1
Đặt chiếc nồi tử sa Vân Nam chuyên dùng hầm gà cách thủy lên kiềng bếp ga, Tưởng Doanh Ba bước ra khỏi bếp, đi vào căn phòng lớn. Bà khẽ đảo mắt nhìn chiếc tủ ghép nhiều ngăn, chiếc giường lớn, bộ ghế sô pha và bàn trà đã được đặc ý dọn dẹp qua một lượt, rồi ngồi xuống chiếc sô pha đơn bọc da nhân tạo. Vừa đan áo len, bà vừa lặng lẽ đợi Cúc Cầm và Băng Long Trân tới.
Tưởng Doanh Ba là một phó giáo sư về hưu ghét giao thiệp với người khác nhất trần đời. Trước khi nghỉ hưu bài vở bận rộn, việc nhà bề bộn, chuyện không tiếp khách ở nhà cũng chẳng có gì lạ. Sau khi nghỉ hưu, bà thà một mình tĩnh lặng ở nhà chứ quyết không muốn ai đến chơi, bản thân cũng tuyệt đối không lui tới nhà người khác, thành thử ra có phần lập dị. Thế nhưng bà chẳng hề cảm thấy bản thân có chỗ nào quái gở. Bà quen thế rồi.
Hôm nay được coi là ngoại lệ vạn năm mới có một lần — bà sắp sửa đón tiếp hai người bạn học thời trung học năm xưa ngay tại nhà mình.
Hai tay máy móc đan ống tay áo phối lẫn sợi len cũ và mới, trong lòng Tưởng Doanh Ba chẳng hề có nỗi niềm háo hức chờ đợi bạn cũ. Chẳng những không có hào hứng, mà ngay cả chút ấm áp cũng chỉ chập chờn khi ẩn khi hiện, nhàn nhạt như màn sương bay.
Đối với bà, cuộc sống đã trở nên giống như một món hàng ế ẩm. Bà đã quen với sự chiết khấu giảm bớt trên mọi phương diện; khi người khác trả cho bà mà bớt xén đi cũng khiến bà gần như tê liệt, trơ lì, đến lúc bà phải bỏ ra, bà cũng gần như chẳng cần nghĩ ngợi mà tự động bớt xén bớt phần.
Nghe thấy tiếng gõ cửa, bà đi ra mở. Cúc Cầm đến trước.
"Ái chà, cửa nhà cậu vẫn cứ mộc mạc thế này cơ à!" Vừa vào phòng, Cúc Cầm đã hớn hở nói.
Cúc Cầm lúc nào cũng hớn ha hớn hở.
Đã lâu Cúc Cầm không tới chỗ Tưởng Doanh Ba. Trước khi gõ cửa, Cúc Cầm đã tìm nút bấm chuông điện, nhưng chẳng có. Tưởng Doanh Ba không lắp chuông, trên cửa cũng chẳng gắn mắt thần. Tưởng Doanh Ba ở căn hộ gian giữa, hàng xóm hai bên đều đã lắp cửa sắt chống trộm sơn màu xanh lam quý phái, chỉ riêng Tưởng Doanh Ba là không lắp. Điều này khiến Cúc Cầm lại một lần nữa cảm thấy, cuộc sống của Tưởng Doanh Ba ngày càng tạm bợ, qua quýt.
Căn hộ Tưởng Doanh Ba ở rất nhỏ. Thời nay có xây nhà tập thể cũng chẳng ai xây kiểu này nữa, tòa nhà này là sản phẩm của hai mươi năm trước. Kể ra thật chua xót, Tưởng Doanh Ba dọn vào căn hộ này mới chỉ bốn năm trước, điều kiện ăn ở trước kia của bà còn tệ hơn thế này!
Bao năm nay Tưởng Doanh Ba chưa từng gặp thuận lợi. Nói đúng ra là chẳng có việc gì suôn sẻ.
Cúc Cầm cũng có đủ nỗi trắc trở, nhưng tính toán bù trừ một hồi thì so với Tưởng Doanh Ba vẫn còn khá khẩm hơn vài phần.
Tưởng Doanh Ba đi pha trà cho Cúc Cầm, tiện thể thông báo trưa nay đãi món gà hầm cách thủy Vân Nam.
Cúc Cầm đứng giữa căn phòng lớn của căn hộ hai phòng này đảo mắt nhìn quanh. Chiếc tủ ghép thuộc loại tủ gỗ công nghiệp phổ biến nhất trần đời, những khoảng hở cũng chẳng bày biện đồ trang trí gì đặc biệt, món đồ đắt giá nhất trên đó có lẽ là chiếc ti vi màu mười bốn inch; một tấm ảnh chỉ vỏn vẹn bốn inch của người chồng quá cố Khuất Tấn Dũng được lồng trong khung gỗ sơ sài, đặt trên giá bày đồ lặt vặt của chiếc tủ ghép, bên cạnh là một chiếc bình chạm sơn nho nhỏ cắm một cành cúc khô con con, đó coi như là đồ bài trí nổi bật nhất trong phòng rồi. Giường vẫn là loại giường có tấm chắn đầu giường bằng nan gỗ mộc không chút trang trí, sô pha là loại sô pha da nhân tạo cấp thấp, đồ đạc ngoài ra chẳng qua chỉ có một chiếc tủ đầu giường bằng gỗ, một chiếc bàn trà mặt gỗ chân inox. Chỗ để sách trong tủ ghép cũng chẳng bày kín sách. Trên tủ đầu giường xếp một chồng báo chiều.
Tưởng Doanh Ba bưng trà ra. Nhà hiếm khi có khách tới, không chuẩn bị sẵn bộ ấm chén tươm tất, Tưởng Doanh Ba rửa sạch chiếc cốc giữ nhiệt Khuất Tấn Dũng dùng lúc sinh thời để Cúc Cầm tạm dùng, lại rửa thêm một chiếc cốc thủy tinh đợi lát nữa Băng Long Trân đến dùng.
Tưởng Doanh Ba và Cúc Cầm ngồi xuống nhìn nhau.
"Ái chà, cậu lại béo lên rồi đấy!" Tưởng Doanh Ba nói.
"Thật á?!" Cúc Cầm nghiêm túc hẳn lên. "Sao tớ luyện công giảm béo cả tháng trời mà chẳng thấy gầy đi tẹo nào nhỉ? Cậu thì đúng là gầy hơn so với lần trước gặp đấy, cậu giảm béo kiểu gì thế?"
"Công pháp giảm béo không được tập bừa đâu! Còn có cái gì mà 'bánh giòn giảm béo Khuê Khoa', rồi cái loại kem bôi giảm béo ti vi hay quảng cáo nữa, đều không được ăn bừa bôi bậy đâu! Thiết thực và khả thi nhất vẫn là một số phương thức rèn luyện giản đơn..." Tưởng Doanh Ba vừa nói vừa đứng dậy, đi lấy một cuốn sổ nhỏ trên tủ đầu giường. Trên đó dán rất nhiều mẩu tin cắt từ báo chiều cỡ bằng bìa đậu phụ, còn có vài đoạn ghi chép tay lúc bà vừa nghe đài vừa ghi lại. Bà đưa cuốn sổ nhỏ cho Cúc Cầm, bảo bà ấy xem trang nào bài nào, bản thân thì không quay về chỗ ngồi nữa mà đứng ngay giữa phòng, làm mẫu các động tác của bài thể dục giảm béo giản dị được giới thiệu trong bài viết kia...
Đó chính là giai điệu chủ đạo trong đời sống tinh thần và niềm vui sống của vị phó giáo sư về hưu Tưởng Doanh Ba.
2
Mối quan hệ giữa Tưởng Doanh Ba và Cúc Cầm không phải bình thường. Họ không chỉ đơn thuần là bạn học cũ.
Ở tỉnh Tứ Xuyên xa xôi cách xa kinh thành, nơi sông Trường Giang và sông Gia Lăng hội tụ, chính là thành phố núi Trùng Khánh. Vào ngày 1 tháng 10 năm 1949, khi Thiên An Môn ở Bắc Kinh tuyên bố "Chính phủ Nhân dân Trung ương đã thành lập", Trùng Khánh vẫn chưa được giải phóng. Nhưng khi ấy, các quan chức cấp cao của Quốc dân Đảng phần lớn đều đã bay sang Đài Loan, bộ máy chính quyền cũng đã tê liệt, thậm chí tự tan rã, xã hội nhất thời rơi vào trạng thái khoảng trống quyền lực. Vào ngày 2 tháng 9 năm ấy, Trùng Khánh xảy ra một trận đại hỏa hoạn, sau này gọi là "Trận đại hỏa hoạn ngày 2 tháng 9". Tương truyền là do đặc vụ Quốc dân Đảng phóng hỏa, "đội cứu hỏa" đến chữa cháy phun ra từ vòi rồng không phải nước dập lửa mà là dầu tiếp lửa, nhưng trên thực tế cũng rất có thể là một thảm họa ngẫu nhiên bộc phát giữa tình cảnh vô chính phủ của xã hội mà chẳng có ai thu dọn tàn cuộc. Cứ để mặc các nhà sử học viết sách địa chí Trùng Khánh tranh cãi về nguyên nhân trận hỏa hoạn ấy đi, số phận của mỗi cá nhân thường chẳng liên quan gì đến nguyên nhân biến cố, mà chỉ do kết quả của biến cố ấy định đoạt. Kết quả là gần nửa thành phố Trùng Khánh bị thiêu rụi, thê thảm nhất là khu vực bến tàu Triều Thiên Môn. Nhà Cúc Cầm nằm gần bến Triều Thiên Môn. Ngày hôm sau, khi Cúc Cầm xông vào vùng hỏa hoạn ngập tràn khói đặc và tàn lửa để tìm kiếm căn nhà và người thân, thì đã chẳng còn nhận ra phương hướng nào trong đống đổ nát là nhà mình nữa. Bà cũng giống như những người đi tìm kiếm khác, chẳng quản bỏng tay mà lật bới một lượt ở nơi ước chừng là nhà mình, rốt cuộc cũng không tìm thấy thi thể của cha mẹ. Bà chẳng nhớ nổi mình đã khóc lóc rời khỏi bãi cháy như chốn luyện ngục ấy bằng cách nào.
Cha của Cúc Cầm mở một tiệm dây gai nhỏ, ngôi nhà gỗ hai tầng theo kiểu gọi là "nhà sàn cheo leo", tức là một phần thân nhà nhô ra ngoài vách núi, dùng những cọc gỗ và thân tre dài chống đỡ phần sàn nhà lơ lửng ấy, tầng dưới làm cửa tiệm, tầng trên để ở. Ngôi nhà sàn ấy tuyệt đối không thể chịu nổi bà hỏa ghé thăm, mà dây gai cùng nguyên liệu làm dây đều là đồ dễ bắt lửa. Sau này Cúc Cầm phân tích thêm một cách đầy lý trí: Mẹ bà có đôi chân bó gót sen, chạy cũng chẳng chạy nổi, còn cha bà thì tuyệt đối không cam lòng vứt bỏ tiệm dây gai đã kinh doanh chật vật nhiều năm để thoát thân một mình. Huống hồ Cúc Cầm từng nhìn trộm thấy cảnh cha cạy vách tường giấu vàng thoi — vách tường đan bằng tre trát bùn ấy vốn có tầng rỗng ở giữa — cha bà nếu như cuống cuồng đi móc đống vàng thoi đó, hoặc gom góp của nải quý giá khác, thì chắc chắn cũng không kịp chạy thoát khỏi vùng hỏa hoạn, từ đó nếu không phải chết cháy trong nhà thì cũng chết cháy ở một xó xỉnh nào đó quanh vùng ấy rồi...
Cúc Cầm học ở trường trung học Thục Hương nằm ở một góc khác của thành phố. Đó là một trường trung học tư thục, học sinh có thể ở nội trú, học phí rất đắt đỏ, cha mẹ đã phải hạ quyết tâm rất lớn mới gửi bà vào học ở ngôi trường đó. Cúc Cầm hiểu rõ, dẫu cho ở khu vực Triều Thiên Môn bà tuyệt đối chẳng phải dân nghèo, nhưng bước chân vào trường Thục Hương, bà lại là một học sinh nghèo hiếu học đích thực xét về hoàn cảnh gia đình.
Tưởng Doanh Ba ở cùng ký túc xá với Cúc Cầm. Các bạn cùng phòng, cho đến các bạn nam nữ khác trong lớp, rồi thầy cô, thậm chí cả hiệu trưởng, đều vô cùng đồng cảm với biến cố của Cúc Cầm. Nhưng sự đồng cảm đó không thể nào là vô hạn mà chỉ có hạn độ ở các mức độ khác nhau. Học sinh gặp biến cố trong trận hỏa hoạn không chỉ có một mình Cúc Cầm, vả lại trong lòng mọi người lúc bấy giờ còn vương vấn nỗi mong đợi, tò mò hay mông lung, thậm chí cả sợ hãi trước tương lai — cuộc sống ắt sẽ xảy ra những đổi thay to lớn và dữ dội hơn nhiều so với một trận hỏa hoạn. Giữa dòng chuyển dịch của thời đại lớn, bi kịch của mỗi cá nhân bỗng hóa thành chuyện nhỏ bé không đáng kể.
Thế nhưng sau này Cúc Cầm lại bày tỏ rằng bà sẽ ghi ơn Tưởng Doanh Ba suốt đời, bởi vì bà cảm thấy chỉ có một mình Tưởng Doanh Ba dường như đã dành cho bà sự đồng cảm vô hạn, không hề bớt xén chút nào.
Tưởng Doanh Ba trước sau lại chẳng hề nhận công đức này.
Tưởng Doanh Ba nhớ lại, khi ấy mình chẳng qua chỉ khoác tay Cúc Cầm, chầm chậm đi hết vòng này đến vòng khác trên sân tập mà thôi. Bà nhớ mình hầu như chẳng nói câu an ủi đặc biệt nào, thậm chí có thể nói là bà chẳng nói câu nào cả. Sau này Cúc Cầm đã chứng thực đúng là như vậy. Những lời an ủi đọng lại trong ký ức của bà không có câu nào thốt ra từ miệng Tưởng Doanh Ba. Sau đó người ta phát động đợt quyên góp nho nhỏ cho bà, người phát động chẳng phải Tưởng Doanh Ba, người quyên góp nhiều nhất cũng chẳng phải Tưởng Doanh Ba. Phải rồi, Tưởng Doanh Ba chỉ đơn thuần khoác tay bà suốt mấy ngày liền, sóng bước bên bà, lẳng lặng đi hết vòng này qua vòng khác trên sân tập mà thôi.
Có lẽ, lúc con người ta bất hạnh, điều khao khát nhất chẳng phải lời lẽ ngon ngọt, cũng chẳng phải sự viện trợ vật chất, mà là có một người chịu khoác lấy cánh tay mình, kề vai lẳng lặng tiến về phía trước, dẫu cho bước đi ấy chẳng qua chỉ là đi vòng quanh mà thôi.
3
Còn ai nhớ được hình ảnh của Tưởng Doanh Ba và Cúc Cầm năm xưa nữa chăng?
Năm ấy họ là những thiếu nữ, vóc dáng mảnh mai, dung mạo tuy không tính là xuất chúng hơn người nhưng tuyệt đối như những đóa hoa vừa chớm nở. Sau Tết Dương lịch năm 1950, không lâu sau khi Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc tiến vào Trùng Khánh, họ cùng nhau đi tòng quân; cái gọi là tòng quân ấy là thi tuyển vào đoàn văn công của Quân Giải phóng. Họ đều trúng tuyển, nhưng sau đó Cúc Cầm đến nhận nhiệm vụ, còn Tưởng Doanh Ba lại không đi. Nguyên do bề nổi là cha bà, ông Tưởng Nhất Thủy, được cơ quan nhà nước mới ở Bắc Kinh điều động đến nhậm chức, cha mẹ muốn đưa bà cùng anh hai Tưởng Doanh Bình và em trai Tưởng Doanh Hải ra Bắc Kinh tiếp tục học hành; nguyên do sâu xa là tự thân Tưởng Doanh Ba không có hứng thú nồng nhiệt với những hoạt động biểu diễn như ca múa, đi thi văn công chẳng qua là bị cuốn theo trào lưu, thậm chí chỉ là đi cho Cúc Cầm có bạn mà thôi.
Cúc Cầm thì từ lúc đó đã trở thành một diễn viên văn công, sau này cũng ra Bắc Kinh, bước lên sân khấu tráng lệ nhất của thủ đô, còn nhiều lần theo đoàn ra nước ngoài biểu diễn. Dù bà chỉ hát trong đội hợp xướng, nhưng toàn thân bà toát ra một phong thái đĩnh đạc của một "người làm công tác văn nghệ". Em trai Tưởng Doanh Hải của Tưởng Doanh Ba từng có dạo vô cùng sùng kính bà, còn Tưởng Doanh Ba thì không ít lần bĩu môi bảo: "Thực ra hồi đó người ta thích tuyển chị hơn đấy chứ! Cúc Cầm thì có giọng hát gì đâu?!" Thỉnh thoảng Tưởng Doanh Ba cũng cảm thấy sự coi khinh này của mình có phần quá quắt, bèn bồi thêm: "Đương nhiên rồi, Cúc Cầm có khả năng xướng âm nhìn nốt rất cừ, bất kể xướng âm số hay ký âm năm dòng, đưa vào tay là bà ấy ngâm nga được ngay, cho nên đội hợp xướng lúc nào cũng giữ bà ấy lại, vả lại bà ấy hát được giọng trung, giọng trung khó tìm lắm, bà ấy dựa vào sở trường bè trung âm nữ mà hát một mạch mấy chục năm trời..."
Sau khi tình cờ gặp lại ở Bắc Kinh, Cúc Cầm thường xuyên lui tới nhà Tưởng Doanh Ba, cha mẹ Tưởng Doanh Ba liền chính thức nhận Cúc Cầm làm con gái nuôi, Tưởng Doanh Hải bèn gọi bà là chị Cầm.
Năm tháng tựa như một khúc ca đang cất lên, bất kể điệu nhạc ấy rộn rã hay bi ai, từng nốt nhạc nối đuôi nhau hiện ra rồi tan biến, chẳng biết từ lúc nào, khúc ca đời người đã hát quá nửa. Giờ đây Cúc Cầm đến nhà Tưởng Doanh Ba, hai người ngồi trên sô pha, chẳng ai mảy may nhớ lại chuyện năm xưa tay khoác tay đi vòng quanh sân tập trường trung học Thục Hương. Diện mạo của cả hai đều đã thay đổi quá nhiều. Tưởng Doanh Ba nói giảm béo có hiệu quả, nhưng nhìn rõ ràng vẫn là một bà lão xấp xỉ lục tuần mất hết eo ót, làn da vốn đã ngăm đen, nay lại càng thêm xỉn màu, chỉ có đôi mắt vẫn to và có thần như xưa, trên gò má vẫn còn vương sắc hồng hào; Cúc Cầm thì vẫn giữ được làn da trắng mịn thuở nào, nhưng đã phát tướng đến mức hơi đẫy đà, bà vốn mắt một mí, môi rất dày, chưa từng có nét yêu kiều mị hoặc, nhưng phàm là ai gặp bà cho đến tận bây giờ phần lớn đều cảm thấy bà ưa nhìn. Điều này phần lớn không bắt nguồn từ tướng mạo mà quyết định bởi phong thái của bà, mà cốt lõi phong thái của bà chính là nét hớn ha hớn hở dường như xuất phát tự nhiên từ trong tâm.
"Cậu đan cho ai thế này? Liệu Liệu hay Táp Táp?" Cúc Cầm hỏi.
Liệu Liệu là con trai Tưởng Doanh Ba, Táp Táp là con gái.
"Tụi nó á?" Tưởng Doanh Ba lắc đầu. "Đương nhiên là cho tớ rồi. Tụi nó chẳng thèm đâu, đan xong đem dâng tận mắt chúng nó cũng không lấy!"
"Ừ nhỉ, bọn trẻ bây giờ chuộng mua áo mốt may sẵn. Cậu đan bằng len gì thế?" Cúc Cầm đưa tay ra sờ.
Thế là hai người tán gẫu một hồi về len, ưu khuyết điểm của len Úc, nhược điểm của len mohair, cách gầy mũi và chiết mũi của kiểu tay áo cánh dơi, cách phối màu cùng hoa văn, vân vân.
"Phải rồi, cái áo len người ta gửi cho cậu..." Tưởng Doanh Ba làm bộ mặt trách bản thân đãng trí, đứng dậy đi ra tủ ghép lấy món đồ đã gắn kết họ lại với nhau ngày hôm nay.
Tổ bộ môn trước kia của Tưởng Doanh Ba có một phó giáo sư sang Đức tham gia một hoạt động học thuật, trong hoạt động ấy có làm quen với một đồng nghiệp người Đức gốc Hoa. Vị đồng nghiệp đó mời ông về nhà đãi cơm một bữa, lúc trò chuyện đôi bên bỗng thấy sao mà lắm chuyện trùng hợp thế, quả là thế giới thật nhỏ bé, bởi vì vợ của vị đồng nghiệp đó chính là em họ của người chồng hiện tại của Cúc Cầm, từng theo chồng về Trung Quốc, từng ăn cơm ở nhà Cúc Cầm, vả lại lần đó Cúc Cầm còn đặc biệt mời Tưởng Doanh Ba tới giúp quán xuyến bữa tiệc gia đình. Người phụ nữ ấy giữ ấn tượng rất tốt đẹp về chị dâu họ Cúc Cầm và Tưởng Doanh Ba, cho nên khi người đồng nghiệp cũ của Tưởng Doanh Ba về nước, cô em họ của chồng Cúc Cầm liền nhờ ông mang về cho Cúc Cầm và Tưởng Doanh Ba mỗi người một chiếc áo len. Áo len đương nhiên để ở chỗ Tưởng Doanh Ba trước, Tưởng Doanh Ba bèn gọi điện báo cho Cúc Cầm lúc nào tiện thì ghé lấy. Lúc Cúc Cầm nghe điện thoại, vừa vặn có một bạn học cũ khác thời Thục Hương là Băng Long Trân đang ở nhà bà. Băng Long Trân là người thích giao thiệp, ham làm khách nhất trần đời, liền ghi nhớ ngày giờ Cúc Cầm và Tưởng Doanh Ba hẹn nhau, miệng bảo cũng muốn tới góp vui.
Tưởng Doanh Ba lấy cả hai chiếc áo len ra. Áo được bọc trong túi bóng kính, dán băng dính niêm phong, bên trong kẹp một tấm thiệp ghi rõ chiếc nào tặng cho ai.
Chiếc tặng cho Tưởng Doanh Ba màu vàng ngỗng. Cúc Cầm hỏi: "Sao cậu vẫn chưa mở ra mặc thử? Không thích màu này à? Trẻ quá phải không?"
Tưởng Doanh Ba lộ vẻ mặt chẳng thèm nhận ơn cũng chẳng hiếm lạ gì: "Chắc cô ấy nhớ nhầm tuổi của tớ rồi, không thì cũng là nhớ nhầm Thường Thường nhà cậu thành tớ..."
Thường Thường là con gái lớn của Cúc Cầm.
"Với lại cái áo này của tớ nhìn qua là biết không phải len nguyên chất..."
Cúc Cầm đã sớm quen với tính khí cay nghiệt và lạnh lùng của Tưởng Doanh Ba từ khi bước vào tuổi trung niên, bà chỉ bóc ra lấy chiếc áo của mình giũ ra ngắm nghía. Đó là một chiếc áo mốt thời thượng được tạo nên từ bốn mảng màu bất quy tắc đen, lam, xám, đỏ. Nhìn mác vải ở cổ áo có thể thấy chỉ có ba mươi phần trăm thành phần lông cừu, còn lại là sợi hóa học và nilon. Bà cười khà khà bảo: "Tớ mặc lên trông cũng điệu đà ra phết đấy chứ!"
"Cậu thử xem nào, khéo lại chẳng đủ rộng rãi, cậu mặc vào lại bó chẽn lấy người cho xem!"
"Không, không đâu," Cúc Cầm lại gấp chiếc áo len lại, nhét vào túi bóng kính.
"Cho Thường Thường mặc à?"
"Nó á, nó cũng chẳng được mặc," Cúc Cầm thẳng thắn nói, "Chiếc áo hợp mốt phương Tây này tới thật đúng lúc, tớ đang rầu rĩ không biết tặng người ta cái gì đây — cậu biết đấy, chuyện Thường Thường liên hệ đi nước ngoài hoàn toàn nhờ một giáo sư từng dạy nó giúp đỡ, chiếc áo len này phải đem tặng phu nhân giáo sư..."
"Chỉ có điều cậu đừng nói rõ ngọn ngành lai lịch quá," Tưởng Doanh Ba vừa ngồi lại sô pha đan len, vừa dội gáo nước lạnh vào hứng khởi của Cúc Cầm, "Kẻo vị giáo sư đó với vợ ông ta lại thắc mắc, cậu có bà con ở nước ngoài, sao bà con không giúp liên hệ, lại phải đi cầu xin ông ta?"
Đây quả thực là một nỗi niềm khó nói của Cúc Cầm. Nhưng Cúc Cầm không tiếp lời Tưởng Doanh Ba. Nếu không phải thật lòng thì bà cũng đã thể hiện vô cùng thành công vẻ chẳng bận tâm, vô tâm vô tính. Bà cũng ngồi lại sô pha, chuyển hướng hỏi: "Chiếc áo kia cậu không thích thì để cho Táp Táp mặc đi!"
Tưởng Doanh Ba ngừng tay đan để đếm mũi. Giờ thì đến lượt bà bị chạm vào nỗi niềm khó nói.
Trong bếp truyền ra tiếng nắp nồi cách thủy nhảy lạch cạch, một làn hương thơm ngào ngạt của nước dùng gà bay tới. Tưởng Doanh Ba bật dậy đi vào bếp xử lý chiếc nồi. Cúc Cầm nhấp một ngụm trà, trong lòng thầm thấy mùi thơm của món gà hầm cách thủy dẫu sao cũng bù đắp lại được nét cay nghiệt và lạnh lùng mà Tưởng Doanh Ba vừa để lộ ra.
Có người gõ cửa rất mạnh. Chẳng cần nói cũng biết là Băng Long Trân đã tới.
4
Mãi cho đến lúc nhả ra một bàn đầy xương gà, buổi hội ngộ hiếm hoi của ba người phụ nữ từng là bạn học năm xưa nay đã ngoại ngũ tuần vẫn chưa hé lộ chút thi vị nào.
Chẳng ai trong số họ nhắc tới những chuyện năm xưa ở trường Thục Hương, dẫu cho những chuyện dĩ vãng ấy có biết bao điều chẳng khác nào những vần thơ thanh xuân sống động.
Chẳng ai trong số họ nhắc tới những cảnh tượng họ gặp gỡ nhau ở Bắc Kinh vào đầu thập niên năm mươi. Khi ấy Cúc Cầm nhận cha mẹ Tưởng Doanh Ba làm cha mẹ nuôi nên hễ được nghỉ là đến nhà họ Tưởng; Băng Long Trân sau khi tốt nghiệp một trường đại học ở vùng ngoại ô phía tây làm trợ giảng cũng thường ghé qua; Tưởng Doanh Ba và Cúc Cầm cũng từng đến trường đại học ở ngoại ô phía tây đó tìm Băng Long Trân; họ cũng từng cùng nhau dạo Di Hòa Viên, leo Hương Sơn; trong những năm tháng ấy, chỉ riêng những lời thầm thì giãi bày chuyện yêu đương của mỗi người thôi cũng đã là những chuỗi thi từ thơm ngát.
Những biến cố sau này của họ rất khác nhau. Những bước ngoặt lớn đôi bên đều nắm rõ. Nhưng ngày hôm ấy, cho đến khi ăn sạch nồi thịt gà, húp cạn nước canh, họ cũng chẳng hề đụng chạm tới những chuyện năm xưa.
Chuyện gần đây họ cũng gần như không bàn tới.
Tưởng Doanh Ba góa bụa mới hơn một năm. Vợ chồng Băng Long Trân khỏe mạnh thuận hòa; Cúc Cầm mất chồng mười năm trước, hai năm trước mới tái giá, người bạn đời hiện tại là một kỹ sư cao cấp chưa từng kết hôn trước đó; Băng Long Trân và Cúc Cầm đều cố gắng tránh nói về chồng mình, cũng cố né tránh nhắc tới người chồng quá cố Khuất Tấn Dũng của Tưởng Doanh Ba — dẫu cho họ đều rất quen thuộc với ông; đương nhiên họ cũng tuyệt đối không dại dột đặt ra vấn đề Tưởng Doanh Ba sau này sẽ ở vậy một mình suốt đời hay tìm một người bạn già nữa để cùng nhau thảo luận, điều đó dù sao vẫn còn quá sớm.
Tưởng Doanh Ba đã về hưu. Nhà trường không mời giảng lại, chuyên ngành của bà nhất thời cũng khó tìm được ngả đường kiếm tiền phù hợp. Trong khi đó Băng Long Trân tuy cũng là phó giáo sư về hưu nhưng đã kiếm được chân cố vấn béo bở cho một doanh nghiệp hương trấn, thu nhập rất khá. Cúc Cầm vì cả đời cống hiến cho sự nghiệp hợp xướng của đoàn văn công nên không có chức danh cao cấp gì, nhưng sau khi nghỉ hưu bà vẫn tham gia hoạt động của đoàn hợp xướng cựu chiến binh, tiền làm thêm tuy không có nhưng sự nghiệp dường như vẫn tiếp diễn, tâm lý có một cảm giác đủ đầy. Đã trong tình cảnh như thế, Băng Long Trân và Cúc Cầm đứng trước mặt Tưởng Doanh Ba cũng không nhắc tới các hoạt động riêng của mình, đồng thời cũng không hỏi han gì ngoài chuyện sinh hoạt thường nhật của Tưởng Doanh Ba.
Con trai Băng Long Trân đã đi du học tự túc ở Mỹ, con gái ở lại Bắc Kinh, nghề nghiệp cũng đàng hoàng. Hai cô con gái của Cúc Cầm thì đứa lớn đang làm thủ tục xuất ngoại, đứa nhỏ làm nhân viên bán hàng ở cửa hàng văn vật thu nhập cũng chẳng hề ít ỏi. Thế nhưng con trai và con gái Tưởng Doanh Ba đều chẳng dính dáng gì đến chuyện ra nước ngoài, nghề nghiệp dường như cũng không lý tưởng. Vì thế Băng Long Trân và Cúc Cầm cũng cố gắng hết sức không đụng tới đề tài tiền đồ của con cái.
Chồng Băng Long Trân hiện đã thăng lên chức vụ cấp Cục, sống trong căn hộ lớn bốn phòng một sảnh. Cúc Cầm cũng ở căn hộ ba phòng một sảnh. Duy chỉ có Tưởng Doanh Ba vẫn ở trong căn hộ nhỏ cũ kỹ hai phòng này. Khi chồng bà là Khuất Tấn Dũng còn sống, con cái đều đã lớn, anh em trai gái bất tiện ở chung một phòng, đành phải "gom các phần tử cùng loại", cha con ở chung một phòng, mẹ con ngủ chung một giường, gây ra biết bao mâu thuẫn gia đình, thậm chí chuyện Khuất Tấn Dũng đột quỵ qua đời sớm thì không gian chật hẹp cũng là một trong những nguyên nhân gián tiếp. Tưởng Doanh Ba và Khuất Tấn Dũng đều là cán bộ nhà nước công tác nhiều năm, vấn đề nhà ở bao năm không giải quyết thỏa đáng, chuyện này kể ra thì dài dòng, dẫu cho Khuất Tấn Dũng đã qua đời, tình trạng cư trú của Tưởng Doanh Ba cùng con trai Liệu Liệu và con gái Táp Táp vẫn thua xa những gia đình tiểu khang bình thường. Do đó, dẫu cho Băng Long Trân và Cúc Cầm cùng chen chúc với Tưởng Doanh Ba ở gian tiền sảnh chật hẹp ăn gà hầm cách thủy cảm thấy vô cùng gò bó, nhưng cũng chỉ khen ngợi hương vị thịt gà và nước dùng, còn đề tài nhà ở thì cẩn thận né tránh. Họ thừa hiểu rằng việc tỏ ra hết sức đồng cảm cộng thêm bất bình thay cũng chẳng thể giải quyết được khó khăn thực tế của Tưởng Doanh Ba.
Không có chút thi vị nào.
Lại còn giống như đang nhón chân bước đi trên mặt sàn la liệt những chai dầu, phải cẩn thận vòng qua những chiếc chai nhạy cảm ấy mà vẫn phải tỏ ra thoải mái tự nhiên.
Thế là bèn nói chuyện vật giá. Bàn chuyện hàng giả bay đầy trời. Bàn chuyện thái độ phục vụ mãi chẳng thấy tiến bộ của nhân viên bán hàng, đưa ra ví dụ thực tế để chứng minh mình khiêm tốn lịch sự nhường nào mà bọn họ vẫn cứ túm năm tụm ba buôn chuyện trong quầy hàng.
Rồi bàn về các chương trình truyền hình gần đây. Nhất trí cho rằng đêm hội đón xuân đúng là làm người ta thất vọng. Rồi nổ ra tranh luận về một bộ phim truyền hình nhiều tập mới phát sóng gây chấn động gần đây, Tưởng Doanh Ba thấy thú vị, Cúc Cầm bảo bà chịu không nổi, còn Băng Long Trân thì trầm trồ khen ngợi với giọng điệu kỳ quặc.
5
Đến khi lại cùng ngồi trên sô pha ở gian phòng lớn hàn huyên, Băng Long Trân hai tay vuốt lại mái tóc, hỏi Cúc Cầm và Tưởng Doanh Ba: "Làm kiểu này thấy thế nào?"
Kiểu tóc đó đang khá thịnh hành lúc bấy giờ, mái tóc kết hợp với khuôn mặt tạo thành hình kim tự tháp. Cúc Cầm ngay lúc Băng Long Trân vừa bước vào cửa đã thuận miệng khen ngợi, còn Tưởng Doanh Ba tới nay vẫn chỉ vào hiệu cắt tóc quốc doanh cắt tóc chứ chưa từng bước chân vào tiệm uốn tóc tư nhân, vả lại cũng lười bình phẩm kiểu tóc của người khác. Hai tay bà không ngừng đan len, ngước mắt nhìn Băng Long Trân một cái, chẳng nể nang chút nào mà nói: "Xấu. Không hợp với cái tuổi này của chúng mình. Càng không hợp với dáng mặt của cậu."
Cúc Cầm hớn hở đưa tay xoa những lọn tóc uốn sóng bóng mượt sau khi hấp dầu đang bồng bềnh xòe ra của Băng Long Trân, nói đỡ: "Long Trân càng sống càng trẻ ra đấy chứ, vận may đến rồi mà!"
Băng Long Trân có khuôn mặt chữ điền, mắt không nhỏ hơn Tưởng Doanh Ba, nhưng Tưởng Doanh Ba hốc mắt sâu còn bà thì mắt hơi lồi như mắt cá vàng. Da dẻ bà vốn dĩ khá thô ráp, sau khi trải qua những quy trình thẩm mỹ phức tạp thì lại khá trắng trẻo, lông mày kẻ hơi đậm, son môi thoa hơi nhạt, tổng thể mà nói vẫn tương đối tao nhã. Nhưng khóe miệng bà không hiểu sao lúc nào cũng hơi trễ xuống, trên mặt luôn phảng phất một vẻ hoảng sợ khó lòng tan biến, dẫu cho hơn mười năm nay bà quả thực đã đổi vận may mắn, thì nét mặt ngầm được tôi luyện qua những năm tháng dĩ vãng kia cũng chẳng thể nào phai nhạt đi được nữa.
"Ừ, mấy năm nay tớ quả thực thoải mái hơn các cậu!" Băng Long Trân vươn vai một cái — vòng eo ấy cũng chẳng còn thon thả nữa — rồi bàn luận: "Có lẽ, số phận con người đúng là một hằng số, những năm đầu cậu chịu thiệt thòi quá nhiều thì những năm sau sẽ bù lại cho cậu một ít; đằng trước nếu cậu quá thuận lợi thì đằng sau sẽ hành hạ cậu một phen; bằng không thì cứ một họa một phúc san sát nhau mang lại cho cậu chút gập ghềnh nhỏ, chút cân bằng nhỏ... Nhưng đến cuối cùng thì số mệnh của một người cũng chỉ có ngần ấy thôi, đáng bao nhiêu thì là bấy nhiêu, cậu muốn đòi thêm cũng chẳng được, cậu sợ mất nhiều thì thực ra cũng chẳng mất ra ngoài con số đã định sẵn... Mọi sự đều do trời định, trong cõi u minh ắt có chủ tể, bây giờ tớ tin vào điều này!"
"Thật thế ư?" Cúc Cầm không nắm bắt rõ khái niệm "hằng số" cho lắm, nhưng nghe thấy thú vị, mơ hồ cảm thấy bản thân mình dường như cũng nằm trong quy luật này.
Tưởng Doanh Ba cũng giống như Băng Long Trân đều học khối tự nhiên kỹ thuật, đương nhiên hiểu được chuẩn xác hơn cách diễn đạt của luận điểm vĩ mô kể trên. Dẫu vẫn cắm cúi đan lát, bà vẫn không kìm được mà nói: "Thế trường hợp của tớ thì tính thế nào?"
Thế là cuộc trò chuyện của họ rốt cuộc đã "va đổ chai dầu".
Phải rồi, Tưởng Doanh Ba kể từ sau khi tốt nghiệp đại học đến nay đã thuận lợi được bao nhiêu? Kể từ sau "Cách mạng Văn hóa", bà lại càng liên tiếp gặp vận rủi; ngay cả mười năm gần đây cũng chẳng giống như nhiều trí thức cùng thế hệ đại thể đều ở trong trạng thái đi lên dốc, bà đã lận đận suốt hơn hai mươi năm trời, chẳng lẽ, số phận sẽ bù đắp thật lớn cho bà sau tuổi sáu mươi? Nhưng lúc đó bà đã là một bà lão già nua đích thực, dẫu cho phúc đến hỷ về thì rốt cuộc còn có bao nhiêu ý vị?
Băng Long Trân và Cúc Cầm nhất thời không biết đáp lại thế nào.
Tưởng Doanh Ba ngước mắt nhìn di ảnh của người chồng quá cố Khuất Tấn Dũng trên tủ ghép, lại cúi đầu đan len, nhưng rồi lại không kìm được mà nói: "Thế trường hợp của ông ấy thì lại tính thế nào?"
Khuất Tấn Dũng là do Cúc Cầm giới thiệu cho Tưởng Doanh Ba, từng là diễn viên văn công quân đội, Băng Long Trân cũng quen biết, xuất thân công nông, chất phác thật thà, cả đời chưa từng làm chuyện gì trái với lương tâm, nhưng một năm trước ông chết rất thảm thương — sau khi đột ngột bị huyết khối não đa ổ, ông liền bại liệt toàn thân, mất khả năng ngôn ngữ, nhưng lại không phải người thực vật. Ở trong bệnh viện chịu đựng sự hành hạ suốt một mùa hè, một người đàn ông vạm vỡ cuối cùng teo tóp lại thành một bộ xương bọc da giống hệt như những nạn nhân chết đói ở Ethiopia từng đăng trên họa báo, trên người mọc ra mấy vết loét tì đè to bằng cái bát, sau khi toàn bộ sinh lực bị vắt kiệt từng chút từng chút một, mới rốt cuộc qua đời. Phải rồi, nếu như số phận con người thực sự là một hằng số được định sẵn, vậy thì, Khuất Tấn Dũng cả đời chưa từng làm điều khuất tất cũng chẳng hề hưởng thụ phúc phần gì, cớ sao lại an bài cho ông một quá trình chết đi như một cuộc tra tấn tàn khốc kéo dài?
Cúc Cầm thở dài một tiếng. Bà không biết nên nói câu gì cho phải. Bà nghĩ bụng không nên nói những lời này nữa, hằng số với chẳng không hằng số.
Băng Long Trân cũng không muốn khơi gợi thêm nhiều liên tưởng đau lòng của Tưởng Doanh Ba. Bà vội vàng chuyển đổi đề tài: "Đời người thực ra càng tràn ngập nhiều biến số hơn. Có những biến số bộc phát, lập tức thay đổi chiều hướng của cuộc đời. Có những biến số sượt qua vai, sau này ngoảnh đầu nghĩ lại, thật chẳng biết rốt cuộc là mình đã bỏ lỡ điều gì, hay là đã tránh thoát được điều gì..."
Tưởng Doanh Ba chỉ cắm cúi đan len, động tác của hai bàn tay đều có phần dùng sức quá mức.
"Ví dụ như," Băng Long Trân cười, "Doanh Ba này, chẳng phải tớ suýt chút nữa đã trở thành chị dâu hai của cậu sao?"
Năm xưa, Băng Long Trân suốt ngày chạy sang nhà họ Tưởng, cha mẹ Tưởng Doanh Ba quả thực từng cân nhắc muốn vun vén chuyện hôn sự giữa anh hai Tưởng Doanh Công của Tưởng Doanh Ba với Băng Long Trân. Nhà họ Tưởng tự mình đứng ra tác thành thì ngại, bèn nhờ chị họ của Tưởng Doanh Ba — cũng là em họ của Tưởng Doanh Công — là Điền Nguyệt Minh đứng ra dàn xếp. Điền Nguyệt Minh năm đó cũng học ở trường Thục Hương, với Băng Long Trân và Cúc Cầm đều là bạn học, đầu thập niên năm mươi sau khi tốt nghiệp đại học cũng ra Bắc Kinh làm việc trong một viện thiết kế, đương nhiên cũng thường xuyên lui tới nhà cậu mợ. Ấn tượng rực rỡ sắc màu của quãng năm tháng ấy vừa vặn có thể dùng tên tác phẩm đầu tay của nhà biên kịch điện ảnh trẻ Trương Huyền năm ấy để khái quát: Những năm tháng gấm hoa.
Băng Long Trân vừa nhắc tới đoạn quá khứ này, dòng suy nghĩ vốn có của Tưởng Doanh Ba quả nhiên bị phân tán. Bà ngước mắt nhìn Băng Long Trân một cái, cộc lốc bảo: "May mà chuyện của cậu với anh hai không thành!"
Cúc Cầm lại vô tâm vô tính nói: "Đâu có! Hồi đó mọi người muốn gán tớ với anh hai đấy chứ..."
Băng Long Trân và Tưởng Doanh Ba đều nhìn bà.
"Tớ biết anh hai đối xử với tớ rất tốt, mọi người đều đối xử tốt với tớ... Nhưng hồi đó, các cậu có biết vì sao tớ không đón lấy quả bóng này không? Anh hai mãi không vào Đảng, cả nhà cậu chẳng có ai là đảng viên cả, hồi đó tớ không thể nào lấy người ngoài Đảng được, đâu chỉ là không thể lấy người ngoài Đảng, tớ còn tuyệt đối không tính tới chuyện lấy người ngoài quân đội cơ... Khà khà khà, thực ra, các cậu biết đấy, hồi đó chính bản thân tớ cũng đã vào Đảng đâu!"
Chuyện này cũng chẳng phải bí mật gì, đều dễ hiểu cả, chỉ là chưa từng nghe Cúc Cầm nói ra một cách thẳng thắn như thế bao giờ mà thôi.
"... Nghĩ lại đúng là như một giấc mơ," Cúc Cầm nói tiếp, "Hồi đó tớ có nằm mơ cũng không nghĩ tới, ngay cả mấy năm đầu sau khi Diên Mậu qua đời tớ cũng chưa từng dự liệu được, bây giờ tớ lại có thể sống cùng một chỗ với Hách Hoành Thanh..." Thường Diên Mậu là người chồng đã khuất của Cúc Cầm, năm xưa cũng là diễn viên đoàn văn công, vào Đảng từ rất sớm, là đồng đội cũ của người chồng quá cố Khuất Tấn Dũng của Tưởng Doanh Ba, trước khi kết hôn từng ở chung một phòng ký túc xá suốt thời gian dài. Hách Hoành Thanh là người bạn đời hiện tại của Cúc Cầm, xuất thân từ gia đình đại tư bản, lai lịch bản thân cũng tương đối phức tạp, sau năm 1949 lận đận gần ba mươi năm, đương nhiên là quần chúng ngoài Đảng, tới nay cũng chẳng có yêu cầu xin vào Đảng, người mập mạp, ra ngoài ắt phải âu phục giày da tề chỉnh, ở nhà thích tự làm chút đồ tây để ăn. Trong ấn tượng của Tưởng Doanh Ba và Băng Long Trân, ông là một người đàn ông hiền lành dễ tính, tuyệt đối không đoái hoài chuyện chính trị mà lại rất sành sỏi nghệ thuật sống. Quả thực, thật chẳng ai ngờ quỹ đạo cuộc đời nửa sau của Cúc Cầm lại trùng khớp với ông, hơn nữa họ sống với nhau còn khá là hòa thuận.
"Đấy là trong lòng cậu không bằng lòng," Băng Long Trân nói với Cúc Cầm, "Hồi đó tớ có ý với anh hai thật đấy, anh hai tốt lắm, điều duy nhất khiến tớ đắn đo chỉ là tuổi tác của anh ấy, lớn hơn tớ năm tuổi, hơi nhiều quá... Sau đó thì chính tớ xảy ra chuyện," nói đến đây, nét mặt kinh hoàng tiềm ẩn trên gương mặt Băng Long Trân lại lộ rõ ra ngoài, bà mím chặt môi, khóe miệng trễ xuống, khiến người ta không nỡ nhìn.
Tưởng Doanh Ba cúi đầu đan lát không nhìn bà. Cúc Cầm thở dài một tiếng. Đúng lúc Điền Nguyệt Minh đang bắc cầu Ô Thước cho người anh họ thứ hai và Băng Long Trân thì bước vào phong trào Chống phái hữu, Băng Long Trân vì có phát biểu phái hữu trong đợt tranh luận ở trường đại học nên bị chụp mũ phần tử phái hữu, từ đó bà rơi xuống đáy xã hội, kéo dài đằng đẵng suốt hai mươi năm trời...
"Hồi đó, tớ mới hai mươi ba tuổi." Nét mặt lộ rõ trên gương mặt Băng Long Trân run rẩy, "Mới có hai mươi ba tuổi thôi đấy..."
Tưởng Doanh Ba đặt món đồ đang đan dở trong tay xuống, đứng dậy đi vào bếp xem nước đã sôi chưa. Ấm còi chưa kêu, nhưng ước chừng sắp sôi rồi.
Lúc Tưởng Doanh Ba từ bếp trở ra, Cúc Cầm đã đang nói chuyện giảm béo với Băng Long Trân, nét mặt kinh hãi trên mặt Băng Long Trân lại nhạt đi, ẩn khuất đi, trở thành một nét biểu cảm ngầm.
Tưởng Doanh Ba vừa nghe thấy chuyện giảm béo liền đưa cuốn sổ nhỏ dán những mẩu tin cắt từ báo và ghi chép kiến thức nghe trên đài cho Băng Long Trân, rồi cũng không ngồi lại sô pha đan áo nữa, mà giống như lúc Cúc Cầm mới đến, lại làm mẫu cho Băng Long Trân xem bài thể dục giảm béo giản dị mà ngày nào bà cũng phải tập mấy lượt kia.