1
Vẫn còn nhớ tấm ảnh đó, vẫn còn nhớ.
Trong ảnh là hai thiếu niên mặc âu phục, một người hơi gầy hơi thấp, một người hơi cao hơi mập. Hai mắt của người hơi gầy hơi thấp rất có thần, nhìn thẳng vào ống kính; hai mắt của người hơi cao hơi mập thì liếc sang một bên, trên mặt là biểu cảm ngu ngơ, ngu ngốc, hơn nữa từ trong ảnh có thể thấy rõ trên trán, trên cằm anh ta đều mọc chật nốt mụn nhọt.
Tấm ảnh đó về sau trong thời "Cách mạng Văn hóa", lúc "phe Tạo phản" lục soát nhà đã bị tịch thu từ chỗ cha, về sau khi thực hiện chính sách trả lại những bức ảnh bị thu đi thì không thấy tấm này đâu nữa, nghĩ lại chắc chắn là trong lúc hỗn loạn đã làm mất rồi — chẳng ai buồn giữ lại tấm ảnh đó, đối với người ngoài mà nói, đó là một tấm ảnh cực kỳ nhàm chán, vô vị.
Hồi nhỏ anh đã nhiều lần nhìn thấy tấm ảnh đó, hiện giờ không biết bức ảnh ở nơi nao, nhưng hễ nhắm mắt lại anh vẫn có thể phác họa lại nguyên vẹn.
Trong ảnh là anh cả và anh hai của anh.
2
Cha mẹ vừa qua tuổi 20 thì sinh ra anh cả. Anh cả vừa tròn một tuổi lại sinh ra anh hai. Hai anh em ruột chỉ chênh nhau một tuổi nhưng tướng mạo và tính cách lại hoàn toàn trái ngược.
Anh cả cho đến tận khi trưởng thành dáng người vẫn không cao, từ đầu đến cuối chẳng bao giờ phát mập, nhưng từ thời thơ ấu anh đã tràn trề năng lượng dường như có thể bùng nổ bất cứ lúc nào, hơn nữa gan lại to kinh người. Mẹ đã nhiều lần kể về một chuyện hồi nhỏ của anh cả — đó không phải là chuyện duy nhất hay đặc biệt nổi bật, mẹ chẳng qua là lấy đó làm ví dụ thành thói quen mà thôi — hồi đó anh mới vào tiểu học, mới khoảng bảy tám tuổi. Có một ngày, anh tự mình làm một chiếc đu quay rồi ngồi đu; chiếc đu quay thế nào ư? Hồi đó cha làm nhân viên kiểm định ngoại ban ở Hải quan Ninh Ba, ký túc xá nằm trong một con ngõ, con ngõ đó rất hẹp, khoảng cách giữa hai dãy nhà lầu bê tông ba tầng đối diện nhau chỉ tầm hai mét, anh cả liền không biết kiếm đâu ra một tấm gỗ dài chừng ba mét, trèo lên sân thượng đặt đại lên gờ tường hai bên nhà, trên tấm gỗ thòng xuống một sợi dây thừng thành vòng tròn, bản thân anh thì ngồi lên cái vòng dây đó, vui vẻ đu qua đu lại, mà càng đu biên độ càng lớn. Tấm gỗ cùng với đà đu của anh đang dần dần trượt đi, mắt thấy tấm gỗ một đầu sắp sửa tuột khỏi sân thượng... Lúc đó, những người hàng xóm nhìn thấy màn biểu diễn như xiếc này đều hoảng hốt, một bà thái thái thò đầu ra cửa sổ nhìn sang rốt cuộc không nén nổi một tiếng la hét... Mẹ bị gọi ra nhìn thấy cảnh này thì hai tay ôm ngực không biết làm sao... Về sau anh cả dừng đu như thế nào, trở lại mái nhà ra sao, về nhà an toàn bằng cách nào, đều không nhớ mẹ đã kể lại thế nào nữa, chỉ riêng khung cảnh kinh tâm động phách mà mẹ miêu tả thì vẫn ghi nhớ; cho đến tận bây giờ hễ nhớ đến anh cả, phân đoạn này lại như thước phim chiếu lại trong trí não...
Theo lời mẹ nói, anh cả từ nhỏ đã thường xuyên bị cha đánh, những hành vi kiểu như ngồi đu quay đánh còn nhẹ, hành vi nghịch ngợm của anh ở trường học gây nguy hiểm cho bạn học khác, làm xấu mặt gia đình thì mới bị đánh rất nặng. Ví như có một lần trong giờ hát xướng vận động (tương đương với môn thể dục ngày nay), nhân lúc thầy giáo không chú ý, anh đã dùng lực ném quả bóng cao su mà mọi người đang cùng chơi vào một cái hốc trên thân cây dâu cổ thụ bên cạnh sân tập, còn nhảy tưng tưng vỗ tay tự khen mình... Mẹ nói vì chuyện đó mà cha đánh vào mông anh, vừa đánh vừa ra lệnh cho anh cả đang nằm sấp trên ghế phải nhận lỗi, thế mà anh cả nhất quyết không nhận lỗi, không những không nhận lỗi mà còn nghiến chặt răng không khóc, mông bị đánh sưng húp lên một cục lớn cũng không khóc. Cuối cùng tức đến mức cha phải đi tìm cái dùi nhọn đòi đâm vào mông anh, mẹ phải lao qua ôm chặt lấy tay cha khóc lóc van xin mới coi như không đâm xuống...
Anh hai thì từ khi sinh ra đã rất ngoan ngoãn, thậm chí ngoan ngoãn đến mức khiến cha mẹ nghi ngờ liệu anh có bị chậm phát triển trí tuệ hay không. Nhưng sức ăn của anh hai rất lớn, lại thích ăn vặt, thế nên vóc dáng chẳng mấy chốc đã vượt qua anh cả, và phát triển thành một cậu bé mập mạp. Có điều sức khỏe anh hai không tốt, hay bị cảm lạnh, nước mũi chảy ròng ròng, hễ đến mùa hè là đầu đầy mụn nhọt, hình ảnh trông không được lịch sự cho lắm. Khi ấy kinh tế gia đình đủ xếp vào hàng tiểu khang, cha mẹ ăn mặc cho hai người âu phục giày da chỉnh tề, lại nhất quyết gửi vào trường tiểu học giáo hội có học phí đắt đỏ để học tập. Thành tích học tập của cả hai đều rất kém. Anh cả thì thông minh vặt, nghịch như quỷ, nhưng tâm trí không đặt vào bài vở; anh hai thì tuyệt đối không nghịch ngợm, nhưng lại khiến thầy giáo cảm thấy đầu óc như u mê không mở ra được. Anh cả ở trường thường xuyên ăn hiếp người khác, còn anh hai thì thường xuyên bị người khác ăn hiếp. Hai người không cùng một khối một lớp, nhưng lúc đi học thì đi cùng nhau, lúc tan học thì hội ngộ ở cổng trường cùng nhau về nhà. Thường là lúc tan học gặp nhau, anh cả thấy anh hai cao hơn mình nửa đầu, người cũng to hơn một quầng, hai lỗ mũi thòng xuống hai dải nước mũi, mắt rơm rớm đầy vẻ uất khuất, liền hỏi: "Đứa nào lại ăn hiếp em?" Anh hai bao giờ cũng ngẩn người ra trước, rồi chậm rãi lắc đầu. Anh cả sốt ruột, liền lại lớn tiếng hỏi lại một lần: "Rốt cuộc là đứa nào?" Thế là anh hai mới như ngậm bông trong miệng nói ra tên một bạn học, dĩ nhiên là biệt danh, như "Đầu Ca Lóc", "Bánh Trôi Lớn" các loại, anh cả liền bảo anh hai đứng yên ở cổng trường không được nhúc nhích, một mạch đi tìm cái đứa "Đầu Ca Lóc", "Bánh Trôi Lớn" đó, tìm được rồi cũng chẳng hỏi han gì, nhắm đầu là đánh, đối phương bỏ chạy thì đuổi theo, đuổi kịp lại đánh tiếp, đánh cho đến khi kêu "ối giời ơi" liên hồi, xin tha không ngừng. Cuối cùng thề thốt: "Không bao giờ dám ăn hiếp em trai bạn nữa!" Anh cả lúc này mới chịu thôi; cũng có kẻ không bỏ chạy, không xin tha, không chịu thua, thế là túm lấy nhau đánh tiếp, đánh hòa nhau, cả hai cùng lao ra khỏi đám đông đứng xem, ngoái đầu lại hận hận chửi: "Lần sau lại tới! Xem mày còn dám nữa không!" Anh cả liền mang theo thương tích trên mặt trên người trở lại bên cạnh anh hai, anh hai cũng chẳng biết biết ơn, hai người cứ thế đi về nhà... Kẻ bị anh cả đánh bại nhất thời đó sau này chưa chắc đã thực sự giữ lời thề, còn kẻ đánh hòa thì càng hầm hừ muốn trút giận. Kết quả là khi anh hai đi học trở lại lại tiếp tục bị ăn hiếp, anh cả biết chuyện lại đi trả thù cho em trai...
Anh cả đánh nhau như vậy dĩ nhiên nhanh chóng thu hút sự chú ý của phía nhà trường, nhà trường liền mời cha đến trường, hiệu trưởng tự mình tiếp đón, rất lịch sự, nói với cha rằng xét tình hình này của anh cả, họ chỉ có thể xin cha dẫn anh cả về nhà. Để giữ gìn danh tiếng cho nhân viên hải quan, họ làm như vậy không gọi là đuổi học, cũng không gọi là "xích thoái" (là một hình thức xử phạt nhẹ hơn đuổi học một cấp, người bị xích thoái thường dễ chuyển sang trường khác học hơn người bị đuổi học), mà gọi là "mặc thoái", tức là không dán thông báo không làm ầm ĩ lên, âm thầm gạch tên học sinh, như vậy hoàn toàn không ảnh hưởng đến việc anh cả chuyển sang một trường khác tiếp tục học hành... Cha nghe xong đành phải nén cơn tức giận bùng bùng trong lòng, về đến nhà liền lại thẳng tay đánh vào mông anh cả, kỳ lạ là lúc này anh hai lại không chạy đến trước mặt cha xin tha cho anh cả, ví như nói một câu: "Ba ơi, anh là vì con bị ăn hiếp nên mới đánh nhau với người ta...", mà chỉ biết đứng một bên sợ hãi sụt sịt khóc lóc; anh cả vẫn không xin tha, không khóc, cũng chẳng giải thích nguyên do mình tìm người đánh nhau... Mẹ thì đứng một bên thở dài.
Anh cả chuyển sang một trường tiểu học tư thục khác, học phí cũng không thấp, nhưng chất lượng giảng dạy thì kém hơn nhiều, thế nhưng anh vẫn cứ gây rối khắp nơi, học chưa được bao lâu lại bị xích thoái. Nghe nói cha tức đến mức mặt vàng như củ nghệ, nhưng không vì chuyện xích thoái mà đánh anh cả nữa, tôi nhớ mẹ hồi tưởng lại cảnh tượng lúc đó có nói thế này: "Ba con khẳng định anh cả con là khúc gỗ mục không thể chạm khắc, từ lúc đó ông ấy đã ghét nó, không bao giờ cho anh cả con một nét mặt tươi cười nào nữa..."
3
Anh cả anh hai đều lớn hơn anh mười mấy tuổi, lúc anh biết chuyện thì anh cả anh hai đều đã là thanh niên rồi. Anh chỉ chơi với chị hai lớn hơn anh tám tuổi, đôi khi cũng chơi với anh ba lớn hơn anh mười mấy tuổi. Thời thơ ấu của anh trải qua ở thành phố núi Trùng Khánh. Hồi đó nhà anh không sống trong nội thành mà sống ở Nam Ngạn, từ ban công nhà anh nhìn ra có thể thấy bóng dáng toàn bộ thành phố núi, thường xuyên bao phủ trong làn sương mù xám, đêm xuống thì lấp lánh ánh đèn muôn nhà. Anh cả đi học đứt quãng, chưa học xong trung học đã không học tiếp nổi nữa, cha anh liền tìm cho anh cả một công việc ở hải quan. Anh cả trong khoảng thời gian đó trong ấn tượng của anh là một sự tồn tại cực kỳ mờ nhạt. Anh không nhớ tất cả những gì về anh cả lúc đó, ngoại trừ cảnh tượng cha đập vỡ bát ngày hôm ấy.
Chi tiết vụ việc sau khi lớn lên anh nghe mẹ kể lại, nhưng sau đó anh có cuộc đời của riêng mình, có nhiều chuyện đáng nhớ hơn, cho nên rốt cuộc vẫn lại không rõ ngọn ngành. Tóm lại, lúc đó anh cả thường xuyên xung đột với cha, anh còn nhớ có một lần mẹ giấu hết dao gọt hoa quả, kéo và các loại vật dụng sắc nhọn trong nhà vào trong lu gạo, sau này anh mới hiểu tại sao lại làm vậy, nhưng lúc đó chỉ thấy vui vui, rất tự hào vì mình nắm giữ được một bí mật như thế, còn chạy đi báo cáo với chị hai vừa đi học về phát hiện thú vị đó... Lại nhớ ngày hôm ấy mọi người quây quần bên bàn ăn cơm, ăn mì sợi, một loại mì thịt băm có nước sốt rất vừa miệng; cha và anh cả người một câu tôi một câu tranh chấp chuyện gì đó, mẹ và chị hai có lẽ đều căng thẳng và lo âu nhìn hai cha con không thể dung hòa kia, còn anh thì ngơ ngác chỉ biết gắp thịt băm ăn, làm khóe miệng dính đầy nước sốt màu nâu... Đột nhiên cha dùng lực đập mạnh cả bát mì thịt băm chưa kịp ăn mấy xuống sàn nhà, đứng dậy nghiêm giọng chỉ tay ra cửa hét lớn với anh cả: "Cút! Mày cút đi cho tao! Mày đừng có quay về nữa!"
"Cút thì cút! Tôi sẽ không bao giờ về nữa!"
Anh cả "hứ" một tiếng đứng phắt dậy, quay đầu bước nhanh ra ngoài cửa, trong chớp mắt đã biến mất.
Duy chỉ có phân đoạn ngắn ngủi này khắc sâu vào ký ức của anh. Năm đó anh có lẽ còn chưa tròn bốn tuổi.
Mẹ lúc đó tại sao không đứng dậy ngăn cản anh cả? Theo lời mẹ nói sau này, số lần cha và anh cả xung đột đã quá nhiều, bà tuy lo lắng bồn chồn, nhưng dẫu sao cũng đã quá quen mắt, hơn nữa cả người chồng lẫn đứa con này đều có tính khí nóng nảy, lúc giận dữ chẳng ai chịu nghe lời khuyên của bà — điều quan trọng hơn là, mẹ nghĩ lần đó anh cả chẳng qua cũng giống như trước đây, tối hẳn thì sẽ về nhà, hoặc cùng lắm là dỗi sang nhà bạn bè ở vài ngày, qua mấy ngày tiêu hết tiền trên người dĩ nhiên vẫn sẽ về.
Thế nhưng lần đó anh cả lại đi biền biệt không về.
Sau khi anh cả bỏ nhà đi anh có nhớ anh cả không? Anh có hỏi cha mẹ chị hai anh ba những câu như thế này không: "Anh cả đâu rồi? Sao anh cả không về nhà ạ? Anh cả đi đâu rồi ạ?" Theo hồi tưởng của cha mẹ chị hai anh ba, anh không hề có biểu hiện như vậy, anh không hỏi lấy một câu. Anh vẫn thản nhiên đùa giỡn với con mèo đen lớn trong nhà.
Ngày thứ hai sau khi anh cả quay đầu bước ra khỏi cửa nhà, mẹ bắt đầu sốt ruột, chị hai anh ba chia nhau đến những nhà họ hàng bạn bè mà anh cả có thể trọ nhờ để tìm, hoàn toàn không thấy tăm hơi, càng không có tin tức... Ba ngày bốn ngày, một tuần nửa tháng, anh cả không biết đi đâu, bặt âm vô tín. Nhưng cha không cho người trong nhà nhắc đến anh cả, có một ngày lại ở trên bàn ăn trang nghiêm tuyên bố: "Tôi coi như chưa từng sinh ra đứa con này! Các người cũng coi như không có người này!"
4
Lúc vở kịch anh cả bỏ nhà đi diễn ra thì anh hai không có mặt. Anh hai lúc đó không ở Trùng Khánh mà ở Nhạc Sơn, sau khi tốt nghiệp cấp hai anh thi đỗ vào một trường kỹ thuật ở Nhạc Sơn, học ngành chế biến gỗ.
Anh hai thuộc loại người phát triển muộn. Cho đến tận giai đoạn cấp hai anh vẫn đần độn đến kỳ lạ, không chỉ thành tích học tập rất kém, thời đó giáo viên trường học ngoài việc đánh giá nhận xét hạnh kiểm cho học sinh còn đánh giá một loại điểm "tình thú" (sở thích, tâm hồn), anh lại luôn chỉ được đánh giá khoảng ba bốn mươi điểm, tức là thiếu niên đang độ tuổi thanh xuân như anh lại hoàn toàn chẳng có chút tâm hồn sở thích nào đáng nói, tuy chưa đến mức khiến người ta ghét bỏ, nhưng có thể nói là khá nhàm chán. Với thu nhập của cha lúc đó, chu cấp cho con cái học đại học là trong tầm tay, anh cả không ra gì thì không bàn tới, anh hai nếu có thể thi đỗ đại học, dĩ nhiên sẽ dốc sức hỗ trợ, nhưng anh hai tốt nghiệp cấp hai đã rất chật vật, thi vào cấp ba Trường Trung học Thục Hương thì trượt vỏ chuối, đến trường trung học quàng xiên học thì học phí cũng không thấp, học xong cũng chẳng có hy vọng thi vào trường đại học ra hồn nào, cho nên cha nhờ mối quan hệ của một người bạn là chú Thôi, an xếp anh hai đến Trường Kỹ thuật Nhạc Sơn học một cái nghề tương lai không khó tìm việc.
Ai ngờ sau khi đến Nhạc Sơn nơi có "Đại Phật thần bí", anh hai lại đột nhiên khai thông trí tuệ, anh không còn béo đần nữa, cũng không còn thò hai dải nước mũi nữa, trên trán trên má trên cằm cũng không mọc mụn nhọt nữa, quan trọng hơn là ánh mắt anh bắt đầu hội tụ và sắc sảo, sự thông minh trong đầu như chú gà con mổ vỡ vỏ trứng, nhanh chóng lớn lên, chẳng bao giờ lâu đã có thể vỗ đôi cánh khỏe mạnh cất tiếng gáy gáy — sang đến học kỳ thứ hai anh đã đạt mức phẩm học ưu tú, kỳ nghỉ hè xách một chiếc vali da nhỏ trở về nhà, bộ âu phục không vừa vặn cho lắm (cha từng mặc) giặt giũ sạch sẽ, cổ áo sơ mi bên trong trắng tinh, thắt một chiếc cà vạt màu xanh dương (của chú dượng cô cô tặng), tóc vừa mới gội sấy ở tiệm cắt tóc, ngôi lệch, bên nhiều thì kiểu tóc bồng cao lên, bên ít thì nếp tóc ngoan ngoãn, dưới chân còn xỏ một đôi giày da cũ đánh một lớp xi thật dày, nhìn vào chẳng khác nào một thiếu gia nhà thư hương, huống chi vừa gặp cha mẹ liền đưa ra một bảng điểm toàn là "Ưu", "Lương" chỉ có một hai môn là "Trung", lời nhận xét nói anh thành thật tốt bụng, chăm học đọc nhiều, kính thầy yêu trường, giữ mình sạch sẽ, tóm lại hầu như toàn là lời khen ngợi, mà điểm tình thú thì đạt tới hơn 80 — anh hai tự hào nói mình ở trường kỹ thuật đã tham gia kịch đoàn nghiệp dư, đóng một vai gì đó trong kịch bản 《Sheng Guan Tu》 của Trần Bạch Trần, bất luận là vai gì, bất luận kỹ năng diễn xuất ra sao, anh có thể lên đài diễn kịch, điều này chứng minh anh tuyệt đối không còn là một kẻ kém cỏi nữa, mà đã trở thành một thanh niên thời đại thông tuệ! Cha mẹ đều mừng đến không khép được miệng vì anh hai, trên bàn ăn liên tục chỉ thị chị hai và anh ba lấy anh hai làm tấm gương. Anh nhớ, ngược lại không đưa ra yêu cầu gì bảo anh phải học tập anh hai — vì dù sao anh vẫn còn rất nhỏ, cha mẹ cho phép anh tiếp tục làm bạn với con mèo đen lớn, tha hồ đùa giỡn.
Anh hai và anh ba chơi với nhau rất hợp. Kỳ nghỉ hè hai người đi phà qua sông, đến nhà chú dượng cô cô trong thành phố chơi, xem phim thỏa thích — chủ yếu là phim Hollywood, những bộ phim Hollywood thập niên 40 đó, những ngôi sao điện ảnh Hollywood đó, cho đến nay anh hai và anh ba vẫn thuộc như lòng bàn tay; đôi khi họ cùng đi xem những bộ phim đó với con gái lớn Điền Hà Minh và con gái thứ Điền Nguyệt Minh nhà chú dượng cô cô, không biết tại sao họ lại không mấy khi chơi với chị hai của anh, qua sông xem phim cũng thường không dẫn chị hai đi cùng, chị hai đành cay đắng ở nhà tại Nam Ngạn chơi một số trò chơi tự sáng chế với anh, ví như "bán nước" — trong số những thức uống tự chế mà chị hai bán, loại anh mua nhiều nhất là nước đun sôi để nguội nhỏ thêm mực xanh...
Anh nhớ anh hai từng xảy ra xung đột nhiều lần với chị hai, nhớ chị hai ngồi xổm trên sàn nhà khóc, nói anh hai đánh chị... Nhưng đến khi anh lớn lên, nhắc lại ấn tượng này, anh hai chối phắt, chị hai cũng úp úp mở mở nói: "Ai mà biết lúc đó là chuyện thế nào!"
5
Năm 1950 đối với người Trùng Khánh là một ranh giới định mệnh. Ngày 1 tháng 10 năm 1949 vẫn chưa phải. Ngày 1 tháng 10 năm 1949 Mao Trạch Đông trên đài Thiên An Môn dùng giọng Hồ Nam đậm đặc dõng dạc tuyên bố: "Chính phủ Nhân dân Trung ương thành lập rồi!" (về sau có một số sách lịch sử ghi chép là "Nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa thành lập rồi!", tuy rằng về bản chất là ý đó, nhưng nếu bạn chú ý xem các thước phim tư liệu liên quan, sẽ phát hiện ra ông ấy tuyên bố vẫn là sự thành lập của chính phủ), lời tuyên bố trang nghiêm đó của Mao Trạch Đông khiến cả thành phố Bắc Kinh reo hò hân hoan, tuy nhiên cùng thời điểm đó trên đường phố Trùng Khánh lại vô cùng tịch mịch, vì lúc đó Trùng Khánh vẫn chưa giải phóng, Quân Giải phóng vẫn chưa tiến đánh đến đó; khi ấy các quan chức cấp cao của Quốc dân đảng đại đa số đã bay sang Đài Loan, cơ quan chính quyền thực tế đã tê liệt, quân đội trú đóng cũng đã bắt đầu tự động tan rã, hoặc đang chuẩn bị hàng phục; tổ chức ngầm của Đảng Cộng sản tích cực chuẩn bị đón tiếp Quân Giải phóng, nhưng cũng chưa chính thức công khai xuất hiện; những người mong chờ Quân Giải phóng đến thì ở nhà nghe sóng đài truyền từ Bắc Kinh tới, hoặc ra đường bàn tán hỉ hả, nhưng cũng chưa có điều kiện để công khai tụ họp reo hò; những người mang lòng bất mãn thậm chí tràn ngập sợ hãi lại không có điều kiện đi xa, thì tự tính toán đủ loại phương án ứng phó cục cục biến đổi; cũng có không ít người thuộc phe trung lập, họ chẳng chút vương vấn với Quốc dân đảng đã hủ bại đến cực điểm, đối với việc Đảng Cộng sản thần bí sắp sửa tới lại có phần thắc thỏm không yên; còn có một số tiểu thị dân, lưu manh côn đồ, cặn bã xã hội, thì lợi dụng trạng thái khoảng trống xã hội và cục diện hỗn loạn để dốc sức vơ vét tiền bạc, vơ vét lợi ích, vơ vét những thứ mà trước đây chưa dám vơ vét, không dám thô bỉ tàn nhẫn đi vơ vét như thế, từ đầu cơ tích trữ, đẩy giá leo thang cho đến lừa đảo cướp giật gian dâm, không chuyện gì không làm, không trò gì không có... Cục diện này mãi đến mùa đông năm 1949 khi Quân Giải phóng tiến vào Trùng Khánh mới chính thức chấm dứt, và nhanh chóng thiết lập nên một trật tự mới nhận được sự ủng hộ của đại đa số mọi người.
Từ năm 1950, người Trùng Khánh tự xác lập lại số phận của mình, ai nên trở mình thì trở mình, ai nên gặp vận xui thì gặp vận xui, ai nên may mắn thì may mắn, ai nên chìm đắm thì chìm đắm, ngay cả nhóm người ở giữa rốt cuộc địa vị xã hội và mức sống không tăng cũng không giảm, cũng đều qua một đợt định vị lại.
Cha của anh ở trạm trung chuyển số phận này, đã leo lên một chuyến xe đi lên. Cùng là nhân viên Hải quan Trùng Khánh của Quốc dân đảng, có người bị Đảng Cộng sản bắt giữ trấn áp, có người bị đưa đi lao cải, có người bị giải tán, có người chỉ tạm thời lưu dùng hoặc lưu mà không dùng, nhưng cũng có một bộ phận nhỏ không những được Hải quan Nhân dân của Đảng Cộng sản lưu dùng, mà còn khá tin tưởng giao cho trọng trách, cha anh thuộc về số đó — lúc bấy giờ Chính phủ Nhân dân Bắc Kinh thành lập Tổng cục Hải quan, cha anh được triệu tập vào kinh làm việc tại Tổng cục. Sở dĩ có kết quả như vậy là vì cha anh ngay từ sau năm 1945 không chỉ đi lại rất thân thiết với các đảng viên ngầm trong Hải quan Trùng Khánh, ngầm hiểu nhau yểm trợ cho họ không ít lần, mà còn trong biến cục năm 1949 đã hợp tác chặt chẽ với đảng ngầm, có đóng góp thực tế trong việc bảo tồn và bàn giao tài sản của Hải quan Trùng Khánh — đặc biệt là số lượng lớn vật phẩm tịch thu từ việc bắt buôn lậu, trong đó có nhiều thứ chính quyền mới đang cần gấp mà không thể kiếm được từ nơi khác. Dĩ nhiên còn một nguyên nhân nữa, đó là hải quan là một bộ phận chức năng mang tính chuyên môn rất cao mà người ngoài ngành khó có thể một sớm một chiều quen thuộc nắm bắt ngay được, Hải quan Nhân dân bắt buộc phải đoàn kết dựa vào một lượng nhân viên có chuyên môn của hải quan cũ mới có thể nhanh chóng triển khai công việc. Một người phụ trách tổ chức ngầm ở Hải quan Trùng Khánh, anh gọi là chú Phương, còn vợ của chú Phương anh gọi là thím Phương — cũng là một đảng viên ngầm — việc họ tiến cử cha anh đã đóng vai trò trực tiếp nhất. Gia đình chú Phương thím Phương còn bắc thượng sớm hơn nhà anh, họ đến Bắc Kinh sẽ đảm nhận chức vụ lãnh đạo khá cao. Chú Phương thím Phương vốn dĩ một người âu phục giày da, một người sườn xám giày cao gót, ra dáng cán bộ cấp cao của Quốc dân đảng, khi đến nhà anh xoa bài ma tước một người kẹp tẩu ngọc thạch hút thuốc lá Mỹ, một người quạt quạt trầm hương lắc lư bông tai vàng, xưng hô "Tưởng tiên sinh", "Tưởng thái thái", "tiểu thiếu gia" không ngớt lời, nhưng vừa giải phóng Trùng Khánh, họ liền lập tức trở thành thành viên quan trọng trong tổ tiếp quản Hải quan Trùng Khánh của Đảng Cộng sản, một người một bộ Tôn Trung Sơn vải xám, một người một bộ Lenin vải xanh, khi lại đến nhà anh, xưng hô "đồng chí Tưởng", "đại tẩu Tưởng", "tiểu đồng chí" gọi vừa thân thiết vừa trong trẻo... Sau này anh mới hiểu diện mạo trước đó hoàn toàn là để làm vỏ bọc, chú Phương thím Phương trước khi đến Hải quan Trùng Khánh vốn đã từng học tập trong Trường Đảng ở Diên An...
Nhà anh đến Bắc Kinh dọn vào đại viện ký túc xá Hải quan ở con hẻm phía sau chùa Long Phúc, vị trí cụ thể của nhà anh là ở một sân phụ nhỏ có cổng vòm mặt trăng trong đại viện, giữa sân có một cây hợp hoan cao lớn, tán cây như một chiếc dù khổng lồ xòe ra, đến mùa hè nở đầy những bông hoa hợp hoan như nhung tơ vàng còn gọi là hoa mã anh (viết chuẩn hơn phải là "mã anh hoa", tức là hình dáng màu sắc hoa như chùm tua đỏ trang trí trên dây cương yên ngựa), khi không có gió hương hoa đậm đến mức hơi nồng nặc, khi gió qua cành lá rung rinh, hương hoa được gió thổi thoang thoảng đậm nhạt vừa phải, hít vào mũi khiến người ta sảng khoái tinh thần...
Nghĩ lại hiện tại, anh luôn cảm thấy cha hồi đó tuy làm việc rất nghiêm túc cho chính quyền mới, và cực kỳ muốn tiến bộ theo dòng chảy thời đại, nhưng dường như vẫn luôn không tìm đúng vai diễn mình nên đóng trong cuộc sống xã hội.
Theo như anh hai sau này kể lại với anh, thời anh hai bọn họ còn nhỏ, ký túc xá hải quan mà gia đình ở rất oai phong, là loại kiến trúc kết hợp đông tây, trong phòng khách thậm chí có lò sưởi, và hễ đến mùa đông là thực sự đốt lò sưởi đó để sưởi ấm, sofa kiểu tây các loại nội thất không cần phải nói rất đầy đủ, màn trên giường ngủ của cha mẹ không phải loại màn hình vuông dựng bằng bốn cọc tre kiểu trung hoa, mà là màn hai tầng treo từ trần nhà xuống, hơn nữa đỉnh màn hình chuông có rất nhiều hoa văn hoa hải thảo phương tây và chùm tua rua, tóm lại vô cùng cầu kỳ, thậm chí có thể nói là khá xa hoa... Nhưng sau khi giải phóng đến Bắc Kinh ở trong ký túc xá hải quan mới, cha lại mua toàn đồ nội thất tồi tàn nhất ở các cửa hàng đồ cũ, không sắm sofa, thậm chí không sắm tủ quần áo có gương soi lớn, vì ông từng nói: "Xem thợ mộc Cam đối diện kìa, người ta kê ván ngủ, bắc bàn phản ngồi ghế đẩu ăn cơm, không phải vẫn sống rất tốt sao? Chúng ta đừng quá tách rời nhân dân lao động!" Nếu cha thực sự thực hiện tiêu chuẩn này đến cùng thì cũng đành một lẽ, nhưng ít nhất cho đến trước khi các cuộc vận động chính trị "Tam phản" "Ngũ phản" triển khai, ông lại vẫn thường xuyên mặc âu phục, ông dĩ nhiên cũng sắm đồ Tôn Trung Sơn, cũng mặc, nhưng rốt cuộc có một ngày khi mẹ khuyên ông đừng lúc nào cũng mặc âu phục, ông thốt ra câu: "Mặc quen rồi! Vẫn là quần áo mặc quen rồi mặc mới thoải mái!" Trong chuyện ăn mặc ông lại không sợ tách rời nhân dân lao động như thợ mộc Cam nữa — trên thực tế thợ mộc Cam hồi đó dường như đến một bộ quần áo cán bộ mới cũng chưa từng mặc ra đường, trong ký túc xá của anh, thợ mộc Cam luôn mặc áo gấm đối giáp kiểu trung hoa, hoặc thời tiết vừa chuyển nóng là mặc áo may ô kiểu trung hoa. Anh nhớ cha còn rất thích ăn đồ tây, hồi đó trong chợ Đông An có ít nhất ba nhà hàng tây vẫn còn mở cửa, một quán tên "Hòa Bình", một quán tên "Cát Sĩ Lâm", một quán tên "Hòa Phong", cha từng dẫn anh và chị hai anh ba đi ăn, nhiều lúc hơn là tự cha đi ăn, sau này nghe mẹ tiết lộ, một phần ba tiền lương những năm đó của cha đều dùng vào việc cá nhân ông đến ba nhà hàng tây đó ăn đồ tây — thường là buổi trưa ông không ăn ở nhà ăn cơ quan, hoặc chiều sau khi tan làm không về nhà ăn, tự mình tản bộ đến nhà hàng tây ăn, dù sao lúc đó cơ quan ông làm việc ở rất gần chợ Đông An. Anh nhớ năm đó cha về đến nhà, thường đội một chiếc mũ ngủ kiểu phương tây, mặc áo ngủ khăn bông kiểu phương tây (đều sắm từ trước giải phóng, đều đã có chỗ rách), tựa vào đống gối trên giường rất tự giác đọc cuốn 《Mao Trạch Đông tuyển tập》 mới xuất bản, tay cầm một chiếc bút chì xanh đỏ, dùng đầu màu đỏ gạch ra một số gạch màu đỏ, chú thích một số ký hiệu kiểu như "!", "!!", "!!!" các loại, còn có một lần nhảy xuống giường, tìm ra bút lông, chấm mực đặc viết xuống câu đối "Đầu trọng cước khinh căn đế thiển, trủy tiêm bì hậu phúc trung không", viết xong không đợi mực khô liền dùng đinh găm găm lên tường đầu giường, găm xong còn lẩm nhẩm ngâm đọc, gật đầu liên tục... Nhưng có một lần anh tình cờ lật gối của cha, lại từ dưới gối phát hiện ra vài quyển sách đóng chỉ cũ kỹ, tên sách là 《Nhi nữ anh hùng truyện》. Anh đang trốn ở góc nhà lén lật quyển sách đó thì bị mẹ phát hiện, mẹ liền thu sách lại, và nói với anh: "Trẻ con không được xem sách này!" Anh hỏi: "Tại sao ba xem được?" Mẹ liền cằn nhằn nói: "Ba con cũng Chủ nhật mới xem một hai bài, thực ra ông ấy cũng không nên xem, sách này rất vô vị... Ba con mua ở sạp sách cũ ngoài chợ Đông An đấy, ông ấy bảo không đắt, mẹ thấy là hoãng phí tiền!" Bây giờ nghĩ lại tất cả những điều này, lại càng cảm thấy cha là người không tìm đúng vai diễn.
Trong cùng đại viện có một ông Chung, cũng là nhân viên cũ của hải quan được giữ lại, có điều không phải từ Hải quan Trùng Khánh mà từ Hải quan Thượng Hải chuyển đến Bắc Kinh, lúc đó anh không hiểu, giờ nghĩ lại, điểm khác biệt giữa ông Chung đó và cha mình chính là đã tìm đúng vai diễn, và nhập vai cực kỳ nghiêm túc. Ông Chung vừa giải phóng là tuyệt đối không mặc âu phục nữa, thậm chí tuyệt đối không đi giày da nữa, càng không giống như cha anh còn đi nhà hàng tây ăn đồ tây, còn đến sạp sách cũ mua sách cũ, ông Chung mỗi khi xuất hiện trong viện luôn mang vẻ mặt nghiêm túc, và thường xuyên đưa ra những lời khen ngợi hoặc phê bình trực diện với người trong viện. Ví như anh còn nhớ có một lần ông Chung không biết vì việc gì mà đến sân phụ nhỏ có cổng vòm mặt trăng của nhà họ một chuyến, chắc là tìm cha anh bàn một việc công nào đó, khi cha tiễn ông Chung ra khỏi nhà, và gia đình thợ mộc Cam cũng vừa khéo đang quây quần bên bàn phản dưới cây hợp hoan ăn cơm, ông Chung liền dùng một tông giọng rất hòa nhã nói: "Vừa rồi tôi bước vào cổng vòm mặt trăng của các đồng chí, vô tình quan sát thúng rác của hai gia đình..." Thúng rác tức là thùng rác, lúc đó các gia đình trong đại viện ký túc xá đều có thùng rác riêng, là do cơ quan phát thống nhất, và đều là tác phẩm của thợ mộc Cam — hình dáng là một cái đẩu sâu hình chữ nhật trên rộng dưới hẹp, hai bên có tai gỗ để xách, để không bị lẫn, thùng rác của mỗi nhà ở một bên đều dùng bút mực viết một họ, cho nên ông Chung mới có thể phân biệt rõ ràng thúng rác nhà anh và nhà họ Cam; ông Chung chỉ vào hai thùng rác đặt song song ở một bên cổng vòm mặt trăng, trước tiên quay sang cha anh đưa ra ý kiến: "Đồng chí xem, trong này các đồng chí đổ bao nhiêu là xương cá, trên đó vẫn còn dính bao nhiêu thịt cá kìa, lãng phí quá! Hãy nghĩ đến quân Chí nguyện vẫn đang đổ máu đổ mồ hôi ở tiền tuyến Triều Tiên, một nắm mì rang một nắm tuyết... Thật ngại quá! Đồng chí Tưởng ông đừng trách nhé, tôi đã tự giác lấy tiêu chuẩn của đảng viên Đảng Cộng sản để yêu cầu bản thân, thì không thể không tích cực triển khai tự phê bình và phê bình, biết gì nói nấy, nói thì nói hết... Hy vọng đồng chí cũng nghiêm khắc yêu cầu tôi như vậy, chúng ta tương trợ giám sát, cùng nhau tiến bộ mà!..." Nói xong lại quay người về phía thợ mộc Cam đang ăn bánh bao ngô nói: "Thợ mộc Cam, bác đúng là bản sắc của nhân viên lao động, phẩm chất ưu tú rất đáng để tôi học tập tốt nhé! Xem kìa, trong thúng rác nhà bác ném vào toàn là phế thải chính hiệu, tôi chú ý rồi, ngay cả xỉ than mang một đốm màu đen cũng không có... Xem kìa, một tay bác cầm bánh bao ngô đưa vào miệng, tay kia thì xòe ra ở dưới hứng lấy vụn rơi xuống... Khoảng cách giữa tri thức phân tử chúng tôi và nhân viên lao động, ở những nơi rất nhỏ này cũng bộc lộ ra hết rồi! Không cải tạo tư tưởng đàng hoàng sao mà được chứ!..." Anh nhớ, lúc đó đã lên tiểu học anh cảm thấy ông Chung rất thú vị, ông Chung có một khuôn mặt quả dưa chuột không được ngay ngắn cho lắm, đeo một cặp kính cận, phần lưng của bộ đồ Tôn Trung Sơn căng trên người còn vạt trước thì vểnh lên rời khỏi bụng; anh nhớ, ông Chung nói xong những lời đó, cha anh dường như không nói gì, thợ mộc Cam và cả gia đình ông ấy dường như cũng không nói gì, nhưng ông Chung lại như nhận được tràng pháo tay liền sải bước đi, và sau khi ra khỏi cổng vòm mặt trăng còn ngoái đầu lại mỉm cười khiêm tốn vào trong cổng vòm, giống như một diễn viên tự cảm thấy rất tốt đang vui vẻ hạ màn trên sân khấu...
Đúng vậy, ông Chung từ sớm đã chọn định vai diễn của mình, và từng nhập vai thực sự thành công, hai năm sau lần khảo sát và phẩm bình hai cái thúng rác trong cổng vòm mặt trăng đó, ông Chung vinh dự kết nạp Đảng, và được thăng chức làm Phó trưởng phòng một phòng.
Cha không tìm đúng vai diễn. Một người cha không tìm đúng vai diễn có thể hướng dẫn tốt cho con cái bước vào một xã hội mới tinh, thúc giục họ tìm đúng vị trí vai diễn của mỗi người trong xã hội không? Nhiều năm sau, anh và anh hai từng thảo luận về vấn đề này. Vấn đề này không có lời giải xác định.
6
Ngày hôm đó cha vui mừng đến mức mặt mày rạng rỡ, đọc to bức thư trong tay nguyên vẹn hai lần cho người trong nhà nghe, các đoạn trọng tâm lại chọn ra đọc lại một lần, và sau bữa ăn nhân lúc có chút men rượu đã không nén nổi chạy sang khoe khoang với thợ mộc Cam tin mừng do bức thư gửi tới, thợ mộc Cam cũng thực sự từ đáy lòng chia sẻ niềm vui đó, niềm tự hào đó của cha và cả gia đình anh.
Đó là thư của anh cả gửi tới. Gửi từ Quảng Châu. Thì ra sau khi anh cả bỏ nhà đi, kết quả cuối cùng của việc bôn ba khắp chốn là vào mùa xuân năm 1949 anh đã gia nhập Quân Giải phóng, và tham gia chiến dịch tiến quân vào Quảng Đông, đánh một mạch đến Quảng Châu, ở Quảng Châu lại tham gia chiến dịch quét sạch tàn quân tàn phỉ ẩn nấp, trong một đợt tập kích, anh cả tại chỗ bắn chết ba tên tàn phỉ trốn trong nhà lầu, nhưng cũng sơ suất bị một tên tàn phỉ bắn thương tay phải, kết quả từ trên bậu cửa sổ tầng ba ngã xuống, vinh dự bị thương — thư được viết trong bệnh viện, nói những chuyện trong vài năm sau khi chia tay thì nói ra dài dòng. Tóm lại hiện giờ bản thân đã là một chiến sĩ Quân Giải phóng quang vinh, và lập được chiến công hạng ba; lại nói anh từ trên báo chí thấy một bài viết giới thiệu về Hải quan Nhân dân mới, trong đó có nhắc đến sự cần thiết của việc lưu dùng nhân viên hải quan cũ, ví dụ đưa ra có tên của ba, khiến anh vô cùng sung sướng, vô cùng an ủi. Vì thế lập tức tựa trên giường bệnh viết xuống bức thư này, hy vọng ba thứ lỗi cho sự lỗ mãng vô lễ trước đây của anh, đồng thời hy vọng sớm có cơ hội đoàn tụ với người thân trong gia đình; lại nói anh đã nộp đơn xin gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc, và hỏi ba liệu có đang tích cực phấn đấu hay không? Lại hỏi thăm sức khỏe của mẹ, hỏi thăm tình hình của em hai, em ba, em gái và em út, có phải đều đã gia nhập Đoàn thanh niên và Đội thiếu niên rồi không? Nói anh rất nhớ từng người trong nhà, hy vọng mọi người đều viết thư cho anh, đồng thời nhắn cho người trong nhà biết vết thương ở tay anh quả thực đã sắp bình phục, anh phải phấn đấu sớm ra viện, dấn thân hơn nữa vào cuộc đấu tranh thần thánh quét sạch tàn phỉ... Bức thư không quá dài, nhưng sức nặng quả thực nặng như đá núi!
Anh nhớ nhận được thư này của anh cả không lâu, cơ quan liền đinh lên xà cửa nhà anh tấm biển "Gia đình quân nhân quang vinh" — là do thợ mộc Cam giẫm lên ghế đinh lên, theo tiếng búa vang, người do cơ quan đặc biệt cử đến và một số người trong viện liền vây quanh trước cửa vỗ tay hoan hô, ông Chung cũng ở trong số đó, mà vỗ tay to nhất; anh nhớ cha ngoài việc đáp lời người khác, còn đặc biệt quay sang ông Chung hỏi một câu: "Đồng chí Chung, bốn chữ viết bằng bút lông này công lực thế nào?" Ông Chung nét mặt đầy vẻ hâm mộ, liên tục nói: "Xưng hô đồng chí xưng hô đồng chí, gọi tôi đồng chí Chung lão Chung đều được... Đồng chí Tưởng ông thật khéo dạy con, bốn chữ 'Gia đình quân nhân quang vinh' này đâu chỉ là thư pháp tuyệt mỹ, đây là phúc khí của cả nhà ông đấy!..." Quả thực phúc khí, anh nhớ, từ khi cửa nhà anh đinh tấm biển nho nhỏ đó lên, lễ tết là luôn có người của cơ quan, trên phố xách đồ an ủi tới tặng, ngoài hoa quả là thứ nhất định phải có ra, còn có bánh kẹo thịt thà các loại, có một lần không biết tại sao lại tặng một cái nồi nhôm lớn, lại có một lần là một bức tượng thạch cao chim câu hòa bình.
Cha từ đó về sau dĩ nhiên thường xuyên viết thư cho anh cả, anh cả cũng thường xuyên gửi thư về, cha lại yêu cầu anh và chị hai, anh ba mỗi tháng ít nhất phải viết một bức thư cho anh cả, người khó hoàn thành nhiệm vụ nhất là anh, vì ngoài ấn tượng sau khi cha đập vỡ cả bát mì thịt băm, quay người sải bước ra khỏi cửa nhà ra, anh cả đối với anh hầu như bằng một khái niệm trừu tượng; thực sự không biết viết gì cho tốt, anh liền dùng bút màu sáp vẽ một bức tranh gửi đi, nhớ từng vẽ một cây đao, bên cạnh viết đó chính là cây mã anh hoa trong sân nhà, mời anh cả về hóng mát dưới cây; còn từng vẽ một ngôi điện mái lớn, bên cạnh viết đó chính là chùa Long Phúc ở rất gần nhà, mời anh cả về cùng đi chùa Long Phúc uống trà mì rất thơm rất thơm...
7
Anh cả lại từ trên trời rơi xuống!
Anh cả sau khi bình phục chấn thương từ Quảng Châu chuyển đến đảo Hải Nam, làm đại đội trưởng trong một đại đội xe tải thuộc lực lượng trú phòng địa phương. Anh cả biết lái xe tải thì không có gì kỳ lạ. Mẹ đã sớm kể lại: "Thằng lớn học hành không vào, nhưng từ nhỏ nó đã có bản lĩnh mạo hiểm, vừa lên tiểu học đã dám lén cưỡi xe đạp của ba con, ngồi không tới yên xe, liền một chân chui qua dưới gióng ngang đạp cái bàn đạp, người uốn trớn uốn trớn cưỡi, cưỡi cực nhanh, không biết phanh, liền nhắm chuẩn một cái cột điện, cưỡi đến trước mặt ôm chặt lấy, kết quả người nó treo trên cột điện, xe vẫn chạy về phía trước, làm người trên phố sợ đến mức la ó ầm ĩ... Ở Hải quan Trùng Khánh, cái xuồng hải quan (tức là ca nô nước) là không cho phép người khác tự tiện lái, muốn lái thì do Đại xa, Nhị xa họ lái ('Đại xa', 'Nhị xa' là chức danh người điều khiển tàu thuyền hải quan), anh cả con có một lần lại lén đi lái, sợ chết người, cái xuồng hải quan đó như phát điên chạy trên sông Gia Lăng, suýt chút nữa đâm vào tàu thủy lớn... Về sau làm ba con tức gần chết..."
Thế nhưng biết lái xe tải lại đảm nhận đại đội trưởng đại đội xe tải Quân Giải phóng như anh cả lần này không phải làm cha tức gần chết, mà là vui gần chết.
Anh nhớ, ngày hôm đó cha từ cơ quan về đến nhà, vừa vào cửa đã gọi mẹ: "Nhanh, nhanh ra chợ mua miếng thịt thật ngon về... Trong nhà còn gạo nếp không? Nhanh, nhanh chuẩn bị hấp viên trân châu ăn!" Mẹ mới nghe thấy thì hơi ngẩn ngơ, cha vốn thích ăn các món kiểu tây, dẫu không ăn đồ tây làm sẵn ở nhà hàng tây bên ngoài, về đến nhà cũng luôn bảo bà làm một ít sườn heo rán, cá sốt kem, súp đuôi bò các loại món ăn, hơn nữa cha ghét nhất ăn đồ làm từ gạo nếp tức gạo nếp... Mẹ đang nghi ngờ thì cha giậm chân nói: "Thằng lớn về rồi! Ngày mai là tới thăm bà đấy, ơ, sao bà lại quên mất, nó chẳng phải thích nhất ăn món viên trân châu bà làm sao?" Mẹ mới nghe cứ như không tin vào đôi tai mình...
Thì ra anh cả dẫn mười chiến sĩ từ đảo Hải Nam đã đến một nơi thuộc ngoại thành Bắc Kinh, lần bắc thượng này là để tiếp nhận mười chiếc xe tải Giải Phóng mới tinh, vì thuộc về hành động quân sự, cho nên trước khi đến không viết thư báo trước cho gia đình, đến nơi sau khi xin thị thị, thủ trưởng đơn vị cho phép anh về nhà thăm người thân ba ngày, sau khi thăm người thân lại dẫn hai tiểu đội chiến sĩ đó lái xe tải từ Bắc Kinh một mạch về phía nam, cho đến khi lái lên phà chở tới đảo Hải Nam. Anh cả từ nơi đóng quân đi công tác Bắc Kinh gọi điện thoại vào cơ quan cha, cha vừa nghe điện thoại chắc chắn cũng hầu như không thể tin vào đôi tai mình...
Khi anh cả về tới nhà, đã tạo thành một ngày lễ lớn. Anh nhớ mẹ làm ra một bàn thức ăn thịnh soạn, viên trân châu kết quả xa mới là tác phẩm kiệt xuất nhất trong số đó. Cha gọi anh ba đang học ở Đại học Bắc Kinh về nhà, còn liên tục tỏ ra tiếc nuối vì anh hai và chị hai ở xa tận Đông Bắc không thể vội về tụ họp, nhưng vì lại đặc biệt thông báo cho con gái Điền Nguyệt Minh của cô cô làm việc tại Bắc Kinh, con gái Thẩm Tích Mai của thím tư (tức là dì tư), còn có người bạn học cấp ba năm xưa của chị hai đã nhận làm con nuôi là Cúc Cầm, đối tượng của chị hai là Đạt Dã, cùng với thím tám tuy vai vế cao hơn một bậc nhưng tuổi tác thực ra ngang bằng anh cả và thời thanh xuân qua lại rất thân thiết, dĩ nhiên còn có chú Tào người yêu của thím tám, ngoài ra còn có Băng Long Trân người cùng là bạn học cũ Trường Trung học Thục Hương Trùng Khánh với chị hai, anh ba, Điền Nguyệt Minh, Cúc Cầm, Thẩm Tích Mai lại thích náo nhiệt nhất, cũng nghe tin từ Đại học Thanh Hoa nơi chị làm việc chạy từ xa tới, mà anh ba lại dẫn tới một người bạn diễn xướng kịch Bắc Kinh ở Đại học Bắc Kinh, có biệt danh "Mỹ nam tử bỏ túi" Lỗ Vũ, Cúc Cầm lại hẹn cả đối tượng của chị, người hát ca kịch chuyên đóng vai ông lão là Thường Diên Mậu, thím tám chú Tào lại bồng theo đứa con gái nhỏ vừa mới biết nói của họ là tiểu Giản, bấm ngón tay tính xem, ngày anh cả vừa về nhà trong nhà tụ họp bao nhiêu người — đúng rồi, còn đừng quên một chiến sĩ nhỏ đen đúa khỏe mạnh thấp bé thật thà mà anh cả dẫn theo chỉ ngồi ở góc phòng mỉm cười không mấy cất tiếng, dường như là cần vụ của anh cả, ngày hôm đó ba căn phòng nhà anh dường như sắp nổ tung bức tường mái nhà, không chỉ vì nén chặt lớn nhỏ mười sáu con người, mà còn vì tiếng cười nói vui vẻ, tiếng ly chén va chạm không chỉ tác động đến nhà thợ mộc Cam đối diện, mà còn thoát ra khỏi cổng vòm mặt trăng, vang vọng khắp đại viện ký túc xá...
Anh nhớ, việc anh cả nhà anh vẻ vinh trở về, không chỉ thu hút con gái lớn Cam Phúc Vân của thợ mộc Cam và các em của chị ghé vào cửa sổ tò mò và ghen tị nhìn vào bên trong, mà còn thu hút không ít hàng xóm trong viện lần lượt chạy tới chúc mừng — giống như đó là một đám cưới vậy, ông Chung dĩ nhiên lại tới, vừa thấy anh cả liền nắm lấy hai tay anh cả lắc mạnh, còn đặc biệt quan tâm hỏi: "Đi công tác bao lâu? Quan hệ tổ chức có cần chuyển tạm thời sang đây không?" Cha liền kéo anh lại mời ông uống rượu, mỉm cười nói với ông: "Đồng chí Chung, bí mật quân sự thì đừng thăm dò nhé!" Ông Chung liền tự vỗ vỗ trán, không khỏi gượng gạo nói: "Xem tôi kìa xem tôi kìa... Vui quá làm sao lại quên mất điều này!" Nhưng ông Chung kiên quyết từ chối ly rượu, cũng không nhận thuốc lá mời, nói: "Đối với bản thân vẫn nên nghiêm khắc một chút thì tốt hơn!"...
Anh nhớ, về sau cha dẫn đầu, một nhóm người đông đúc rầm rộ bước ra khỏi cổng vòm mặt trăng, bước ra khỏi đại viện ký túc xá, đi qua đoạn giữa con hẻm, xuyên qua chùa Long Phúc với các gian hàng san sát, đến tiệm chụp ảnh bên cạnh rạp chiếu phim Thiềm Cung trên phố chùa Long Phúc, cha mẹ ngồi ở chính giữa, anh cả đứng ở ngay sau lưng họ, sau đó lại do nhiếp ảnh gia chỉ huy, mọi người lộn xộn nhường nhịn nhau cười đùa đẩy xô, cuối cùng cũng ngồi định hoặc đứng định, được nhiếp ảnh gia trong tiếng động viên "Cười! Cười!! Cười!!!" bấm máy ảnh, chụp một tấm ảnh gia đình siêu cấp kích thước 20 inch, về sau theo như anh ba nói với anh, cha ngoài việc nhà mình giữ lại vài tấm ra, còn in tặng mỗi nhà thân bằng quyến thuộc có mặt và không có mặt một tấm, chi phí đó hầu như tương đương với toàn bộ tiền lương một tháng của cha.
Anh nhớ, tiệm chụp ảnh đó có một số bức tranh phông nền lớn có thể cuốn lên thả xuống, ngày hôm đó nhà anh chọn là một bức phông nền Quảng trường Đỏ Moscow, một bên là tháp Spasskaya có ngôi sao năm cánh đỏ trên đỉnh nhọn, bên kia là nhà thờ Chính thống giáo có một đống đỉnh củ hành đại diện cho chốn sâu xa... Anh nhớ hình ảnh anh cả chụp ngày hôm đó quả thực vô cùng đẹp trai, anh cả dáng người so với chú Tào, Đạt Dã, anh ba đều thấp hơn chút, nhưng tỷ lệ cơ thể cân đối, tỏ ra sừng sững và khỏe mạnh, đương nhiên phấn khởi nhất là bộ quân phục trên người anh, đặc biệt là ngôi sao năm cánh đỏ trên mũ quân nhân, ngôi sao năm cánh đỏ nho nhỏ đó cùng với ngôi sao năm cánh đỏ trên tháp nhọn Moscow vẽ trên phông nền tương ánh huy ánh (tỏa sáng lẫn nhau)!
... Anh nhớ đêm đó anh cùng anh ba đồng hành với anh cả ngủ trên chiếc giường lớn bắc bằng hai tấm ván, đêm đã rất sâu rồi, anh ba vẫn còn tâm sự với anh cả, anh từng câu đều nghe thấy, nhưng đại đa số anh không hứng thú, hoặc nghe không hiểu, không hiểu tại sao họ lại cười hì hì, lại tại sao liên tục thở dài, tại sao nhất thời không nén nổi giọng cao lên, nhất thời lại cố ý hạ thấp giọng... Anh nằm bên cạnh anh cả, rất kinh ngạc vì mình thực sự có một người anh cả đáng tự hào như vậy, anh thậm chí nghi ngờ đó không phải là một thực thể, vì thế anh mấy lần cố ý hất cánh tay gầy nhỏ của mình lên khuôn ngực lực lưỡng của anh cả, anh cả liền nhẹ nhàng gạt cánh tay anh ra hết lần này đến lần khác, và xoay người nói với anh: "Em trai, đừng thế, nóng quá!"
... Nhưng anh nhớ một đoạn đối thoại giữa anh cả và anh ba như thế này, lúc đó anh không tiêu hóa nổi, chỉ cảm thấy có một cảm giác kỳ quái, và nghe đến cuối cùng vô cớ cảm thấy có phần kinh rợn, giống như nghe câu chuyện ma vậy:
Anh ba: ... Anh đều đã lập công rồi, sao cứng đầu vẫn chưa vào Đảng thế?
Anh cả: Nói cho cùng chẳng phải vẫn là vấn đề thành phần gia đình sao... Tình hình của ba em nói xem nên tính thế nào? Nếu nói theo hướng tốt, thì ông ấy là cán bộ cách mạng trong cơ quan trung ương của Trung Quốc mới, hành chính cấp mười một, còn cao hơn cấp Sư trưởng của anh!... Nếu nói theo hướng xấu, thì ông ấy trước giải phóng là nhân viên cấp cao của hải quan Quốc dân đảng, mà cái hải quan đó lại là cơ quan do chủ nghĩa đế quốc nắm giữ, cho nên người ta có mắng một tiếng "tên nô dịch cho tây", em cũng chẳng có cách nào đâu...
Anh ba: Đúng vậy! Em đã không dám mang album ảnh gia đình cho bạn học xem rồi, ba mới hai mươi mấy tuổi đã âu phục giày da, đánh bida, uống rượu tây, đặc biệt là những bức ảnh giấu những chiếc mũ lưỡi trai to viền chỉ vàng, mặc đồng phục hải quan trông giống như quân phục trên vai có cầu vai, trên cổ tay áo có phù hiệu...
Anh cả: Suỵt! Nhỏ tiếng thôi!... Đúng vậy, Chính ủy trung đoàn của anh đã nói với anh như thế này: Tưởng Doanh Nông, lịch sử của cha đồng chí phức tạp đấy! Anh liền hỏi: Tôi có phải vạch rõ ranh giới với ông ấy không? Ông ấy trầm ngâm, không trả lời ngay, hồi lâu, mới nói: Cha đồng chí nếu mà vào Đảng rồi, thì vấn đề rõ ràng rồi... Bây giờ ư, đành tính là nhân viên cũ, hoặc tính là tri thức phân tử giai cấp tư sản đi, thế thì đồng chí còn phải chú ý vạch rõ ranh giới với tư tưởng giai cấp tư sản của ông ấy nhé!...
Anh ba: Ba cũng không phải không cầu tiến về mặt chính trị, ông ấy thường xuyên đọc 《Mao Trạch Đông tuyển tập》, ngoài báo 《Nhân dân nhật báo》, còn đặt mua tạp chí 《Học tập》, hễ là bài viết quan trọng trên đó ông ấy đều đọc rất nghiêm túc... Nhưng ông ấy kể, Trưởng phòng Nhân sự của bọn họ, một người có tư cách cách mạng lão thành như thím Phương, là vợ của lãnh đạo cơ quan bọn họ, hình như lại kiêm cả Ủy viên Tổ chức Đảng tổng chi, cũng đã nói chuyện với ông ấy rồi, ý tứ bên đó là khuyến khích ông ấy tích cực phấn đấu vào Đảng, nhưng ba lại nhất quyết nói với người ta, ông ấy cảm thấy bản thân thực sự còn kém quá xa, thực sự không có tư cách, ông ấy nguyện ý tận tụy làm việc dưới sự lãnh đạo của Đảng, mãi mãi học tập các đảng viên Đảng Cộng sản...
Anh cả: Anh còn chưa biết những chuyện này, em xem ông ấy u mê chưa! Em có biết tổ chức Đảng thường là tuyệt đối không động viên ai vào Đảng không! Đây chẳng phải cơ hội bày ra trước mắt sao? Ông ấy lại có thể nói như vậy? Chẹp chẹp chẹp... Em phải biết rằng, ông ấy làm thế không chỉ tự chặn đứng con đường vào Đảng của mình, mà còn kéo theo chặn đứng con đường vào Đảng của anh em mình nữa đấy! Than ôi! Hóa ra trước đây thật sự không biết!...
Anh ba: Ba nói ông ấy phải học tập các đảng viên Đảng Cộng sản, thực ra ông ấy đối với một số đảng viên Đảng Cộng sản, ví như cái ông Chung ở trong viện này, loại đảng viên như thế, trong lòng ông ấy coi thường gấp trăm lần... Cái kiểu làm bộ đạo mạo của ông Chung đó, ngay cả thợ mộc Cam đối diện cũng chướng mắt, trời mới biết sao ông ta lại vào Đảng được! Nhưng đúng là giống như anh nói, chỉ có điều đạo lý đó ngược lại: Ông Chung một mình đi thông con đường vào Đảng, con trai con gái ông ta nối tiếp nhau cũng đều vào Đảng...
Anh cả: Đúng vậy, như thế diện mạo chính trị của ông ta rõ ràng rồi, thành phần của con cái ông ta được trong sạch rồi, đều tính là thành phần gia đình cán bộ cách mạng rồi...
Anh trai nhỏ: "Ông Thẩm lịch sử chính trị trong sạch sao?! Trời mới biết trong bụng ông ta chứa thứ chính trị gì! Anh biết ông ta vốn làm nhân viên nội ban ở Hải quan Thượng Hải mà, luận về chức viên cũ thì ông ta 'cũ' hơn ba chúng ta nhiều! Nghe ba nói cận kề trước tịch giải phóng, ông ta còn ở Hải quan Thượng Hải tranh giành ghế Phó ty Thuế vụ với mấy người khác, nịnh bợ Ty trưởng Thuế vụ hết lời, còn dùng thỏi vàng hối lộ, bê bối đầy ra. Ai ngờ Thượng Hải vừa giải phóng, quân đại biểu vừa tiến vào, ông ta liền xoay mình một cái, lập tức dâng tài liệu tố cáo Ty trưởng Thuế vụ, lại còn mặc vào bộ đồ Tôn Trung Sơn không biết vội vã tìm ở đâu ra, đích thân dẫn quân đại biểu và tiểu tổ tiếp quản đi khám xét kho vàng bí mật của Ty trưởng Thuế vụ — nghe nói địa điểm đó ngoài bản thân Ty trưởng Thuế vụ ra thì chỉ có mình ông ta biết. Sau này tại đại hội toàn cơ quan đấu tố Ty trưởng Thuế vụ, ông ta còn tỏ ra vô cùng phẫn nộ, xông lên tát Ty trưởng Thuế vụ một cú trời giáng!..."
Anh cả: "Đó gọi là biểu hiện mấu chốt vào thời điểm mấu chốt đấy! Những người xuất thân gia đình không tốt, bản thân lại có vết nhơ trong lịch sử, chỉ có làm như vậy mới đổi lấy được sự tin tưởng của tổ chức Đảng! Em có biết cùng nhập ngũ với anh có một người tên Tấu Chí Bưu không? Cha hắn là địa chủ, bản thân hắn lại từng tham gia Tam Thanh Đoàn. Một người như vậy gia nhập Quân Giải phóng, dù biểu hiện rất tốt, cũng từng lập công như anh, tổ chức không phải hoàn toàn không tin tưởng, nhưng muốn vào Đảng thì thật sự khó như lạc đà chui qua lỗ kim vậy! Em có biết sau này hắn làm sao khiến tổ chức và tất cả chúng anh phải thán phục không? — Bộ đội tiến vào làng của bọn họ để hỗ trợ thúc đẩy cải cách ruộng đất, hắn liền đích thân xông vào nhà mình, không nói hai lời, đá ngã người cha, trói gót lại, túm lấy gáy áo, cứ thế túm lấy cha mình, để nửa thân dưới của cha quệt trên mặt đất, kéo lê cha đi qua cả ngôi làng, kéo đến tận hiện trường buổi đấu tố, để toàn bộ già trẻ trong làng tận mắt nhìn thấy... Đấu tố xong hắn lại đích thân kéo cha đến dưới gốc cây lớn, tự tay nổ súng bắn chết tên địa chủ thối thối có nửa thân dưới đã bị kéo nát, mặt đầy kinh hãi đó... Sau này hắn đương nhiên được vô Đảng, mọi người còn nói được gì nữa?!"
Anh trai nhỏ: "Ôi chao! Đại nghĩa diệt thân cũng không nhất thiết phải diệt kiểu này... Anh ta có thể tán thành đấu tố, tán thành bắn chết, nhưng ít nhất chuyện nổ súng để người khác làm không tốt hơn sao?..."
Anh cả: "Mẹ kiếp, để người khác làm thì làm sao mọi người thấy rõ lập trường, thái độ của chú mày được? Chính là phải tự tay mình ra tay, không một chút nương tay, đá ngã kéo đi là đi, trói lại lôi qua là bắn, mới dứt khoát giải quyết xong vấn đề lập trường chính trị, vấn đề vạch rõ ranh giới, vấn đề tình cảm giai cấp, vấn đề ý chí đấu tranh... Tiết kiệm biết bao nhiêu thử thách lằng nhằng lặp đi lặp lại!"
Anh trai nhỏ: "Ôi chao, em vẫn thấy quá mức..."
Anh cả: "Quá mức gì? Anh thấy chú mày đúng là điển hình của chủ nghĩa ôn hòa tiểu tư sản..."
Chủ nghĩa ôn hòa tiểu tư sản là gì? Lúc đó cậu không hiểu. Còn bây giờ thì sao? Vẫn không hiểu như cũ. Tuy nhiên hiện tại cậu tin rằng trong nhân tính có một thứ có thể gọi là sự ấm áp ôn hòa. Có lẽ không phải trong nhân tính của mỗi người đều có thứ này. Nhưng cậu có, bản thân cậu biết mình có, mà thứ đó dường như vừa không do xã hội ban tặng, cũng chưa chắc là vật thừa kế theo huyết thống, ít nhất đối với cá nhân cậu mà nói, cậu cảm nhận mơ hồ rằng đó là thứ sinh ra đã có. Có lẽ thứ đó rất không tốt, trong cuộc sống sau này quả thực cũng thể hiện ra đó không phải là một thứ thích hợp. Nhưng không có cách nào, số phận con người lại bị cái thứ sinh ra đã có ấy chi phối. Sau này cậu cũng trải qua "Cách mạng Văn hóa", cậu tuyệt đối không muốn đi ngược lại cuộc "Cách mạng Văn hóa" do Lãnh tụ Vĩ đại tự mình phát động, cậu dốc sức để hiểu, để đi theo sát. Cậu nỗ lực học tập "Lý luận tiếp tục cách mạng dưới sự chuyên chính vô sản", và cuối cùng khâm phục tính tự viên mãn của lý luận đó. Cậu cũng nỗ lực hiểu câu "Chỉ thị tối cao" về việc "Cách mạng không phải là mời khách ăn cơm, không phải là vẽ tranh thêu hoa, không phải là làm văn chương, không thể nhã nhặn như thế, thong dong không vội vã như thế, ôn hòa khiêm tốn nhường nhịn như thế; cách mạng là hành động bạo lực của một giai cấp lật đổ một giai cấp khác". Nhưng rốt cuộc cậu vẫn không thể chịu đựng nổi những cảnh tượng võ đấu tàn bạo và lăng mạ nhân phẩm. Cho dù tội trạng của tên địa chủ, phú nông, phản động, phần tử xấu, cánh hữu hay phần tử tu chính chủ nghĩa thuộc hắc bang phản cách mạng, tên đi theo đường lối tư bản chết không hối cải bị lôi ra có chứng cứ xác thực đến đâu, người chủ trì phê đấu trên khán đài đối với đối tượng phê đấu vừa đánh vừa đá vừa túm tóc, vừa bắt "ngồi kiểu máy bay phun khí", vừa bắt cạo "đầu âm dương", đeo nón cao đeo bảng đen diễu phố, vừa bắt bọn họ gõ nia tự hô khẩu hiệu lăng mạ chính mình hoặc hát cái gọi là "Bài hát quỷ gào" để "nhận tội". Dù cậu cũng không thể không giơ nắm đấm hô khẩu hiệu theo, nhưng trong lòng cậu luôn có một sự không đành lòng. Cậu luôn thầm nghĩ liệu có thể không đánh không đá không lăng mạ không hành hạ, mà là xét xử chính thức, thậm chí nếu thật sự tội đại ác cực thì thực hiện bắn chết chỉ có đội hành hình có mặt được không... Đó chính là sự ấm áp ôn hòa trong linh hồn cậu chỉ có thể liều mạng ức chế co quắp lại chứ tuyệt đối không thể biến mất triệt tiêu. Sau khi "Văn hóa Đại cách mạng" kết thúc, có người nói với cậu, cũng có người viết thành bài báo, bảo rằng khi đó đối mặt với hành vi bạo lực "quét sạch mọi ngưu quỷ xà thần", vì trong lòng cũng tràn ngập niềm say mê cách mạng nên đồng tình, tiếp nhận, hoặc ít nhất là tê dại, hay lại là bị che mắt mà không tỉnh táo; nhưng cậu thì ngay từ lần đầu tiên gặp phải tình cảnh như vậy, đã theo bản năng, một cách tỉnh táo và đương nhiên cũng chỉ có thể run rẩy lặng lẽ đẩy ra. Cậu từng lâu thật lâu vì sự đau đớn tỉnh táo này trong lòng mà sinh ra một loại cảm giác tội lỗi, có sự sợ hãi lo bị người khác nhìn thấu và bắt giữ. Mà khi "Văn hóa Đại cách mạng" kết thúc, đồng thời việc tố cáo và vạch trần mười năm tai hại không còn nguy hiểm nữa, thậm chí trở thành một thời thượng, cậu lại có một cảm giác thẹn thùng, một sự lo ngại sợ nói ra sẽ bị người ta giễu cọt là phô trương bản thân đúng đắn. Thực ra cậu không hề cho rằng sự ấm áp ôn hòa chống lại sự tàn nhẫn trong nhân tính của mình nhất định là tốt hay đúng đắn, điều đó đối với cậu chẳng qua chỉ là một thứ không thể rũ bỏ, một thứ không thể tách rời khỏi bản thể sinh mệnh của cậu mà thôi...
Đêm đó, nghe anh cả kể về sự tích đại nghĩa diệt thân của người đồng đội tên Tấu Chí Bưu kia, thứ đó trong nhân tính của cậu liền có một sự đẩy ra và sợ hãi tự nhiên. Hơn nữa kể từ đêm đó, cậu cảm thấy mình lập tức hiểu được anh cả, chỉ là khi đó cậu còn nhỏ, còn chưa thể dùng ngôn ngữ và logic rõ ràng để biểu đạt sự hiểu biết đó...
Đêm đó rốt cuộc cũng qua đi, kỳ nghỉ ba ngày của anh cả rốt cuộc kết thúc. Một tuần sau, anh cả dẫn theo mười người chiến sĩ dưới quyền lái mười chiếc xe tải lớn, anh và người chiến sĩ cần vụ ngồi trên chiếc đầu tiên, anh tự tay cầm vô-lăng, hết chiếc này đến chiếc khác tiến vào thành phố Bắc Kinh... Bọn họ theo lệnh cấp trên là băng qua thành phố Bắc Kinh hướng về phía nam vào lúc nửa đêm. Anh cả xin phép và được cấp trên đồng ý, sắp xếp đoàn xe vào đêm đó đi qua ngõ hẻm nơi nhà cậu ở. Ba mẹ và cậu đứng đợi đoàn xe đến ở cửa viện theo thời gian anh cả thông báo qua điện thoại (anh trai nhỏ đã về Đại học Bắc Kinh nên không tham gia). Thời gian dự định đã qua một khắc, trong ngõ hẻm vẫn yên tĩnh như tờ, ánh trăng như nước, chỉ có những con dơi lặng lẽ bay lượn trên không trung. Ba không khỏi liên tục đưa cổ tay lên nhìn chiếc đồng hồ dạ quang Thụy Sĩ hiệu Omega của ông... Cuối cùng cũng nghe thấy một âm thanh như tiếng sấm rền mơ hồ, dần dần vang lên dữ dội liên tục từ đầu ngõ bên kia, sau đó xuất hiện một dải ánh sáng tuyết trắng do đèn pha ô tô chiếu ra. Ồ, những chiếc xe tải lớn hết chiếc này đến chiếc khác, giữ khoảng cách đều nhau giữa các xe tiến lại gần. Chiếc đầu tiên chạy đến chỗ bố mẹ và cậu đứng đợi thì dừng lại một cách vững vàng, chỉ có một mình anh cả từ trên xe nhảy xuống... Cậu nhớ anh cả ôm chặt ba một cái, trong mắt ba lấp lánh ánh lệ tinh khôi; anh cả ôm mẹ xong lại hôn lên trán mẹ, nước mắt mẹ chảy thành hai đường song song; sau đó anh cả lại ôm cậu vào lòng, cậu rất thẹn thùng, cậu ngửi thấy trên người anh cả có một mùi hương đặc biệt của quân phục và thuốc lá... Sau đó anh cả lại nhảy trở lại trên xe, đóng cửa xe lại, rồi lái xe đi. Một chiếc, hai chiếc... Ba mẹ và cậu đứng trước cửa viện nhìn đoàn xe cuối cùng lái ra khỏi đầu bên kia ngõ hẻm, ánh đèn đỏ sau đuôi chiếc xe tải cuối cùng đột ngột rẽ sang hướng khác rồi biến mất...
8
Anh hai và chị gái ở Đông Bắc xa xôi không thể tận hưởng niềm vui đoàn tụ gia đình sau thời gian dài xa cách với anh cả, nhưng họ đều nhận được lá thư dài của gia đình và anh cả gửi sang kể về cuộc hội ngộ này, họ cũng viết những lá thư dài cho gia đình và anh cả bày tỏ sự vui mừng vì điều đó. Đương nhiên, trong thư hồi âm của họ đều dành dung lượng rất lớn để kể về đủ mọi tình hình học tập, làm việc và cuộc sống của bản thân.
Từ khi còn rất nhỏ cậu đã thích đọc thư của anh hai nhất. Thư của anh hai luôn có nét chữ phóng khoáng rõ ràng, lại mang đậm hương vị văn học. Nét chữ trong thư của chị gái thì giống như "mấy que diêm xếp thành" (cách miêu tả của anh trai nhỏ), văn phong rất giống như đang viết một bản báo cáo thực tập, hễ nhắc đến những khái niệm như số lượng, chiều dài, cân nặng, độ dày thì luôn viết ra con số cụ thể và thường chính xác đến chữ số thứ hai sau dấu phẩy, cho nên cũng tự có đặc sắc riêng.
Anh hai sau khi tốt nghiệp Trường Kỹ thuật Lạc Sơn, trường nâng cấp thành đại học, anh lại tiếp tục học hai năm cao đẳng. Sau khi tốt nghiệp lần nữa, anh được phân công đến làm kỹ thuật viên tại một nhà máy lớn ở một thị trấn nhỏ thuộc biên giới Trung - Triều ở Đông Bắc. Thị trấn đó tuy nhỏ nhưng nhà máy đó lại khá lớn, đo lường theo tiêu chuẩn thời bấy giờ thì nhà xưởng, thiết bị và các cơ sở phụ thuộc như ký túc xá công nhân, hội trường, cửa hàng, nhà tắm v.v. đều đạt tiêu chuẩn khá cao. Đó vốn là một nhà máy do người Nhật dựng lên, người Nhật mở xưởng ở đó ngoài việc tận dụng nguyên liệu tại chỗ cho thuận tiện, còn là để có thể lập tức thông qua Triều Tiên vận chuyển sản phẩm về chính quốc Nhật Bản. Cho nên đường sắt chạy thẳng từ tuyến đường chính đến thị trấn nhỏ đó. Đương nhiên khi anh hai đến nhà máy đó thì nhà máy đã thuộc về bản thân Trung Quốc, hướng vận chuyển sản phẩm cũng hoàn toàn quay ngược lại. Anh hai sau này từng miêu tả với cậu, đừng nhìn ga tàu hỏa của thị trấn nhỏ đó là một "đầu cụt", nhưng mỗi khi xe khách khởi hành, các nhân viên đường sắt trên sân ga đều nhất định đứng nghiêm, nét mặt trang nghiêm tiễn đưa đoàn tàu chậm rãi rời ga, khiến người ta cảm nhận được một tinh thần kính nghiệp và kỷ luật nghiêm cẩn toát ra từ những người công nhân nhân nghiệp Đông Bắc.
Anh hai từng có một thời gian làm việc và sống rất tốt tại nhà máy ở thị trấn Đông Bắc đó. Anh cũng thường xuyên có cơ hội đi công tác Bắc Kinh. Trong nhà máy từng có một số chuyên gia Liên Xô đến, cho nên tuy địa phương hẻo lánh nhưng lại không hề có cảm giác bế tắc. Sau này anh hai kể cho cậu nghe rất nhiều tình hình liên quan đến nơi đó, khiến cậu cũng cảm thấy nơi đó ngoài cái rét đậm ngoài trời vào mùa đông đáng sợ ra, thực ra ưu điểm khá nhiều.
Ví dụ như anh hai từng kể ở đó đối với các kỹ thuật viên trẻ cũng khá chiếu cố, có thể ở một mình một phòng ký túc xá. Anh hai tự bày trí phòng ký túc xá của mình thành một tổ ấm nhỏ êm đềm, chụp ảnh gửi về nhà ở Bắc Kinh, khiến ba mẹ, anh trai nhỏ và cậu xem xong đều không khỏi kinh ngạc — nơi đó thật sự còn đầy đủ thiết bị hơn cả cái nhà này ở Bắc Kinh, lại còn tràn ngập không khí văn nghệ. Anh hai ở phòng kiểu Nhật có cửa lùa, trong phòng tựa vào tường toàn là kệ sách, trên kệ sách toàn là sách, thỉnh thoảng điểm xuyết một số đồ mỹ nghệ, giữa phòng trải hai tấm chiếu coi lớn bằng cỏ bọc, bên cạnh chiếu có một bộ sofa thấp hình chữ C, bên cạnh sofa trong một hũ gốm cắm một nắm lớn hoa lau hái từ bờ sông về, tao nhã đến cực điểm. Ngoài ra lại có một chiếc đài radio sản xuất tại Thượng Hải và một chiếc máy hát sản xuất tại Liên Xô. Bên cạnh đó còn có tủ nhỏ thấp và dài, trên tủ là bình nước nóng đẹp mắt, thùng bánh quy, lon sữa bột, ống trà, bộ đồ trà trọn bộ; dưới tủ trong cửa lùa bằng kính là rượu và bộ ly rượu bằng kính trọn bộ, còn có một số bát đĩa ly chén... Còn về quần áo và chăn nệm, khi không dùng đến đều để trong tủ âm tường, buổi tối đi ngủ, lấy chăn nệm gối từ trong tủ âm tường ra, trải ra là có thể ngủ; mà trong nhà ngoài đèn điện treo từ trên trần nhà xuống — có một chụp đèn hình hoa uất kim hương do chính anh hai tự làm — còn có một chiếc đèn đứng có thể điều chỉnh độ cao thấp dùng cho việc đọc sách buổi tối... Đại biểu tỷ Điền Hà Minh nhỏ tuổi hơn anh hai một chút, lúc đó cũng vừa vặn học đại học ở Đông Bắc, có một năm đúng lúc đến thực tập ở một huyện gần đó, đã tranh thủ thời gian đặc biệt đến thăm anh hai một chuyến. Cậu nhớ anh hai từng miêu tả với cậu về cuộc hội ngộ anh em họ lần đó, ăn xong bữa tối, Điền Hà Minh và anh hai liền ngồi trong ký túc xá của anh hai trò chuyện. Vì bọn họ không phải là anh em họ bình thường, thời kỳ Kháng chiến chống Nhật, đúng vào thời thiếu niên, hai gia đình bọn họ cùng nhau tị nạn ở nông thôn, các anh chị em họ mỗi ngày chơi đùa cùng một chỗ, chạng vạng tối thì ở ngoài cửa nhà dưới chân tường mỗi người ngồi một chiếc bô ngồi thành một hàng đi tiêu đi tiểu. Cho nên tình cảm đặc biệt sâu sắc, nhiều năm không gặp, sau khi kinh ngạc vui mừng bộc lộ ân tình, tự nhiên có những câu chuyện kể hoài không hết. Vì vậy, Điền Hà Minh liền quyết định không tìm nơi khác qua đêm, anh hai liền không kéo rèm cửa sổ xuống, hai người dứt khoát sáng choang đèn đuốc ngồi đối diện nhau trong căn phòng nhỏ ấm áp đó, không ngủ mà trò chuyện suốt đêm, ở giữa còn đan xen thưởng thức đĩa hát, lật xem tập tranh, thản nhiên đối mặt với những ánh mắt kinh ngạc của những người đi ngang qua ngoài cửa sổ ký túc xá đó... Anh hai nói lần hội ngộ đó thật sự vô cùng tuyệt vời, hơn nữa sau đó mọi người trong nhà máy cũng không hề đưa ra lời bàn ra tán vào nào.
Cửa hàng Sách Tân Hoa trên thị trấn nhỏ nơi anh hai ở tuy mặt tiền nhỏ, nhưng sau khi quen thuộc với quản lý của cửa hàng sách đó, có thể rất thuận tiện dựa vào đơn đặt hàng do tổng công ty phát xuống và quảng cáo trên báo chí, yêu cầu ông ấy đặt mua sách báo và đĩa hát giúp, quản lý luôn nghiêm túc hoàn thành nhiệm vụ và thường xuyên tự mình mang sách báo đĩa hát đến chỗ ở của anh hai. Kết quả là anh hai trong thời gian đó đã sưu tầm được không ít sách báo và đĩa hát rất đáng trân tàng, ví dụ như "Tập tranh Lịch sử Hiện đại Trung Quốc" và "Tập tranh Sưu tập của Tổng thống Sukarno", lại ví dụ như đĩa hát Bản giao hưởng số 4, số 5, số 6 của Tchaikovsky, còn có đĩa hát Linguaphone "900 câu tiếng Anh" đặt nền móng cho trình độ tiếng Anh giao tiếp của anh hai sau này, v.v.
Hội trường của nhà máy có máy chiếu phim do Liên Xô sản xuất rất tốt, hơn nữa lúc đó tất cả những bộ phim công chiếu công khai thì mỗi bộ đều từng chiếu qua tại hội trường đó, chỉ có điều thời gian chiếu muộn hơn những nơi lớn như Bắc Kinh nửa tháng hoặc một tháng mà thôi. Nổi tiếng là nhiều bộ phim Liên Xô và Đông Âu có tính nghệ thuật rất cao, vì cán bộ và công nhân bình thường của nhà máy không mấy thưởng thức, cho nên số ít người biết xem biết hiểu như anh hai bọn họ liền có thể rất thuận tiện hầu như là nằm nghiêng trên ghế tựa, gác chân lên ghế phía trước, tự do thưởng thức thỏa thích. Hơn nữa anh hai không chỉ quen biết nhân viên chiếu phim, mà còn thường xuyên giúp đỡ chiếu phim; có những bộ phim thích xem, còn có thể lấy một cuốn cuộn phim thích nhất ra tự mình chiếu xem. Bạn thử nghĩ xem nếu ở Bắc Kinh thì có điều kiện tốt như vậy không? Cậu nhớ khi đó những bộ phim Liên Xô như "Đô đốc Ushakov", phim Cộng hòa Dân chủ Đức "Âm mưu và Tình yêu", phim Hungary "Kỳ hôn ký" v.v., ở Bắc Kinh đều không dễ mua được vé, mà khi chiếu ở hội trường nhà máy của anh hai bọn họ thì tỷ lệ người xem chỉ khoảng năm sáu chục phần trăm; chỉ có những phim Hồng Kông như "Tiểu thư rác rưởi", "Tuyệt đại giai nhân" hoặc phim cũ chiếu lại "Nhất giang xuân thủy hướng đông lưu", "Tam Mao lưu lãng ký" hoặc phim mới "Chặt đứt nanh mỏ", "Vụ án Hứa Thu Ảnh", tỷ lệ người xem mới đạt đến mức đông nghẹt.
Anh hai sau này thường xuyên nhớ lại thị trấn biên thùy đó với tình cảm sâu sắc, ngôi nhà máy quy mô không nhỏ nhưng đầy đủ cơ quan đó, những năm tháng thanh xuân khó quên đó, và coi cậu như một bộ tiếp nhận những tình cảm hoài niệm này, khiến cậu sau này hễ nhớ lại những lời kể đó của anh hai, liền giống như chính mình cũng từng sống ở nơi đó vậy...
...Anh hai kể rằng, có một lần trong xưởng chết một bác thợ già, nói là thợ già, thực ra cũng chỉ mới hơn năm mươi tuổi, bị đột quỵ tim mà chết; lúc đó ở đó không có đài hỏa táng, cho nên sau khi chết liền khiêng lên núi an táng; anh hai nói ngày hôm đó đã để lại ấn tượng không bao giờ phai nhòa trong đời anh, nếu như có một ngày anh có thể làm đạo diễn điện ảnh, nhất định phải lấy ngày hôm đó làm đề tài quay một bộ phim cảm động sâu sắc — anh kể về những người bạn trong xưởng, cùng những người thân thiết trong nhà máy, một đoàn khoảng hai ba mươi người, tự động tập hợp lại với nhau, luân phiên khiêng chiếc quan tài đó, trèo lên ngọn núi cao cao... Trên bầu trời xanh đến say đắm, những đám mây trắng dày dặn bồng bềnh trôi, trên núi cây cỏ xanh tươi, hoa dại nở rộ... Không có ai khóc lóc, là chỉ người nhà của bác thợ già; cũng không có ai giả vờ trang nghiêm, hay cợt nhả thiếu đàng hoàng; toàn bộ là một bầu không khí cực kỳ thuần phác hòa hợp với thiên nhiên xung quanh cho đến vũ trụ thâm thẫm vô cùng... Mấy thế hệ già trẻ người bản địa chỉ có mình anh hai là kỹ thuật viên đến từ miền Nam, bọn họ không xem anh hai là người ngoài, cũng để anh hai luân phiên khiêng một góc quan tài... Khi đoàn người đưa tang này đi trên sườn dốc nở đầy hoa bách hợp dại, một bác công nhân đột nhiên cất tiếng hát, là một điệu hát truyền miệng lâu đời ở địa phương, tương tự như "Nhị nhân chuyển" lại tương tự như dân ca dân tộc Triều Tiên, lời bài hát đó là do người hát tự sáng tác, và rõ ràng chảy ra từ trong tim bác ấy, là một sự bộc phát ngẫu hứng rất tự nhiên, bác ấy hát: "Anh đi rồi đó nha, đi trước rồi đó nha; chúng tôi vẫn chưa đi nha, chúng tôi còn phải sống nha; chúng tôi phải sống cho tốt nha, chưa đến lúc phải đi thì không đi nha, đến lúc phải đi thì không giữ nha..." Âm thanh đó vang vọng trong thung lũng vừa trong trẻo vừa sâu thẳm... Không có ai cảm thấy kỳ lạ trước tiếng cất giọng hát đột ngột của bác ấy, không có ai cười hay xấu hổ; bác ấy cứ hát cứ hát, một người, hai người, ba người, bốn người, cuối cùng ngay cả anh hai cũng họa theo, một đoàn người đưa tang cứ thế cất giọng hát to một cách cực kỳ thuần phác: "Anh đi rồi đó nha... chúng tôi còn phải sống nha... chúng tôi phải sống cho tốt nha..." Mây trắng trên trời thong thả biến đổi hình dáng, hoa bách hợp dại phủ đầy sườn dốc đung đưa trong gió... Anh hai nhớ lại cảnh đưa tang đó, thường cảm khái nói: "Đó là cảnh tượng trong đời tôi không bao giờ trải qua lần thứ hai nữa, xung quanh tôi toàn là những người chất phác nhất, hậu đạo nhất, bổn phận nhất, thuần khiết nhất. Tôi cảm nhận được vẻ đẹp của nhân tính, sự hòa hợp giữa con người với nhau, ngộ ra được ý nghĩa tối cao của sự sống và cái chết. Vị trí xác thực của con người trong vũ trụ... Tôi cảm ơn thị trấn nhỏ đó, cảm ơn những bác công nhân không làm việc hổ thẹn mỗi tối ngủ rất ngon giấc đó... Cảm ơn lễ tang đó..."
Anh hai còn nhớ lại, sau lễ tang mọi người đưa người nhà người chết về nhà, sau đó liền tụ tập đến một quán rượu nhỏ trên thị trấn, toàn là đàn ông, chỉ có chủ quán rượu là một phụ nữ trung niên, mọi người liền vừa uống rượu vừa trò chuyện một cách rất tự nhiên, rất thư thái, rất thẳng thắn, không chút kiêng kỵ. Rượu uống là loại rượu khoai lang rẻ nhất, mồi nhắm rất đơn giản, trong đó đắt nhất cũng không ngoài tai heo và trứng chiên trà... Anh hai ngày hôm đó cũng uống say mướt mượt, nhưng anh hai nhớ không có ai cãi vã chửi bới, không có ai ẩu đả, cuối cùng dìu dắt nhau từng tốp hai ba người, rất vui vẻ trở về chỗ ở của mình... Anh hai nói trong lúc uống rượu cũng không có ai nhắc lại người đã chết, nhắc lại lễ tang, thảo luận về cái chết nữa, mọi người thật sự sống tiếp cuộc sống bình thường mà đơn điệu, nhưng lại vô cùng trân quý và về bản chất rất trang nghiêm của mình...
Có lẽ, hành động đại nghĩa diệt thân của người đồng đội tên Tấu Chí Bưu của anh cả đã phủ lên nhân tính vốn có của anh cả một bóng đen nào đó không thể rũ bỏ? Cậu không dám khẳng định. Nhưng cậu lại có thể xác định, những trải nghiệm tương tự như lễ tang ở thị trấn nhỏ đã thêm vào nhân tính vốn có của anh hai một chất xúc tác mạnh mẽ nào đó, khiến trên chặng đường đời sau này, anh hai không cuồng táo như anh cả, cũng không âm nhu như anh trai nhỏ. Cùng cha cùng mẹ sinh ra, nhân tính và thiên phú của các anh em ruột thịt lại có thể có sự khác biệt to lớn đến thế! Thật tiếc là không thể theo dõi khảo sát chín người con của ông thợ mộc Cam xóm giềng năm xưa, nghĩ lại những sự khác biệt thậm chí phản sai mạnh mẽ giữa họ sẽ càng làm dấy lên sự ngạc nhiên và khám phá của chúng ta đối với sự tồn tại của sinh mệnh nhỉ?
9
Ba mẹ hi vọng trong số con cái có ít nhất một người có thể gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc, nhưng cho dù như anh cả đã là sĩ quan Quân Giải phóng rồi nhưng cũng luôn không có tin vui như vậy truyền về. Tiếp sau đó ba mẹ liền hi vọng ba người con trai đầu — đều đã hơn 20 tuổi, anh cả lại đã gần 30 — có thể tìm được đối tượng, kết hôn lập gia đình. Nhìn con gái nuôi Cúc Cầm, cháu gái Điền Nguyệt Minh đều đã kết hôn rồi, cùng viện như cô con gái gầy giơ xương và anh con trai đeo kính cận thị dày như đít chai của ông Thẩm cũng đã kết hôn rồi, mà nhà mình thì sao? Không chỉ khi người ta hỏi đến trong các con có ai là đảng viên hay không thì mặt mày không có quang thái, mà người ta hỏi đến đã bế cháu chưa lại càng ngượng ngùng hơn.
Cậu nhớ ba mẹ vì việc này từng xảy ra xung đột với anh trai nhỏ. Có một ngày anh trai nhỏ từ trường đại học trở về — lúc đó anh ấy đã sắp tốt nghiệp — mẹ liền hỏi anh ấy rốt cuộc có bạn gái hay chưa, bảo nếu thật sự tự mình không quen được thì nhờ người giới thiệu cho, lời còn chưa nói xong, anh trai nhỏ liền thô bạo ngắt lời bà nói: "Phiền chết đi được, phiền chết đi được, chuyện của con bố mẹ đừng có quản! Giới thiệu cái gì, con còn không biết tính toán của mẹ sao, con vừa về nhà là bố mẹ lại gọi điện thoại gọi Tích Mai đến, chẳng qua là hi vọng hai đứa con có thể thành đôi... Mẹ tưởng thân càng thêm thân, sẽ có một cô con dâu hiếu thảo với mẹ chồng, giống như Tiết Bảo Thoa vậy! Đang tính toán cái gì chứ! Nối thẳng ra một câu nhé! Con dù có cô đơn cả đời cũng không thể nào thành đôi với Thẩm Tích Mai!..." Lời này làm tổn thương sâu sắc đến trái tim mẹ, mẹ liền nói: "Con nói cái gì vậy! Mẹ mưu cầu cái gì chứ! Chuyện của bản thân con con không tự lo liệu, mẹ làm mẹ lại không thể nghĩ giúp sao? Tích Mai nhan sắc có kém một chút, nhưng tấm lòng tốt, rất thật thà, ở đơn vị của nó từ trên xuống dưới ai cũng khen nó tốt, con không thích nó thì thôi, sao có thể chê bai nó như thế? Cùng nhau sống qua ngày lại không phải là đọc tiểu thuyết xem diễn kịch, đi đâu tìm một Tiết Bảo Thoa thật sự chứ?..." Anh trai nhỏ ở ngoài nhà nổi tiếng là ôn hòa ngoan ngoãn, về đến nhà đôi khi nổi giận lên thì ăn nói độc địa, không nể mặt ai. Anh ấy thấy mẹ giận không những không biết điều tránh đi, ngược lại còn xông lên ăn nói mỉa mai: "Ai nói Thẩm Tích Mai xấu chứ? Cái gì gọi là 'không phải đọc tiểu thuyết hát kịch'? Con thích hát kịch thì làm sao? Đụng chạm đến ai chứ? Anh cả anh hai không có ở trước mắt, chỉ biết trút giận lên đầu con! Không bế được cháu lại không phải lỗi của một mình con! Con dù có cả đời không kết hôn, mẹ giận cũng không tới lượt tìm con trước, tìm anh cả anh hai bọn họ trước đi! Con chỉ biết mẹ việc gì cũng hướng về bọn họ, che chở bọn họ, bọn họ giới thiệu đồng nghiệp bạn bè đến thì vừa giữ lại ăn cơm vừa giữ lại ngủ qua đêm, không biết phải tâng bốc thế nào mới tốt; con chẳng qua dẫn mấy người bạn hát kịch về hát kịch miễn phí một chút, uống vài ly trà, xem cái bộ mặt đó của bố mẹ kìa, giống như chiếm đoạt tiện nghi lớn lắm của nhà này vậy!..."
Lời này của anh trai nhỏ liền kéo cả ba vào. Ba ở phòng trong đã sớm nghe thấy không ổn, liền thong thả bước ra trách mắng anh ấy: "Doanh Bình con đừng có nói bừa, mẹ con và ba lúc nào chê bai mấy người bạn hát kịch của con chứ! Chỉ là chúng ta thật sự không hiểu, lẽ nào trong số những người bạn hát kịch của con lại không có người phụ nữ nào con vừa mắt sao? Lại lẽ nào trong số những cô bạn hát kịch đó lại không có lấy một người có ý với con? Các con trên sân khấu hát nhiều kịch văn phong nguyệt như vậy, dưới sân khấu tổng phải có chuyện giả kịch làm thật mới đúng..." Ai ngờ mẹ nghe thấy lời này lại quay sang giải thích giúp anh trai nhỏ: "Sao lại không có? Cậu Hà Khang đóng vai tiểu sinh và cô Phạm Ngọc Nga đóng vai tuýp sinh đó là một đôi mà, nghe nói Chiêm Đức Quyên cũng rất thân thiết với Trình Hùng, chỉ là Doanh Bình nhà mình da mặt mỏng, nó cho dù có thích ai thì cũng e là không dám bạo gan đi đuổi theo!" Bố mẹ vốn đều có ý tốt, anh trai nhỏ lại cực kỳ bạo táo lên, đem chiếc cốc trà trong tay đập mạnh xuống bàn, hầu như là gào lên: "Gán ghép bừa bãi cái gì chứ?! Người ta Chiêm Đức Quyên bên ngoài trường có đối tượng rồi! Vừa tốt nghiệp là cưới qua đó! Làm sao thấy được con da mặt mỏng? Chuyện của con không ai được quản hết! Tìm hay không tìm đối tượng là chuyện cá nhân con! Cả đời cô đơn cũng là chuyện cá nhân con! Sau này bố mẹ ít nhắc tới những chuyện này với con đi!" Hát xong liền chui tợn vào một căn phòng khác, ba mẹ chỉ biết nhìn nhau thở dài một tiếng.
Ba mẹ vốn ước tính anh hai có thể đi tiên phong kết hôn lập gia đình, vì anh hai tuấn tú lịch sự, lại từ kỹ thuật viên thăng lên thành "Kỹ sư đề xuất hợp lý hóa" (một danh xưng kỹ thuật thời bấy giờ), tính tình lại ôn hòa hậu đạo, ở địa phương nhất định có phụ nữ trạc tuổi đuổi theo anh ấy. Từ những lá thư nhất quán và lời kể khi đi công tác của anh hai, lại biết anh hai đối với nơi đó, đối với nhà máy đó, đối với công việc của mình đều khá hài lòng — hoặc nói là khá thích nghi, chỉ cần anh hai hạ quyết tâm lựa chọn một người theo đuổi, an cư ở đó thì việc ba mẹ bế cháu là tuyệt đối không có vấn đề gì. Nhưng anh hai lại cũng trễ trễ không báo tin mừng kết hôn. Đúng vậy, quả thực có phụ nữ địa phương đuổi theo anh hai, người bạo gan thì tự mình ra mặt, người E ấp hơn thì thông qua cha anh ra mặt, hơn nữa trong đó có một cô gái tên Vạn Nguyệt Hoa cũng từng làm anh hai động lòng, nhưng anh hai rốt cuộc vẫn không thể hạ quyết tâm kết hôn với người phụ nữ địa phương như vậy. Đúng vậy, người phụ nữ như vậy khỏe mạnh, thuần phác, có rất nhiều điểm đáng yêu, ví dụ như cô Vạn Nguyệt Hoa đó, vóc dáng lực lưỡng, gương mặt hồng hào, trong đôi mắt một mí dài hẹp luôn chứa nụ cười, có thể hấp ra những chiếc bánh bao vừa trắng vừa to vừa xốp vừa chắc, có thể muối ra những món dưa muối vừa mặn vừa ngọt vừa chua vừa cay, tay chân đều nhanh nhẹn, nói năng cũng dứt khoát, khi cười âm thanh không giống chuông bạc mà giống như chiếc chũm chọe nhỏ... Cô ấy lén lấy chiếc áo sơ mi bẩn của anh hai đi giặt sạch phơi khô, còn biết làm hồ lại nẹp cổ áo đã mất hồ cho phẳng phiu; biết anh hai thích hoa lau dại và cỏ bồn dại bên bờ sông, liền hái từng nắm to mang đến tặng anh hai... Cha của Vạn Nguyệt Hoa là bác thợ già trong nhà máy, mẹ là tích cực phân tử của Ủy ban Gia đình khu ký túc xá nhà máy, hai người em trai vai rộng lưng to, nói nếu chị gái kết hôn thì không cần tìm người giúp nữa, hai người bọn họ có thể trong vòng một tháng đóng ra trọn bộ đồ gỗ mới — chỉ cần anh vẽ ra được hình dáng thì bọn họ nhất định đóng ra được, hơn nữa đảm bảo không lệch dáng!
Anh hai nhất định đã nghiêm túc suy nghĩ về Vạn Nguyệt Hoa, vì cậu nhớ ba mẹ từng nhận được ảnh của Vạn Nguyệt Hoa do anh hai gửi về, cậu cũng có ấn tượng, nhìn từ bức ảnh thì đó là một nữ công nhân Đông Bắc rõ ràng đại khí. Cậu nhớ anh trai nhỏ sau khi xem bức ảnh đó đã lén giễu cọt với cậu: "Nhất định là người thích nghe bình kịch! Anh hai sau này e là luôn phải đi cùng cô ấy đến rạp hát xem 'Tiểu mượn năm' và 'Góa phụ Mã mở tiệm' rồi!" Cậu biết anh hai tuy sở thích rộng rãi nhưng thực sự lại không hề có sở thích nghe bình kịch. Anh trai nhỏ lại mô phỏng ra một giọng nói ngốc nghếch ngu ngơ bảo: "Đó không phải là đi đóng Lenin sao?" Câu nói này có một điển cố chỉ tồn tại giữa các anh em. Có một lần anh hai đi công tác đến Bắc Kinh, ở lại nhà một thời gian ngắn, ba anh em cùng nhau trò chuyện, anh hai nói đến việc người bình thường ở nơi của họ không hiểu phim ảnh được quay như thế nào, càng không quen thuộc với những diễn viên trên màn ảnh, đặc biệt là những tên diễn viên dịch ra đọc rất líu lưỡi trong phim Liên Xô, lại thường xuyên không phân biệt được phim của các nước Đông Âu như Hungary và Tiệp Khắc, thậm chí ngay cả bản thân các nước đó cũng không phân biệt được, cho nên khi hội trường nhà máy của họ chiếu phim thì thường có khán giả mang tính chủ quan cố chấp coi một diễn viên đóng vai kỹ sư trong một bộ phim Tiệp Khắc chẳng hạn, nhất định nhận nhầm là diễn viên đóng vai Lenin trong bộ phim Liên Xô "Lenin trong tháng Mười". Anh hai khi đưa ra ví dụ này liền mô phỏng giọng nói đó bảo: "Đó không phải là đi ('đi' chính là đóng vai) Lenin sao?" Anh trai nhỏ và cậu nghe xong liền cười, sau này hễ mọi người nói đến sự vô tri của một số người đối với nghệ thuật liền đưa câu nói này ra làm một điển cố, mỗi lần dẫn ra điển cố này liền lại cười, anh trai nhỏ thậm chí sẽ cười đến mức không thở nổi. Anh trai nhỏ sau khi xem ảnh của Vạn Nguyệt Hoa đã trích dẫn điển cố này, có nghĩa là anh ấy khẳng định trình độ thưởng thức văn nghệ của Vạn Nguyệt Hoa đại khái cũng chỉ ở mức độ thấp kém đó mà thôi. Quả thực, khẩu vị thưởng thức văn nghệ của anh hai cũng quá cao rồi, đâu chỉ tỏ ra nổi bật giữa đám đông ở một thị trấn biên thùy như vậy, ngay cả mang đến Bắc Kinh thì cũng là khúc cao khó hòa. Lấy việc thưởng thức điện ảnh mà nói, anh hai là muốn thảo luận mãi đến thủ pháp đạo diễn, kỹ thảo diễn xuất, phong cách nhiếp ảnh, xử lý âm nhạc v.v., ngoài anh trai nhỏ nói chuyện hợp với anh ấy nhất ra thì e là cũng chỉ có hai cô em họ Điền Hà Minh, Điền Nguyệt Minh mới xứng đáng là tri âm. Cậu nhớ rất nhiều nhiều năm sau này, khi cậu nói với anh hai rằng tình cảm giữa Điền Nguyệt Minh và người Tây Nhân lai đó rốt cuộc đã rạn nứt, anh hai liền nói: "Không khó hiểu. Em nghĩ cái người Tây Nhân đó ngay cả phim cũng không biết bàn luận, tục tằn! Cô em họ hai của em làm sao có thể cùng anh ta đi tiếp lâu dài được!" Cậu rất kinh ngạc trước tiêu chuẩn đo lường "bàn luận phim" này của anh hai. Cái gọi là "bàn luận phim" chính là cùng nhau thảo luận rất tỉ mỉ, hứng thú dạt dào, bổ sung hoặc tranh luận về sự thành bại trên nghệ thuật của một bộ phim, ví dụ như rốt cuộc là Lenin do Shchukin đóng phù hợp với sự thật lịch sử hơn hay Lenin do Strauch đóng mang tính hấp dẫn nghệ thuật hơn? Lại ví dụ như rốt cuộc là xử lý dựng phim trong cuộn phim đầu tiên của "Bài hát thanh xuân" mới mẻ mượt mà hơn hay xử lý dựng phim trong cuộn phim đầu tiên của "Cửa hàng nhà họ Lâm" lão luyện chín thấu hơn? Tôn Đạo Lâm lồng tiếng cho vị hoàng tử Đan Mạch Hamlet u uất trong "Hoàng tử báo thù" thật sự là ngọc trắng không vết xước, Trương Thụy Phương lồng tiếng cho cô gái giang hồ cấp cao Nastasya trong "Kẻ ngốc" cố ý làm nổi bật giọng trầm khàn thật sự là quyến rũ vô cùng! Vạn vạn v.v., trời ơi, trước tiêu chuẩn nội tâm như thế này thì làm sao Vạn Nguyệt Hoa có thể được anh hai đang ở thời kỳ thanh xuân chín muồi lựa chọn chứ? Việc cô ấy rốt cuộc bị loại bỏ là sự thận trọng của anh hai, cũng là sự may mắn của cô ấy...
Nhưng anh hai không thể nào tìm được người yêu và bạn đời ở biên thùy đó có thể cùng anh ấy "bàn luận phim" như Điền Hà Minh, Điền Nguyệt Minh, mà thời gian vội vã, anh ấy luôn cô đơn một mình, nghĩ đến hẳn khó tránh khỏi phiền muộn và lo âu. Cậu nhớ anh hai không nói về bản thân với anh trai nhỏ và cậu, mà là nói về người khác, nói về mấy nam kỹ thuật viên cũng từ miền Nam đến thị trấn đó nhà máy đó, vì luôn không tìm được đối tượng kết hôn không thành gia thất mà sinh ra sự khổ muộn về tình dục và biến thái về tình dục, nói trong đó có một kỹ thuật viên vừa gầy vừa đen vừa thấp, làm việc rất nỗ lực, trên kỹ thuật có nhiều thành tích cải tiến, trên "Bảng vinh danh" của nhà máy chiếm giữ vị trí ổn định, nhưng đột nhiên có một ngày bị người ta bắt sống bên ngoài nhà tắm nữ — anh ta đang bắc một chiếc thang ghé vào cửa sổ thiên trần nhìn vào trong, khi anh ta bị người phát hiện giải đến phòng bảo vệ nhà máy, ngay cả giám đốc nhà máy và trưởng phòng bảo vệ cũng muốn bảo vệ anh ta, ám chỉ anh ta hi vọng anh ta tự bào chữa cho mình, ví dụ như nói dối một câu là bản thân xuất phát từ một động cơ nào đó không dính dáng đến "lưu manh", nhưng anh ta lại đôi mắt thẫn thờ, không nói một lời, đứng ở đó cũng không ngồi xuống. Khi mọi người đang cảm thấy kỳ lạ thì anh ta đột nhiên giơ tay chộp lấy một chiếc chặn giấy bằng đồng trên bàn văn phòng phòng bảo vệ, dốc sức nện vào phần dưới của mình — thì ra thứ xxxx đó của anh ta vẫn cương cứng trong quần, anh ta cuồng loạn muốn dùng cách đập nện để giải trừ sự xung động không thể ức chế về mặt sinh lý đó... Anh hai khi kể về bi kịch này của người đồng nghiệp đó không hề mang theo sự giễu cọt và trêu đùa, không biết anh trai nhỏ nghe xong có cảm tưởng gì, dù sao cậu cũng cảm thấy câu chuyện này cũng phản chiếu ra một sự hụt hẫng và tuyệt vọng nào đó sâu trong nội tâm của chính anh hai...
Chuyện hôn nhân đại sự của anh cả mặc dù ngoài tầm tay với, nhưng ba mẹ cũng ở Bắc Kinh lo liệu một hồi. Cậu nhớ vì chuyện này ba đã tìm bác Phương, bác Thôi, thậm chí còn tìm một cô Hương thực ra không phải là họ hàng thật sự, lấy được ảnh của một số cô gái, liên tục gửi cho anh cả... Cô gái Bắc Kinh nào có điều kiện tốt lại sẵn lòng gả xa đến đảo Hải Nam chứ? Mà lại có cô gái nào chỉ dựa vào giới thiệu đã bằng lòng gả xa đến đảo Hải Nam mà lại có điều kiện khiến anh cả hài lòng chứ? Cho nên những sự lo liệu này của ba mẹ là lãng phí thời gian và sức lực một cách vô ích, không thu hoạch được gì.
Nhưng cuối cùng cũng có một ngày anh cả gửi đến lá thư khiến cả nhà vô cùng vui mừng. Anh không những đã có đối tượng, mà lại còn đã định xong ngày cưới — thì ra anh cả bị một trận bệnh, trong thời gian nằm viện, một cô y sĩ của bệnh viện quân đội đã yêu anh. Khi anh sắp xuất viện, dưới gối phát hiện ra lá thư tình do cô y sĩ đó nhét vào... Gửi kèm theo thư là ảnh của cô y sĩ đó, thật trẻ trung! Mắt thật to! Nhìn qua là biết một cô gái miền Nam! Đúng là "tìm mỏi mắt không thấy, đến khi gặp chẳng tốn công"!
Không lâu sau anh cả liền kết hôn ở đảo Hải Nam, cô y sĩ đó trở thành người con dâu đầu tiên của ba mẹ, trở thành người chị dâu đầu tiên của cậu. Anh cả sau khi kết hôn an gia ở thành phố Hải Khẩu, không muốn lái xe tải chạy khắp nơi nữa, cộng thêm việc luôn không thể vô Đảng không thăng được đại đội trưởng, liền chuyển thành giáo viên văn hóa trong lực lượng quân đội trú đóng tại địa phương. Anh cả chị dâu một năm sau sinh con gái, đặt tên là Tưởng Xướng. Sau này ba cậu từ Bắc Kinh điều đến Trương Gia Khẩu, làm giáo viên tiếng Anh trong một trường quân sự. Ba mẹ hai người tuổi tác già đi, con cái đều không ở bên cạnh, cảm thấy rất cô đơn, liền bảo anh cả chị dâu khi nghỉ phép đến Trương Gia Khẩu thăm người thân thì để Tưởng Xướng lại bên cạnh họ. Anh cả chị dâu đồng ý, lúc đó Tưởng Xướng mới vừa tròn ba tuổi, sau này Tưởng Xướng luôn lớn lên bên cạnh ông bà nội, đối với bố mẹ cô ấy ngược lại trở nên xa lạ.
10
Tưởng Xướng hiện nay đã hơn ba mươi tuổi, đã có chồng con và gia đình của riêng mình, ở Quảng Châu sống cuộc sống của người Quảng Châu điển hình. Một năm trước cậu từng vì có việc đi Quảng Châu một chuyến, đến thăm cô cháu gái lớn này. Cô cháu gái lớn Tưởng Xướng tiếp đón cậu rất nhiệt tình, nhưng một câu hỏi nhẹ nhàng đã khiến cậu rất đụng chạm, câu hỏi đó là —
"Chú nhỏ còn viết nữa sao?"
Khi câu này thốt ra, ánh mắt của cậu vừa vặn gặp ánh mắt của Tưởng Xướng, và dính chặt vào nhau trong một thời gian ngắn. Cậu từ trong ánh mắt của Tưởng Xướng nhìn ra một sự thương hại to lớn. Đúng vậy, một sự thương hại to lớn sinh ra vì sự ngăn cách to lớn, không hiểu to lớn, không coi trọng to lớn đối với việc sáng tác của cậu. Bạn có thể phân giải câu hỏi của cô ấy thành nhiều tầng ý nghĩa như sau: "Chú làm cái gì không tốt, sao còn làm cái này chứ?", "Đúng vậy, chú cũng già thế này rồi, cũng không làm được cái khác nữa, tội nghiệp chú vẫn còn làm cái này...", "Chú viết, viết chút cái khác không được sao? Sao những gì chú viết cháu một chút cũng không thích xem...", "Tội nghiệp chú còn phải tiếp tục viết như thế này..."
Tưởng Xướng không phải bây giờ mới đối với việc sáng tác của cậu, những thứ cậu viết ra giữ một thái độ nhạt nhẽo như vậy. Ngay từ mười mấy năm trước, lúc đó Tưởng Xướng còn đang học cấp hai, cậu nhờ những tác phẩm như "Gió xuân đến muộn" mà gây chấn động, đoạt giải, nổi tiếng rầm rộ, Tưởng Xướng đã từng nói với anh trai nhỏ, chị gái của cậu: "Những thứ chú nhỏ viết sao cháu một chút cũng không cảm động? Cháu luôn cảm thấy những gì trong lòng cháu nghĩ với những gì trong lòng chú ấy nghĩ một chút cũng không đụng tới nhau..."
Cậu ở trước mặt Tưởng Xướng, dưới ánh mắt của Tưởng Xướng, ý thức sâu sắc rằng đó không phải là một vấn đề cái gọi là "khoảng cách thế hệ", đó là vấn đề khoảng cách giữa một cá thể sinh mệnh với một cá thể sinh mệnh khác. Đúng vậy, mặc dù Tưởng Xướng là xương thịt của anh ruột cậu, có mối quan hệ huyết thống không thể cắt rời với cậu trên sự kế thừa di truyền, nhưng Tưởng Xướng rốt cuộc lại biến đổi thành một cá thể sinh mệnh tồn tại độc lập hoàn hoàn toàn toàn khỏi dòng máu gia tộc.
Đối mặt với vấn đề này, cậu sau khi gặp và dính chặt ánh mắt với cô cháu gái lớn Tưởng Xướng, đột nhiên chủ động kiên quyết cắt đứt dời đi, cậu dời ánh mắt sang bên ngoài cửa sổ phòng khách nhà Tưởng Xướng. Bên ngoài cửa sổ là bầu trời nắng đẹp tươi sáng của miền Nam, xanh ngắt như rửa, lấp lánh quầng sáng như bảo thạch.
Cậu cảm thấy sự cô đơn sâu sắc.
Còn viết nữa sao?
Đúng vậy, còn viết. Có lẽ những gì viết ra ngoài bản thân cậu ra không tìm được tri âm nữa. Đó là sự đại bi ai của sinh mệnh. Nhưng đó cũng là sự đại trang nghiêm của sinh mệnh.
---❊ ❖ ❊---
Cậu nhớ đầu những năm 60 là thời kỳ cậu cảm thấy cô đơn và hoang mang nhất, mà trong lòng lại tràn ngập sự xôn xao và khao khát nhất. Ba mẹ chuyển đến Trương Gia Khẩu rồi, Bắc Kinh không còn nhà của mình nữa, cậu liền hoàn toàn trở thành một người thanh niên chỉ có thể coi cái giường trong ký túc xá đại học là nơi trú ngụ thân thiết nhất của mình. Gia đình chị gái và anh Dũng còn ở Bắc Kinh, cậu thường xuyên đến đó, ở đó đồng thời còn có thể gặp gia đình chị Cúc Cầm và anh Diên Mậu, nhưng sự ấm áp nhận được ở đó cộng lại cũng không đủ để lấp đầy khoảng trống to lớn do gia đình ba mẹ chuyển đi gây ra. Bắc Kinh còn có một gia đình họ hàng: gia đình thím Tám và chú Tào, ngoài ra còn có một người chị họ Thẩm Tích Mai. Chị họ Thẩm Tích Mai lúc đó vẫn chưa xuất giá, ở ký túc xá đơn vị. Chị họ Thẩm Tích Mai từng có thời gian thể hiện sự hứng thú đối với kinh kịch, điều này khiến cậu rất kinh ngạc. Chị họ Thẩm Tích Mai từng hẹn cậu cùng đi xem vở "Tấn Quán Nương" của Tuân Tuệ Sinh, còn có vở "Hoang sơn lệ" của Trình Triệu Vinh Xương. Có thể thấy chị Tích Mai khó lòng đồng tình với cô gái mười mấy tuổi Tấn Quán Nương do một nam đán béo lớn lạ kỳ đóng, mà sự đánh giá "hát thảm quá" của chị ấy đối với cô gái vùng sơn cước Trương Tuệ Châu do một nam đán gầy gò giơ xương đóng cũng khó được coi là sự thưởng thức từ đáy lòng; nhưng chị ấy vẫn không chỉ tần suất nhiều lần tự mình vào rạp hát, lại liên tục bảo cậu mượn giúp cuốn "Bốn mươi năm đời sân khấu" của Mai Lan Phương và "Tập văn Trình Yến Thu" rất khó mua trên thị trường... Nhưng khi cậu có một lần chủ động mang cuốn sách "Nghệ thuật sân khấu Tuân Tuệ Sinh" đến cho chị Tích Mai thì chị Tích Mai lại nói: "Thôi bỏ đi, không xem nữa, xem nữa tôi cũng vẫn không nhập cảnh được, tôi thôi thì cứ đi sâu nghiên cứu đề tài phục tráng cây cổ thụ của tôi vậy..." Nói xong mặt từng lớp đỏ lên đến mức tím bầm, đôi mắt sau tròng kính còn lấp lánh những đốm sáng khả nghi...
Lúc đó cậu gửi một chiếc thùng đựng quần áo ở nhà bác Thôi, người bạn cũ của ba, vì để ở ký túc xá trường học không thuận tiện, dễ bị mất cắp. Ngoài ra ba mẹ sắp xếp như vậy cho cậu cũng là để cậu có thể nhận được sự chăm sóc của một người bạn cũ rất tốt ở Bắc Kinh. Thực ra suy nghĩ của ba mẹ hơi quá đơn thuần. Trên chặng đường đời, cái gọi là tình bạn giữa thế hệ của mình đã khái quát khó giữ được lâu bền, làm sao có thể lan tỏa đến thế hệ sau chứ?...
Cậu nhớ chiều hôm đó cậu đến nhà bác Thôi là để lấy ra một chiếc áo chất liệu len cần mặc thêm sau khi trời thu trở lạnh từ chiếc thùng gửi lại. Bác Thôi lúc đó là một quyền uy kỹ thuật, không chỉ đảm nhận vị trí tổng kỹ sư của một viện thiết kế nào đó (còn kiêm phó viện trưởng, nhưng phó viện trưởng là hư danh, tổng kỹ sư mới là thực quyền), về mặt chính trị còn có vị trí khá cao, là đại biểu Nhân đại Toàn quốc, cho nên ký túc xá của bác Thôi rất rộng rãi... Ngày hôm đó sau khi cậu gõ cửa thì là một người con trai của bác Thôi ra mở cửa cho cậu. Người con trai đó lúc đó chỉ mới khoảng bảy tám tuổi, dáng vẻ mới học tiểu học, thấy ngoài cửa là cậu thì trên mặt thể hiện rõ sự coi thường và không vui, cũng không chào hỏi cậu một tiếng, chỉ hô lớn một tiếng: "Mẹ! Có người đến!" liền xoay người chạy vào phòng mình.
Bác gái Thôi xuất hiện. Là một người phụ nữ Giang Nam trông khá trẻ trung, vóc dáng đầy đặn, gương mặt xinh đẹp, giọng nói nũng nịu, mặc một bộ sườn xám thời bấy giờ trên đường phố đã tuyệt đối hiếm thấy, uốn kiểu tóc kiểu dáng độc đáo. Vừa thấy cậu liền mặt đầy nụ cười niềm nở, khách khí nói: "Ôi, Tưởng Doanh Hải, cháu khỏe không, cháu đến lấy đồ à? Tốt tốt, tự cháu vào phòng ông nội lấy đi... Bác Thôi của cháu lại đi nước ngoài rồi... Bác cũng đang bận đây... Tự cháu đi lấy đi!"
Cậu biết người bác gái Thôi này nhỏ hơn bác Thôi khoảng 20 tuổi, là người vợ thứ hai của bác Thôi. Người vợ nguyên phối của bác Thôi là do gia đình sắp đặt, bọn họ cũng từng sống cùng nhau, cũng từng sinh con đẻ cái, nhưng bác Thôi cận kề trước giải phóng đã công khai cưới người bác gái Thôi hiện tại này — nghe nói cha của người bác gái Thôi này chính là người "ông nội" mà cô ấy nhắc tới với cậu sau khi đón cậu vào cửa. Năm xưa từng làm một nhân viên nhỏ ở công ty nơi bác Thôi làm việc, trong thời gian đó bác Thôi phát hiện ra người bác gái Thôi hiện tại này và yêu cô ấy — sau này giải phóng, bác Thôi được điều đến Bắc Kinh giao cho trọng trách, bác ấy liền dẫn theo người bác gái Thôi hiện tại này đến Bắc Kinh nhận chức, nhưng không hề ly hôn với người vợ đầu tiên đó. Mỗi tháng bác ấy đều đặn chuyển tiền sinh hoạt cho người vợ cả đó, số tiền còn lại liền hầu như nộp hết cho người vợ trước mắt này. Người bác gái Thôi này cùng bác ấy lại sinh hạ hai trai một gái, vì vậy cậu nghe ba mình và mẹ nói chuyện riêng với nhau:
"Đừng nhìn Thôi Ba (biệt danh của bác Thôi giữa các anh chị em bạn bè cùng lứa) hiện nay lương cao, chia làm hai nơi thì số còn lại cũng không còn nhiều; hơn nữa cô 'Hoa nhài' (biệt danh người vợ thứ hai của bác Thôi) đó nhỏ hơn nó nhiều như vậy, không thể không tính toán cho đường lùi của mình, tiền trong tay nắm rất chặt, cho nên ngoài ăn tiệc ra thì Thôi Ba ở nhà ăn uống rất đạm bạc! Ngày đó tôi và Mạc Tư (biệt danh một người bạn khác của ba là bác Mạc) ở nhà nó đánh bài chọc (một loại bài lá ba người chơi), sau đó nó giữ chúng tôi lại ăn cơm, bà đoán xem ăn cái gì? Một đĩa đậu ván xào không có mấy lát thịt, một nồi canh bí đao không có bao nhiêu mỡ màng, một đĩa đậu phụng rang. Nghe nói còn là vì đối đãi chúng tôi uống rượu nên thêm vào... Cho nên Thôi Ba hiện nay già rồi lại đỏ mộc, vốn là một người béo lớn, hiện nay mỏng dảnh rồi nha! Cho nên nó luôn thèm dầu mỡ, luôn muốn đến nhà chúng ta ăn ké, ăn món thơm phức bà làm nha! Chỉ riêng đĩa thịt kho của bà thôi là nó đã thèm không ăn cơm mà gắp ăn một đĩa to rồi!..."
Cậu nhớ ngày hôm đó khi cậu vào phòng người ông nội Thôi đó tìm chiếc thùng gửi lại để lấy áo len, trong lòng liền hiện lên những lời bàn luận này của ba mẹ, cùng với đủ loại ấn tượng về bản thân bác Thôi... Người ông nội Thôi đó là một ông lão miền Nam gầy nhỏ, bỉ ổi, trong nhà mà lại mặc chiếc áo dài bằng vải thô thời bấy giờ trên đường phố đã tuyệt đối không thấy nữa, trên đầu đội một chiếc mũ len tự dệt cũ kỹ. Thấy cậu vào phòng thì tỏ ra rất giật mình, cậu liền gật đầu chào hỏi một cách mập mờ. Cậu không muốn gọi ông lão đó là ông nội, vì thực ra ông lão đó không lớn hơn bác Thôi bao nhiêu, so với ba chỉ lớn hơn khoảng năm sáu tuổi, cậu dựa vào đâu mà chịu ở dưới thế hệ của đứa bé mới bảy tám tuổi đó mà gọi ông ấy như thế? Càng miễn bàn cho dù thuận theo logic đó thì cũng chỉ nên gọi là "ông ngoại", dựa vào đâu mà phải gọi "ông nội"?...
Cậu nhớ trong căn phòng nhỏ nhất của căn hộ đó, cậu và ông lão đó đều rất ngượng ngùng, vì mặc dù phòng khách và phòng ngủ của bác Thôi và người bác gái Thôi trẻ trung được bài trí khá xinh đẹp, nhưng căn phòng nhỏ này phân minh chỉ là một cái kho chứa đồ, tất cả mọi thứ đều sơ sài không nói, còn tỏ ra đặc biệt chật hẹp tù túng. Ông lão ngoài một chiếc giường gỗ ra thì còn có một chiếc ghế mây cũ, ngoài ra chính là hai chồng thùng xiểng xếp từ mặt đất lên gần đụng trần nhà... Cậu rất mất hứng khi phát hiện chiếc thùng gửi lại của cậu đã không còn nằm trên bề mặt nữa, mà bị đè dưới ba chiếc thùng khác của nhà họ Thôi. Toàn bộ nội hàm của thành ngữ "gửi người dưới hiên" tràn ngập sinh động trong lòng cậu. Cậu tay chân cuống quýt, hầu như là hơi thô bạo dịch chuyển ba chiếc thùng đè ở bên trên ra, lại hầu như có thể nói là tức giận bực bội lấy ra chiếc áo len của mình...
Cậu nhớ đúng lúc cậu mặc xong áo len xin phép bác gái Thôi ra về, bác gái Thôi đang giả vờ vun vén một nét mặt nụ cười giả tạo nói với cậu: "Ăn cơm tối rồi hãy đi..." thì lại có người gõ cửa. Bác gái Thôi đầy vẻ nghi hoặc mở cửa ra, bác gái Thôi giật mình một cú, cậu càng kinh ngạc không hiểu ra sao.
Ngoài cửa là anh hai.
……Hóa ra anh hai đến Bắc Kinh từ buổi sáng, đầu tiên là đến bộ, giữa trưa sang chỗ chị cả ăn cơm, rồi lại vào trường đại học tìm gã nhưng không gặp, thế là lại đến đây tìm bác Thôi — có một chuyện đại hỉ xảy ra, phía Bắc Kinh đã quyết định điều anh hai về, tới giảng dạy tại một trường tiến tu cán bộ thuộc ngành của họ! Bác Thôi vừa là uy quyền kỹ thuật của ngành này, ở bộ lại có uy vọng lớn, anh hai trong quá trình làm các thủ tục liên quan, sợ "đêm dài lắm mộng", giữa đường nảy sinh biến cố, nên mới vội vàng đến bái vọng bác Thôi, cũng là hi vọng bác Thôi gọi thêm một cú điện thoại cho lãnh đạo có thẩm quyền ở bộ để củng cố chắc chắn hơn…… Không ngờ hai anh em lại gặp nhau ở nhà người khác!
"Kìa, là công trình sư Doanh đấy à! Đúng là một anh chàng đẹp trai! Cháu gặp may không tốt rồi! Bác Thôi của cháu lại vừa đi nước ngoài mất rồi!" Bác gái Thôi tự nhiên đã sớm gặp anh hai từ trước. Năm xưa bố mẹ còn ở Bắc Kinh, anh hai không chỉ theo bố mẹ tới nhà họ Thôi, bác Thôi cũng từng dẫn bác gái Thôi tới nhà gã, gặp đúng lúc anh hai đi công tác ở Bắc Kinh……
Bác gái Thôi kiên quyết giữ anh hai và gã lại ăn cơm tối. Lúc đó gã không nghĩ ngợi sâu xa, tại sao khi bác gái Thôi giữ gã ăn cơm, nét mặt lại là vẻ gượng gạo cố làm ra vẻ niềm nở, mà khi giữ anh hai ăn cơm thì nét mặt ít nhất cũng lộ ra bảy phần chân thành……
Hôm đó hai anh em gã không ở lại ăn cơm. Vì gã bảo với anh hai, gã đã mua sẵn vé xem phim, và đã hẹn điện thoại với chị họ Thẩm Tích Mai tập hợp ở cửa rạp chiếu phim Thủ Đô, cùng xem bộ phim màn ảnh rộng có màu của Liên Xô "Cánh Buồm Đỏ". Anh hai đồng ý đi cùng gã tới rạp Thủ Đô, nếu tạm thời không mua được vé thì chờ người ta trả lại vé ở cửa. Đồng thời nghe nói bác Thôi không có ở trong nước, mà đang ở một nước hữu nghị vùng nhiệt đới chủ trì một công trình viện trợ nước ngoài, thời gian ngắn cũng không về được, nên ở lại nhà họ Thôi ăn cơm cũng chẳng có ý nghĩa gì.
……Người bác gái Thôi trẻ tuổi đó chỉ lớn hơn anh hai một hai tuổi, sau này gã nghe anh hai kể, đi lại nhiều rồi thành quen, bác gái Thôi thỉnh thoảng còn đùa giỡn với anh hai, có mấy lần đấm một cú đấm mềm mại lên lưng anh hai, dùng cái giọng đấm đấm của người lớn đối với kẻ nhỏ, hình như là trách móc nói: "Cái anh công trình sư Doanh này, ăn gì mà béo thế! Đáng chết!"…… Anh hai cứ nói đến đó là dừng lại không nói tiếp nữa, gã lúc ấy cũng đã ngoài hai mươi tuổi rồi, liền ngộ ra một thứ hương vị gì đó, thế là hai anh em nhìn nhau cười quái gở; gã thỉnh thoảng cùng tản bộ với anh hai, hứng chí lên cũng đấm vào lưng anh hai một cái, nhái theo cái giọng nũng nịu đó nói: "Ăn gì mà béo thế! Đáng chết!" Anh hai liền cười đến không thở ra hơi……
……Gã còn nhớ, hôm đó tới trước cửa rạp chiếu phim Thủ Đô, chị Tích Mai vừa thấy anh hai từ trên trời rơi xuống đi cùng gã, mặt liền từ từ đỏ lên — tại sao gương mặt không mấy đối xứng trái phải của chị Tích Mai khi đỏ lên lại luôn hiện ra từng lớp từng quầng đậm dần một cách rõ rệt như thế? Hiện tượng sinh lý đó là hiệu ứng của cấu trúc tâm lý nào?…… Chị Tích Mai lập tức lắp ba lắp bắp bày tỏ thái độ nói chị sẽ không xem nữa, nhường cho hai anh em gã vào xem, "Bởi vì…… hai người xem xong còn dễ trò chuyện……" Anh hai liền nói tất cả cùng xem, chờ một tấm vé trả lại xem sao, xem xong mọi người cùng tới cái nhà hàng bậc thang cao bên cạnh rạp chiếu phim ăn chút gì đó — cái nhà hàng đó gã và anh hai đã đến nhiều lần, nhưng toàn không nhớ nổi tên, chỉ nhớ trước cửa có những bậc thang rất cao — nhưng hôm đó vé trả lại rất khó chờ, trước cửa rạp chiếu phim cho tới tận lề đường xa xa có mấy người xòe tay cầm tiền miệng không ngừng nói: "Ai có vé không? Ai có vé không?……" Gã liền nhường vé cho anh hai, để anh hai và chị Tích Mai vào xem, chị Tích Mai có chút hốt hoảng, xoay chuyển cái đầu, giống như đang tìm một tấm gương, lấy tay đỡ đỡ gọng kính, lại cúi đầu nhìn nhìn vạt áo mình, rì rầm nói: "Thế sao được thế sao được, xem tôi hôm nay này…… cũng không kịp chuẩn bị…… đầu tóc bù xù, quần áo rách rưới thế này……" Gã lúc đó thấy rất buồn cười, không phải là vào xem phim sao? Chẳng lẽ có ai muốn nhìn chị ấy chắc?
……Sau đó vẫn là anh hai và chị Tích Mai đi xem bộ phim tên "Cánh Buồm Đỏ" đó. Một mình gã đi bộ một đoạn đường thật dài, vừa đi vừa nghĩ, chị Tích Mai không còn tới nhà hát xem Kịch Bắc Kinh nữa, mà đổi thành thường xuyên tới rạp chiếu phim xem phim, là ngẫu nhiên sao? Hơn nữa chị Tích Mai không còn nhờ gã mượn những cuốn sách như "Bốn Mươi Năm Đời Sân Khấu" nữa, mà đổi sang nhờ gã mượn "Lịch Sử Điện Ảnh Thế Giới" của Georges Sadoul, cùng những cuốn sách thuộc loại "Tuyển Tập Kịch Bản Điện Ảnh Liên Xô", khi gặp gã, lại hình như luôn tìm cách "trò chuyện về điện ảnh" với gã. Ví như hỏi gã, bộ phim Liên Xô "Bài Ca Của Biển" đó, chẳng có chút cốt truyện nào, "lộn xộn cào cào" (nói ra câu này chị Tích Mai lập tức hối hận, lại đổi thành "đoạn này một chút đoạn kia một chút"), rốt cuộc hay ở chỗ nào? Gã lại có thể kiên nhẫn giảng cho chị Tích Mai một trận, nhưng có một lần cùng trò chuyện ở nhà chị cả, chị Tích Mai tìm cách cùng chị cả trò chuyện về bộ phim trong nước vừa xem "Đông Mai", ai ngờ vừa mới mở đầu, chị cả liền cực kỳ khinh bỉ nói: "Đông Mai với chả Hạ Mai cái gì, chị bây giờ không xem phim, như cái thằng hai, thằng ba bọn nó ngày nào cũng dựa vào xem phim mà sống, thì có ý nghĩa gì? Tuổi tác đều lớn thế rồi, còn không mau tìm người kết hôn đi, ở đó quậy phá linh tinh!" Mặt chị Tích Mai lập tức ửng đỏ lên từng lớp từng lớp một, lúc đó gã chỉ thấy là chị Tích Mai nghĩ tới tuổi tác tương đương với anh ba của mình, chị ấy cũng lớn chừng đó rồi, lại là con gái, vẫn chưa kết hôn, chẳng phải càng là quậy phá linh tinh sao? Nhưng sau này gã mới nhận ra, sự lúng túng của chị Tích Mai dường như còn có yếu tố tầng sâu hơn……
11
Sau khi anh hai chuyển tới Bắc Kinh, đã xin nghỉ phép đi Trương Gia Khẩu một chuyến, thăm bố mẹ.
Anh hai từ Trương Gia Khẩu trở về, thỉnh thoảng lại kể cho gã nghe một số tình hình.
Bố mẹ sống khá tốt trong học viện quân sự ở Trương Gia Khẩu. Mặc dù cuộc sống của cư dân bình thường ở khu vực Trương Gia Khẩu gian khổ và đơn điệu hơn Bắc Kinh rất nhiều, tuy nhiên học viện tự thành một hệ thống, trong bức tường rào chiếm diện tích khá rộng lớn của học viện là một môi trường đặc biệt tương tự như khu nhà ở của quân đội ở ngoại ô Bắc Kinh, bố mẹ sống ở nhà chung cư, nguồn cung cấp lương thực và thực phẩm phụ đều được chiếu gác đặc biệt, cho nên không cần lo lắng cho cuộc sống của họ. Bố dồn hết tâm trí vào công việc giảng dạy, rất được các học viên yêu mến. Mẹ quán xuyến việc nhà còn ngăn nắp trật tự hơn thời ở Bắc Kinh. Còn Tưởng Xướng ngày một lớn khôn, thông minh lanh lợi đã thêm vào cuộc sống của họ niềm vui vô tận.
Nhưng bố lại trái ngược với thiện cảm dành cho anh cả mấy năm trước, trở lại với sự ghét bỏ thậm chí là căm thù đối với người con trưởng từ nhỏ đã liên tục gây rắc rối cho ông này.
Anh hai tự nhiên vẫn giữ liên lạc thư từ với anh cả, và tự nhiên có nhiều chia sẻ với anh cả hơn. Theo lời anh hai tiết lộ, anh cả ở trong quân đội mãi không được kết nạp Đảng, khiến tự trọng của anh cả bị tổn thương lớn. Anh cả ở trong quân đội thực sự cực kỳ nỗ lực, tài ăn nói, tài văn chương, cùng với tư duy nhạy bén và táo bạo của anh cũng rất được một vài vị thủ trưởng coi trọng, mấy lần được điều sang bộ phận tuyên truyền của quân khu tham gia một số nhiệm vụ rất vẻ vang, nhưng lại luôn không thể chính thức chuyển sang các bộ phận liên quan của quân khu, bởi vì anh luôn không giải quyết được vấn đề kết nạp Đảng. Tại sao? Tại sao?…… Có một lần một vị lãnh đạo Đảng ở đơn vị của anh cả không kìm được đã tiết lộ cho anh cả: Họ đã thẩm tra lịch sử bố, biết bố trong phong trào chống phái Hữu có phát ngôn sai lầm, từng bị đưa ra hội nghị quy mô vừa để phê bình, nhưng cuối cùng không định tính là phái Hữu, chỉ do nội bộ tổ chức kiểm soát, tức thuộc hàng "phái Hữu kiểm soát nội bộ", không thông báo cho bản thân, chỉ cần bản thân không có phát ngôn và hành vi phái Hữu mới, thì cũng không ảnh hưởng tới việc sử dụng thông thường, có thể tiếp tục phát huy sở trường…… Một tình hình như thế đã quyết định việc anh cả dù bản thân có nỗ lực đến đâu, cũng rất khó được tiếp nhận vào Đảng. Anh cả nghe xong đại làm chấn động, liền không kìm được viết thư kể cho anh hai, anh hai tới Trương Gia Khẩu, có một hôm khi bố phàn nàn "cái thằng lớn chết dí không chịu cố gắng, chừng ấy năm đến cái Đảng cũng không vào nổi", liền không kìm được giải thích với bố, và hỏi: "Bố, bố thật sự bị định tính thành phái Hữu kiểm soát nội bộ ạ? Bố thật sự tự mình một chút cũng không biết, cũng không nhận ra sao?" Theo lời anh hai kể, bố lúc đó đầu tiên là ngẩn người, ngay sau đó liền nổi giận đùng đùng dùng tay gạt phắt cái gạt tàn trên bàn xuống nền xi măng, nhảy dựng lên hằn học nói: "Tốt lắm tốt lắm, chết dí không chịu cố gắng, bản thân không vào nổi Đảng, còn vu khống cho lão tử! Tôi là quyết không nhận cái thằng con này nữa! Hoang đường! Mâu thuẫn! Thật là vô lý!" Làm mẹ từ trong bếp cầm xẻng nấu ăn chạy ra, không biết tai họa gì đột nhiên ập xuống, mà Tưởng Xướng còn hoàn toàn chưa hiểu chuyện liền "nhiều" một tiếng khóc òa lên, chạy lại ôm chặt lấy hai chân của ông nội……
Anh hai sau này vô cùng hối hận. Khi gã lớn hơn một chút cũng rất trách anh hai. Anh hai vốn là người hiếu thảo nhất với bố mẹ, từ nhỏ lớn lên cho tới trước lần đó hầu như chưa từng làm bố mẹ giận dù là một chút xíu, thế mà ngày hôm đó anh lại đột ngột rạch một vết thương vừa sâu vừa dài lên trái tim bố!
Tuy nhiên anh hai lại mang tới cho bố một thông tin đáng sợ như thế! Ông không tin, không thừa nhận, và không muốn hình dung trên hồ sơ của mình lại có một dấu vết không chỉ khiến bản thân, mà còn khiến con cái xấu hổ như vậy, ông khẳng định đó là tin đồn do anh cả đặt ra vì mãi không vào được Đảng, từ đó ông oán thù anh cả đến tận xương tủy, và không bao giờ viết thư hồi âm cho anh cả chị dâu nữa, tất cả thư gửi đi đều do một tay mẹ viết……
Gã chưa từng nói chuyện thẳng thắn với bố về vụ án công khai này. Bố thật sự có thể thông qua việc khẳng định anh cả bịa đặt và oán hận anh cả, để xóa bỏ cái bóng ma trong lòng ông sao? Gã nhớ, đó đã là một kỳ nghỉ gần tới "Văn Cách", gã lúc đó đã tốt nghiệp Học viện Sư phạm và đã được phân công tới dạy học tại một trường trung học ở khu nội thành, gã tranh thủ kỳ nghỉ tới Trương Gia Khẩu thăm bố mẹ, vốn dĩ mọi chuyện đều rất bình thường, bỗng nhiên có một ngày mẹ tươi cười từ nhà ăn trở về căn hộ đang ở nói: "……Người ta giục Kiều Chi Vân với nhà mình đi nhận táo kìa, Doanh Hải con mau lấy cái sọt đi cùng mẹ xách về……" Đó vốn là một chuyện rất bình thường, học viện thường xuyên phân phát ở nhà ăn cho các gia đình một số "hàng nhập khẩu" coi như trợ cấp phúc lợi, có lẽ là các gia đình khác trong tòa nhà của bố mẹ đều đã nghe tin đi nhận rồi, chỉ có cái cô tên Kiều Chi Vân đó và nhà bố là chưa đi nhận, cho nên người ở nhà ăn nhìn thấy mẹ đi mua bánh bao liền tiện thể dặn dò như thế; ai ngờ bố vừa nghe thấy câu này liền đột ngột nhảy dựng lên từ ghế bố, ném bộp cuốn sách ngữ pháp tiếng Anh trong tay xuống đất, mặt đỏ gay cổ nổi gân gào lên: "Cái gì? Cho Kiều Chi Vân với chúng ta đi nhận?! Không cần! Không cần!! Không cần!!!" Làm mẹ và gã giật bắn mình, may mà Tưởng Xướng lúc đó xuống dưới nhà tìm bạn nhỏ chơi đùa rồi, nếu không nhất định lại bị dọa cho khóc "nhiều" lên……
Sau này gã mới ngã ngũ, cô tên Kiều Chi Vân đó là một phụ nữ tuổi đã gần 50, gã từng gặp, nhìn qua tuy tiều tụy, nhưng vẫn thoáng thấy được nhan sắc thời trẻ. Nghe nói trước giải phóng là phóng viên của một tờ báo nào đó, sau giải phóng lại từng có thời gian làm phóng viên ở một tờ báo do đảng phái dân chủ vận hành, thời chống phái Hữu vì có lượng lớn phát ngôn và hành vi phái Hữu nên bị quy thành phần tử phái Hữu loại nghiêm trọng nhất, hơn nữa sau khi đại bộ phận phần tử phái Hữu đều đã được tháo mũ, cô ta thế mà vẫn chưa được tuyên bố tháo mũ, sau một hồi xuống cơ sở lao động cải tạo, học viện quân sự đó cũng thông qua bộ phận liên quan điều cô ta tới làm một giáo viên ngoại ngữ, nghe nói cô ta nắm giữ một môn ngoại ngữ thời đó khá hiếm thấy, hình như là tiếng Bồ Đào Nha hay gì đó; trước khi anh hai tiết lộ cái "bí mật" trong thư của anh cả, bố đối với sự tồn tại của Kiều Chi Vân vốn dĩ là không sao cả, ông hiểu điều đó thể hiện sự rộng lớn trong lồng ngực của Đảng Cộng sản: Một người về mặt chính trị phản động như thế lại chưa tháo mũ phái Hữu, chỉ cần cô ta có một kỹ năng sở trường, thậm chí cũng có thể điều tới học viện của quân đội để dạy học; chỉ cần bản thân và người nhà ít tiếp xúc với người họ Kiều đó, thì sẽ không rước lấy rắc rối gì. Gã phân tích, nhất định là lần đó anh hai vô tình rạch vết thương trong lòng bố, khiến bố trở nên nhạy cảm với người họ Kiều, và nhất định từng nảy sinh một số liên tưởng, một số nghi hoặc, quả nhiên, hôm đó người ở nhà ăn nhất định là rất ngẫu nhiên vì chuyện phân phát táo mà nhắc tới Kiều Chi Vân cùng với nhà bố mẹ, bố liền giống như có ai thò ngón tay vào vết thương vô hình mà lại không thể giãi bày với người khác — dù là mẹ — của ông, lập tức nổi giận đùng đùng, cuối cùng thậm chí ăn nói lộn xộn……
Anh hai quả thực rất hối hận vì vô tình làm tổn thương bố. Nhưng anh hai đi công tác một chuyến tới Quảng Châu, và ở đó gặp gỡ nói chuyện phiếm với anh cả cũng vừa hay tới Quảng Châu công tác, sau khi về lại tiết lộ với gã rằng, cái khó trong việc vào Đảng của anh cả, không chỉ nằm ở vấn đề "kiểm soát nội bộ" của bố, mà càng nằm ở chính bản thân anh — năm đó vì bố làm vỡ bát mì mà anh giận dỗi giậm chân bỏ nhà ra đi, trải nghiệm rất phức tạp, theo phân tích của anh hai, đoạn trải nghiệm trước khi nhập ngũ đó, thực ra anh vốn không cần phải khai báo tỉ mỉ với tổ chức như thế, vì suy cho cùng anh chỉ là một thanh niên lang bạt nhỏ bé không đáng kể, chẳng có hành vi chính trị nào thực sự gọi là cách mạng hay phản cách mạng, không khai báo tỉ mỉ cũng chẳng tính là che giấu cái gì, kết quả anh khai báo quá tỉ mỉ, lại làm cho tổ chức cảm thấy lý lịch cá nhân của anh thực sự phức tạp, mà những trải nghiệm đó của anh lại không cách nào đi điều tra xác minh được……
……Hóa ra năm đó sau khi anh cả bỏ nhà ra đi, tới một con tàu thủy làm một thủy thủ, đi theo con tàu đó cập bến Thượng Hải; ở Thượng Hải anh không muốn làm thủy thủ nữa, liền tới một khách sạn cao cấp làm phục vụ viên, trong giai đoạn làm phục vụ viên, anh có khá nhiều chuyện tình ái lãng mạn. Theo lời anh hai thuật lại, có một lần anh cả phục vụ trong quán bar, ở đó tập trung một số người Tây và người Hoa cấp cao, có một nữ ngôi sao điện ảnh thời đó khá nổi tiếng hôm đó tới, nữ ngôi sao đó rất u sầu cũng rất lãng mạn, cô ấy hình như rất không thích những người mời cô ấy tới và vây quanh cô ấy, và cũng không thích nơi đó, cô ấy để làm tức giận những người đàn ông bám theo mình, liền cố ý kéo anh cả lại yêu cầu anh cả nhảy với cô ấy, anh cả cầu còn không được như thế, liền nhảy với cô ấy, điều làm cô ấy và những người đàn ông đó đại làm kinh ngạc là, anh cả lại nhảy giỏi đến thế! Điều này đối với anh cả mà nói vốn không có gì lạ, anh không phải xuất thân nghèo khó, đặc biệt là ở nhà dượng từng làm ngoại giao quan ở Canada, Mỹ, từ sớm đã cùng các chị em họ Điền Hà Minh, Điền Nguyệt Minh nhảy không chỉ đúng quy chuẩn, mà còn cực kỳ biết ứng biến tại chỗ, cực kỳ có phong độ cao sang…… Anh cả nói nữ ngôi sao đó ít nhất là trong khoảng thời gian nhảy đầm đã yêu anh — quả thực, anh cả đang tuổi thanh xuân 20, thân thể khỏe mạnh, gương mặt tuy không đẹp trai nhưng đường nét góc cạnh hài hòa, đáng để một nữ ngôi sao thanh xuân sắp qua mà dục vọng còn nồng thắm yêu một lần…… Anh cả ôm chặt lấy eo nữ ngôi sao, trong lúc khiêu vũ thỉnh thoảng thân thể áp rất sát nữ ngôi sao, điều này khiến những người đàn ông xung quanh cuối cùng phẫn nộ, có người trong số họ bảo ban nhạc dừng biểu diễn, nữ ngôi sao đại nộ, vung tay tát một cú vào mặt người đàn ông muốn nắm tay cô ấy, người đàn ông đó lấy khăn tay gạt vết mặt bị tát, hằn học nói: "Chẳng lẽ cô thà để cho cái thằng nhãi ranh đó hôn môi cô, cũng không nhảy với những người đàn ông như chúng tôi sao?" Nữ ngôi sao liền ngửa cổ hất tóc dài nói: "Các người mà là đàn ông? Trong các người có ai có một chút khí phách đàn ông không? Các người chỉ biết ở đây say sinh mộng tử, các người làm sao biết bên ngoài có bao nhiêu người đang đổ máu đổ mồ hôi? Các người có dám đổ mồ hôi không? Có dám đổ máu không? Hừ, trong các người ai có bản lĩnh thì đổ máu cho tôi xem, tôi sẽ hôn người đàn ông không sợ đổ máu đó — bất kể anh ta là ai!" Nữ ngôi sao uống nhiều champagne, rõ ràng nói một nửa là lời say, những người đàn ông xung quanh ai nấy nhìn nhau ngơ ngác, không biết làm sao; đúng lúc này, anh cả lại chộp lấy chai rượu trên bàn, dùng sức đập mạnh vào cạnh bàn gãy làm đôi, rượu bắn ra còn chưa chảy hết, anh liền dùng tay phải lấy chai rượu vỡ đó dùng sức rạch một đường lên cánh tay trái đang xắn tay áo ra, tức thì rạch ra một vết thương, máu tươi lập tức chảy ra, mà lúc này nữ ngôi sao liền không ngần ngại nhào tới, ôm lấy anh cả hôn cuồng nhiệt, hôn lên trán, mắt, má, cổ, hõm vai của anh, cuối cùng hôn chặt lấy đôi môi anh cả……
……Trải nghiệm lãng mạn như thế của anh cả tuổi 20, nghe xong khiến gã kinh ngạc, cũng khiến gã thầm có chút ghen tị…… Chẳng lẽ ngay cả chuyện như thế, anh cả cũng khai báo với tổ chức sao? Anh hai nói, đúng thế, anh cả thế mà cũng khai báo tỉ mỉ, và tự phê bình khá khắt khe……
Anh cả sau này lại từ Thượng Hải lang bạt tới Thiên Tân, ở Thiên Tân còn chạy tới một thương hội làm coi kho một thời gian, anh hai mới nghe anh cả nói thế liền nghi ngờ hỏi: Chắc là làm công nhân bốc xếp chứ? Một thanh niên lang bạt như anh, người ta làm sao tin tưởng được anh? Anh cả nói ông chủ đó tin tưởng anh, liền cho anh làm coi kho, vì anh nói anh biết võ công, biết bắn súng, ông chủ không tin, anh liền nói không tin ông lấy khẩu súng ra tôi bắn cho ông xem, ông chủ quả nhiên đưa anh một khẩu súng. Anh không nhận, cười cười nói ông đừng đưa tôi khẩu súng rỗng, tôi phải lắp đạn cơ, ông chủ thế mà lắp đạn thật đưa cho anh, bảo anh bắn một cái cây trong sân, anh liền ngắm chuẩn cái cây đó, vừa bấm cò anh liền nói: "Là một viên đạn xịt, nhưng ông đi xem tôi bắn thế nào?" Ông chủ sai người lại gần nhìn kỹ, phục rồi, anh cả bắn trúng đường sống lưng giữa thân cây đó…… Anh hai nghe đoạn này liền tin. Vì anh hai từ lâu đã biết anh cả từng nghịch súng, lúc đó anh hai còn rất nhỏ, nhưng anh hai, anh cả đã mười mấy tuổi, anh hai anh cả tới nhà dượng cô chơi, dượng là một tướng quân Quốc dân đảng, sống trong một căn biệt thự kiểu nhà vườn, anh hai theo anh cả lén chạy vào phòng ngủ của dượng và cô, anh cả thế mà tự ý kéo ngăn kéo tủ đầu giường của dượng ra, thấy bên trong có một khẩu súng ngắn, liền táo tợn cầm lên nghịch, mới đầu giả vờ chĩa vào anh hai, dọa anh hai không biết trốn vào đâu, sau đó anh cả liền ngắm chuẩn cái giá treo quần áo ở góc nhà bắn một phát, "Đoành!" Trong khẩu súng đó hóa ra lắp đạn thật, trong làn khói thuốc súng cái giá treo quần áo đổ rụi…… Người lớn nghe thấy tiếng động chạy vào, vừa thấy cảnh đó dượng liền liên tục giậm chân, quát lệnh anh cả ném súng xuống đất, bố sau này tự nhiên đánh anh cả một trận tơi bồi — nhưng anh cả đã không còn là đứa trẻ, khi đánh anh tuy anh không phản kháng, lại làm bố mỏi tay đau lòng bàn tay trật cả eo……
Anh cả của gã là một người như thế! Gã thầm cảm thấy, việc anh cả sau này tiếp tục lang bạt, cho tới khi cuối cùng tham gia Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, nói là yếu tố xã hội, lịch sử đang phát huy tác dụng, chi bằng nói là một lực đẩy nội tại trong thiên tính đang thúc đẩy…… Điều đó quả thực rất khó giải thích, tại sao anh cả lại phải dùng những phương thức như thế, để tạo ra một giá trị tồn tại của anh trên đời?
12
Khi anh hai tuyên bố quyết định kết hôn với Thẩm Tích Mai, và trước khi đơn vị phân nhà sẽ tạm mượn một phòng trong ký túc xá của bác tám, chú Tào để thành hôn dựng nhà, gã không cảm thấy kinh ngạc; dĩ nhiên gã cũng không tin năng lực "trò chuyện điện ảnh" của chị Tích Mai (sau này gã đổi gọi là chị dâu Tích Mai) có sự nâng cao lớn cỡ nào.
Phản ứng của chị cả lại hoàn toàn trái ngược. Đầu tiên là kinh ngạc. Chị những năm đó bận rộn với cuộc sống của mình, mặc dù thỉnh thoảng nhớ tới anh hai hơn ba mươi tuổi vẫn chưa kết hôn có chút sốt ruột thay, cũng từng cùng chị Cúc Cầm nhiều lần thảo luận xem làm sao giới thiệu cho anh hai một đối tượng thích hợp, nhưng chị lại chưa từng thực sự quan tâm và tìm hiểu cuộc sống tình cảm của anh hai. Chị từng riêng tư giận dữ nói với gã: "Không ngờ Thẩm Tích Mai lại lợi hại thế! Bề ngoài đần đần vụng về, hóa ra thả dây dài câu cá lớn! Anh hai cũng thế, làm sao chọn đi chọn lại, cuối cùng lại chọn trúng chị ta! Không phải chị cố ý làm xấu Thẩm Tích Mai, chị ta ưu điểm dĩ nhiên rất nhiều, trên sự nghiệp cũng coi như có thành tựu, hai hàng cây bạch quả lớn trên con đường bên ngoài viện chúng ta chính là giống cây trồng đường phố mới mà chị ta tuyển chọn thành công, nhưng dựa vào cái nhan sắc đó của chị ta, làm sao xứng với anh hai nhà mình cơ chứ? Nói thật lòng, anh cả nhan sắc khá ổn tiếc là hơi thấp, anh ba nhan sắc giống cậu bảy, mắt cá vàng, cằm ngắn, đóng vai tiểu đán thì qua mắt được, làm một người đàn ông thì nhan sắc đó không ổn, chú mày thì chưa ra hình thù gì, lúc nào cũng vẻ dáng thiếu niên…… Xét ra trong bốn anh em nhà mình cũng chỉ có anh hai là thực sự dẫn ra ngoài được, xét chiều cao có chiều cao, xét nhan sắc có nhan sắc, xét phong độ có phong độ, trên chuyên môn có trình độ, tiếng Anh lại tự học tới mức có thể dịch đuổi cabin, lại hiểu văn học nghệ thuật, còn phong lưu khoáng đạt hơn cả cái ông chú Tào đó, thế mà anh ấy đến phút cuối lại lấy Thẩm Tích Mai làm vợ, hai người làm sao đi chung một đường trên phố được nhỉ?……" Lại hạ thấp giọng, dự báo điềm xấu nói: "Hơn nữa Thẩm Tích Mai với nhà mình có quan hệ huyết thống nhất định, chú biết mẹ với bố của cô tư, cô tám họ là anh em họ hàng xa, tức là bố của họ là anh em chú bác, lên trên nữa, ông ngoại của chúng ta và ông ngoại của em họ Giản, chính là anh em ruột, tính ra vẫn trong vòng năm đời đấy, kết hôn gần như thế, sinh con ra sẽ là đứa ngốc, quái thai, chú hiểu không?……"
Phản ứng từ trong xương tủy của anh ba giống hệt chị cả, nhưng phương thức biểu hiện khác nhau, anh từ Hồ Nam gửi thư chúc mừng cho anh hai và chị dâu Tích Mai, là gửi tới chỗ bác tám chú Tào, thư rất ngắn gọn, bên trong có một câu đối: "Thất lý tương hội chung thành quyến thuộc, bạch đầu giai lão vĩnh viễn hạnh phúc." Lúc đó không ai để ý, sau này gã mới bừng tỉnh đại ngộ, anh ba đã cố ý ngắt bỏ hai chữ "Hữu duyên", "Hữu tình" trong hai câu "Hữu duyên thiên lý năng tương hội" và "Hữu tình nhân chung thành quyến thuộc", để ẩn ý sự nghi ngờ sâu sắc trong lòng anh về việc anh hai, chị dâu Tích Mai có duyên có tình hay không. Gã đối với phản ứng này của anh ba không lấy làm lạ. Gã biết, bố mẹ từng hy vọng anh ba hòa hợp với Thẩm Tích Mai, mà Thẩm Tích Mai cũng từng giữ quan hệ thư từ dày đặc với anh ba, sự nhiệt tình một thời đối với Kịch Bắc Kinh đó rõ ràng cũng là "có ý đồ khác"…… Anh ba sau này dứt khoát từ chối sự theo đuổi của Thẩm Tích Mai, và cắt đứt liên lạc thư từ với Thẩm Tích Mai.
Anh hai và chị dâu Tích Mai kết hôn vào ngày Quốc tế Lao động "1-5" năm 1966. Họ là hai hạt cải nhỏ bé không đáng kể trong thời đại lớn. Họ làm sao biết lúc đó những người như Nhiếp Nguyên Tử ở Đại học Bắc Kinh đang dưới sự chỉ huy sau bức rèm của Khang Sinh lựa chọn thời cơ dán ra "Tờ đại tự báo Chủ nghĩa Mác đầu tiên trong cả nước"…… Ngày 25 tháng 5 tờ đại tự báo đó dán ra ở Đại học Bắc Kinh, tối ngày 1 tháng 6 Đài Phát thanh Truyền hình Trung ương đã phát sóng tờ đại tự báo đó, ngày 2 tháng 6 báo "Nhân Dân Nhật Báo" đăng tờ đại tự báo đó trên trang đầu. Nhưng anh hai, chị dâu Tích Mai cho tới bác tám vẫn mơ mơ màng màng sống cuộc sống nhỏ bé của người trần phàm phu, chỉ có chú Tào từ bộ đi làm về vẻ mặt nghiêm túc hơn ngày thường rất nhiều, nhưng ngay cả chú Tào lúc đó cũng chỉ cảm nhận được thầm kín có một cơn giông bão gì đó đang bắt đầu cuộn xoáy, nhưng đồng thời lại cảm thấy bất kể "Hải Thụy Bãi Quan" cái gì, "Tam Gia Thôn" cái gì, chuyện của Đại học Bắc Kinh cái gì, cũng đều cách xa cái bộ và mảng công việc cụ thể đó của mình khá xa……
Giữa tháng 6 gã tới khu ký túc xá mà bác tám chú Tào ở, thăm anh hai và chị dâu Tích Mai, gian phòng tân hôn mà anh hai chị dâu Tích Mai mượn ở không liền với hai phòng rưỡi mà gia đình bác tám chú Tào tự ở, ở giữa ngăn cách bởi hai dãy sân, nằm ở một góc hẻo lánh. Bên ngoài nhà có một giàn nho do nhà khác trồng, cành lá xum xuê, từng chùm hoa nho đang biến thành những hạt nho nhỏ xíu. Gã ở trong phòng đó cùng uống trà với anh hai, chị dâu Tích Mai. Lúc này liền truyền tới từng đợt tiếng hô vang khá dữ dội nhưng lại hoàn toàn không rõ ràng. Hóa ra đối diện khu ký túc xá đó chính là tòa nhà văn phòng của báo "Bắc Kinh Nhật Báo", nơi đó đã trở thành trung tâm lốc xoáy của "Đại Cách Mạng Văn Hóa", đang diễn ra cuộc đấu tranh cuồng bạo giữa người với người. Làn sóng âm thanh đó từng đợt truyền tới, kinh tâm động phách, thỉnh thoảng có thể nghe ra từng đợt tiếng khẩu hiệu hô là "đả đảo ai đó", nhưng đó lại rõ ràng không phải là một cuộc họp phê bình trật tự ngăn nắp. Cho nên đột nhiên sẽ có tiếng gào nhọn của một vài người nào đó, hung hãn mà hỗn loạn, đồng thời lại đột nhiên có tiếng thét nhọn của một hai người nào đó, thê lương mà khủng khiếp…… Gã nhớ, chính vào ngày hôm đó, đúng lúc họ đành phải ngừng trò chuyện với nhau, sợ hãi ngồi trong gian phòng tân hôn đó bất giác lắng nghe những âm thanh đó, đột nhiên có một loại âm thanh càng kinh tâm động phách hơn truyền tới — trong tòa nhà báo "Bắc Kinh Nhật Báo" có người trong lúc bị phê bình đấu tố đã đập vỡ cửa sổ nhảy lầu rồi……
Bao nhiêu năm sau nhớ lại cảnh tượng ngày hôm đó, những tiếng rên siết, gào rống và thảm thiết không nên có ở nhân gian đó dường như vẫn còn văng vẳng bên tai. Gã không khỏi kinh ngạc nghĩ tới, bất kể mưa sa gió giật của "Đại Cách Mạng Văn Hóa" đó kích liệt táo bạo đến thế nào, chỉ cần còn một khoảnh khắc yên bình, một khe hở không gian, dù là ở Bắc Kinh, bên cạnh tòa nhà văn phòng báo "Bắc Kinh Nhật Báo", cũng vẫn có người kết hôn, có người làm tình, có người thụ thai, có mầm sống mới đang tiến hành phân chia tế bào…… Con gái lớn Tưởng Hồng của anh hai, mầm sống của nó chính là bắt đầu từ thời điểm này địa điểm này, mà đó cũng tuyệt đối không phải chuyện kỳ lạ quái đản gì……
Con người sống ở khắp nơi.
Con người sống vào bất kỳ lúc nào.
Vào lúc có người hận nhau đấu nhau, cũng có người yêu nhau dựa vào nhau.
Vào lúc có người nhảy lầu tự sát hoặc dùng phương thức tàn khốc nào khác kết thúc cuộc đời mình, cũng có người trong bóng tối lặng lẽ tạo ra mầm sống mới.
Vào lúc những chuyện cực kỳ cực kỳ vĩ đại sau này được ghi chép lại gọi là lịch sử đang vận hành uy vũ hùng tráng, cũng có rất nhiều rất nhiều chuyện nhỏ phàm nhân cực kỳ hèn mọn nhỏ bé sau này nhất định không xuất hiện trong sách lịch sử đang chật chội lặng lẽ sinh ra và mất đi……
Gã thường muốn khóc, vì những sự tồn tại tươi sống bên ngoài lịch sử đó……
Gã lại thường muốn cười, mỉm cười, vì những cá thể tươi sống hèn mọn nhỏ bé đó và quỹ đạo sinh tồn của họ bị lịch sử vĩ đại trang nghiêm sàng lọc bỏ đi mà mừng rỡ……