1
Anh vẫn còn nhớ như in một cảnh tượng mười mấy năm trước ở vùng ngoại ô phía Nam: đoàn toa xe kín chở đầy cừu sống men theo tuyến đường sắt chuyên dụng chạy chầm chậm vào ga riêng của xưởng liên hợp thịt, tàu vừa dừng lại thì chẳng mấy chốc đã có người kéo toang từng cánh cửa sắt ra. Thế là, từng đàn cừu ngơ ngác không hề hay biết gì cứ thế tự động chen chúc ùa ra khỏi toa xe. Dưới sự xua đuổi của những người khác, chúng men theo lối đi có hàng rào sắt rào quanh mà lao về phía một nhà kho rộng lớn — ở nơi đó chúng cùng lắm chỉ ở lại một đêm, sau đó sẽ lần lượt bị đưa đi mổ thịt.
Vào giữa thập niên 80 xuất hiện một nhà văn có ngòi bút tuyệt đẹp tên là A Thành, từng viết một bài tản văn vang bóng một thời, kể về chuyện nhìn thấy đàn cừu bị xua từ ngoài ải vào tận phía ngoài cửa Đức Thắng ở phía bắc thành phố để chịu làm thịt, khi nghĩ đến việc những con cừu đó thế mà lại tự mang cả thân thịt của mình vượt mấy trăm dặm đường xa xôi ngàn dặm đến tận lò mổ mà chẳng khiến con người phải tốn phí phương tiện chuyên chở, ông bất giác buồn từ đáy lòng trào dâng, thảng thốt suy tư khôn nguôi.
Nhưng mười mấy năm trước khi anh tận mắt chứng kiến những đàn cừu đó, lại hoàn toàn không có những liên tưởng bi thương như vậy. A tỷ của anh, anh rể Khuất Tấn Dũng, cháu trai Khuất Liệu và cháu gái Táp Táp, chắc chắn cũng không có. Họ nhìn thấy cảnh tượng đó thậm chí còn vô cùng vui vẻ.
Những con "cừu đi bộ" ở phía bắc thành phố có lẽ sẽ bị phân tán ra để mổ thịt theo lối cũ vô cùng tàn nhẫn, còn những con "cừu đi xe" ở phía nam thành phố này lại dùng phương thức hiện đại hóa, treo ngược lên rồi theo thứ tự giật điện cho mất tri giác trước, sau đó mới bị pha thịt một cách "khoa học", vô cùng "nhân đạo theo kiểu loài cừu"... Khi anh cùng A tỷ và anh Dũng đi tham quan phân xưởng giết mổ của xưởng liên hợp thịt ấy, anh đã rất đỗi tự hào về sự tiến bộ kỹ thuật của thời đại mới.
Họ vui mừng, xét đến cùng, đương nhiên chẳng phải vì cừu thịt được mùa hay kỹ thuật mổ thịt tiến bộ, mà là vì sau nhiều năm ròng rã đầy bôn ba và bất an trong "Cách mạng Văn hóa", gia đình A tỷ cuối cùng đã trở về lại Bắc Kinh.
Ở đoàn văn công quân đội đó, vợ chồng Cúc Cầm, Thường Diên Mậu, cùng với Khuất Tấn Dũng, vốn là những thành viên rất an phận thủ thường. Nhưng giữa những cơn sóng gió chính trị khôn lường khó lòng nắm bắt cũng chẳng thể trốn tránh, trong cái gọi là sự kiện "13 tháng 5", họ đều đã đứng sai hàng ngũ. Cái gọi là sự kiện "13 tháng 5", chính là vào ngày 13 tháng 5 năm 1967, một bộ phận thành viên đoàn văn công trong quân đội biểu diễn đêm hòa nhạc quy mô lớn mang tên "Trường Chinh tổ ca" do tướng quân Tiêu Hoa phổ lời tại rạp hát Nhà triển lãm Bắc Kinh, trong khi một bộ phận thành viên đoàn văn công khác, dưới sự ám chỉ hoặc chí ít là mặc nhận của chính tướng quân Tiêu Hoa, đã xông vào phá rối hiện trường buổi diễn, không cho họ diễn thành công, kết quả hai bên biến thành ẩu đả vũ lực. Xung đột giữa hai phái tổ chức quần chúng bên trong đoàn thể văn nghệ quân đội ấy đã nhanh chóng được Phó Chủ tịch Lâm Bưu khi đó cùng các thành viên "Tổ Cách mạng Văn hóa Trung ương" như Giang Thanh đưa ra phán quyết, họ phán định phe biểu diễn là "Phái cách mạng vô sản tam quân", còn phe phá hoại buổi diễn là những kẻ phạm sai lầm bị "một nhúm kẻ xấu" giật dây thao túng. Cứ thế, chẳng bao lâu sau, gia đình Cúc Cầm và gia đình anh Dũng lần lượt bị đoàn văn công điều đi cơ sở, nhà Cúc Cầm về Giang Tây, Cúc Cầm và Thường Diên Mậu đều được phân công làm cán sự tại ban tuyên truyền của một cơ quan quân đội ở Nam Xương, còn anh Dũng thì bị đày một mạch xuống binh đoàn sản xuất xây dựng đảo Hải Nam, nhưng cũng cho anh một chức phó đội trưởng đội tuyên truyền văn nghệ binh đoàn, A tỷ thì dạy học ở một trường kỹ thuật trực thuộc binh đoàn. A tỷ không thể thích nghi với cuộc sống ở đảo Hải Nam, trong tâm lý mãi không sao hòa nhập nổi với mảnh đất hải đảo bốn bề là biển cách biệt khỏi đại lục, bèn năm lần bảy lượt đòi anh Dũng nghĩ cách chuyển công tác rời khỏi đảo Hải Nam, trở về đại lục — đi đâu cũng được, miễn sao đừng có hễ cứ nằm xuống ngủ là luôn cảm thấy bên ngoài căn nhà bốn phía đều là biển nước mênh mông... Về sau tìm đủ mọi cách nhờ cậy quan hệ, cuối cùng cũng chuyển được về Trạm Giang, rồi lại chuyển đến Triệu Khánh. Khi ở Triệu Khánh, họ vạn lần không ngờ Lâm Bưu lại tự mình tạo ra một sự kiện "13 tháng 9", Lâm hoảng loạn tháo chạy, cùng vợ con rơi máy bay chết tan xác ở Öndörkhaan bên Mông Cổ, những thân tín của Lâm, nào là Hoàng Vĩnh Thắng, nào là Ngô Pháp Hiến... thảy đều trở thành tội nhân. Thế là, "Phái cách mạng vô sản tam quân" từng được Lâm và đám thân tín nâng đỡ năm xưa bỗng chốc mất giá, còn tướng quân Tiêu Hoa lại được phục chức, vì thế tội danh của phe từng phá rối buổi diễn trong sự kiện "13 tháng 5" năm xưa cũng chẳng còn thành lập được nữa. Cứ như vậy, những văn công viên từng bị điều đi cơ sở vì đứng sai hàng trong sự kiện "13 tháng 5" bèn thi nhau yêu cầu "bình phản", yêu cầu được về lại Bắc Kinh. Nhà Cúc Cầm chẳng đợi tới lúc "bè lũ bốn tên" sụp đổ đã về được Bắc Kinh, "bè lũ bốn tên" vừa đổ, vợ chồng anh Dũng, A tỷ nỗ lực tranh đấu, lại được Cúc Cầm và Thường Diên Mậu hết lòng giúp đỡ, thế là vào đầu thu của mười mấy năm về trước, cuối cùng họ cũng được toại nguyện.
Anh Dũng về lại Bắc Kinh là theo diện "phục viên", thế nên đương nhiên không phải trở về đoàn văn công để tiếp tục nối lại nghiệp cũ dưới ánh đèn sân khấu, mà được phân về xưởng liên hợp thịt trực thuộc Cục Thương nghiệp 2, xếp vào vị trí chủ tịch công đoàn. A tỷ cũng tương ứng được điều về một viện nghiên cứu thực phẩm thuộc Cục Thương nghiệp 2.
Anh nhớ, khi vừa mới về lại Bắc Kinh, ở xưởng liên hợp thịt vùng ngoại ô phía Nam, gia đình A tỷ tạm thời chen chúc trong một căn nhà cấp bốn chưa đầy mười lăm mét vuông, rất nhiều đồ đạc hòm xiểng chở về vẫn còn nguyên dây bẹ, dây rơm buộc chặt, A tỷ, anh Dũng và Táp Táp vừa hơn mười tuổi ngủ chung trên một chiếc giường gỗ lớn mượn tạm, một bên chiếc giường gỗ lớn vừa vặn đặt dọc được một chiếc tủ dài, Liệu Liệu đã mười bốn tuổi tối đến đành leo lên đó ngủ. Không gian còn lại vì dẫu sao cũng phải sinh hoạt gia đình nên bày biện hỗn độn vô cùng. Bên ngoài nhà có một gian bếp nhỏ dựng tạm. Vì là xưởng thịt, lại nằm ở ngoại thành, nên ruồi muỗi nhiều vô kể. Anh nhớ lần đầu tiên anh tới thăm gia đình A tỷ khi họ vừa an cư, anh đã giật nảy mình trước những đám ruồi bay lượn thành từng đàn cả trong lẫn ngoài nhà, mỗi lần A tỷ xào xong một đĩa thức ăn ngoài sân bưng vào chiếc bàn nhỏ trong phòng, anh Dũng đều phải lập tức lấy một tờ báo đậy lên ngay, dẫu mở báo ra ăn cơm như thế, trong thức ăn vẫn khó lòng tránh khỏi rơi trúng vài con ruồi bị dầu nóng làm bỏng chết. Đối diện với cảnh ngộ ấy anh cảm thấy nuốt không trôi, nhưng cả nhà A tỷ lại ăn uống vô cùng ngon lành — dẫu sao đi nữa thì họ cũng đã được ăn cơm Bắc Kinh rồi!
Anh nhớ, Cúc Cầm rủ họ đi xem buổi biểu diễn mới của đoàn văn công quân đội — Cúc Cầm và Thường Diên Mậu cũng không về lại đoàn văn công quân đội, mà chuyển sang một đoàn văn công địa phương, Cúc Cầm tham gia thành lập đội hợp xướng, Thường Diên Mậu làm công tác hành chính, nhưng Cúc Cầm giữ mối liên hệ rất mật thiết với đoàn văn công cũ, nên trong tay thường có cả xấp vé vào xem biểu diễn của đoàn cũ — địa điểm biểu diễn chẳng phải nơi nào khác, vẫn chính là rạp hát Nhà triển lãm Bắc Kinh năm nào, còn tiết mục biểu diễn cũng chẳng phải sáng tác mới mẻ gì, vẫn là vở "Trường Chinh tổ ca" của Tiêu Hoa. Anh để ý thấy, trong suốt quá trình xem biểu diễn, ngay cả Thường Diên Mậu ngày thường vốn là người ít bộc lộ cảm xúc ra mặt nhất, cùng với anh Dũng dường như tuyến lệ chưa từng biết rơi nước mắt, trên gương mặt thế mà cũng hằn rõ tiếng thở dài dâu bể, nơi hốc mắt thế mà cũng lấp lánh những giọt lệ trong trẻo, A tỷ cũng đang sụt sùi, còn Cúc Cầm người giỏi dùng sự vui vẻ hớn hở để hóa giải mọi chuyện nhất cũng nheo nheo đôi mắt chìm vào những dòng suy tư ắt hẳn là vô cùng nặng nề... Phải rồi, gần mười năm bị đày ải cơ sở, bắt đầu từ đây, kết thúc cũng tại đây, quay một vòng lớn, rốt cuộc vẫn là khúc "tổ ca" này, cuộc đời sao mà kỳ quặc đến thế?
2
Thế nhưng A tỷ vừa từ phương Nam trở về Bắc Kinh, cho dù tạm thời nương náu ở một nơi tồi tàn như vậy, trong lòng vẫn vô cùng sảng khoái.
A tỷ thậm chí còn cho rằng chạy ra ga nội bộ ở cực nam của xưởng liên hợp thịt ngắm tàu hỏa dỡ cừu cũng là một niềm vui lớn. Anh nhớ, dường như mỗi lần anh ghé chỗ A tỷ, chỉ cần có tàu chở cừu về, A tỷ và anh Dũng đều sẽ gọi anh đi cùng, dẫn theo Liệu Liệu và Táp Táp, ra xem toa xe kín dỡ cừu xuống.
Đúng là khá tráng quan. Chắc chắn không chỉ đông hơn mà còn dày đặc hơn hẳn đàn cừu mà A Thành nhìn thấy ở Đức Thắng Môn. Có những con cừu ở trong toa xe kín có lẽ do thiếu dưỡng khí nên đã gần như hôn mê, vừa xuống xe là bốn vó lảo đảo đứng không vững, trong khi những con khác có lẽ chẳng sợ gian khổ bản tính hung hăng, vừa xuống xe đã tung vó chạy loạn xạ, mấy người công nhân lùa cừu đành phải vung roi vừa xua đuổi những con cừu chậm chạp, vừa quản thúc những con chạy chệch khỏi lối đi, lúc này Liệu Liệu và Táp Táp liền rơi vào trạng thái phấn khích tột độ, tay mỗi đứa cầm một nhánh liễu dài, nhảy nhót, chạy nhảy, la hét, lượn lờ qua lại, tiếp thêm uy thế cho công nhân lùa cừu — mà đồng thời cũng gây thêm rối. Bởi vì có những con cừu vốn đang ngoan ngoãn chạy vào lối đi có rào chắn, bị hai đứa hò hét một cái, lại hoảng loạn chạy tót ra khỏi hàng ngũ lẽ ra phải đi... Nhưng số ít công nhân lùa cừu kia tuy không mấy hoan nghênh sự trợ uy của hai đứa trẻ, song cũng chẳng hề ác cảm. A tỷ đứng trước cảnh tượng đó liền toét miệng cười, chẳng màng đến lớp bụi đất vàng vọt do móng cừu tung lên — chị cười, hiển nhiên không phải vì đàn cừu, mà là vì hai đứa con của mình, từ nụ cười của chị có thể nhận ra: chị cảm thấy an ủi vì rốt cuộc bản thân cũng đã đưa được những đứa con sinh ra ở Bắc Kinh trở về lại với Bắc Kinh...
Hồi cả nhà A tỷ bị đi cơ sở, Liệu Liệu đã biết nhảy nhót tung tăng, anh nhìn thấy Liệu Liệu nay đã thành thiếu niên chạy nhảy lùa cừu như thế, chẳng hề thấy lạ lẫm, còn Liệu Liệu đang lúc chạy cũng thỉnh thoảng liếc nhìn anh đầy thân thiết, như muốn đặc biệt khoe với cậu út niềm vui sướng khi được trở về Bắc Kinh; Táp Táp thì lại khác, hồi A tỷ dắt díu nhau xuống phía nam, Táp Táp vẫn còn là một con bé con hoàn toàn chưa hiểu sự đời, gầy gò bé nhỏ đến mức có thể nhét vào túi du lịch xách đi được. Con bé chẳng có chút ấn tượng nào về cậu út, còn sau khi hội ngộ anh cũng thấy con bé hoàn toàn xa lạ, điều khiến anh vô cùng kinh ngạc là tuy đã lớn bổng lên, nhưng Táp Táp trông vẫn gầy nhom đen nhẻm, lúc vung cành liễu xua đuổi đàn cừu thế mà còn bốc đồng kịch liệt hơn cả Liệu Liệu. Tóc con bé thưa thớt hoe vàng, sau gáy tết thành hai bím tóc ngắn ngủn củnn cỡn, chẳng có lấy một chút phong thái nào của mẹ nó thời thiếu nữ với mái tóc đen nhánh dày mượt đến mức chết danh biệt hiệu "Bím Tóc". Tay chân con bé cũng khẳng khiu quá mức, duy chỉ có đôi mắt to dưới cái trán dô trong hốc mắt sâu là bừng lên thần sắc sáng ngời đặc trưng thời thanh xuân của A tỷ; đến tận hôm nay anh vẫn nhớ như in cảnh Táp Táp lùa cừu ở sân ga hôm ấy: chiếc váy liền thân đơn sơ trong lúc chạy dán chặt vào người, vào đùi nó, vạt áo khoác len mở toang phấp phới, trên trán nó lấm tấm mồ hôi, miệng không ngừng thét lên những tiếng the thé bằng tiếng Quảng Đông, trong lúc chạy nhảy chặn đầu đón đuôi đầy hưng phấn đã ra sức vung vẩy cành liễu trong tay, một chiếc giày chạy tuột mất, con bé liền dứt khoát hất nốt chiếc giày kia ra, đi chân đất chạy băng băng trên nền đất cát sỏi, mà khi làm việc đó, ánh mắt nó chỉ chăm chăm nhìn lũ cừu, chưa từng một lần liếc nhìn về phía anh, hay chỗ A tỷ và anh Dũng đang đứng... Một đứa con gái, sao lại mê mải chuyện này hơn cả con trai chứ? Cảm giác kinh ngạc này của anh đối với cô cháu gái Táp Táp vẫn kéo dài mãi cho đến tận hôm nay.
3
Thực ra bản thân A tỷ có thể nói là "trăm việc ngổn ngang" — trước hết bọn họ ngay cả ký túc xá chính thức vẫn chưa được chia; hai đứa nhỏ tuy đã xin vào học chen ngang ở trường tiểu học gần đó, nhưng vì hộ khẩu chưa nhập chính thức, nên cũng chỉ tính là học nhờ; A tỷ vốn học cơ khí nông nghiệp, công việc kỹ thuật ở viện nghiên cứu thực phẩm lại chẳng ăn nhập gì với chuyên ngành của chị... Nhưng có lẽ là cảm thấy phía trước mọi sự đều tràn trề hy vọng chăng, A tỷ không chỉ xông xáo lo toan việc nhà mình, mà còn nảy ra nhã hứng bao đồng chuyện thiên hạ.
Anh nhớ hôm ấy đến thăm A tỷ, anh Dũng chưa tan tầm, Liệu Liệu và Táp Táp cũng chưa tan học, A tỷ thì đã về nhà từ sớm, vừa đon đả gọi anh vào nhà ngồi cùng nhặt đậu cô ve, vừa bảo anh: "Này, đám bạn học cũ của cậu, có ai chưa lấy vợ không? Viện bọn chị có cô gái lỡ thì, thân với chị lắm, chị thấy cô ấy cũng thực sự đến lúc phải lấy chồng rồi..."
Dứt lời liền liến thoắng kể ra đủ thứ tình hình về cô gái lỡ thì đó.
Mới đầu anh chẳng lọt tai chữ nào. Anh chỉ nhìn A tỷ, trong lòng trào dâng vô vàn cảm khái. A tỷ già đi trông thấy, khí hậu thổ nhưỡng phương Nam khiến làn da vốn dĩ hơi ngăm của chị càng thêm đen đúa, vết chân chim nơi đuôi mắt đã hằn rất rõ, cơ mặt tuy vẫn đầy đặn săn chắc chưa hề chảy xệ, nhưng đã phai đi sắc hồng hào thuở trước. Thế nhưng bước ngoặt tốt đẹp này của cuộc sống rõ ràng đã khơi dậy lại bầu nhiệt huyết quý giá vẫn còn đọng lại trong lòng A tỷ... Anh hồi tưởng lại thời A tỷ học đại học, kỳ nghỉ đông nghỉ hè thường dẫn rất nhiều bạn học nơi khác về nhà ngủ nhờ, có một đêm một cô bạn người Phúc Kiến nhỏ con nửa đêm lăn tăn bò vào lòng chị, nũng nịu rên rỉ: "Doanh Ba ơi, bụng em ôi, đau bụng quá à..." A tỷ liền xoa bụng cho cô ấy, rồi lại đi tìm thuốc cho uống...
"Này, cậu có nghe rõ không đấy? Nói gì đi chứ, thế nào, trong đám bạn cũ của cậu, có ai chưa vợ mà phù hợp không..."
A tỷ giục giã, anh đành phải nhờ chị kể lại tình hình của cô gái lỡ thì kia một lần nữa. Hóa ra cô gái đó là con gái tướng quân, vốn thuộc thành phần gia đình đáng ngưỡng mộ nhất, lẽ ra không đến mức gần ba mươi tuổi đầu mà vẫn chưa gả đi được, tự nhiên là do cha cô trong thời "Cách mạng Văn hóa" bị đả kích, cô bị vạ lây, mới bỗng chốc rơi xuống đáy cùng của xã hội, phải về nông thôn cắm rễ nhiều năm ròng, mãi tới gần đây theo sự phục chức của cha, mới được về thành phố, rồi vào viện nghiên cứu thực phẩm ấy... Đúng vậy, cô ấy mộc mạc, lương thiện, chịu thương chịu khó, biết trân trọng chân tình, nhưng, anh không thể không nhắc nhở A tỷ: "Gia đình cô ấy sẽ nhanh chóng khôi phục lại trạng thái trước thời 'Cách mạng Văn hóa', nghĩa là, cô ấy sẽ sớm trở thành thiên kim danh môn được vô số đàn ông theo đuổi, ý thức tự coi mình cao quý của cô ấy, có lẽ chẳng bao lâu nữa sẽ trỗi dậy... Còn bạn học cũ của em, những người chưa kết hôn, chị nghĩ hoàn cảnh gia đình họ tốt lên được sao? Bản thân lại chẳng qua chỉ là giáo viên trung học hay những nghề thanh bần tương tự, tuổi tác cũng lớn hơn cô ấy rất nhiều. Tóm lại, môn chẳng đăng hộ chẳng đối, giới thiệu cho cô ấy, liệu có hợp không?..."
"Có gì mà không hợp? Chẳng lẽ tìm đối tượng, yêu đương, kết hôn, lại phải đắn đo nhiều thế sao?..." A tỷ chớp chớp đôi mắt con ngươi vẫn đen láy, cãi lại: "Chỉ cần hai người gặp mặt, nảy sinh tình cảm, thế là được rồi chứ gì!"
Anh nhớ, câu nói này của A tỷ vừa thốt ra, trong lòng anh như có một dòng suối trong trẻo róc rách chảy qua, bất giác lại hồi tưởng về cảnh tượng nhiều năm trước A tỷ cùng anh Đạt Dã đứng tựa vào chiếc tủ năm ngăn nhìn nhau trong căn phòng nhà anh...
"... Cô ấy còn kén chọn nỗi gì nữa? Cậu phải biết là, cô ấy chẳng đẹp chút nào đâu, chỉ được cái sạch sẽ, khỏe khoắn đẫy đà mà thôi... Cô ấy cũng thực sự không thể đợi thêm được nữa, đến lúc phải lấy chồng, tự lập gia đình rồi..."
A tỷ tiếp tục bàn luận, chẳng hiểu sao, trong đầu anh lại lóe lên hình ảnh năm nào trên sân ga cũ ở Bắc Kinh, A tỷ và anh Dũng đưa mắt nhìn nhau...
Anh bị A tỷ thuyết phục, bèn rà soát lại một lượt những người bạn học cũ vẫn chưa lập gia đình mà vẫn còn giữ liên lạc, rất tự nhiên, liền chọn ra một người là Tư Bảo La — đó là bạn học cùng suốt sáu năm cấp hai và cấp ba, sau này lại là đồng nghiệp, hiện tại Tư Bảo La vẫn đang làm giáo viên dạy văn ở trường trung học.
"Ái chà, anh ta à!" A tỷ bật cười thành tiếng. "Chẳng phải là cái người thích đàn khúc gì mà 'Chim sẻ nhỏ' đấy ư? Sao anh ta lại vẫn chưa kết hôn nhỉ? Anh ta vừa đẹp trai hơn cậu, bảnh bao hơn cậu, lại đa tài đa nghệ hơn cậu nhiều cơ mà!..."
Anh bèn tóm tắt ngắn gọn tình hình của Tư Bảo La một lượt, cuối cùng nhấn mạnh: "Mặc dù bố anh ấy là một người hữu thần ngoan đạo — thậm chí có thể nói là ngoan cố — nhưng em dám đảm bảo bản thân Tư Bảo La từ lâu đã tự cải tạo mình thành một người vô thần kiên định — kiên định hơn chị em mình vạn lần — một người theo chủ nghĩa lý tưởng mang niềm tin cộng sản... Em có thể hẹn anh ấy tới chỗ chị, gặp nhau trước một lần, chị xem thử, trò chuyện đôi câu, nếu cảm thấy nắm chắc được vài phần, rồi hãy giới thiệu anh ấy cho cô gái lỡ thì chỗ các chị, thấy sao? Có điều, chị nói chuyện gì với anh ấy cũng được, nhưng tuyệt đối đừng nhắc tới khúc dương cầm đó, không phải tên là 'Chim sẻ nhỏ', mà là 'Khúc ca chim sẻ', khúc nhạc đó đã mang lại cho anh ấy rắc rối ảnh hưởng cả một đời, là vết thương lòng chưa chắc đã hoàn toàn lành lặn đâu..."
Mấy hôm sau, quả nhiên anh dẫn Tư Bảo La tới chỗ A tỷ. Hôm ấy Tư Bảo La ăn mặc rất chỉnh tề, mới cắt tóc xong, râu ria cạo sạch bong, nhưng trông vẫn già dặn hơn so với tuổi thật. Trong lòng Tư Bảo La nghĩ ngợi ra sao thì khó đoán, nhưng trước điều kiện sinh hoạt tạm bợ tồi tàn của gia đình A tỷ, anh ta không hề lộ ra chút xíu nào vẻ khinh khi, bối rối hay tò mò, việc gì đáng hỏi thì hỏi, việc không nên đụng tới tuyệt đối không đụng, đối với những câu hỏi của A tỷ thì có hỏi có đáp, thi thoảng còn chủ động kể về tình hình của bản thân cùng cha và các em mà chẳng đợi người ta phải hỏi.
Vốn dĩ đã giao hẹn với A tỷ lần đầu gặp Tư Bảo La thì đừng đem hết chuyện bên kia ra dốc sạch sành sanh, để lần sau còn có đủ đường xoay xở, nhưng đến lúc uống trà sau bữa cơm, A tỷ vẫn không kìm được mà kể vanh vách cặn kẽ mọi chuyện về cô gái kia, đặc biệt là hiện trạng gia đình cô ấy.
Tư Bảo La nghe xong, nét mặt vốn đã nghiêm nghị lại càng nghiêm nghị hơn, trầm ngâm một lát rồi dứt khoát nói: "Thế thì tôi không hợp rồi. Người cha như tôi đây, sao dám làm vấy bẩn vinh quang nhà cô ấy chứ? Không được. Không được đâu." Lại nói: "Ý tốt của chị Tưởng, tôi xin ghi nhận. Nhưng nếu là cô ấy, tôi vạn lần không thể."
Anh Dũng nãy giờ ngồi bên ít nói bèn lên tiếng: "Nếu đối phương đồng ý gặp cậu, thì cứ gặp xem sao! Dẫu sao đây cũng là chuyện của hai người các cậu, liên quan gì nhiều đến bố của hai bên đâu!"
Anh cũng phụ họa: "Nếu người ta không để bụng, anh việc gì phải bận lòng?"
A tỷ càng cất cao giọng: "Bố cậu thì có gì không vẻ vang chứ? Nhà cô ấy thì có gì vẻ vang hơn người?..."
"Thế thì đương nhiên là hơi gượng gạo rồi." Anh Dũng nhịn không được bèn chen vào một câu.
"Không cần anh thêm dầu vào lửa!" A tỷ ngoảnh đầu mắng át anh Dũng đi. "Gượng cái gì mà gượng! Theo tôi thấy chẳng có gì gượng gạo hết! Chẳng phải đều từng bị người ta chỉnh đốn sao? Đều từng chịu khổ xui xẻo cả sao? Đều được thực hiện chính sách sửa sai rồi còn gì? Đều khá lên rồi còn gì? Có thể tìm thấy bao nhiêu tiếng nói chung ấy chứ!..."
Từ lần đó, anh đã lờ mờ cảm thấy, A tỷ có một sự tự tin thái quá, nhưng sự tự tin ấy lại tách rời khỏi sự thấu hiểu sâu sắc, chuẩn xác về nhân tình thế thái, lòng dạ con người, mà chỉ xây dựng trên thứ trực cảm chủ quan thô thiển, chính điều này đã gieo mầm cho biết bao bi kịch lớn nhỏ về sau.
Tư Bảo La thế mà vẫn chẳng hề dao động, thậm chí đến mức thốt ra những lời này: "Dù thế nào đi nữa, cho dù cô ấy không chê tôi, tôi cũng không thể phạm phải sai lầm này!"
"Cái anh này!" Anh vừa buồn cười vừa bực mình, trách mắng Tư Bảo La, "Sao anh lại biến thành cái bộ dạng này cơ chứ? Sao lại hình thành cái lối nghĩ này? Thế thì cả đời này anh đừng lấy vợ nữa, ở vậy suốt đời đi! Lấy người xuất thân tốt thì bảo là phạm sai lầm, thế anh lấy người xuất thân không tốt chẳng phải cũng là phạm sai lầm sao? Cái chút linh khí thuở tự biên tự tấu 'Khúc ca chim sẻ' của anh rốt cuộc bay biến đi đâu sạch trơn rồi?!"
A tỷ vừa nghe câu cuối cùng của anh, liền nhịn không được đưa mắt nhìn anh một cái. Tư Bảo La vừa nghe thấy bốn chữ "Khúc ca chim sẻ", sắc mặt thoắt cái biến đổi, nét mặt nghiêm trang ban nãy nếu là một mặt hồ tĩnh lặng, thì tên khúc nhạc này tựa như một viên sỏi, khiến cả khuôn mặt anh ta gợn lên những làn sóng rung rinh, ra sức kìm nén mà chẳng thể kịp thời khôi phục lại như cũ — cuối cùng thế mà lại lộ ra một vẻ mặt đau đớn và suy sụp rõ rệt.
May sao đúng lúc này Liệu Liệu mồ hôi nhễ nhại xông xáo chạy vào nhà, thông báo: "Tàu chở cừu tới rồi! Táp Táp đã ra đó rồi! Hôm nay mọi người không đi xem à?"
Anh cùng A tỷ và anh Dũng bèn rủ Tư Bảo La cùng đi xem cảnh dỡ cừu. Mới đầu Tư Bảo La thấy khó hiểu, đến tận khi ra tới hiện trường, tận mắt chứng kiến cảnh tượng dỡ cừu và lùa cừu hoành tráng mà người thành phố ăn thịt cừu nhúng bình thường chẳng bao giờ nghĩ tới cũng chẳng tưởng tượng nổi, liền không khỏi hết sức kinh ngạc.
Liệu Liệu và Táp Táp giữa cơn gió lạnh vẫn hò hét chạy qua chạy lại, tay mỗi đứa múa may một khúc gậy gỗ. Trên đầu Táp Táp trùm một chiếc mũ len, che khuất bím tóc nhỏ, chiếc cằm nhọn, hốc mắt sâu, áo bông nhỏ, quần bông dài, giày bông mũi tròn, trông chẳng giống một đứa con gái chút nào, vì thế Tư Bảo La thốt lên lời khen ngợi với anh: "Hai anh em thằng bé này sao mà lắm sức lực thừa thãi thế không biết!"
"Phải đấy, hệt như những chú chim sẻ hoạt bát kia vậy, toát lên vẻ đẹp của một sức sống nguyên sơ!"
Anh quả thực chỉ vô tình nhắc lại chuyện chim sẻ, liếc nhìn Tư Bảo La một cái, lần này sắc mặt Tư Bảo La không hề khó coi: nghiêm túc, nhưng lại pha lẫn đôi phần xúc động và lĩnh ngộ.
4
Khoảng bảy tám năm giữa thập niên 70 và đầu thập niên 80 của thế kỷ 20, đối với tất cả những ai bước vào ngưỡng cửa cuộc đời đều mang một ý nghĩa vô cùng quan trọng — tựa như ông lão thời gian đột nhiên thay đổi tính keo kiệt ngày trước, bỗng chốc mở toang chiếc tráp báu chứa đầy cơ hội, rồi rải vô số những cơ hội lớn nhỏ muôn hình vạn trạng ra như tiên nữ rải hoa từ trong chiếc tráp... Ngay cả những kẻ u mê, ngốc nghếch nhất ngày trước cũng biết đã đến lúc phải kiễng chân, thậm chí nhảy cẫng lên để chộp lấy cơ hội rồi!
Chính trong mấy năm đó, anh một bước thành danh thiên hạ đều biết, đường hoàng trở thành một nhà văn có số có má.
Anh cả của anh qua đời vì ung thư phổi vào cuối thập niên 70 của thế kỷ 20, khi ấy chỉ mới ngoài năm mươi một chút, thực sự quá đỗi tiếc nuối, nhưng dẫu sao trước khi nhắm mắt xuôi tay cũng đã được tổ chức cử người chuyên trách đứng ra, lật lại một cách triệt để, sạch sẽ mọi "vấn đề" vu khống sai lệch áp đặt lên người anh trong thời "Cách mạng Văn hóa", không chỉ được bình phản hoàn toàn, mà còn nhận được hàng đống lời ngợi ca, lại được phân cho một căn nhà mới toanh, sau này chị dâu cùng các cháu trai cháu gái đều dọn vào ở, cuộc sống ngày một khấm khá đi lên.
Anh hai và chị dâu hai của anh đều thuận lợi được phong kỹ sư, rồi tiến thêm một bước được phong kỹ sư cao cấp, cũng có được căn nhà rộng rãi bốn phòng một sảnh, hai vợ chồng còn nhiều lần ra nước ngoài tham gia các hoạt động giao lưu học thuật trong ngành.
Ngay cả người anh ba tính tình nhu nhược lại có tính cách độc lạ kèm theo sở thích kỳ quặc, người từng trải qua hai mươi năm đầy cay đắng khôn nguôi mà người khác khó lòng thấu hiểu, rốt cuộc cũng được chuyển công tác từ một trường trung học nơi thâm sơn cùng cốc lên trường đại học ở thành phố tỉnh lỵ...
Thậm chí người bạn học trung học của anh ba và A tỷ, người từng bị quy là phái hữu chìm nổi suốt hai mươi năm trời là Băng Long Trân, cũng có một sự thay đổi một trăm tám mươi độ hoàn toàn ngoài dự liệu của mọi người — và của chính bà ấy: người chồng từng có dạo cũng bị quy là "phái hữu" của bà, một nhân viên công tác trong đảng phái dân chủ năm xưa, sau khi được sửa sai đã quay về lại đảng phái dân chủ vừa phục hồi hoạt động, còn được giao phó trọng trách tổng thư ký. Nhờ đó tương đương với cán bộ cấp cục, được phân cho hai căn hộ hai phòng một sảnh liền kề nhau, giúp bà được sống cuộc đời của một phu nhân cán bộ — huống chi bản thân bà cũng rất thuận lợi được xét phong học hàm phó giáo sư, lại có cơ hội sang Mỹ nửa năm với tư cách học giả trao đổi.
Ví dụ thực sự quá nhiều. Lại như người bạn từng cùng anh ba diễn kịch năm xưa, có biệt danh là "chàng mỹ nam thu nhỏ" Lỗ Vũ, ai mà ngờ đến đầu thập niên 80 của thế kỷ 20, thế mà đã trở thành tổng giám đốc kiêm tổng công trình sư của một nhà máy sản xuất hóa chất gia dụng ở ngoại ô Vô Tích quê nhà anh ta, nhà máy đó tuy mang giấy phép sở hữu tập thể, nhưng thực chất là doanh nghiệp tư nhân do anh ta làm ông chủ cùng với họ hàng ruột thịt trong nhà lập nên, ngay từ đầu những năm 80, anh ta đã xây xong ngôi nhà lầu nhỏ có ngoại thất kết hợp Trung - Tây còn bên trong thì điện khí hóa toàn bộ, sắm sửa cả xe hơi riêng để đi lại...
Ngay cả người hàng xóm thuở trước — Cam Thất, con trai của bác thợ mộc họ Cam nhiều năm liền túng thiếu nhất về kinh tế, chẳng phải cũng đã phát tài, trở thành một trong những "đại gia" của đất kinh thành rồi đó sao?
---❊ ❖ ❊---
Thế nhưng A tỷ của anh, dường như lại là một kẻ bất hạnh giữa cơn mưa hoa rực rỡ ngập trời, rõ ràng là người đáng chộp được nhất, dễ chộp được "đóa hoa cơ hội" nhất, nhưng cứ hễ dùng hết sức bình sinh, thì lần nào cũng chỉ vồ hụt nắm trượt...
Anh rất hối hận, mấy năm đó anh cứ mải mê với công việc của riêng mình, chẳng mấy để tâm đến A tỷ, đến khi anh phát hiện ra A tỷ đang rơi vào cảnh quẫn bách chẳng phải bình thường, thì lại chẳng biết làm thế nào mới có thể giúp đỡ chị, an ủi chị... Chao ôi, A tỷ!
5
Anh nhớ hồi vợ chồng A tỷ vừa mới dọn vào khu nhà tập thể do Cục Thương nghiệp 2 phân phối ở ngoài cửa Vĩnh Định, không chỉ cảm thấy bằng lòng vừa ý, mà thậm chí còn vô cùng đắc chí.
Đó là một căn hộ hai phòng ngủ. Gian tiền sảnh rất nhỏ, sau khi kê tủ lạnh và tủ bát vào thì chẳng còn chỗ để kê bàn ăn cơm nữa. Nhưng gian phòng lớn thì vuông vức khá rộng rãi, sau khi kê giường đôi, tủ quần áo lớn, tủ tường nhỏ, một bộ ghế sofa cùng bàn trà, một chiếc bàn làm việc và ghế xoay, vẫn còn lại một khoảng trống không nhỏ, vừa đủ để dựng chiếc bàn gấp, bày mấy chiếc ghế gấp ra ăn cơm, lúc không ăn cơm thì cất bàn gấp và ghế gấp ra tiền sảnh hoặc ban công, sinh hoạt đủ thứ việc trong phòng trông khá thoải mái ung dung. Gian phòng nhỏ tuy hẹp hơn, nhưng lại là hình chữ nhật, ở giữa lấy một chiếc tủ sách ngăn ra, vừa vặn chia làm đôi, Liệu Liệu và Táp Táp có thể mỗi đứa sở hữu một góc không gian riêng, mỗi đứa một chiếc giường nhỏ, mỗi đứa một chiếc bàn nhỏ, anh trai nhường nhịn em gái, để con bé ở phần bên trong có cửa sổ sáng sủa, em gái cũng thương anh trai, nên khi dùng tủ sách ngăn cách, đã cố gắng nới rộng phần của anh trai ra hết mức, còn chỗ của Liệu Liệu thường xuyên bật đèn bàn, nên cũng chẳng cảm thấy tăm tối là bao.
Thời bấy giờ, giữa cả một vùng nhà cấp bốn cũ kỹ thậm chí dột nát mục nát ở khu vực đó, chỉ có trơ trọi mấy tòa nhà chung cư xây bằng gạch đỏ. Có một lần anh đến thăm A tỷ, A tỷ vừa đi chợ mua thức ăn về, tình cờ gặp nhau ngay đầu cầu thang, A tỷ vừa dẫn anh lên lầu vừa cười bảo: "Mấy người bán hàng rong ở chợ dân sinh đằng kia ai cũng biết nói: Các bác ở nhà lầu lớn, còn thèm để ý một hai xu làm gì... Hì hì, nhà mình thế này mà cũng tính là 'lầu lớn' rồi cơ đấy!"
Lại có một lần anh Dũng kể với anh: "Thợ điện sửa đường dây vừa mới về, anh ta hỏi: Nhà bác căn này ở mấy miệng ăn thế? Tôi bảo bốn người, anh ta tặc lưỡi bảo: Nhà bác rộng ngần này mà tổng cộng chỉ ở có bốn người thôi á... Tôi bảo với anh ta chỗ tôi thế này vẫn chưa đủ, con trai con gái sắp lớn tướng cả rồi, vẫn còn thiếu mất một phòng, anh ta liền bảo: Mẹ ơi, nhà cháu bảy miệng ăn mới có hai gian, lại còn là nhà cấp bốn, chẳng có cả nhà vệ sinh riêng nữa là..." Anh Dũng cười cười, lặp lại câu nói đó: "Nhà bác rộng ngần này mà tổng cộng chỉ ở có bốn người thôi á..."
Anh Dũng có một khoản tiền phục viên không hề nhỏ, vừa dọn vào căn chung cư đó, họ liền mua ngay một chiếc tivi màu mười bốn inch của hãng Panasonic Nhật Bản, trở thành gia đình đầu tiên trong dòng họ được xem tivi màu.
Nhưng tòa nhà đó không có đường ống dẫn khí đốt. Vợ chồng A tỷ mượn được bình gas hóa lỏng và kệ bếp, nấu nướng kể ra cũng tiện — dẫu rằng chỗ đổi bình gas cách nơi đó cực kỳ xa xôi. Tòa nhà đó cũng không có hệ thống sưởi — nghe nói là sẽ lắp sưởi, về sau quả nhiên cũng đục tường khoét vách lắp đặt đường ống và các tấm tản nhiệt. Nhưng vì chuyện đất đai rồi quyền sở hữu nhùng nhằng dây dưa đủ thứ, nhà lò hơi mãi chẳng xây xong, suốt mấy năm trời cứ hễ vào đông là nhà nào nhà nấy đành phải đốt lò than tổ ong để sưởi ấm, vợ chồng A tỷ chỉ lắp lò than trong gian phòng lớn, gian phòng của Liệu Liệu và Táp Táp đành mặc kệ biến thành "lãnh cung", thực sự bên đó cũng chẳng còn kẽ hở nào để nhét thêm lò than; việc lắp lò than kéo theo một chuỗi hậu quả mất vui, không gian phòng ốc vì thế mà hẹp đi đã đành, để dẫn ống khói ra ngoài đành phải tháo bớt một ô kính cửa sổ thay bằng miếng ván ép có khoét lỗ tròn, để tiện châm than lại phải xếp mấy chồng than bánh sát tường cạnh bếp lò, mà cứ mỗi lần cời lò là tro than bay mù mịt khắp nhà, lỡ như ủ lửa không khéo làm lò tắt ngấm, để nhóm lại than mồi, thường phải đốt biết bao nhiêu giấy báo cùng củi vụn, hun cho khói bốc ngùn ngụt khắp gian phòng... Huống chi còn phải đi ra cửa hàng than mua than, rồi vác than lên tầng; có một buổi sáng A tỷ và anh Dũng đều cảm thấy váng đầu muốn nôn, toàn thân bủn rủn, rõ ràng là bị ngộ độc khí than, từ đó lại phải chú ý mở hé cửa sổ, rồi thường xuyên vì chuyện ủ lửa, chuyện cửa lò có giữ được thông thoáng hay không, ống khói liệu đã bị muội than dầu khói làm nghẹt hay chưa... mà cãi cọ, lo lắng, rốt cuộc còn phát hiện gối mền suốt cả mùa đông khó lòng tránh khỏi bám mùi khói than nồng nặc, quần áo vừa mới mặc lên người, chớp mắt một cái chẳng hiểu sao đã dính vệt than đen thui hoặc bị dầu khói từ khe hở ống khói nhỏ trúng...
Những lời tán tụng "nhà lầu lớn" và câu chuyện "tổng cộng chỉ ở có bốn người" lần lượt chìm vào quên lãng. Quanh vùng mọc lên một số tòa nhà mới có đủ hai thứ khí (khí đốt dẫn ống, sưởi ấm trung tâm), tin tức họ hàng bạn bè thân thích lục tục dọn vào những căn nhà khang trang cứ tới tấp truyền về. Mà điều quan trọng hơn là cả Liệu Liệu và Táp Táp đều lớn nhanh như thổi, vóc dáng ngày một phổng phao, Táp Táp dần dà yêu cầu phải treo thêm rèm cửa ở chỗ khe hở sau khi ngăn tủ sách ra, rồi lại dần dà yêu cầu Liệu Liệu "sang phòng bên kia ngồi một lát đi", còn bản thân thì đỏ ửng mặt mày tất tả chạy đi chạy lại giữa nhà vệ sinh, nhà bếp, bồn rửa nước và phòng ngủ của mình...
A tỷ dọn vào căn chung cư đó chẳng bao lâu liền chuyển công tác. Chủ yếu còn chẳng phải vì muốn đúng chuyên ngành. Đơn vị nơi A tỷ từng làm việc trước thời "Cách mạng Văn hóa" rất hoan nghênh chị quay lại, nhưng chị kiên quyết không về. Chị vẫn còn nhớ như in nỗi khổ sở chen chúc xe buýt đi làm về mỗi ngày thuở ấy, bây giờ khoảng cách tới đơn vị đó lại xa hơn gấp đôi, làm sao tính đến chuyện đó được? Viện nghiên cứu thực phẩm nhìn trên bản đồ dường như không xa lắm, nhưng từ chỗ ở đi tới đó phải đổi xe buýt hai lần, xuống xe rồi còn phải đi bộ hơn mười phút mới tới nơi, bắt buộc phải chuyển đi. Cuối cùng A tỷ tìm thấy trên bản đồ một học viện có tuyến xe buýt đi thẳng từ gần nhà chị — dẫu rằng gần như phải ngồi suốt cả lộ trình, vừa khéo chị Cúc Cầm lại quen biết một người nào đó ở phòng nhân sự của học viện ấy, liên hệ một hồi, thế là chuyển xong xuôi. A tỷ đến học viện liền dồn hết tâm trí muốn được phong phó giáo sư. Chị dường như muốn vội vã bù đắp lại tất cả những gì đã bị cuộc sống xô đẩy làm vuột mất suốt mười hai mươi năm qua.
Chẳng nhớ là năm thứ mấy sau khi dọn vào khu tập thể Cục Thương nghiệp 2, chỉ nhớ có một lần anh lại tới đó thăm gia đình A tỷ, vừa bước vào nhà đã thấy A tỷ đang nổi trận lôi đình, chị dùng que gắp than ra sức chọc mạnh vào bếp lò, từ trong lò bốc lên một luồng tro than nóng hầm hập, anh Dũng đứng bên cạnh bảo chị: "Em càng chọc thì nó lại chẳng càng tắt nhanh hơn à?"
A tỷ quần áo xộc xệch, tóc tai rũ rượi, động tác thô bạo đầy bướng bỉnh, vừa tiếp tục ra sức chọc lò vừa gần như gào thét lên: "Tắt! Tắt! Tắt! Tắt thì tắt luôn đi! Cả lũ nhịn cơm hết đi!"
Liệu Liệu vừa mở cửa cho anh liền nói với mẹ nó: "Cậu út tới rồi kìa mẹ!"
A tỷ vẫn chỉ mải mê chọc lửa, đốm lửa đó vốn dĩ còn có thể cứu vãn được, bị chị chọc giận dỗi như thế, liền sụp hẳn xuống, tắt ngấm hoàn toàn. Chị chẳng buồn ngoảnh đầu, căn bản không thèm nhìn em trai, chỉ nghiến răng nghiến lợi nói: "Tới thì tốt! Tới thì cùng nhau húp gió tây bắc!"
Anh bèn bước lại gần khuyên nhủ. Anh Dũng vội vàng đi pha trà cho anh.
Vừa nghe thấy tiếng anh Dũng lấy hộp trà, A tỷ liền quát tướng lên: "Bỏ bớt trà cho người ta nhờ! Ai thèm giống như anh, uống trà mà như uống thuốc đắng, cái khẩu vị quái đản!"
A tỷ ngồi phịch xuống ghế sofa, chỉ biết thở hồng hộc. Liệu Liệu vừa toan quay người về phòng mình, chị liền quát một tiếng: "Liệu Liệu! Mày lại định lười biếng hả! Đừng có chuồn! Cùng với bố mày nhóm lửa lại mau!"
Liệu Liệu trong lòng trăm bề không muốn, bĩu môi, phản kháng: "Ngày mai thi thử đợt hai môn Vật lý rồi, con vẫn chưa ôn xong..."
"Mày cũng đừng có ôn nữa! Có tích sự gì đâu?!" A tỷ mặt đỏ gay gắt, chẳng hề nể nang nói, "Thi đại học môn Vật lý mày được có mười bảy điểm, có thi 'thử' một vạn lần mày cũng chẳng nhích lên nổi mười điểm đâu!"
Liệu Liệu đỏ bừng cả mặt, nước mắt lưng tròng nơi hốc mắt.
"Thôi được rồi, Liệu Liệu cháu đi ôn Vật lý đi, để cậu giúp bố cháu nhóm lửa, cháu đi đi, đi đi..." Anh bèn đẩy Liệu Liệu về gian phòng bên kia. Mùa hè năm đó Liệu Liệu thi đại học thất bại, tổng điểm còn cách điểm chuẩn tối thiểu hơn năm mươi điểm, đang chuẩn bị sang năm thi lại — có tham gia một lớp bổ túc, lớp bổ túc thường tổ chức những bài kiểm tra "mô phỏng thi đại học", "thi thử đợt hai" chính là "lần thi thử đại học thứ hai", Liệu Liệu muốn ôn bài thật tốt để thi được kết quả cao hòng gỡ gạc thể diện, hoàn toàn có thể hiểu được. Nhưng sự tuyệt vọng của A tỷ đối với tương lai của con cũng chẳng phải là không có căn cứ, đứa trẻ này từ nhỏ đã theo cha mẹ đi cơ sở, bôn ba khắp nơi, chuyển không biết bao nhiêu trường học, thời tiểu học căn bản chẳng học được chữ nào ra hồn, đến khi về Bắc Kinh học trung học thì dẫu có cố gắng thế nào cũng không theo kịp chúng bạn; Táp Táp tuy có khá hơn đôi chút, nhưng sau khi tốt nghiệp liệu có thi đỗ đại học hay không cũng là một dấu hỏi chấm rất lớn.
Anh Dũng vừa chuẩn bị giấy báo, củi vụn, than mồi, vừa bảo: "Thực ra, đằng nào cũng thi không đỗ, tìm bừa lấy một công việc là xong..."
A tỷ liền nhổm phắt người dậy khỏi ghế sofa, tàn nhẫn cạn tình nói: "Xong là xong thế nào?! Anh tưởng con trai anh cũng phải giống như anh, chẳng có mảnh bằng cấp nào, tùy tiện tìm một cái đơn vị rách nát nào đó sống lay lắt qua ngày là xong chuyện chắc?! Con trai tôi là phải vào đại học! Phải có học vấn cao! Phải ra ngô ra khoai! Thôi là thôi thế nào?! Tìm việc gì? Lại tìm cái công việc như ở xưởng thịt của các anh chắc! Cả thành phố Bắc Kinh mới tính là một đơn vị cấp bộ, Cục Thương nghiệp 2 miễn cưỡng tính là cấp cục, công ty thực phẩm trực thuộc miễn cưỡng tính là cấp xứ, cái xưởng thịt mấy trăm con người của các anh mới chỉ là cấp khoa, anh làm một chức chủ tịch công đoàn, cũng chỉ tính là cán bộ phó khoa, chia cho cái căn hộ rách nát này, nghe đâu vẫn còn nể mặt anh là lính giải ngũ trở về! Tôi đúng là xui xẻo mười đời! Thành phố Bắc Kinh chia nhà, lại quy định lấy bên đằng chồng làm chính, tôi thấy tôi cứ phải chết già cùng anh trong cái căn hộ ma quỷ này mất thôi! Đường ống sưởi với tấm sưởi thì có đủ cả đấy, nhưng toàn là đồ trang trí! Đồ trang trí! Bao giờ mới cấp nhiệt? Không biết! Chẳng ai thèm quan tâm! Chẳng ai thèm giải thích với anh! Chẳng ai trả lời! Tôi chịu đủ rồi! Chịu quá đủ rồi!" Vừa nói chị vừa lấy ngón tay day mạnh vào hai bên huyệt thái dương dưới trán.
Anh Dũng bèn im thin thít. Lặng lẽ nhóm lửa, anh ở bên cạnh phụ giúp một tay.
Nhân lúc A tỷ đi vào nhà vệ sinh, đóng sầm cửa lại một tiếng "rầm", đoán chừng sẽ ở trong đó một lúc lâu, anh bèn nhỏ giọng an ủi anh Dũng: "A tỷ đang ở tuổi mãn kinh đấy, anh đừng để bụng... Nghe nói phụ nữ thời kỳ mãn kinh, trừ cái chết ra thì triệu chứng gì cũng có thể mắc phải, tính khí nóng nảy đến phát sợ, uống thuốc gì cũng chẳng ăn thua, khuyên giải thế nào cũng vô ích... Cứ mặc kệ chị ấy, nhường nhịn chị ấy một chút là được... Qua một dạo tự khắc sẽ ổn thôi..." Anh Dũng hắng giọng, chẳng nói chẳng rằng.
Sau khi A tỷ từ nhà vệ sinh bước ra, tâm trạng thế mà cơ bản đã bình tĩnh trở lại, chị đã rửa lại mặt, chải lại tóc, trên người thoang thoảng mùi xà phòng hương chanh, chị dùng tông giọng bình thường nói với anh Dũng: "Ủa, anh còn đứng ngây ra đó làm gì? Cậu út tới chơi, trong nhà chẳng có gì cả..." Anh Dũng liền lập tức lặng lẽ đi lấy chiếc làn đi chợ, khoác áo bành tô bông, đội mũ lông, rồi lại xỏ găng tay, lúc sắp bước ra khỏi cửa, A tỷ gọi giật lại: "Này! Đủ tiền không đấy?" Anh Dũng chưa kịp trả lời, A tỷ đã móc ví tiền từ trong túi áo ra, rút ra hai tờ tiền mệnh giá lớn đưa cho anh Dũng; anh Dũng kéo cửa ra, A tỷ lại dặn dò: "Đừng có hễ mua là mua cả đống đấy nhé! Biết anh quý cậu út rồi, không cần phải mua lắm thế đâu! Mua nhiều ăn không hết, tủ lạnh cũng chẳng nhét vừa, lãng phí!" Anh Dũng gật đầu, rảo bước đi.
Căn phòng lại dần dần ấm áp trở lại, A tỷ đặt một âu nước kho lên bếp than, đó là một món ăn gia đình thường trực mà mẹ truyền lại cho chị — âu nước kho liên tục được đun nóng, liên tục châm thêm nguyên liệu mới, nhưng nước cốt kho cũ thì luôn luôn được giữ lại, các loại thịt thà, trứng gia cầm, đậu phụ khô đều có thể đem kho, bất cứ lúc nào cũng có thể gắp ra thái miếng ăn ngay, dùng nhắm rượu hay ăn với cơm đều vô cùng vừa miệng. Âu nước kho dần dà sôi lục bục như cất tiếng hát êm tai. Gian phòng nhất thời lại toát lên bầu không khí ấm cúng lạ thường.
A tỷ tựa lưng vào đống gối trên giường cặm cụi đan một chiếc áo len sát nách cho Liệu Liệu, anh ngồi trên ghế sofa, nhấp từng ngụm nước trà dẫu sao vẫn bị anh Dũng bỏ quá nhiều lá trà, hai chị em thủ thỉ tâm tình.
Anh kể về những bước tiến mở rộng trong sự nghiệp của mình, mang đầy khí thế đắc ý như vó ngựa phi nhanh giữa gió xuân, A tỷ mỉm cười lắng nghe, đối với bất kỳ thành tích hay lợi ích nào của người em trai ruột thịt, chị tuyệt đối không hề ghen tị mà chỉ có niềm vui mừng khôn xiết.
Thế nhưng hễ cứ nhắc tới tình hình của những người khác, phản ứng của A tỷ liền đổi khác ngay.
Anh nhắc tới một người họ hàng, người dượng của họ, người mà họ đều gọi là chú Tào, anh kể với A tỷ rằng trên bộ có người đề cử chú Tào làm phó cục trưởng của một cục, lời còn chưa dứt, A tỷ đã ngắt lời: "Mới phó cục trưởng thôi à! Nhỏ nhoi quá! Chú ấy đáng ra phải làm cục trưởng từ lâu rồi mới phải!"
Thực ra, tin tức anh nhận được là chú Tào ngay cả chức phó cục trưởng đó cũng chưa chắc đã giữ nổi, vì có kẻ chèn ép, mà chú Tào lại chẳng có chỗ dựa nào vững chắc.
Lại nhắc tới bức thư anh ba gửi cho anh, nói là nhìn thấy Lỗ Vũ đến Thành Đô ký hợp đồng tiêu thụ gì đó, cái người từng đứng chung sân khấu hát kịch năm xưa tức "chàng mỹ nam thu nhỏ" ấy, nay đã phát tài to rồi, nhà xây cả ngôi lầu nhỏ kiểu Tây, phòng nào cũng lắp máy điều hòa nhiệt độ...
A tỷ liền bĩu môi: "Chẳng qua toàn là nhờ trốn thuế lậu thuế mà có được... thứ đồ tốt lành gì cho cam!"
Anh bèn cảm thấy trong đáy lòng A tỷ luôn có một đám mây đen vần vũ, bất kể gặp phải núi non sông nước tươi đẹp đến đâu, nó cũng cứ trồi lên bao phủ lấy cảnh vật.
Anh biết, ở học viện trong đợt bình xét học hàm phó giáo sư vòng đầu tiên, A tỷ thế mà lại bị trượt, chuyện này quả thực là chuyện động trời, bởi vì chị không những hoàn toàn phù hợp với các điều kiện quy định, mà ở cái học viện đó học vị của chị còn là cao nhất — nghiên cứu sinh từ thập niên 50, do chính chuyên gia Liên Xô đích thân chỉ dạy kèm cặp. Nỗi bực bội cáu kỉnh của A tỷ, nói thực lòng thì chưa chắc đã do chứng mãn kinh gây ra, mà căn nguyên sâu xa chính là bắt nguồn từ việc này.
Anh bèn cố ý lảng sang chuyện của chị họ thứ hai Điền Nguyệt Minh, bảo chị xem chị ấy làm trong ngành đó bao nhiêu năm trời, học hàm cao cấp không lấy được đã đành, ngay cả xét nâng ngạch tăng lương cũng toàn bị trượt... Anh nghĩ ví dụ của Điền Nguyệt Minh có lẽ sẽ làm vơi bớt phần nào cảm giác hụt hẫng trong lòng A tỷ, chí ít cũng khiến A tỷ cảm thấy mình không đến nỗi quá cô đơn...
Nào ngờ A tỷ lại hất cằm bảo: "Ai bảo chị ta ngày trước học không phải hệ đại học chính quy năm năm, mà chỉ là hệ cao đẳng ba năm! Lại còn cứ đòi đi lấy một gã con lai, đẻ một bầy con gái, chẳng chịu lo làm việc cho tử tế..."
Anh đành phải lấy Cúc Cầm ra làm viên thuốc an thần: "Đoàn văn công của chị Cúc Cầm xét học hàm, chị ấy với anh Mậu biết mình chẳng có bằng cấp, dứt khoát căn bản không thèm nộp đơn xin xét, thế mà lại thanh thản đầu óc... Em thấy chị Cúc Cầm vẫn cứ vui vẻ hớn hở như thế, chẳng để tâm chút nào..."
Ai ngờ A tỷ lại đột nhiên nổi trận lôi đình: "Chị ta chẳng để tâm chút nào! Con người chị ta lúc nào cũng vô tâm vô tính như thế! Nhưng cậu xem chị ta giới thiệu cho chị cái nơi quỷ quái gì thế này? Chị ta giới thiệu xong xuôi liền vui vẻ hớn hở phủi tay bỏ đi, vứt chị lại chốn này rồi mặc xác chị chẳng thèm ngó ngàng... Chị ta không thèm để tâm! Chị làm sao mà không để tâm cho được?!"
Anh sững sờ. Đồng thời trong lòng dấy lên nỗi chua xót, quả thực, chị Cúc Cầm và A tỷ dường như có một mối quan hệ kỳ quặc được đấng tối cao trong cõi u minh an bài định đoạt, kể từ sau khi cha mẹ chị Cúc Cầm cùng qua đời trong trận hỏa hoạn, A tỷ khoác tay chị ấy đi hết vòng này đến vòng khác trên sân thể dục trường trung học Thục Hương, thì chị Cúc Cầm cứ luôn đóng vai trò người giới thiệu vào những thời khắc then chốt trong các bước ngoặt cuộc đời của A tỷ, ban đầu A tỷ bao giờ cũng đón nhận với lòng biết ơn vô hạn, nhưng về sau lại luôn luôn bực bội phiền lòng mà cằn nhằn oán trách chị ấy trong bụng thậm chí thốt ra cả đầu môi...
Còn nhớ sau khi Liệu Liệu chào đời, người bảo mẫu đầu tiên cũng là do Cúc Cầm giới thiệu, đó là một bà cụ người Tứ Xuyên. Theo lẽ thường thì cùng là đồng hương đồng khói, vợ chồng A tỷ lại chịu chi tiền, bảo mẫu và đứa bé có chỗ ở riêng điều kiện cũng tốt, đáng lẽ phải chung sống hòa thuận với nhau. Nào ngờ chưa ở nổi một tháng, A tỷ đã bực mình rồi, chẳng phải bà cụ bảo mẫu đó không biết làm việc, mà là trong lúc làm việc, đặc biệt là lúc giặt tã lót, bà cụ cứ công nhiên cằn nhằn than vãn: "Ai dà, tội nghiệp chưa, số tôi sao mà khổ thế này không biết! Tôi lại rơi vào cái bước đường này, đi làm trâu làm ngựa cho nhà người ta thế này!" Hóa ra bà cụ Tứ Xuyên đó là mẹ của một người họ hàng xa làm trưởng phòng của Cúc Cầm. Bà vốn dĩ chưa từng đi làm bảo mẫu cho nhà ai bao giờ, là vì sau khi lên nương nhờ con trai, con dâu suốt ngày cãi cọ gây gổ với bà, mẹ chồng nàng dâu rốt cuộc như nước với lửa, bản thân bà bèn giận dỗi tự đề xuất "thà đi làm bảo mẫu cho nhà khác, tự lực cánh sinh", người con trai khuyên can một dạo, nhưng quyết tâm của bà dường như đúc bằng sắt thép, cứ thế mới được Cúc Cầm giới thiệu tới chỗ A tỷ, vợ chồng anh Dũng và A tỷ đối đãi với bà rất tốt, phụng sự như bậc trưởng bối, đôi bên chẳng hề xảy ra bất kỳ va chạm nào, mà Liệu Liệu cũng chẳng phải đứa trẻ khó nuôi... Nhưng bà cụ Tứ Xuyên đó cứ năm lần bảy lượt cằn nhằn như thế ngay trước mặt A tỷ, rốt cuộc có một ngày khiến A tỷ không thể nhẫn nhịn nổi nữa, A tỷ bèn bảo bà: "Bác đừng có hơi tí là nói câu đó nữa mà! Bác mà cứ nói mãi như thế, chúng cháu biết làm sao bây giờ? Chẳng lẽ lại không để bác làm việc nữa, chúng cháu tự đi mà làm, hoặc tìm người khác về làm chắc? Bác làm việc, chúng cháu chẳng phải có trả tiền cho bác sao? Có bắt bác làm không công đâu!" Lời này vừa thốt ra, bà cụ Tứ Xuyên liền nước mắt ngắn nước mắt dài rơi lã chã, dứt khoát rút khăn tay ra vừa lau nước mắt vừa hỉ mũi khóc lóc om sòm: "Tội nghiệp chưa! Số tôi sao mà tội nghiệp thế này!..." Kết quả là A tỷ lập tức chạy bổ tới nhà Cúc Cầm, hớt hải tức tối bắt Cúc Cầm mau chóng — một phút cũng không được chần chừ — đưa bà cụ Tứ Xuyên đó trở về nơi bà đã đến...
Chị Cúc Cầm thế mà vẫn không ngừng giúp đỡ A tỷ. A tỷ cũng vẫn không ngừng đón nhận sự giúp đỡ của chị Cúc Cầm.
Cái học viện mà chị Cúc Cầm giúp A tỷ chuyển về đó, vốn là một trường trung cấp chuyên nghiệp, một năm trước thời "Cách mạng Văn hóa" mới được nâng cấp lên thành trường đại học, vì thế trong đội ngũ nòng cốt của trường, những người nắm thực quyền hơn một nửa là học sinh tốt nghiệp trung cấp năm xưa được giữ lại trường, trình độ học vấn ban đầu của họ rất thấp, nhưng sau này một mặt họ liều mạng tham gia các kỳ thi tự học để nâng cao bằng cấp, mặt khác qua thực tiễn giảng dạy lâu năm họ quả thực cũng tích lũy được kinh nghiệm phong phú, vì thế trong quá trình xét phong học hàm cao cấp họ câu kết trên dưới thành một khối, cố gắng chiếm trọn những chỉ tiêu hiếm hoi được phép trong tỷ lệ phần trăm, bài xích những giảng viên tốt nghiệp đại học chính quy đến sau tuy có học vị cao ngất ngưởng như A tỷ — Cúc Cầm thuở ban đầu nào có hay biết những chuyện này, lúc A tỷ sốt sắng xin về đó, ban đầu chủ yếu cũng chỉ vì ham cái sự tiện lợi chỉ cần ngồi một chuyến xe buýt là tới thẳng cổng trường, đi lại dễ dàng, ai ngờ đâu lại rộ lên cái phong trào xét duyệt học hàm cao cấp! Ai ngờ đâu A tỷ thế mà lại thất bại thảm hại trong cuộc bình xét đó! Cửa ải cuối cùng của quá trình bình xét ấy là bỏ phiếu kín, trước đó chẳng có ai để lộ ra chút xíu nào ý tứ phủ định hay bài xích A tỷ, nhưng kết quả bỏ phiếu ra thì tên chị lại rớt tận đáy bảng, thử hỏi A tỷ có uất ức hay không, có nghẹn ứ tức tối hay không cơ chứ!
Thế nhưng A tỷ lại không cho phép bất kỳ ai tỏ vẻ thương hại ngay trước mặt mình. Có một lần Băng Long Trân ghé chơi, anh cũng có mặt ở đó, hoàn cảnh bản thân Băng Long Trân đã qua cơn bĩ cực đến hồi thái lai, tự nhiên rất sẵn lòng trút sự đồng cảm sang cho A tỷ: "Bọn họ đúng là bắt nạt người quá đáng! Bỏ phiếu kiểu này ly kỳ quá thể! Chị nên phản ánh lên cấp trên đi! Xem bọn họ giải thích thế nào? Cấp trên mà phê thị xuống một cái, bọn họ khắc phải tròn mắt cứng họng ngay..."
A tỷ lại lườm Băng Long Trân một cái, lạnh lùng cứng nhắc nói: "Tôi còn lâu mới giống như chị với cái nhà anh chị, viết cả xấp tài liệu khiếu nại dày cộp, cứ gửi lên trên mãi không dứt... Tôi có bị quy thành phái hữu đâu! Tôi không cần!"
Băng Long Trân khi ấy bẽ bàng ngượng ngùng vô cùng. Kể từ dạo đó dường như Băng Long Trân rất hiếm khi tới chỗ A tỷ nữa.
... Anh nhớ, hôm đó anh Dũng đi chợ về, vẫn cứ mua quá nhiều như thường lệ, biết anh thích ăn nhất món hẹ vàng, bèn mua một bó to tướng, bảo là để xào thịt sợi với hẹ vàng cho anh ăn, A tỷ vừa nhìn thấy bó hẹ vàng to đùng liền la toáng lên: "Làm cái trò gì thế này hả?! Anh coi đó là cỏ đấy à! Anh coi cậu út là con bò chắc! Ai mà ăn cho hết ngần ấy!"
Anh Dũng bèn bảo: "Ăn không hết thì cất đi..."
A tỷ nhảy tót xuống giường, bực bội nói: "Cất ở đâu? Cất vào tủ lạnh à? Để cho cái tủ lạnh nồng nặc toàn cái mùi đó hả? Tủ lạnh của tôi không chứa cái thứ này! Cất ngoài ban công tôi cũng chẳng ngửi nổi cái mùi đó đâu!..."
Anh bèn vội vã lên tiếng, phần còn thừa anh rất sẵn lòng mang về, ngày mai anh ăn thêm một ngày món thịt xào hẹ vàng nữa cũng chẳng thấy ngán đâu...
Bữa cơm hôm đó dọn ra, vẫn là một bàn đầy ắp thức ăn, anh Dũng theo lệ thường không ngừng gắp thức ăn bỏ vào bát anh, A tỷ thì liên tục nói với giọng hừng hực: "Gắp ít cái đó cho cậu út thôi... Lòng lợn thái sợi đó cholesterol cao lắm, cậu út ăn nhiều không tốt đâu!... Anh uống ít đi vài ngụm đi, xem tròng mắt anh đỏ ngầu như hòn than cháy rồi kìa! Táp Táp, ăn nhiều đậu phụ vào, trong đậu phụ có lecithin bổ não đấy, con đang tuổi này rất nên ăn... Liệu Liệu, đừng có lúc nào cũng chậm chạp không biết ý thế, cứ phải đợi người ta sai bảo mày mới chịu nhúc nhích hả? — Múc canh cho cậu út mau, múc từ đáy bát lên lấy ít tôm nõn ấy..."
Táp Táp từ lúc đi học về đến lúc ăn cơm hầu như chẳng nói câu nào. Anh nhớ hôm ấy sắc mặt đứa cháu gái u uất khác thường, hoàn toàn không tương xứng với lứa tuổi của nó. Táp Táp đẫy đà hơn trước một chút, chiều cao đã vượt quá một mét sáu lăm, trông vẫn cao và gầy, mái tóc vẫn hoe vàng thưa thớt, cột hai bím đuôi sam khô quắt, đôi mắt to sâu hoắm dưới vầng trán dô cực kỳ giống chị gái, nhưng lại lảng tránh ánh nhìn của người khác, dường như ẩn giấu rất nhiều bí mật sợ bị ai dòm ngó...
Anh hỏi Táp Táp: "Cháu còn rảnh đi xem dỡ cừu không? Còn hứng thú cầm gậy phụ lùa cừu nữa không?"
Táp Táp lạnh lùng đáp: "Quên lâu rồi ạ!" Nét mặt và giọng điệu giống hệt mẹ nó.
... Hôm ấy từ nhà chị bước ra, trên bãi đất trống dưới chân khu nhà, anh thấy cái nồi hơi sưởi khổng lồ vẫn nằm trơ trọi giữa đám cỏ dại khô cằn, bên trên đã nổi đầy vết rỉ sét — cái nồi hơi đó chở đến từ năm ngoái, nhưng chẳng hiểu sao cứ mãi không lắp vào phòng lò để vận hành. Cư dân mấy tòa nhà xung quanh, từ mòn mỏi mong ngóng đến dần dà thất vọng rồi tuyệt vọng, cuối cùng cũng bình thản nhẫn nại đi gánh than, chuyển than trước cái nồi hơi mới toanh đang bắt đầu gỉ sét kia, tiếp tục cuộc sống mùa đông dù trong phòng có ống và tấm tản nhiệt mà vẫn phải đốt lò than sưởi ấm...
Cái nồi hơi sừng sững ngự trị trên bãi đất trống giữa các tòa nhà, anh không nỡ nhìn lâu, bèn quay ngoắt đầu sang hướng khác...
6
Anh thường nhớ lại tiếng hát rộn ràng của chị và đám bạn học:
Bé ngoan ơi bé ngoan,
Tôi đố nhé, bạn đoán...
Làm cho lũ trẻ nhà bác thợ mộc Cam đối diện đều chạy ùa ra giữa sân, thậm chí còn áp mặt vào cửa sổ nhà anh, ngó nghiêng nhìn vào, vểnh tai lắng nghe...
Anh thường nhớ lại, khi màn đêm buông xuống, cây hoa kiều hùng trong sân khép lại những tán lá lông chim, hoa dạng sợi tỏa ra từng đợt hương thơm thanh mát ngạt ngào, chị ngồi ngay ngắn trước bàn học, dưới ánh đèn bàn chụp xanh lục thẫm, mím môi viết nhật ký, thỉnh thoảng lại dừng bút, chống cằm đăm chiêu trầm tư...
Anh thường nhớ lại, chị ôm cuốn tiểu thuyết trước ngực, mắt sáng ngời nhìn vào khoảng không, dư ba những bài học và sự cổ vũ thu nhận từ các tác phẩm ấy, bìa những cuốn tiểu thuyết trải qua bao năm vẫn như hiện ra trước mắt: "Thép đã tôi thế đấy", "Ruồi trâu", "Hải âu", "Vùng xa Moskva"...
Anh thường nhớ lại, chị dùng nét chữ thanh tú chép những danh ngôn sục sôi lòng người lên những tấm thiệp tự làm, trang trọng tặng cho anh. Câu danh ngôn chị tặng vào sinh nhật 10 tuổi của anh lại là: "Khi tôi chết, xin đừng đặt thiên thần sầu não lên nấm mồ tôi..." Đó là lời của nhà cộng sản Tiệp Khắc Julius Fučík — người từng viết cuốn "Viết dưới giá treo cổ"; lại có một bận chị chép cho anh lời của nhân vật Pavel Korchagin trong cuốn "Thép đã tôi thế đấy": "Cái quý nhất của con người ta là sự sống. Đời người chỉ sống có một lần. Phải sống sao cho..." Lời của Fučík và Pavel rốt cuộc đều hướng về việc con người phải sống và chiến đấu vì lý tưởng và sự nghiệp cộng sản cao đẹp, đó cũng là niềm tin của chị lúc bấy giờ. Phải rồi, anh thường nhớ lại, chị tự lấy dây thừng buộc bọc chăn chiếu, mẹ hỏi chị: "Trường có bắt học sinh nữ đi đâu, anh hai con hai hôm nữa lại vừa khéo lên Bắc Kinh, hay là con..." Chị vung mạnh bím tóc dài, kiên quyết nói: "Con phải đi! Chúng con phải đi!" Năm đứa con gái lớp chị nhất quyết tự nguyện tham gia lao động thu hoạch vụ thu ở nông thôn, việc vốn chỉ do nhà trường tổ chức cho nam sinh đi... Anh nhớ bốn cô nữ sinh cấp ba ấy đến nhà anh tập hợp, cùng chị ăn xong bát mì mẹ nấu, rồi ríu rít cười nói khoác bọc chăn chiếu lên đường...
Anh thường nhớ lại, chị mặc chiếc váy liền bằng lụa hồng cô tặng, viền cổ xếp nếp hình mộc nhĩ cực kỳ hiếm thấy thời ấy, chị mặc vào rạng rỡ hẳn lên, vui sướng lâng lâng như bay lên mây, nhưng bỗng chốc lại ngập ngừng: "Váy này có mặc ra ngoài đường được không nhỉ?" Cô bảo: "Sao lại không! May để cháu mặc ra ngoài mà!" Chị hăm hở chạy sang nhà bác gái Quách hàng xóm soi gương lớn — hồi đó nhà anh làm gì có tấm gương lớn như thế — anh rón rén đi theo, chị đứng trước gương túm vạt váy, xoay qua xoay lại ngắm nghía hồi lâu, rồi đột nhiên hai tay bưng lấy mặt, như thể vừa làm điều gì đáng xấu hổ lắm. Bất chợt quay đầu thấy anh, chị liền giơ tay vỗ vào đầu anh một cái, mắng: "Đồ đáng ghét!"... Về sau chị rốt cuộc vẫn không mặc chiếc váy lụa hồng viền bèo mộc nhĩ ấy ra đường, đến trường...
Điều càng hay nhớ lại hơn, dĩ nhiên là khoảnh khắc trước chiếc tủ năm ngăn, chị và anh Đạt Dã lặng lẽ nhìn nhau... Trên tủ có một chiếc máy thu thanh chạy đèn điện tử của Mỹ đã cũ nhưng âm thanh rất hay, do cô tặng cho gia đình, từng bị hỏng đèn mất tiếng, chính người bạn cùng lớp của anh ba — Từ Minh Ích hát vai lão đán — đã đến tận nhà sửa giúp...
Phải rồi, anh còn hay nhớ lại kỳ nghỉ đông chị từ Cáp Nhĩ Tân về, kể cho cả nhà nghe bao chuyện đi thực tập ở vùng Bắc Đại Hoang. Có mấy ngày họ chia nhau đến các đội cơ giới nông nghiệp khác nhau, một đêm người ta xếp cho chị ngủ một mình trong căn phòng có vách sưởi, rốt cuộc chị phát hiện bên trong cửa phòng không có then cài... Ngoài trời gió bấc gầm rú, tuyết bay điên cuồng, chị kéo chiếc bàn chặn cửa lại rồi yên tâm đi ngủ, nửa đêm bỗng có tiếng húc cửa, càng lúc càng dữ dội, chị bật dậy, dốc hết sức đẩy mọi đồ đạc trong phòng ra chèn cửa, còn hét to: "Mày dám à! Mày dám không!! Mày dám không!!!" Mãi sau tiếng húc cửa mới dứt, chị mệt lử trèo lên sưởi ngủ tiếp, ngủ li bì đến tận sáng bạch... Ban ngày chị kể lại chuyện đó cho cánh đàn ông đội cơ giới nghe, ai nấy đều sững sờ, đội trưởng rối rít nhận lỗi vì không phát hiện then cửa hỏng, các đội viên đều bảo chuyện này nhất định phải điều tra cho rõ, không thì ai cũng mang diện tình nghi... Cuối cùng kiểm tra ra, trên nền tuyết ngoài cửa in dấu chân sói hoang!... Phải rồi, anh còn thường nhớ lại, khi chị kể những chuyện ấy, nét mặt lo lắng trong mắt mẹ, và sắc đỏ tự hào rạng ngời trên gương mặt cha...
Phải rồi, anh thường nhớ lại, trước khi chị đi lấy chồng, chị đã gom chồng nhật ký lớn nhỏ dày mỏng khác nhau, dùng chiếc khăn lụa nhập khẩu từ Liên Xô mà mình yêu quý nhất thời bấy giờ bọc lại cẩn thận, rồi lấy dây mảnh buộc chặt, trao cho mẹ... Trong đó ghi lại toàn bộ tình cảm trong sáng thời thiếu nữ, những hoài bão nhiệt thành, những lời bộc bạch chân thành, nỗi đau kín đáo, nỗi niềm băn khoăn khó tỏ...
Nhưng tất cả những hồi ức ấy, giá như biến mất hết đi thì hơn!
Đặc biệt là vào ngày hôm đó. Đó là một ngày ra sao chứ...
Dẫu cho chuyện chức danh của chị vẫn chưa được giải quyết một cách vô lý và bất công tột cùng, dẫu cho Liệu Liệu thi đại học lần hai vẫn trượt, dẫu cho tính khí Táp Táp trở nên hết sức kỳ quặc và luôn bất hòa với cả nhà, nhất là với chị, nhưng khi anh đón mẹ từ chỗ anh hai về Bắc Kinh ở lâu dài, chị vẫn luôn bảo cũng phải để mẹ sang chỗ chị ở một dạo, chị muốn nấu mấy món ngon cho mẹ ăn, đưa mẹ đi dạo Thiên Đàn, Long Đàm ở phía nam thành phố, rồi cùng mẹ tâm sự chuyện riêng của hai mẹ con...
Đúng lúc anh Dũng theo một nhóm trong xưởng đi Nội Mông khảo sát tình hình chăn thả cừu thịt, chị liền đón mẹ từ nhà anh sang. Không có anh Dũng, mẹ ở chỗ chị mới có chỗ ngủ. Vốn dĩ chị muốn Táp Táp sang phòng lớn ngủ giường lớn với chị, nhường "phòng nhỏ" của Táp Táp cho mẹ ở tạm, mẹ bảo không cần, nói rất muốn nằm chung với chị, như thế ban đêm hai mẹ con còn tiếp tục tâm sự được...
Anh nghĩ có mẹ sang ở tạm bên chị một thời gian, có thể làm vơi bớt nhiều phiền muộn trong lòng chị, lại càng thúc đẩy sự hòa thuận giữa mẹ con chị với Liệu Liệu, Táp Táp, đối với việc chung sống sau khi anh Dũng trở về cũng có tác dụng hâm nóng, làm dịu êm. Anh giúp chị thu xếp cho mẹ xong xuôi, suốt chặng đường về nhà mình đều thầm cầu chúc cho gia đình chị và mẹ...
Nửa tháng sau anh đến nhà chị, vừa bước vào cửa liền thấy mẹ quả nhiên là chất bôi trơn tuyệt vời, cả căn hộ ngập tràn bầu không khí ấm áp như cỏ xuân đâm chồi, liễu rủ đón gió.
... Trước bàn tròn gấp, Táp Táp ngồi đối diện chiếc gương bầu dục trên bàn, mẹ đứng sau lưng đang chải đầu cho mái tóc vừa gội xong của nó; mẹ thấp béo và từ ái, Táp Táp gầy đen mà hớn hở; Liệu Liệu thì ngồi trên ghế sô pha đối diện bàn tròn, trên đầu gối dựng bảng vẽ, đang vẽ một bức phác thảo than chì cho bà ngoại và em gái; chị thì đứng bên bàn học, đang trộn nhân bánh chẻo trong một âu gốm, căn phòng vì thế thoang thoảng mùi nhân thịt lợn thì là...
Cậu út! Cậu xem tóc cháu có đen hơn nhiều không?" Táp Táp rũ bỏ vẻ lạnh lùng trước đây, hoạt bát khoe. "Ngày nào bà ngoại cũng pha nước 'hắc phát ẩm' cho cháu uống đấy! Là bà ngoại tự phối mè đen, óc chó, ý dĩ chín với đường cát sao đấy, mỗi ngày cháu uống hai bận sáng tối, bà ngoại còn ngày nào cũng mát xa da đầu cho cháu, giờ tối nào đầu cháu cũng ngứa ran rát, đang mọc tóc đấy ạ! Cậu út nhìn xem, nhìn xem này..."
"Ừ, mẹ nói đúng đấy," chị cũng cười tươi rói nói, "Nhà họ Tưởng chúng ta, rồi cả anh Dũng của cậu nữa, tóc ai chẳng đen nhánh dày dặn? Tóc của Táp Táp căn bản đâu phải do bẩm sinh, không phải vấn đề di truyền... Đều do đi theo chị với anh Dũng 'chinh chiến nam bắc', suy dinh dưỡng, căng thẳng quá độ, nên mới không mọc tốt, thành ra vừa vàng vừa thưa... Đúng là phải tẩm bổ cho tử tế!"
"Cậu út! Cháu đăng ký một lớp thiết kế quảng cáo, đang khổ luyện đây..." Liệu Liệu cũng hớn hở khoe với anh, "Học xong có thể được phân công về các trung tâm thương mại lớn làm thiết kế tủ trưng bày, kiếm được khéo còn nhiều hơn bố mẹ cháu ấy chứ!"
Nhìn thấy và nghe thấy tất cả những điều này, anh vui mừng biết bao!
... Sau đó mấy mẹ con bà cháu quây quần quanh bàn tròn gói bánh chẻo, chị bảo: "Trước đây chị chịu không ăn nổi thì là, ngửi thấy mùi là không chịu được... Ha, đều do anh Dũng kéo chị xuống nước đấy — giờ hễ gói bánh chẻo là nghĩ ngay đến thì là! Hẹ với cải thảo đều tụt xuống hàng hai hàng ba rồi..." Anh nghe mà càng thấy êm tai, thực sự đã lâu lắm rồi anh không nghe thấy chị nhắc đến anh Dũng bằng giọng điệu như thế...
Thế nhưng mọi người vừa ăn xong bánh chẻo, còn chưa kịp húp nước canh, bỗng có tiếng gõ cửa. Ai nấy đều lấy làm lạ. Bởi chỗ chị bình thường rất hiếm khi có khách tới, chị với hàng xóm láng giềng cũng hầu như chẳng bao giờ qua lại...
Liệu Liệu ra mở cửa, ngoài cửa không phải một người mà là hai người, một nam một nữ, họ bảo muốn tìm một người, cái tên thốt ra không phải chị, không phải anh Dũng, không phải Liệu Liệu hay Táp Táp, thậm chí cũng chẳng phải anh, nhưng họ lại không hề tìm nhầm cửa, cái tên họ gọi chính là mẹ!
Thật là chuyện quái lạ.
Đành phải mời họ vào nhà, lúc này họ mới nhắc đến tên anh, nói là đã đến nhà anh rồi, được vợ anh tiếp đón — họ muốn tìm mẹ anh, vợ anh đành nói cho họ biết mẹ anh hiện đang ở nhà chị gái, thế là họ ghi lại địa chỉ rồi lần mò tới tận đây...
"Tìm tôi?!" Mẹ nheo mắt ngơ ngác. Mọi người đều nhìn mẹ, rồi lại nhìn hai người một nam một nữ kia. Người đàn ông ngoài năm mươi, tướng mạo chẳng có điểm gì nổi bật; người phụ nữ tương đối trẻ, trông chừng ngoài ba mươi tuổi, nhan sắc bình thường, trên má phải có một nốt ruồi rất to, lồi hẳn lên, màu nâu sẫm.
"Chào thím Tưởng!" Người phụ nữ chủ động cất tiếng chào.
"A! Ra là cô —" Mẹ nhận ra người phụ nữ đó, nét mặt lập tức sa sầm, nhíu mày hỏi, "Cô chạy đến đây làm gì? Cô tìm tôi có việc gì?"
Hai người một nam một nữ ấy liền tỏ vẻ hết sức khiêm nhường, thong thả giải thích ngọn ngành.
Chị đành phải mời họ ngồi xuống. Liệu Liệu rót cho họ hai chén trà.
Thì ra, hai người đó là nhân viên văn phòng của học viện quân sự nơi cha từng công tác. Họ nói dạo gần đây cơ quan dọn dẹp triệt để phòng lưu trữ, phát hiện trong góc phòng còn niêm phong một số đồ đạc bị tịch thu khi khám xét nhà trong thời "Cách mạng Văn hóa", không chỉ của một nhà hay một người, có vài cuốn sổ tay của cựu viện trưởng, mấy cuốn album tem của phó viện trưởng, mấy trục tranh thơ cổ của giáo viên nào đó, mấy cuốn album ảnh cá nhân của giáo viên nọ... Và trong lúc thu dọn, họ phát hiện ra còn có một bọc sổ nhật ký bị tịch thu từ chỗ cha. Nay dù cha đã qua đời, nhưng họ thấy cần phải trao trả lại bọc sổ ấy cho góa phụ của cha. Vì họ lặn lội đường xa chuyên chở đến, bắt buộc phải đích thân trao trả và lấy chữ ký biên nhận của người nhận, nên mới mạo muội tìm đến tận nhà chị gái...
Chị nghe mới được nửa chừng đã quát bảo Liệu Liệu và Táp Táp về phòng mình, bắt chúng đóng chặt cửa lại.
Mẹ ngồi bên mép giường, như thể bị xé toạc vết sẹo vừa mới lành miệng, ngũ quan co giật, trừng mắt nhìn người phụ nữ có nốt ruồi trên mặt: "Vẽ chuyện! Các người làm thế này là có ý gì?!..."
Người phụ nữ liền cố gượng cười xoa dịu: "Thím Tưởng à, đây cũng là để thực hiện chính sách một cách triệt để, không để lại khúc mắc gì nữa mà! Năm xưa tôi cũng từng làm chuyện sai lầm, đau lòng lắm... Bản thân tôi xin được tạ lỗi trước vong linh thầy Tưởng, và xin lỗi thím..."
Người đàn ông bên cạnh đỡ lời: "Hồi đó là hoàn cảnh đặc biệt mà, mấy tay đầu sỏ 'phe tạo phản' quậy phá dạo ấy sau này chúng tôi cũng xử lý từng người một rồi... Cô Khương đây lúc đó chỉ là người bị cuốn vào thông thường, bị mê muội, sau này luôn làm kiểm điểm. Chúng tôi cũng phê bình cô ấy rồi... Lần này đặc ý để cô ấy cùng đi, cũng chính là để tạ lỗi với thím một cách triệt để..."
Vừa nói, người đàn ông vừa lấy từ trong túi xách ra một chồng sổ nhật ký bọc trong chiếc khăn quàng đã bạc màu rách nát, bên ngoài lại buộc mấy vòng dây thừng, giơ tay đưa cho mẹ.
Mẹ không nhận, bà chỉ nhìn chăm chăm vào người phụ nữ có nốt ruồi trên mặt, giọng khản đặc: "Hồi đó tôi đã bảo với các người rồi, đó không phải đồ của ông Tưởng Nhất Thủy, đó là nhật ký con gái Tưởng Doanh Ba của tôi viết hồi học trung học, đại học, các người cứ khăng khăng đòi tịch thu, cứ khăng khăng đòi tịch thu..."
Người phụ nữ kia liền khuyên lơn: "Chuyện qua cả rồi, đường lối cực tả mà! Hồi đó chúng tôi ai cũng thế, cứ thấy thứ gì có chữ là thấy khả nghi, là tình hình địch, là phải tra xét nghiêm ngặt... Giờ nhận thức được chuyện khám nhà như thế là hoàn toàn sai trái rồi! Phải, thím nói đúng, đây quả thực không phải thứ do đích thân thầy Tưởng viết... Hồi đó do tôi được phân công kiểm tra, tôi đọc hết rồi, chẳng có nội dung phản động nào đâu..."
"Cô đọc hết rồi?!" Chị bỗng phát ra một tiếng — chỉ có thể miêu tả là tiếng thét quái gở.
Người đàn ông và người phụ nữ kia ban đầu dồn hết sự chú ý vào mẹ, không mấy để tâm đến anh và chị. Âm thanh dị thường này mới khiến họ ngoảnh đầu nhìn sang chị.
Anh nhớ, khoảnh khắc ấy cả gương mặt chị gần như biến dạng, trong hai mắt bốc lên những tia lửa rực rỡ, chỉ khi những thứ quý giá nhất trong tâm hồn bị đập vỡ, bị cứa những vết thương sâu hoắm, một người mới có được nét mặt và ánh mắt như thế...
"Đúng vậy, mấy người phe tạo phản chúng tôi luân phiên nhau đọc, đúng là không phát hiện ra nội dung phản động nào..." Người phụ nữ ôn tồn giải thích, "Cho nên sau đó cứ vứt ở góc phòng lưu trữ, không ai đoái hoài nữa, gần đây tổng dọn dẹp mới phát hiện ra..."
"Con đã bảo mẹ đốt hết sạch đi cơ mà?!" Chị bỗng dưng quay sang quát mẹ, "Sao lại thế này? Sao không đốt?!"
Mẹ nhìn chị đau đớn, trong mắt tràn đầy vẻ vô tội.
Anh ngồi xuống cạnh mẹ, nắm lấy bàn tay lạnh ngắt, run rẩy của bà. Anh hiểu, lúc đó mẹ không đốt có lẽ chỉ xuất phát từ một thói quen, mẹ hầu như chẳng bao giờ cố tình hủy hoại bất cứ thứ gì, huống chi mẹ làm sao lường trước được sau này lại có "Cách mạng Văn hóa", có chuyện lục soát nhà, có cái đám "phe tạo phản" dám đi soi mói cả nhật ký con gái người ta... Mẹ làm sao lường được bao năm tháng trôi qua, cha đã qua đời, lại còn có đôi nam nữ này tìm đến tận nhà chị, bám riết đòi thực hiện chính sách quái quỷ gì!
Anh liền bảo với hai người kia: "Hai người là khách không mời, hai người làm mẹ tôi bị kích động quá rồi... Vì sức khỏe của mẹ tôi, xin hai người để nhật ký lại rồi mau đi cho..."
Hai người kia bèn đứng dậy, đặt bọc nhật ký lên bàn tròn.
Người đàn ông rút một tờ giấy trong túi ra, khúm núm nói: "Ký cho cái tên đi ạ, ký tên xong là chúng tôi đi ngay..."
Chị thoắt cái lao tới, giật phắt tờ giấy xé nát vụn thành từng mảnh, chị quát lên một tiếng, giơ tay chỉ thẳng ra cửa: "Cút! Cút hết đi cho tôi!"
Người đàn ông giật thót, lập tức đanh mặt phản đối: "Cô, cô làm cái gì thế?!"
Người phụ nữ sợ hãi lùi lại phía sau, cuống quýt nói: "Chúng tôi đâu có đại diện cho cá nhân, cơ quan cử chúng tôi đến mà, chúng tôi đến để thực hiện chính sách mà..."
Chị bỗng giậm chân khóc rống lên: "Nhật ký của tôi! Nhật ký của tôi! Các người lấy quyền gì mà xem nhật ký của tôi! Cô lấy tư cách gì mà xem nhật ký của tôi!" Chị ôm mặt khóc lớn. Cả đời anh chưa từng thấy ai gào khóc đau đớn đến nhường ấy...
Anh liền đứng dậy vừa đẩy vừa xô đuổi hai người kia ra ngoài cửa, rồi đóng sầm cửa lại.
Anh vừa quay người lại, đã thấy chị như phát điên chộp lấy bọc nhật ký trên bàn tròn, mấy phát giật đứt dây thừng, xé rách chiếc khăn voan bọc ngoài, những cuốn nhật ký rơi lộp độp văng vãi đầy đất, rồi chị ngồi thụp xuống vớ được cuốn nào là xé cuốn ấy, xé không đứt thì nghiến răng nghiến lợi dốc sức xé, sau đó lại chạy đi lấy diêm quẹt lửa toan đốt... Anh ôm chặt lấy chị từ phía sau. Người chị yêu quý của anh! Người chị từng vì đọc "Thép đã tôi thế đấy" mà rơi những giọt nước mắt thanh xuân, từng vì xem phim "Cuộc sống hạnh phúc" mà quyết đem tấm thân mảnh mai cống hiến cho sự nghiệp cơ giới hóa nông nghiệp, từng cùng anh Đạt Dã tựa hai bên chiếc tủ năm ngăn lặng lẽ nhìn nhau, từng cùng đám bạn đại học trong sáng cất cao giọng hát bài "Bé ngoan ơi bé ngoan", từng một mình nơi căn nhà đất vùng Bắc Đại Hoang đối đầu với bầy sói dữ...
Liệu Liệu và Táp Táp lao ra, chết lặng nhìn cảnh tượng khiến chúng muôn phần kinh ngạc và hoang mang.
Chị ngã ngồi dưới đất, nghiêng người gục vào lòng cậu em trai đang ngồi xổm mà nức nở nghẹn ngào. Anh ôm chặt lấy chị. Anh hiểu sâu sắc rằng, chị đã bị cướp đoạt, bị vấy bẩn, bị chà đạp những gì!
Mẹ vẫn ngồi bên mép giường, hai tay đan vào nhau đặt trên đầu gối. Bà không khóc, thậm chí hốc mắt cũng không có giọt lệ nào, cả đời bà trải qua không nhiều sóng gió, bà chỉ ngồi im lặng một cách bi tráng mà trang nghiêm, đôi môi mím chặt...