính là mùa hè năm đó. Đêm hôm đó, con trai của sư phụ Vương đạp xe đi xem xét sự tình thế nào. Sang ngày hôm sau trời sáng vẫn chưa về, đến tối vẫn chưa về, ngày thứ ba vẫn chưa về... Ngày thứ năm nhà máy thông báo, đến nhận xác. Sư phụ Vương và vợ đi cùng nhau, quả thực là người nhà của bọn họ. Có thể coi là "tự làm tự chịu"...
Rất nhiều ngày, trong ý thức của cậu hoàn toàn không có sự tồn tại của sư phụ Vương. Đó là một mùa hè oi bức. Một tối nọ, cậu xuống lầu đi dạo. Rất cẩn trọng, không đi ra xa. Cậu bắt gặp sư phụ Vương trên con đường ngợp bóng cây của khu tập thể, cái nhìn đầu tiên đã giật mình thon thót, sư phụ Vương chỉ mặc một chiếc quần đùi cộc, một chiếc áo ba lỗ, bẩn thỉu, mái tóc đen vốn dĩ rất rậm rạp nay đã ngả bạc trắng đến chói mắt, râu ria xồm xoàm, trên mặt ngoài những nếp nhăn dài vốn có ra, còn mọc thêm rất nhiều nếp nhăn li ti nhỏ vụn, chỉ có vóc người và cánh tay vẫn còn cường tráng lắm... Chính sư phụ Vương đã dùng giọng điệu tựa như đang kể chuyện nhà người khác để kể lại biến cố ấy cho cậu nghe. Lúc đó cậu đã an ủi sư phụ Vương thế nào? Không nhớ nổi nữa. Mùa hè năm đó tâm trạng cậu vô cùng rối bời. Ai đến an ủi cậu đây?
Thế nhưng, vào một đêm mưa nhỏ, rất tình cờ, cậu phát hiện ra sư phụ Vương trong chiếc chòi hóng mát ở bãi cỏ khu tập thể, khi ấy khoảng đất trống khu tập thể hầu như không một bóng người, những ô cửa sổ của các tòa nhà dân cư ẩn hiện ánh vàng mờ ảo trong màn mưa... Sư phụ Vương không mang ô, không mặc áo mưa, chỉ mặc chiếc áo khoác nhăn nhúm, đầu bù tóc rối, lặng lẽ hút thuốc... Cậu đứng bên cạnh sư phụ Vương, chỉ cảm thấy trong hơi thở vương vấn mùi cát sắt chưa nguội hẳn... Cậu hỏi: "Sao chú vẫn chưa về nhà?" Sư phụ Vương hỏi ngược lại cậu: "Còn cậu thì sao?" Cậu bảo: "Cháu về đây. Chú cũng mau về đi! Mưa bất chợt thế này, lạnh phết đấy! Cẩn thận cảm lạnh..." Sư phụ Vương buồn bã nói: "Cậu về đi... tôi ở lại thêm lát nữa..."
Lại qua rất nhiều ngày, đã vào thu, cậu tình cờ gặp sư phụ Chung ngoài cửa trung tâm thương mại, trong lúc đứng nói chuyện, mới biết được, sư phụ Vương vậy mà đã dọn trở lại ký túc xá tập thể để ở rồi! "Tại sao lại thế?" Cậu hỏi. Sư phụ Chung thở dài bảo: "... Thằng nhóc đó chết rồi, cậu nghĩ xem, ông ấy ở chung căn hộ với cô vợ trẻ kia thì ra thể thống gì? Lúc trước, có con trai ở đó, đó là một sợi dây liên kết, mọi chuyện đều dễ nói, cũng thuận tiện... Giờ thằng con trai mất rồi, người con vợ còn nhận ông ấy là bố nữa không? Con trai ruột chết rồi, con vợ mà tái giá, thì khó mà nhận ông làm bố chồng lắm, huống hồ đứa con trai này lại còn chẳng phải con ruột... Giả sử đứa cháu trai lớn hơn chút nữa, có thể gọi ông một tiếng ông nội, có chút ấn tượng với ông, thì đứa cháu đó cũng có thể thành một sợi dây liên kết, ngặt nỗi đứa cháu ấy còn chưa đầy hai tuổi, chuyện gì cũng chẳng hiểu... Nhà mẹ đẻ của cô vợ trẻ ấy có một đứa em gái chưa chồng đến ở cùng chị nó, là một trinh nữ chính hiệu. Cậu nghĩ xem, dẫu mỗi phòng có cửa riêng đi nữa, thì ông ấy còn tiện ăn ở không? Mùa hè năm nay lại đặc biệt nóng nực, ông ấy lại thích cởi trần các thứ, ít nhất cũng phải thường xuyên mặc áo ba lỗ chứ. Những chuyệnn vụn vặt lặt vặt này, nếu thằng ngốc đó còn sống thì đều có thể cho qua, chẳng tính là gì, nhưng không có sợi dây liên kết kiểu đó nữa, cậu thử nghĩ xem, ông ấy ở trong căn hộ đó thế nào được? Cho nên, kể từ sau vụ đó, lúc đầu thì ông ấy cố gắng không về nhà, mỗi tối cứ lang thang bên ngoài mãi cho đến khi áng chừng về nhà không đụng mặt ai nữa thì mới về phòng đi ngủ! ... Dẫu rằng trong nhà máy trong khu nhà không có ai rảnh rỗi đi bới móc điều thị phi, nhưng tự bản thân ông ấy phải biết tránh hiềm nghi chứ. Ông ấy tuy thấy sáu mươi tuổi là đến tuổi nghỉ hưu rồi nhưng dù sao vẫn là trai tân mà, ít kinh nghiệm sống hơn chúng ta chứ bộ? Thể chất lại cường tráng, hỏa khí vượng, tối ngày ngủ cùng một người góa phụ kèm theo một trinh nữ chưa chồng trong một căn hộ, lâu dần thì tính sao đây? ... Mãi về sau, ông ấy và cô vợ trẻ đó đều đề nghị với nhà máy xin phân hai căn nhà riêng biệt để ở tách ra. Một là nhà máy lấy đâu ra hai căn phòng trống sẵn có? Hai là, cái chết của thằng nhóc đó, tuyệt đối không thể tính là tai nạn lao động, thậm chí đến tiêu chuẩn tai nạn bình thường còn không đủ, cán bộ lãnh đạo nào lại muốn đi cung cấp sự chăm sóc đặc biệt cho gia nhân nhà họ chứ? ... Cứ thế đấy, sư phụ Vương của cậu, ông ấy đành tự mình dọn về lại ký túc xá tập thể, giờ thì hay rồi, ông ấy lại chẳng có cái tổ ấm riêng nào nữa, chỉ có mỗi một chiếc giường mà thôi! Cậu bảo xem, chẳng lẽ đây là số mệnh định sẵn của ông ấy hay sao?..."
Sau khi biết được tường tận chi tiết đó, có một hôm cậu đã tìm đến căn ký túc xá tập thể trong nhà máy. Đám thợ trẻ trong ký túc xá đang đánh bài "củng trư", náo oán ầm ĩ, không thấy bóng dáng sư phụ Vương đâu. Cậu hỏi, không ai thèm nhìn thẳng vào cậu, cũng chẳng ai thèm đếm xỉa đến cậu, chỉ phất tay bảo "Cái lão già đó, chẳng biết lượn đi đâu mất rồi... Giường của ổng nằm sát cửa sổ hướng nam đấy!" Cậu tìm đến chiếc giường của sư phụ Vương, ngồi xuống, trong khoang mũi lại phảng phất mùi cát sắt chưa nguội hẳn... Quay đầu nhìn sang, bên cạnh chiếc gối trải chiếc khăn gối dơ bẩn, vứt bừa một cuốn sách đã quăn mép, chính là cuốn "Bành Đức Hoài tự thuật"!
...Cậu bước ra khỏi căn ký túc xá tập thể ấy, đằng sau lưng vọng lại tiếng cười réo hò náo loạn vì thắng hoặc thua, trong lòng dâng lên một nỗi xót xa, khóe mắt bỗng chốc cay xè...
Giờ đây cậu đang ngồi trong "Đại sảnh La Mã", nhấm nháp ly cà phê nóng kiểu Ý pha kem tươi, hồi tưởng lại tất cả những chuyện này, kinh ngạc trước sự bình tĩnh và điềm đạm ngoài sức tưởng tượng của chính mình. Giống như có một lần cậu nhìn thấy bức ảnh chụp một đứa trẻ Somalia chết đói được đăng trên trang bìa tạp chí "Tin tức và Báo cáo Thế giới" của Mỹ, ấn tượng rất sâu sắc, khó mà quên được, thế nhưng vẫn giữ được một khoảng cách tâm lý nhất định, không hoảng hốt lớn, cũng chẳng sinh đại bi... Đây là một bước tiến của cậu, hay là một sự thụt lùi đây?
19
Cửa phòng 706 khép hờ. Cậu vốn tưởng mình đến muộn hơn rất nhiều so với thời gian hẹn, Thiểm Nghị sẽ không vui, thế nhưng còn chưa bước vào, đã nghe thấy một giọng nói quen thuộc đang lớn tiếng bàn luận bên trong...
Đó là Dã Đinh. Một kẻ làm công tác bình luận văn học rất muốn nổi tiếng nhưng vẫn chưa thể nổi tiếng. Cậu từng gặp gỡ gã này tại một số buổi thảo luận tác phẩm. Sau đó mới biết kẻ này là bạn học đại học của Thiểm Nghị.
Dã Đinh trước kia đăng bài khá khó khăn. Nghe nói gã đọc sách nhiều mà tạp, học thức mới mẻ mà uyên bác, ngòi bút nhanh nhẩu, gửi bài thường xuyên và nhiều, thế nhưng phấn đấu mấy năm trời vẫn không thể nổi bật hẳn lên. Gần đây gã dường như có được sự giác ngộ đột phá, một bài viết ngắn mắng nhiếc những bậc tiền bối văn học đương thời được mọi người kính trọng, dẫu chỉ được đăng trên một tạp chí phát hành số lượng rất nhỏ ở ngoại tỉnh, nhưng vì tính bộc trực và sắc bén của nó nên trong giới lan truyền theo kiểu mười đồn trăm, trăm đồn nghìn. Một số báo chí và ấn phẩm trong bối cảnh thời cuộc dần mất đi điểm nóng, mong muốn dùng kích thích mạnh mẽ để tăng độ hấp dẫn nhằm mở rộng lượng tiêu thụ, liền để mắt đến gã, tranh nhau đặt bài, thế nên gã vừa có niềm vui "nông dân nghèo lật thân", có người đã gọi gã là "nhà phê bình phái P đang hot", vâng, cứ mỗi khi người ta cảm thấy ngấy ngẩm với "phái hảo" tức là những nhà phê bình chuyên xu nịnh, thì "thứ phái P" với châm ngôn "hảo cái P" nhất định sẽ trở thành mốt thời thượng...
Cậu bước vào phòng, cả Thiểm Nghị và Dã Đinh đều nhìn thấy cậu, nhưng không ai chủ động chào hỏi cậu cả; Thiểm Nghị ngồi trên ghế sô-pha, trên mặt treo một biểu hiện đan xen giữa sự bắt bớ và khinh miệt, ánh mắt dịch chuyển theo bước chân của Dã Đinh đang đi lại trên thảm; Dã Đinh gầy gò và cao ngòng, vừa đi lại vòng quanh vừa vung vẩy hai tay, dùng ngôn ngữ cơ thể để củng cố thêm phần hùng hồn cho cao luận của mình...
Cậu tự tìm một chiếc ghế bành hơi xa hai người bọn họ một chút, ngồi làm khán giả bên lề.
Nghe ra thì Dã Đinh đang đả kích bộ phim do công ty của Thiểm Nghị đầu tư sản xuất, tất nhiên, lập luận của gã mang theo khí thế cao gót nhìn xuống và đang ở cao trào của sự phê phán, thế nên mặt mày phừng phừng, nước bọt văng tứ tung: "... Các người nên tự hỏi lòng mình xem: có hổ thẹn với lương tâm không! Vào cái thời khắc giao thế thế kỷ mà lý tưởng tan vỡ, vật dục hoành hành, đạo đức tang vong, con người xa cách này, các người, những tầng lớp tinh hoa tri thức, không đứng mũi chịu sào, dám giương cao ngọn đuốc lý tưởng, trèo lên đỉnh cao tinh thần, giương cao ánh sáng đạo đức, xây dựng thành lũy nhân văn, mà lại ở đó ngâm nga nhỏ nhẹ, cầu nhỏ nước chảy, gió hoa tuyết nguyệt, nỗi buồn man mác... thậm chí xuyên tạc lịch sử, ngụy tạo phong tục, đề cao tình dục, trò chơi hình thức, nịnh bợ thị hiếu, nịnh bợ ngoại bang, uống thuốc độc giải khát... Lương tâm của các người để đâu rồi? Lương tri của các người để đâu rồi? Lương năng của các người để đâu rồi? ... Nhìn lại mà xem, giới văn nhân Trung Quốc ngày nay, rốt cuộc đều là những thứ quái thai gì thế này? Lớp già thì hưởng thụ vinh hoa phú quý, ăn bám không làm, không viết không sáng tác, chỉ cốt bảo toàn bản thân, phát ngôn cao nhất hóa ra chẳng qua chỉ là ba chữ 'nói sự thật'! Tri thức phải nói sự thật, đây là điều hiển nhiên, là điểm chuẩn thấp nhất... Đem cái gọi là ABC tối thiểu nhất tôn sùng thành lời vàng ý ngọc, đây chính là nỗi buồn của giới văn nhân Trung Quốc, là sự sỉ nhục, đem ra đặt giữa rừng tri thức thế giới, dù không phải là phát ngôn của người lùn thì ít nhất cũng là 'cấp độ mẫu giáo', chỉ rước lấy sự lạnh nhạt cười chê của người ta! Kỳ lạ nhất là, vậy mà vẫn có người đăng bài trên báo chí phát biểu rằng, tiêu chuẩn của 'nói sự thật' thậm chí còn quá cao, có thể không nói lời dối trá đã thuộc về phong cách cao thượng của đạo làm người rồi. Đây chẳng phải là đang xúi giục thế hệ thanh niên chúng ta uốn cong linh hồn, sống lay lắt qua ngày ở cõi đời này sao?! Tôi mãi mãi không thể hiểu nổi, tại sao hồi phê phán Hồ Phong, giới trí thức Trung Quốc lại không thể từng người từng người một dõng dạc đứng lên hô to: No! Để rồi kết quả là bắt giam Hồ Phong và những người phản động lại, tuyên bố là tập đoàn phản cách mạng, tống vào ngục tối! Thử tưởng tượng xem, giả sử tình huống ngược lại, thì sẽ ra sao? ... Mấy kẻ già nua, không nói cũng bỏ qua đi! Còn thế hệ trung niên thì sao? Bọn họ vội vã sáng tác như trời mưa rải hoa, hôm nay ra sách, ngày mai tung bài viết, nhuận bút đòi hỏi phải ưu đãi, cuộc sống theo đuổi sự tao nhã, hoàn toàn không có hoài bão như Tào Tuyết Cần! Tại sao không thể chịu đựng cảnh nhà tranh vách đất, giường rơm bếp ngói, một giỏ cơm một bầu nước? Tại sao không thể chịu đựng sự cô độc, trải qua tôi luyện? Huống chi từng kẻ một trong số bọn họ đều mồm mép lanh lợi trơn tru, da mặt dày như thớt, trông mong bọn họ vỗ bàn đứng dậy kêu oan vì dân á? Không có cửa đó đâu! Cùng lắm chỉ là gãi ngứa ngoài da, quậy phá chút đỉnh, nửa che nửa giấu, phong lôi nổi dậy là mạnh ai nấy chạy! Có kẻ nào mà không sợ ngồi mọt gông trong tù? Có kẻ nào dám 'tự đao hoành thị thiên không tiếu'? Khiến cho chúng ta đập vào mắt toàn là những kẻ mắc bệnh xương mềm! ... Còn cái gọi là 'thế hệ mới', thì lại càng kém cỏi hơn nữa! Hoặc là công khai cợt nhả cuộc đời, hoặc là tiêu dao trong tháp ngà, không bệnh mà rên, đóng cửa chế tạo xe kiểu Tây, hoặc là dung tục không chịu nổi, hoặc là khiến người ta xem không hiểu... Còn về sự sùng bái đối với Khổng Phương huynh, sự quỳ rạp trước văn hóa phương Tây, lại càng khiến người ta buồn nôn lộn mửa! ... Đây tuyệt đối không phải là tôi đang giật gân dọa người, bắt bẻ khắt khe, mà thực sự là nhìn quanh sân khấu văn hóa ngày nay, rốt cuộc đều là di điếu của nhà nào thế này?! ... Các ngươi sẽ hỏi tôi, lẽ nào trong 'huyện Hồng Đồng không có người tốt' sao? Có thì có, nhưng quả thực quý hiếm như lông phượng sừng lân! Theo tôi thấy, chính là Lâm Kỳ, xứng đáng là trụ cột cột giữa dòng, là tinh hoa thực sự, là hảo hán! Đáng tiếc là bậc vai u thịt bắp gánh vác đại nghĩa như vậy, hiện nay lại đang chiến đấu đơn độc, thế cô lực bạc! ... Chủ đề đi quá xa rồi, hay là kéo nó về lại thôi —— tôi khuyên anh ba tư mà hành động, đừng có ném tiền vốn vào cái kịch bản tồi tệ của các anh, quay mấy bộ phim nhảm nhí này nữa! Anh dẫu sao cũng là người Trung Quốc, máu nóng của anh chắc cũng phải sôi sục chứ, một số vốn lớn như vậy, sao không dùng vào chỗ hiểm, quay một siêu phẩm gánh vác lịch sử có thể thức tỉnh linh hồn quốc dân chứ?!..."
Trước kia khi nghe gã "phê bình phái P" này ba hoa khoác lác, cậu mãi chẳng thấy có câu nào lọt tai, nhưng vào cái thời khắc lúc bấy giờ, chẳng hiểu sao, thứ cảm xúc nào đó đang nhảy múa trong những lời nói ấy lại khiến tai cậu nóng bừng. Đúng vậy, ít nhất thì anh không thể coi toàn bộ những lời trút giận này của Dã Đinh đều là bước đệm để gã bước chân vào hàng ngũ "nhà phê bình tên tuổi", chỉ thuộc về sự cố chấp cá nhân hay là mưu mô...
Thiểm Nghị nghe xong một tràng luyên thuyên của Dã Đinh, lại nhún vai, khóe miệng vắt vẻo nụ cười lạnh nặng mấy cân, thong thả nói: "Loại vốn đầu tư nào, quay loại phim đó... Tư bản nhà nước đầu tư, quay 'chủ đề chính'; tư bản dân gian đầu tư, quay phim giải trí võ thuật, tình cảm; còn chúng ta, tư bản nước ngoài đầu tư vào Trung Quốc, thứ chúng ta muốn chính là đi theo con đường Trương Nghệ Mưu, Trần Khải Ca quay 'Đèn lồng đỏ treo cao', 'Bá Vương biệt cơ', quay những bộ phim thương mại nghệ thuật cao cấp hợp khẩu vị người phương Tây; tiêu chuẩn đó cũng rất đơn giản, một là phải có phong vị phương Đông khiến người phương Tây trợn tròn mắt, hai là phải khiến họ xem xong cảm thấy sự tương thông của nhân tính... Quay xong, một là phải phấn đấu giật giải ở các Liên hoan phim quốc tế hạng A như Cannes, Venice, Berlin..., hai là phải bước vào mạng lưới phát hành phim lớn của phương Tây; nói một câu tóm lại, là phải thu hoạch cả danh lẫn lợi, có lợi cho việc tái tích lũy tư bản, tái đầu tư! Bộ phim mà anh nói, cá nhân tôi giơ hai tay tán thành, thế nhưng, hãy đi tìm nguồn vốn ngoài ba kênh mà tôi vừa nói ở trên ấy! Phim ảnh là sản xuất công nghiệp lớn, đặc biệt là thực hiện đại chế tác, cái đó cần chi phí lớn, đối mặt với thị trường lớn của thế gian! Huynh P à! Anh đã khinh bỉ tột độ, coi đám người chúng tôi, bao gồm cả rất nhiều thế hệ nhà văn, nghệ sĩ già trẻ lớn bé là những kẻ lùn, vậy chính anh, sao không liên lạc với Lâm Kỳ, tự quyên góp vốn, quay một bộ phim mẫu mực đề cao lý tưởng của các anh cho chúng tôi mở rộng tầm mắt xem nào? Hoặc là, các anh không quay phim, mà là anh dũng chịu nạn, ngồi mọt gông trong tù cho chúng tôi xem, hay dứt khoát dùng máu tươi anh dũng tuẫn quốc của các anh để cảnh tỉnh sự ngu muội đồi trụy của chúng tôi, chẳng lẽ còn có ý nghĩa thực tế hơn là đứng trên cao bàn luận suông thế này sao? ... Thế nhưng, P à, tôi lại nghe nói, Lâm Kỳ đã nhận lời mời của phía Pháp, sang làm học giả thỉnh giảng một năm, sắp sửa khởi hành rồi; còn anh, chẳng phải cũng đang liên lạc với phía Australia đó sao? Sao các anh có thể ưỡn ngực ngẩng cao đầu đi nhận tiền của các quỹ có bối cảnh tư bản phương Tây, ăn bánh mì tây, bú sữa bò tây, lại đi oán trách những người ở lại đây không dám ngồi ngục tối, đổ máu nóng chứ?"
Chưa để Thiểm Nghị nói dứt câu, Dã Đinh đã đột ngột dừng bước đi lo lắng lại, đối diện với Thiểm Nghị, hai cánh tay gầy dài vung lên một cách khoa trương tột độ, tựa như phóng điện từ đầu ngón tay mà đông cứng lại thành một tư thế đáng sợ, ré lên quát lớn: "Anh là tên tư sản mại bản này! Anh sẽ phải trả giá vì những lời nói thất đức này!"
Thiểm Nghị lại phớt lờ Dã Đinh, quay người hướng về phía cậu và nói: "Sao giờ anh mới tới? Để tôi phải chịu trận tên P này tra tấn lâu thế này! Những chuyện chúng ta sắp bàn bạc, mới là chuyện chính đây này!" Lại chỉ vào Dã Đinh vẫn chưa thay đổi tư thế mà bảo với cậu: "Anh xem, trông có giống một cột điện ép người ta đi thắt cổ không?"
Thiểm Nghị bỗng bật cười thành tiếng, Dã Đinh với tốc độ khoa trương tột độ khôi phục lại tư thế bình thường, bản thân cũng phì cười theo.
Cậu lại chẳng thể cười nổi.
20
Nhìn ra từ chiếc taxi, Bắc Kinh đầu thập niên chín mươi này, nếu không thể gọi là cõi hồng trần vạn trượng, thì cũng ít nhất là hồng trần ngàn trượng. Ven làn đường mọc lên bao nhiêu tòa nhà mới, tuy từ góc độ mỹ học kiến trúc thì đa phần thiếu mới mẻ, thậm chí chỉ là sự sao chép vụng về đối với các công trình kiến trúc phương Tây của thập niên tám mươi hoặc thậm chí xa hơn nữa, nhưng đường nét chân trời do chúng phác họa ra quả thực đã mang đậm chất "quốc tế hóa", khiến người ta trong phút chốc ngỡ ngàng không biết mình đang ở quốc gia nào thành phố nào... Mà những bảng hiệu quảng cáo đèn nê-ông khổng lồ trên nóc các tòa nhà, không chỉ đủ sức khoe uy lực của âm thanh ánh sáng màu sắc điện ảnh, mà còn bằng diện tích cuộn chuyển nhấp nháy lớn để thu hút ánh nhìn, làm mê hoặc tâm trí người ta...
Bản thân cậu vốn không muốn chấp nhận lời mời của Thiểm Nghị, làm "cố vấn văn học" cho bộ phim do Chúc Vũ Lượng đạo diễn đó, thế nhưng trong khoảnh khắc chỉ có Thiểm Nghị và cậu ở riêng với nhau, một lời nói của Thiểm Nghị đã đả động đến cậu.
Thiểm Nghị nói: "Anh tưởng trong lòng tôi yên bình lắm sao? Bộ phim này, đã được quyết định quay tại cái viện mà cả anh và tôi đều từng ở. Tòa nhà cũ đó, đối với tôi, e rằng còn hơn cả anh, là nơi không nỡ nhìn nhiều, không nỡ nghĩ nhiều! Tôi đã kể với anh nhiều như thế, kỳ thực vẫn chưa kể về cái chết của mẹ tôi... Hiện tại tôi cũng chưa muốn kể... Những gì anh biết đã đủ nhiều rồi! Tuổi thơ, thiếu niên, quãng đời đẹp đẽ của tôi, đều gắn liền với tòa nhà đó đấy! ... Những chuyện chưa kể tôi không muốn kể lại nữa, những chuyện đã kể tôi càng không muốn lặp lại. Thế nhưng, anh cũng biết đấy, ngày hôm đó... anh đã nghe thấy, cũng nhìn thấy rồi... cái tên Phan Quốc Thành đó! Quân nhân danh nghĩa giả! ... Cuộc sống không phải lừa gạt tôi, mà đơn giản là đã cưỡng bức tôi! ... Thế nhưng, lẽ nào, dùng tòa nhà đó để quay một bộ phim, tính chất ký sự, hoặc thêm thắt hư cấu cần thiết, tái hiện lại tuổi thơ của tôi, bà ngoại của tôi, Phan Quốc Thành gì đó, hoặc cộng thêm cả anh, Hàn Diễm Cúc gì đó, thì nhất định sẽ là đề tài hay nhất sao? Nhất định là chức trách vốn có của nghệ thuật sao? Nhất định có thể thông tới sự vĩnh hằng sao? ... Giờ thì tôi cảm thấy, ít nhất hiện tại tôi vẫn chưa có sự giác ngộ lớn hơn — tôi cảm thấy nhân mệnh không thể cứ mãi hoài niệm và hướng về phía trước, nghệ thuật cũng thế, không thể nặng nề như vậy, cố chấp như vậy, không thể bỏ mặc hiện tại, khoảnh khắc hiện tại không lưu giữ lại ý nghĩa thuộc về hiện tại và khoảnh khắc ấy được, tôi không biết mình đã nói rõ ý chưa? ... Tóm lại, hồi ức của tôi, tình yêu của tôi, hận thù của tôi, ơn nghĩa tôi phải báo, thù tôi phải trả, tiền đồ tôi muốn phát triển, tương lai tôi muốn mưu đồ, tất nhiên, tôi sẽ không quên, sẽ không lơi lỏng. Thế nhưng, quan trọng hơn là, hiện tại tôi có thể làm gì, có thể làm thành cái gì! Hiện tại, với tư cách là một trong những nhà sản xuất, quay một bộ phim nghệ thuật quy mô lớn cao cấp thế này, cuộc đời tôi ngay tại hiện tại, khoảnh khắc này liền nổi bật lên ý nghĩa thiết thực! ... Hơn nữa, tôi cũng từng đêm về một mình khổ sở suy nghĩ, chân lý của nghệ thuật, rốt cuộc là gì? Là tái hiện sự thật? Là vạch trần chân lý? Là biểu đạt sự nhiệt huyết của lý tưởng? Là thức tỉnh quần chúng phát động cách mạng, tham gia cải cách? ... Có lẽ, những điều này đều là thành phần cấu thành nên chân lý, thế nhưng, có lẽ phần quan trọng hơn trong chân lý nghệ thuật, lại chính là sự tưởng tượng vượt ngoài hiện thực, tình cảm vượt ngoài lý trí, sự tĩnh lặng vượt ngoài ồn ã, vẻ đẹp mỹ cảm vượt ngoài cải cách... Tôi biết, việc sáng tác của anh cũng đang phải đối mặt với sự hoang mang và lo lắng tột độ, thế tại sao không đến với bộ phim của chúng ta để hóa giải, điều chỉnh một chút? Huống chi, đường đường chính chính anh còn nhận được một khoản tiền thù lao cố vấn, đây cũng là khoản tiền bảo đảm cần thiết để anh tiến hành công cuộc sáng tác mà anh khao khát hơn! Nếu nói việc Lâm Kỳ đi nhận tiền của người Pháp không tổn hại đến hình tượng cao cả 'mọi người đều đục mình ta trong' của anh ta, vẫn được rất nhiều người tôn sùng làm giáo phụ tinh thần, vậy thì anh làm cố vấn văn học cho bộ phim này một lần, thì có gì cản trở anh tiếp tục đi con đường quen thuộc của mình chứ?..."
...Chiếc taxi rẽ vào ngõ hẻm, ánh sáng và bóng tối ngoài cửa sổ xe trở nên mờ ảo.
Khi cậu xuống xe, bước vào cổng viện, chẳng hiểu thế nào, búi rối trong lòng cậu lại cuộn trào co thắt.
...Bịch, bịch, bịch, cánh tay vung búa đinh của lão Hoắc, cơ bắp nhô lên co giật ở bắp tay trên, đôi môi nhô mạnh về phía trước... Hàn Diễm Cúc bỗng đứng phắt dậy lĩnh xướng khẩu hiệu: "Không có... liền không có...!" Hai câu nói vậy mà ăn khớp với nhau thật khéo léo làm sao... Hàn Diễm Cúc mặc cả với Thiểm Nghị, "trong thương trường bàn chuyện làm ăn", trông không hề già, trên bức tường phòng khách được trang trí như khách sạn ba sao của cô ta treo bức tranh sơn dầu phương Tây mô phỏng khổ lớn, vị phu nhân quý tộc cầm chiếc ô che nắng có viền ren nhăn nhúm trên bức tranh sơn dầu ấy có phải đang hỏi: "Hôm nay các đồng chí đã đấu tư tưởng phê tư tu sửa chưa? Đã khai quật được 'loáng thoáng tư tưởng vị kỷ' nào chưa?" Đó chắc chắn là những tầng váy lớn dài chấm đất được chống bằng xương cá voi, sắc xanh bảo thạch mới vương giả làm sao! ... Tường nhà vệ sinh lát đá hoa cương nhẵn bóng như gương, chiếc đĩa sứ đặt một tờ đô la, đứng thẳng lên... Những nếp nhăn lớn trên mặt không hề giật động dữ dội, "... Nơi này đã cho tôi một chiếc giường..." Chiếc giường đó tỏa ra mùi cát sắt chưa nguội hẳn...
...Bước vào nơi ở của mình. Đó là căn phòng mà cậu giữ lại trong thành phố, phòng sách thứ hai của cậu, hơn nữa, trong đống sách báo tạp chí lộn xộn đến đáng yêu, có một... đúng vậy, chiếc giường!
...Sư phụ Vương bây giờ không biết có quay về chiếc giường đó của mình chưa nhỉ?