1
Bạn có chút do dự.
Không chỉ là một chút.
Thế nhưng dây cương do dự chẳng thể ghì giữ được bạn, rốt cuộc bạn vẫn đến khách sạn Vương Phủ.
Khách sạn Vương Phủ!
Năm sao rốt cuộc vẫn là năm sao. Thác nước nhân tạo nơi đại sảnh mang khí thế phi phàm. Từng chi tiết đập vào mắt đều đang hữu thanh hoặc vô thanh tuyên bố về đẳng cấp thượng thừa nơi đây.
Đẳng cấp hàng đầu. Thượng lưu.
Dường như chính vì quá đỗi thượng lưu, nên người ta mới bài trí một thác nước nhân tạo đổ tầng nơi đại sảnh — nhằm phô bày chân lý mộc mạc nhất: "nước chảy chỗ trũng". Thật đấy, nếu nơi này đặt một đài phun nước, ngược lại sẽ hỏng cả phong cảnh.
Hẹn bạn đến sảnh Sâm-banh, ăn đồ Tây kiểu Pháp. Còn hẹn cả Tư Bảo La. Buổi tụ họp của bạn học cũ. Thấm thoắt ba mươi lăm năm!
2
Bạn đi, là bởi bạn vẫn nhớ, thuở ấy, khi mới chỉ là một học sinh lớp chín, bạn đã ấp ủ những giấc mộng văn chương rực rỡ muôn màu; và có một ngày, sau giờ tan trường bạn ghé qua khu tập thể nơi Niên Kiền Kỳ và Tư Bảo La cùng sống. Bạn chơi rất thân với Tư Bảo La, thường ngày toàn quanh quẩn ở nhà cậu ấy, chẳng hiểu sao hôm ấy bước ra từ nhà Tư Bảo La, bạn lại tình cờ ghé sang nhà Niên Kiền Kỳ. Mối quan hệ giữa bạn và Niên Kiền Kỳ vốn rất đỗi bình thường, vậy mà chính tại nơi đó, bạn đã tuyên bố rằng sau này sẽ viết một cuốn sách, một cuốn tiểu thuyết thật dày, Niên Kiền Kỳ bèn hỏi bạn cuốn tiểu thuyết ấy tên gì, bạn bảo cậu ấy rằng tên là "A Tỷ".
Niên Kiền Kỳ nghe xong lúc đó dường như cảm thấy vô vị lắm. Hai người chẳng tiếp tục tán gẫu nữa. Về sau bạn không bao giờ nhắc lại chuyện ấy với Niên Kiền Kỳ, cậu ấy cũng chẳng buồn hỏi thêm. Sau khi tốt nghiệp cấp hai, bạn dứt hẳn liên lạc với Niên Kiền Kỳ. Bạn và Tư Bảo La cùng học chung một trường cấp ba, sau này bạn vẫn giữ liên lạc đứt quãng với Tư Bảo La, nhưng kỳ lạ là cho đến tận bây giờ, bạn chưa từng nhắc với Tư Bảo La rằng mình muốn viết một cuốn sách, một cuốn tiểu thuyết mang tên "A Tỷ".
Bạn không hiểu vì sao lại thế. Bạn vẫn thường không hiểu vì sao. Chẳng vì sao cả, mà rốt cuộc lại thốt ra lời này, làm nên chuyện nọ, để lại điều kia. Cứ ngẫm xem vì sao, thì lại chẳng thể nói ra, chẳng thể làm được, chẳng để lại điều gì. Rốt cuộc là vì sao?
3
Niên Kiền Kỳ từ Mỹ trở về. Cậu ấy sang Mỹ đã được mười tám năm. Giờ đây cậu ấy là một người Mỹ. Nghĩa là cậu ấy đã chính thức nhập quốc tịch Mỹ. Cậu ấy là một vị khách ngoại quốc.
Niên Kiền Kỳ định cư ở San Francisco. Cậu ấy làm kinh doanh. Cậu ấy là một thương nhân người Mỹ. Cậu ấy kiếm tiền từ bên này. Đương nhiên, những hoạt động thương mại của cậu ấy cũng mang lại mối lợi cho nơi đây. Cậu ấy là một nhân vật được chào đón.
Bắt đầu về nước từ bốn năm trước, tính cả lần này nữa là tròn chín lần.
Cậu ấy từng quay về trường cũ. Hiệu trưởng, chủ nhiệm giáo dục, các giáo viên già và giáo viên trẻ, lại thêm cả cán bộ Đoàn nơi ấy đã tiếp đón cậu ấy nồng nhiệt, thậm chí có thể nói là vô cùng phấn khởi, rồi giới thiệu cậu ấy với đám học sinh trung học thời nay. Cậu ấy cũng từng quay về chốn xưa từng sinh sống. Khu tập thể lớn nơi cậu ấy và Tư Bảo La từng ở đã bị dỡ bỏ từ lâu, nay mọc lên hai dãy nhà tập thể đúc bằng bê tông cốt thép, vẫn còn đó những người hàng xóm thuở nào. Cậu ấy nhận được sự hoan nghênh của ban dân phố hiện tại cùng một số láng giềng cũ và cư dân mới, mức độ nồng nhiệt tuy kém đôi chút so với trường cũ, nhưng cũng tràn ngập những chi tiết khó quên. Cậu ấy cũng từng trở lại cơ quan nơi mình từng làm việc trước khi sang Mỹ, đám đầu mục cán bộ năm xưa hầu như đã thay sạch, song vẫn còn không ít đồng nghiệp cũ ngày ngày tới đó đi làm, họp hành, lĩnh lương, thanh toán công tác phí; cậu ấy nhận được sự đón tiếp bình thường, nhưng bàn về chuyện cậu ấy xuất ngoại, phát tài rồi vinh quy bái tổ, những người trong cơ quan ấy rỉ tai nhau nhiều câu chuyện và lời bình phẩm hơn hẳn trường xưa hay chốn cũ.
Cậu ấy về Trung Quốc, đương nhiên phần lớn thời gian và tâm lực đều dồn cả vào việc làm ăn, cậu ấy đã thiết lập các mối quan hệ ở nhiều mức độ khác nhau với không dưới ba mươi cơ quan, ban ngành, đơn vị lớn nhỏ.
Bốn năm với chín lần về Trung Quốc, cho tới tận lần cuối cùng này, trong miệng, trong mắt và trong lòng người dân bên này, thoắt cái cậu ấy được coi là hoa kiều, thoắt cái được ngợi ca là "đứa con đỏ nơi hải ngoại", thoắt cái lại được thương cảm gọi là "kẻ tha hương nơi đất khách", rồi vài phen được xưng tụng là "nhân sĩ yêu nước hải ngoại". Có bận lại được trịnh trọng gán cho danh hiệu "người Bắc Kinh quốc tịch Mỹ", cố nhiên thường thấy nhất vẫn được quy kết thành "người Mỹ gốc Hoa", lại vì cậu ấy sang đó thừa kế gia sản của người chú nên còn được gọi là "người Mỹ gốc Hoa", cộng thêm người vợ hiện tại của cậu ấy vốn từ Đài Loan sang, nên đôi lúc cậu ấy lại được coi là kiều bào Đài Loan hoặc thân nhân Đài kiều. Từng có bận cậu ấy còn được tôn là "nhân sĩ yêu nước du cư tại Mỹ", nhưng trên bàn tiệc, những kẻ vỗ vai thân mật cùng cậu ấy bàn chuyện "người Trung Quốc chúng mình" thì lại càng đông đảo hơn nhiều.
Thế nhưng, dẫu rằng Niên Kiền Kỳ ở Mỹ thật sự chưa thể tìm thấy sự đồng điệu trọn vẹn về mặt tâm lý với những người Mỹ da trắng không thuộc nhóm thiểu số, hễ trở về Trung Quốc, đặt chân tới Bắc Kinh, đứng trước mặt người Trung Quốc, trong toàn bộ tâm trí cậu ấy lại ngập tràn một ý thức rõ rệt: ta là một người Mỹ, một công dân có nghĩa vụ nộp thuế của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ.
4
Niên Kiền Kỳ hỏi thăm được số điện thoại nhà bạn một cách dễ dàng. Nếu không có bạn giúp, Niên Kiền Kỳ chẳng thể nào tìm ra Tư Bảo La. Bây giờ bạn đã nổi danh. Tư Bảo La vẫn vô danh tiểu tốt. Niên Kiền Kỳ thừa nhận, thực ra cậu ấy nôn nóng muốn gặp Tư Bảo La hơn. Năm xưa cậu ấy và Tư Bảo La đâu chỉ là bạn học, láng giềng, mà còn là bạn cùng đạo.
"Tư Bảo La dạo này thế nào?"
Tư Bảo La vẫn chưa tới. Đã quá giờ hẹn mà Tư Bảo La vẫn chưa xuất hiện. Niên Kiền Kỳ gọi đồ uống cho mình và cho bạn trước, cậu ấy uống rượu mạnh Rémy Martin kèm đá, bạn uống một thứ rượu khai vị màu hồng do cậu ấy giới thiệu, cậu ấy đọc tên rượu bằng tiếng Pháp, nói rất nhanh, bạn nghe không rõ mà cũng ngại chẳng dám hỏi lại.
Rượu khai vị uống rất ngon. Ngọt thanh, phảng phất chút vị cay, khi trôi qua cổ họng mang lại cảm giác êm mượt tựa như vuốt ve tấm vải nhung.
Tư Bảo La dạo này thế nào?
Biết bắt đầu từ đâu bây giờ.
Bạn nhìn Niên Kiền Kỳ, lạ lùng thay, bao năm tháng trôi qua, dường như cậu ấy chẳng có mấy đổi thay. Năm xưa cậu ấy vốn cao lớn như thế, khuôn mặt to bè như thế, chiếc mũi to tướng như thế, hai hàng lông mày cách nhau xa lắc, hai con mắt hơi xếch xuống thành hình chữ "bát" như thế, ánh mắt già dặn như thế... Dẫu cho cậu ấy đang khoác trên mình bộ âu phục đắt tiền, lại xức nước hoa, nhưng bạn vẫn luôn cảm thấy trên người cậu ấy toát ra mùi hương của chiếc áo khoác dạ cũ kỹ, một thứ mùi pha trộn giữa băng phiến và nấm mốc. Ngày ấy thời niên thiếu, khi bạn tới nhà cậu ấy bảo rằng mình muốn viết một cuốn tiểu thuyết thật dày với cái tên dự định là "A Tỷ", cậu ấy mặc một chiếc áo khoác dạ cũ hình xương cá của thế hệ trước để lại, mùi hương trên chiếc áo khoác ấy chẳng hiểu sao cứ lảng vảng mãi cho tới tận hôm nay...
Bạn muốn kể tường tận cho cậu ấy nghe về Tư Bảo La. Thế nhưng dù là cậu ấy hay bạn, cũng chẳng có ngần ấy thời gian. Có lẽ khi Tư Bảo La tới, cậu ấy sẽ tự mình giãi bày. Nhưng rất có thể Tư Bảo La sẽ chỉ tóm gọn lại bằng một câu đơn giản: "Tôi sống rất tốt, tôi vô cùng yêu thích công việc giảng dạy hiện tại."
Bạn thầm nghĩ: Niên Kiền Kỳ mất liên lạc với Tư Bảo La từ khi nào nhỉ?
Đã bao nhiêu năm rồi. Chắc chắn là từ hồi cả nhà Niên Kiền Kỳ dọn ra khỏi khu tập thể ấy, họ đã chẳng còn giữ liên lạc.
Sau đó, cho tới trước lúc Niên Kiền Kỳ sang Mỹ vẫn còn nhiều năm trời, tìm Tư Bảo La chẳng hề khó khăn, nhưng Niên Kiền Kỳ không tìm, thậm chí chẳng thèm hỏi thăm. Chuyện đó âu cũng tự nhiên. Giờ đây Niên Kiền Kỳ lần thứ chín từ Mỹ trở về Bắc Kinh, trong lúc rảnh rỗi giữa việc làm ăn phát đạt, bỗng muốn dùng cuộc gặp gỡ bạn học cũ, láng giềng cũ, bạn đạo cũ để điều hòa thần kinh, điều đó cũng thật tự nhiên.
"Tư Bảo La dạo này thế nào?"
5
Người lẽ ra phải nổi danh là Tư Bảo La, chứ không phải bạn.
Ngay từ năm mười sáu tuổi, Tư Bảo La đã có thể tấu lên những bản sonata phức tạp của Mozart, Liszt trên cây đàn dương cầm, vả lại trong hội diễn sáng tác văn nghệ nghiệp dư của học sinh trung học toàn thành phố năm ấy, cậu ấy từng đoạt giải nhất nhờ trình diễn bản "Khúc ca chim sẻ" do chính mình soạn nhạc.
Cũng chính vào dạo ấy, Tư Bảo La đã có thể hoàn thành nhiều động tác mạo hiểm và đẹp mắt trên xà đơn và xà kép, cậu ấy từng là gương mặt kiệt xuất trong đội thể dục dụng cụ của trường thể thao nghiệp dư cấp quận, đoạt giải ba toàn năng và quán quân xà kép trong cuộc thi thể dục dụng cụ thuộc đại hội thể thao học sinh trung học toàn thành phố.
Cứ hễ đông về, bóng dáng Tư Bảo La lại thoăn thoắt trên sân trượt băng, cậu ấy luôn thích mặc chiếc áo len đỏ, chiếc quần ống túm bằng vải thô, đầu đội mũ len sợi đen, chân xỏ đôi giày trượt băng khúc côn cầu; thoắt cái hòa cùng đám trượt băng tốc độ chạy vòng lớn đua tài, thoắt cái lại nhập bọn trượt băng nghệ thuật múa hình số tám, xoay tít và biểu diễn thế kim kê độc lập giữa lòng sân, chốc lát sau lại cầm gậy khúc côn cầu lao vào khu thi đấu đuổi chặn sút bóng rộn ràng...
Trên lớp học, Tư Bảo La bộc lộ một bộ óc toán học phi phàm, khả năng tính nhẩm của cậu ấy cực kỳ nhạy bén, thi cử hầu như lần nào cũng dễ dàng ẵm trọn điểm tuyệt đối, mỗi đầu học kỳ khi phát sách giáo khoa toán, chẳng đợi thầy giáo giảng giải, chỉ vài hôm là cậu ấy lật xem xong một lượt, trong vài tuần đã tự mình giải sạch mọi bài tập. Đến mức khi người thầy giáo trẻ gặp khó khăn lúc giảng giải các bài tập mẫu, đành phải cầu cứu cậu ấy, mời cậu ấy lên bảng giảng giải từng bước, cậu ấy giải thích còn khiến các bạn hiểu rõ mánh khóe hơn cả thầy giáo; về sau cậu ấy tự tìm sách toán của lớp lớn hơn để tự học, tới khi tốt nghiệp lớp chín, cậu ấy đã tự tu luyện xong toàn bộ chương trình toán cấp ba...
Thế nhưng, Tư Bảo La từ hồi cấp hai đã luôn gặp phải rắc rối.
Môn sinh học lúc đầu dạy về thực vật học, sau đó chuyển sang động vật học, rồi tiếp theo giảng tới sự tiến hóa từ vượn thành người. Nhớ lại tiết học đầu tiên khi giáo viên sinh học vừa giảng xong bài tiến hóa từ vượn thành người, chuông tan học vừa reo mà giáo viên còn chưa rời khỏi bục giảng, Tư Bảo La đã bước tới, hết sức chân thành bảo với thầy giáo:
"Sao con người lại có thể do vượn biến thành được ạ? Con người là do Thượng đế tạo ra chứ!"
Mấy người bạn học vây lại, trong đó có cả bạn. Bạn nhớ rằng thoạt đầu giáo viên sinh học tưởng Tư Bảo La cố tình nghịch ngợm nên chẳng thèm đếm xỉa, mấy đứa bạn xung quanh cũng bật cười, nhưng vẻ mặt Tư Bảo La vô cùng nghiêm túc, cậu ấy thậm chí dùng giọng điệu như muốn tranh biện với thầy giáo mà nói:
"Thượng đế tạo ra loài vượn cũng tạo ra con người, Thượng đế tạo ra con người là tạo ra đàn ông trước, đặt tên là Adam, sau đó lại dùng chiếc xương sườn của Adam để tạo ra đàn bà, đặt tên là Eva... Những điều này đều có căn cứ! Còn căn cứ vượn biến thành người nằm ở đâu chứ?" Thầy giáo sinh học giận tới mức sững sờ trợn mắt há mồm.
Bạn không còn nhớ rõ những tình tiết cụ thể, tóm lại, thầy giáo sinh học đã kịp thời báo cáo sự việc này lên hiệu trưởng và bí thư chi bộ trường...
Bởi lẽ đó, sau khi bạn và bao bạn học khác đều đã đeo khăn quàng đỏ, trở thành đội viên "Đội Thiếu niên Tiền phong Cộng sản Trung Quốc", dẫu Tư Bảo La năm lần bảy lượt nộp đơn xin gia nhập, thì suốt một thời gian dài vẫn chẳng được phê chuẩn.
Cha của Tư Bảo La là một mục sư.
Thời ấy bạn chẳng hiểu mục sư là cái gì. Bạn tới nhà Tư Bảo La, từng gặp cha cậu ấy, cha cậu ấy chẳng khác gì những người đàn ông trưởng thành khác, tướng mạo vóc dáng chẳng có gì khác biệt, ăn mặc ở nhà cũng thế, cha cậu ấy cũng từng nói chuyện với bạn, bạn cảm thấy chẳng khác gì cha bạn và những người bạn của cha nói chuyện với bạn cả. Bạn chẳng nhớ cha cậu ấy từng nói lời nào về chuyện Thượng đế tạo ra con người, những điều ông ấy nói cũng chỉ là phải chăm ngoan học tập, phải rửa tay trước khi ăn, phải tích cực phấn đấu tiến bộ, việc hôm nay chớ để ngày mai, đại loại những lời như thế.
Trên tường nhà Tư Bảo La có treo thánh giá hay không? Bạn không nhớ nữa, có lẽ từng treo, nhưng dạo đó bạn chẳng để ý trên tường nhà người khác treo những gì. Bạn chỉ nhớ có một bận để mắt tới giá sách nhà Tư Bảo La, thấy hai ba hàng sách nước ngoài to thật to, dày thật dày, bìa sách vô cùng tinh xảo, gáy sách in chữ nước ngoài mạ vàng tuyệt đẹp, bạn bèn hỏi: "Chữ tiếng Nga hả cậu?" Bởi dạo ấy tiếng Nga thịnh hành nhất, lại thêm anh trai bạn đang theo học chuyên sâu tại khoa Ngôn ngữ và Văn học Nga của Đại học Bắc Kinh, nhưng Tư Bảo La bảo với bạn: "Không phải tiếng Nga, cũng chẳng phải tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức hay Tây Ban Nha, mà là tiếng Latinh." Lúc đó bạn không khỏi ngẩn người. Tiếng Latinh là cái gì chứ? Bạn nhận ra cha của Tư Bảo La hiểu được tiếng Latinh. Đó là lần đầu tiên bạn cảm thấy cha cậu ấy có điểm khác biệt so với những người lớn khác. Một sự khác biệt kỳ quặc, khiến người ta bất an.
Thuở ấy vì sao bạn và Tư Bảo La lại hợp tính, cứ quấn quýt chơi cùng nhau? Bạn thường sang nhà cậu ấy, cậu ấy cũng từng tới nhà bạn, thứ gì đã gắn kết hai người lại? Cho tới nay bạn vẫn chẳng thể đưa ra câu trả lời duy lý. Bạn không biết đánh đàn dương cầm, cũng chẳng tập thể dục dụng cụ, trượt băng thì lóng nga lóng ngóng, môn toán lại càng học hành chật vật, trong khi niềm đam mê văn chương của bạn thì Tư Bảo La chẳng có lấy nửa phần hứng thú. Cậu ấy thường xuyên ngủ gật trong giờ ngữ văn, mỗi lần viết văn thì khổ sở như ép lạc đà chui qua lỗ kim, cho tới tận cấp ba, cậu ấy vẫn chưa từng đọc "Thủy Hử", cũng chẳng đọc những cuốn tiểu thuyết nước ngoài đang rất thịnh hành dạo ấy, từ "Jean-Christophe" của Romain Rolland cho tới "Sông Đôn êm đềm" của Sholokhov đều không đụng tới, lại cũng chẳng mấy mặn mà với phim ảnh hay kịch nói. Nghĩa là, hai người các bạn chẳng có lấy một sở thích chung, thế mà lại hợp nhau đến thế, cứ xúm lại chơi chung, vì sao vậy?
Chẳng lẽ chỉ là một sự tình cờ của số phận? Chẳng lẽ điều đó chỉ vì thần số phận muốn bạn tận mắt chứng kiến và cảm nhận nỗi bất hạnh cùng sự may mắn, nét bất biến cùng những đổi thay nơi Tư Bảo La?
Khi tốt nghiệp cấp hai, tổng điểm của hai người đều đạt tiêu chuẩn để được tuyển thẳng lên cấp ba, các bạn điền vào phiếu nguyện vọng giống hệt nhau, trường nguyện vọng một không trúng tuyển bạn mà cũng chẳng nhận cậu ấy, trường nguyện vọng hai thì đồng thời tiếp nhận cả hai. Cứ thế, hai người lại tiếp tục làm bạn cùng lớp.
Lên tới cấp ba, Tư Bảo La từ lâu đã quy thuận theo quan niệm khoa học vượn biến thành người. Cậu ấy thậm chí còn tích cực, sốt sắng xin gia nhập Đoàn Thanh niên Cộng sản Trung Quốc hơn cả bạn. Nhớ hồi kỳ nghỉ hè sau khi học xong lớp mười, bạn vì cứ muốn ở nhà quây quần và cùng đi vãn cảnh ngoại thành với người chị gái từ Học viện Nông nghiệp Đông Bắc về nghỉ hè, cùng người anh út cũng đang được nghỉ và người anh thứ hai tình cờ từ nơi khác tới Bắc Kinh công tác, nên rất chẳng muốn tham gia "hoạt động học tập chuyên đề Đoàn" do chi bộ Đoàn của lớp tổ chức. Tư Bảo La chẳng những tự mình đăng ký, mà còn nhất quyết kéo bạn đi cùng, những hôm bạn tới giờ mà không chịu đi, cậu ấy lại giận dỗi, rồi tìm tới tận nhà bạn, phê bình bạn, vận động bạn, bận sau thì dứt khoát sáng sớm đã chạy sang nhà bạn, lôi bạn cùng đi bằng được...
Hồi ấy bí thư chi bộ Đoàn của lớp là một nữ sinh da ngăm đen, diện mạo chẳng mấy ưa nhìn, hễ cười là lộ cả mảng lợi màu hồng phấn, hễ nghiêm nghị là da mũi lại nhăn tít vào, nhưng ai nấy đều biết cha cô ta là một lãnh đạo cấp bậc rất cao của cơ quan văn hóa nào đó, còn mẹ cô ta là một diễn viên kịch nói nổi tiếng — không phải hạng diễn viên có xuất thân và lý lịch đáng ngờ như Thư Tú Văn, mà là, theo như lời chính bí thư chi bộ Đoàn kể, một nữ diễn viên cách mạng biết giữ gìn hình tượng bản thân, chỉ đóng các vai công, nông, binh. Trên thực tế cũng quả đúng như vậy, trong suốt mười lăm năm từ năm 1950 đến 1965, bà ta chỉ đóng vẻn vẹn ba vở kịch: một vở đóng nữ công nhân dệt tiên tiến, một vở đóng nữ cán bộ nông thôn, và một vở đóng nữ chính ủy trong Hồng quân. Bí thư chi bộ Đoàn không theo họ cha mà theo họ mẹ, cô ta thường xuyên nhắc về mẹ nhưng lại kiêng dè chẳng nói tới cha, điều đó càng khiến các bạn học cảm thấy người cha của cô ta phi phàm xuất chúng. Bí thư chi bộ Đoàn tên là Lê Thự Hà.
Khâu chủ chốt trong "hoạt động học tập chuyên đề Đoàn" là mọi người quây thành một vòng tròn trong lớp học, đối chiếu với những đạo lý cách mạng được giảng trong bài học Đoàn để tự kiểm điểm những thiếu sót của bản thân. Tư Bảo La luôn kiểm điểm vô cùng nghiêm túc. Nhưng Lê Thự Hà cứ hễ nghe Tư Bảo La cất lời phát biểu là da mũi lại nhăn lại, như thể đang cảnh giác với một con ruồi đang bay tới mỗi lúc một gần. Có một bận chưa đợi Tư Bảo La nói dứt lời, cô ta đã ngắt ngang:
"Đừng có quanh co lòng vòng nữa, phải trải lòng thật thà với tổ chức! Nói ví dụ xem, tại sao cậu lại soạn ra một bản nhạc dương cầm 'Khúc ca chim sẻ', rồi còn chạy tới chốn đông người mà tấu lên? Sao cậu không ca ngợi chim ưng, không ca ngợi chim bồ câu hòa bình, mà lại đi ca ngợi chim sẻ?"
Tư Bảo La vô cùng chật vật, da mũi cậu ấy căng ra trắng bệch, lắp bắp nói: "Tôi đã thôi không đàn từ lâu rồi mà..."
Lê Thự Hà bèn cười khẩy, để lộ mảng lợi màu hồng phấn, đưa mắt nhìn quanh đám "đối tượng tích cực phấn đấu vào Đoàn" chúng tôi trong phòng họp mà bảo: "Đừng tưởng tổ chức không biết, những chuyện trước kia, chuyện trong nhà, chuyện ngoài xã hội, tổ chức đều nắm rõ như lòng bàn tay!"
Bạn không nhớ nổi Tư Bảo La đã tự kiểm điểm chuyện mình dám táng tận lương tâm ca ngợi chim sẻ như thế nào, cũng chẳng nhớ Lê Thự Hà cùng các đoàn viên và nhân tố tích cực khác đã giúp cậu ấy nhận thức tội lỗi ấy ra sao. May sao dạo ấy chim sẻ vẫn chưa chính thức bị liệt vào hàng "bốn loài gây hại" ngang hàng với ruồi, muỗi, chuột, vẫn chưa tới phong trào "toàn dân tiêu diệt chim sẻ" năm 1958, bằng không, Tư Bảo La e rằng càng khó lòng mà qua ải. Thế nhưng bạn nhớ lúc ấy cõi lòng mình bỗng "thót" lại một cái, khó chịu khôn xiết, bởi lẽ, việc Tư Bảo La hồi cấp hai tham gia hội diễn văn nghệ toàn thành phố, tự biên tự tấu "Khúc ca chim sẻ", chính là do bạn kể với Lê Thự Hà. Khi ấy bạn nào có coi đó là tội lỗi, mà chỉ coi như một mẩu chuyện vui, tiện miệng kể bừa ra mà thôi...
Bạn nhớ sau đó Tư Bảo La đã bảo với bạn: "Báo cáo với tổ chức là biểu hiện của việc hướng về tổ chức, cậu làm thế là đúng, nhất định cậu sẽ trở thành một đoàn viên thanh niên cộng sản quang vinh sớm hơn tôi!"
Nhưng bạn chưa từng có được niềm vinh quang ấy. Tư Bảo La thì lại càng không có cửa. Kỳ lạ thay, Tư Bảo La càng không có cửa thì lại càng liều mạng hướng về tổ chức Đoàn, mỗi dịp cuối tuần cậu ấy đều chủ động nộp cho Lê Thự Hà một bản báo cáo tư tưởng bằng văn bản. Bạn để ý thấy, mỗi lần Lê Thự Hà đón lấy bản báo cáo ấy, da mũi đều nhăn tít lại.
Về sau xảy ra một "vụ việc nhà vệ sinh" mà cho tới tận bây giờ mỗi khi nhớ lại bạn vẫn thấy kinh hồn bạt vía.
Hôm ấy sau giờ học, bạn cùng Tư Bảo La chơi bóng dưới sân trường xong xuôi, cùng nhau vào nhà vệ sinh trong tòa nhà giảng dạy để đi tiểu. Nhà vệ sinh khá tân tiến, bồn tiểu lát gạch men trắng, bên trên lắp ống nước tráng nhũ bạc, trên ống nước có nhiều lỗ nhỏ, phun ra những tia nước li ti xối vào lớp gạch men trắng để kịp thời xả trôi nước tiểu trong bồn. Lúc bạn và Tư Bảo La đang đi tiểu ở đó, thầy Vương, chủ nhiệm giáo dục phụ trách công tác giáo dục tư tưởng của trường, cũng tình cờ vào tiểu tiện. Hôm ấy bãi nước tiểu của Tư Bảo La vừa nhiều lại vừa mạnh, bạn đi xong đứng đợi cậu ấy, cậu ấy đi xong cài lại cúc quần thì hai người mới cùng nhau bước ra khỏi nhà vệ sinh.
Nào ngờ vừa bước ra khỏi cửa đã nghe một tiếng quát nghiêm khắc: "Tư Bảo La!"
Tư Bảo La ngẩn người. Bạn cũng giật thót.
Hóa ra thầy Vương ra khỏi nhà vệ sinh mà chưa đi ngay, thầy đứng bên ngoài đợi hai người bước ra.
"Tư Bảo La, trò vừa làm cái gì đấy?!" Ánh mắt thầy Vương xuyên qua tròng kính, như phát đạn găm thẳng vào mặt Tư Bảo La.
Tư Bảo La há hốc miệng, ngây ra như phỗng.
"Còn trò? Trò có thấy không? Trò thấy nó làm gì không?" Thầy Vương lại chuyển ánh mắt sang bạn, may sao, ôn hòa hơn nhiều, không giống như bắn súng, chỉ như quét mắt qua. Dường như thầy Vương không biết tên bạn.
Bạn hoảng hốt khôn cùng. Muốn khóc. Bạn thực sự chẳng hiểu chuyện gì đã xảy ra.
Thầy Vương lại dời ánh mắt về phía mặt Tư Bảo La, cất giọng như thể tuyên án: "Trò phá hoại tài sản công cộng! Trò cố ý phóng nước tiểu lên thật cao vào ống nước máy, làm ăn mòn đường ống ấy! Tư tưởng của trò đen tối, suy nghĩ của trò có vấn đề rất lớn!"
Bạn phải tốn bao nhiêu công sức mới hiểu nổi lời buộc tội ấy.
Mặt Tư Bảo La trắng bệch như tờ giấy.
"Trò nhìn thấy rồi, đúng không? Trò có thể làm chứng!" Thầy Vương lại bảo với bạn.
Sắc mặt bạn khi ấy ra sao? Chắc chắn cũng vô cùng khó coi. Cõi lòng bạn càng thêm hoảng loạn. Nói thực lòng, bạn chẳng nhớ mình đã thấy những gì, bạn chẳng biết phải làm chứng cái gì và làm chứng thế nào.
"Trò đi đi!" Thầy Vương xua tay, tha cho bạn, nhưng lại nghiêm giọng bảo với Tư Bảo La, "Đi theo tôi lên văn phòng!"
Tư Bảo La lủi thủi bước theo sau thầy Vương.
Bạn cảm thấy kinh hãi, nhưng lại dâng lên một cảm giác an toàn đầy bất ngờ. Bạn nhớ mang máng hình như chính mình cũng từng phóng vọt dòng nước tiểu lên cao trong lúc đi tiểu, theo quán tính bắn vào đường ống dẫn nước phun tia, thế nhưng thầy Vương chỉ chăm chăm vào hành vi tư tưởng của Tư Bảo La, mà chẳng mảy may hứng thú với bạn.
Chuyện này rốt cuộc là thế nào?
Bạn không rõ tình hình sau khi Tư Bảo La lên văn phòng thầy Vương ra sao. Về sau cũng chẳng có ai tìm bạn để làm chứng. Sau dạo ấy, bạn vẫn cùng Tư Bảo La ôn bài, cùng nhau vui chơi, bạn cũng không chủ động gặng hỏi cậu ấy.
Rồi sau đó bước sang năm 1958, chiến dịch toàn dân vây bắt chim sẻ được phát động, có một ngày thành phố Bắc Kinh huy động toàn dân, nhà máy ngừng sản xuất, trường học nghỉ học, tập thể kéo ra đường, dùng biện pháp gõ chiêng đánh trống, gõ chậu đập xoong tạo ra những tiếng ồn quấy nhiễu không dứt, khiến lũ chim sẻ trên trời sợ hãi chẳng còn nơi nào để đậu xuống nghỉ ngơi, đành phải bay mệt tới mức rớt xuống đất mà chết vì kiệt sức — thầy trò trường bạn được phân công lên tường thành bao quanh Cố Cung, tức Tử Cấm Thành, để gõ chiêng đánh trống, lớp của bạn được chia một đoạn tường thành gần Tây Hoa Môn, đó quả thực là chuyện khiến người ta phấn khích, quả thực là một trải nghiệm hiếm có trong đời. Bạn nhớ hôm ấy đứng trên đoạn tường thành đó, tận mắt chứng kiến từng con chim chao đảo rớt xuống vì sợ hãi và kiệt sức — không chỉ có chim sẻ, mà còn có cả quạ và chim khách, cùng những loài chim khác chẳng gọi nổi tên, cứ mỗi lần một con chim rơi xuống, Lê Thự Hà lại dẫn đầu các bạn reo hò ầm ĩ, ai bảo lũ chim này dám ăn trộm thóc lúa trên đồng ruộng của công xã chứ? Chúng chết là đáng đời! — Nhưng đó là chuyện về sau. Lại nói chuyện Lê Thự Hà sau khi tuyên truyền xong ý nghĩa trọng đại của việc tiêu diệt chim sẻ thì tiến hành phân công cụ thể, cô ta đọc xong danh sách tổ trưởng và tổ viên của từng tổ diệt sẻ, Tư Bảo La bèn giơ tay hỏi:
"Còn tôi? Tôi ở tổ nào? Phụ trách đoạn nào?"
Các bạn học đều ngoái đầu nhìn cậu ấy, rồi lại cùng quay sang nhìn Lê Thự Hà. Lê Thự Hà thoạt tiên cười khẩy một tiếng, để lộ mảng lợi màu hồng phấn, sau đó nét mặt trở nên vô cùng nghiêm nghị, nhăn tít da sống mũi, bảo với Tư Bảo La:
"Cậu ấy à, cậu cứ ở nhà mà đợi đi!"
Bạn nhớ rằng lúc đó vạn lần chẳng ngờ mọi chuyện lại thành ra như vậy, bạn được chỉ định làm phó tổ trưởng của một tổ, bạn bèn chạy tới nói với Lê Thự Hà: "Cho Tư Bảo La vào tổ chúng mình đi! Cậu ấy có thể phụ trách thống kê số lượng chim sẻ rơi xuống!" Lê Thự Hà liếc xéo bạn một cái, chẳng thèm đếm xỉa, cứ thế quay sang nói chuyện với bạn học khác; bạn trông thấy Tư Bảo La đi van nài thầy giáo chủ nhiệm, nhưng người thầy chủ nhiệm có gương mặt tròn xoe như chiếc bánh bao ấy lại xoa xoa hai bàn tay bảo: "Chuyện này do chi bộ Đoàn chịu trách nhiệm..." Bạn biết thầy chủ nhiệm ấy không phải đảng viên cộng sản, phàm là những chuyện mang màu sắc chính trị thầy đều chẳng quản, giao cả cho Lê Thự Hà nắm giữ, mọi học sinh trong lớp đều biết Lê Thự Hà mới là nhân vật thực quyền.
Bạn không nhớ ngày đại chiến diệt sẻ ấy mình có gặp Tư Bảo La hay không, càng không biết ngày hôm đó Tư Bảo La có ngoan ngoãn thui thủi ở nhà một mình hay chăng. Cõi lòng bạn thoáng qua một nỗi xót xa nhân thế mà thuở ấy bạn chưa thể nào thấu triệt, bạn nhận ra mọi nỗi bất hạnh của Tư Bảo La đều bắt nguồn từ chính bản nhạc "Khúc ca chim sẻ" mà cậu ấy tự biên tự tấu vài năm về trước. Dạo ấy chim sẻ chưa bị tuyên bố là kẻ thù của chủ nghĩa xã hội, nên người ta còn trao giải thưởng cho cậu ấy, nhưng giờ đây tình thế đã đổi thay... Kẻ thù dường như ngày một nhiều thêm, người bạn học cũ của chị gái và anh út bạn là Băng Long Trân, người mấy năm trước thường xuyên ghé chơi nhà bạn, chẳng phải cũng đã biến thành một kẻ thù rồi đó sao?
Về sau, vào dạo sắp tốt nghiệp lớp mười hai, có một dạo cha bạn đi công tác xa, mẹ bạn vì lý do hết sức tình cờ cũng phải về quê nên không có nhà, một mình bạn ở nhà đến tối thì đâm sợ, bèn gọi Tư Bảo La sang ngủ cùng. Bạn nhớ có một đêm — không phải đêm đầu tiên cậu ấy tới mà cũng chẳng phải đêm cuối cùng — Tư Bảo La đã nói với bạn những lời thế này:
"Tôi biết vì sao Lê Thự Hà đối xử với tôi như thế, biết cô ta đã nói với thầy Vương, nên thầy Vương mới đối xử với tôi như vậy... Cậu vẫn chưa biết gì đúng không? Cha tôi, ông ấy đã bị quy thành phần tử cánh hữu từ ba năm trước rồi, hai năm trước lại vì không nhận lỗi, biểu hiện không tốt, nên bị đưa đi lao động giáo dưỡng, cho tới tận bây giờ biểu hiện vẫn chẳng ra sao. Mẹ tôi mỗi tháng đi thăm ông ấy một lần, còn tôi đã vạch rõ ranh giới với ông ấy rồi, tôi không đi thăm ông ấy, bây giờ tôi căm thù ông ấy, ông ấy đầu độc tôi quá sâu! Từ nhỏ ông ấy đã nhồi nhét vào đầu tôi những thứ giảng giải trong 'Kinh Thánh', nên hồi cấp hai tôi mới u mê tới mức đi tranh cãi với thầy giáo sinh học, làm trò cười cho thiên hạ! Giờ đây tôi thành tâm thành ý tin vào phép biện chứng duy vật, ủng hộ chủ nghĩa xã hội, khát khao được vào Đoàn, vào Đảng, trở thành một chiến sĩ cộng sản! Thật đấy! Họ không tin, nhưng cậu thì phải tin tôi chứ! Cậu có biết tôi tự cải tạo bản thân thành ra thế này là khó khăn biết nhường nào không! Tôi căm ghét bản thân vì từng sáng tác và tấu bản 'Khúc ca chim sẻ', hồi ấy, tôi chỉ thấy chim sẻ là một sinh linh hoạt bát, cứ ngỡ dùng giai điệu linh động hài hước để diễn tả niềm vui của chim sẻ là có thể tạo nên một nét đẹp, giờ mới thực sự nhận ra mình đã sai rồi! Sự sống là cụ thể, chứ không thể trừu tượng được, không phải sinh mệnh cách mạng, tiến bộ, thì chính là sinh mệnh phản động, hủ bại! Lê Thự Hà bảo tôi phải kiểm điểm cho kỹ thế giới quan, nhân sinh quan tư sản trong đầu óc, tôi vẫn luôn nỗ lực... Cậu cũng phải chú ý đấy! Cậu mê cuốn 'Jean-Christophe' đến thế, nguy hiểm lắm! Chúng mình cùng cố gắng nhé, xem ai cải tạo tư tưởng xong trước, ai được kết nạp vào Đoàn Thanh niên Cộng sản trước..."
Lúc ấy bạn xúc động lắm, thực sự xúc động, thế nên bạn mới ghi nhớ mãi những lời giãi bày này của cậu ấy. Khi nói ra những lời ấy, cậu ấy vừa chân thành lại vừa đau đớn khôn cùng. Đêm đó ánh trăng tuyệt đẹp, ánh trăng bàng bạc từ khung cửa sổ tròn xuyên qua cành lá cây hoa dạ hợp tuôn trào xuống, rải đều trên chiếc giường lớn nơi hai người nằm chung, rồi lại dùng bóng râm của cành cây phủ lên một tấm lưới. Bạn nhớ ánh trăng ấy, nhớ "tấm lưới" ấy, ánh trăng và "tấm lưới" đều có thể làm chứng, khi ấy hai người là hai thiếu niên chân thành mà chất chứa bao nỗi muộn phiền!
6
"Sao người Trung Quốc cứ hay không đúng giờ thế nhỉ?"
Niên Kiền Kỳ liếc nhìn chiếc đồng hồ vàng mặt vòm siêu mỏng không bao giờ trầy xước trên cổ tay, hỏi.
Bạn thầm nghĩ: Chẳng lẽ ngài Niên đây không còn là người Trung Quốc nữa sao? Rồi lập tức vỡ lẽ: Quả thực, ngài Niên ngồi đối diện không phải người Trung Quốc, mà là người Mỹ. Bạn nhìn cậu ấy, cậu ấy nhấp một ngụm rượu mạnh, nhìn bạn, mỉm cười. Bạn nhận ra người Mỹ ngồi đối diện này tuyệt đối chẳng có nửa phần châm chọc hay khiêu khích, cậu ấy thốt ra câu nói ấy hết sức tự nhiên. Quả thực, đã quá giờ hẹn mười bảy phút rồi, sao Tư Bảo La vẫn chưa tới? Người Trung Quốc chúng mình đúng là chẳng biết giữ giờ giấc bằng người Mỹ, nhất là những thương nhân người Mỹ như họ... Thế nhưng Tư Bảo La đáng ra phải là người đúng giờ mới phải chứ, cậu ấy là một giáo viên, hễ chuông reo là bắt buộc phải bước vào lớp giảng bài cơ mà!
Bạn cảm thấy dường như mình lại ngửi thấy cái mùi băng phiến lẫn với nấm mốc trên chiếc áo khoác dạ cũ, chẳng hiểu vì sao, dẫu đối phương đã là người Mỹ, bạn vẫn luôn cảm thấy cái mùi ấy cứ thoang thoảng bay sang.
"Có lẽ cậu ấy tới rồi, nhưng không tìm thấy sảnh Sâm-banh này, để tôi ra đón cậu ấy một chút."
Thế là bạn đi đón Tư Bảo La.
Quả nhiên, Tư Bảo La đã tới, đang ngơ ngác ngó nghiêng nơi đại sảnh, cậu ấy đúng như dự đoán không tìm thấy địa điểm cụ thể đã hẹn.
Ngay trên thang cuốn bạn đã nhìn thấy Tư Bảo La. Cậu ấy không phát tướng, vóc dáng trông có phần thấp hơn năm xưa một chút, lưng vẫn thẳng, mặc một bộ âu phục có lẽ ngày thường hiếm khi đụng tới, lại còn thắt cà vạt, nhưng khắp người toát lên một vẻ quê mùa khó tả — rõ ràng đây là lần đầu tiên cậu ấy bước chân vào khách sạn Vương Phủ nguy nga lộng lẫy này, có lẽ ngay cả những khách sạn ba sao, bốn sao khác cậu ấy cũng chưa từng đặt chân tới. Cậu ấy bị khung cảnh hoàn toàn Tây hóa, hơn nữa lại là tầng lớp thượng lưu phương Tây vây quanh làm cho kinh ngạc run rẩy; có thể đoán ra cậu ấy đã đi thang cuốn lên tầng trên rồi lại xuống tầng dưới, nhưng chẳng tìm thấy sảnh Sâm-banh; lại có thể đoán ra cậu ấy e ngại chẳng dám mở lời hỏi thăm những người phục vụ mặc đồng phục kiểu Tây...
Vừa trông thấy Tư Bảo La, trông thấy mái tóc đã bạc trắng hoàn toàn của cậu ấy, trông thấy khuôn mặt từ đằng xa đã nhận rõ những nếp nhăn, sống mũi bạn bỗng cay cay...
Hồi tốt nghiệp cấp ba, bạn và Tư Bảo La đều điền vào phiếu đăng ký dự thi đại học một loạt các trường đại học danh tiếng mà mỗi người hằng ao ước, nguyện vọng một của bạn là khoa Ngữ văn Đại học Bắc Kinh, nguyện vọng một của cậu ấy là khoa Cơ khí Đại học Thanh Hoa...
Hai người thi đều rất tốt. Đã có đáp án chuẩn, có thể tự đối chiếu, tự ước tính điểm số của mình, dẫu có tính toán dè dặt, trừ hao, bớt điểm đi chăng nữa, thì vẫn hoàn toàn có thể lạc quan.
Thế nhưng kết quả lại ngoài dự liệu. Bạn thi đỗ không phải Đại học Bắc Kinh, mà là Học viện Sư phạm, điều này cũng chưa hẳn là kỳ quặc, kỳ quặc nhất là Tư Bảo La lại nhận được giấy báo trúng tuyển khoa Ngữ văn của Trường Cao đẳng Sư phạm — cậu ấy đăng ký khối tự nhiên, tham gia kỳ thi khối tự nhiên, điểm thi tuyệt đối không hề thấp, vậy mà chẳng được bất kỳ trường đại học hay chuyên ngành tự nhiên nào có tên hoặc không có tên trên phiếu nguyện vọng tiếp nhận, cậu ấy từ nhỏ đã ghét môn ngữ văn nhất, kém môn ngữ văn nhất, vậy mà người ta lại cố tình phân bổ cho cậu ấy đi học ngữ văn, rồi sắp xếp cho cậu ấy sau này làm một giáo viên dạy môn ngữ văn!
Về sau hai người đều vỡ lẽ, việc bạn không đỗ nguyện vọng một, nguyện vọng hai hay nguyện vọng ba, việc Tư Bảo La trượt sạch mọi nguyện vọng, thậm chí bị bẻ lái hoàn toàn sang một hướng ngành học khác, thực sự chẳng phải vì vấn đề điểm thi, chẳng phải vì điều kiện thể chất, hay bất kỳ lý do nào khác, mà là vì lời nhận xét hạnh kiểm. Lời nhận xét đính kèm trên phiếu báo danh ấy không phải do thầy chủ nhiệm soạn thảo, mà do chính bí thư chi bộ Đoàn Lê Thự Hà điền vào. Người xét tuyển nhìn thấy lời nhận xét khiến người ta líu lưỡi ấy mà vẫn chịu tuyển bạn, rồi rốt cuộc vẫn chịu nhận Tư Bảo La, âu cũng phải nói là đã vô cùng khoan hồng đại lượng. Lại thêm một lý do nữa là dạo ấy Học viện Sư phạm luôn không tuyển đủ chỉ tiêu, còn khoa Ngữ văn của Trường Cao đẳng Sư phạm thì lại càng buộc phải vớt vát lại từ những thí sinh khối tự nhiên bị loại bỏ vì nhận xét hạnh kiểm kém, hòng bù đắp vào chỗ trống bằng những người có điểm thi thực sự rất cao và sức khỏe tốt...
Lời nhận xét hạnh kiểm đóng dấu đỏ của nhà trường do Lê Thự Hà điền cho bạn và Tư Bảo La, cứ thế đã định đoạt cả ngã rẽ cuộc đời hai người về sau. Chẳng rõ khi cô ta điền lời nhận xét ấy, là đang cười khẩy để lộ mảng lợi hồng phấn, hay nghiêm nghị tới mức da mũi nhăn tít lại.
Bài hát vừa dứt, bạn lập tức bước tới cất tiếng chào cậu ấy: "Bảo La!"
Cậu ấy tươi cười bước lại bắt chặt tay bạn, nhưng sửa lại lời bạn:
"Gọi tôi là Bảo Hồng! Bảo vệ giang sơn đỏ! Bảo đảm một tấm lòng son! Đừng gọi tôi là Bảo La nữa, đó là cái tên Tây sặc mùi tôn giáo, hủ bại! Lạc hậu!..."
Tư Bảo Hồng ư? Bạn cứ thấy gượng gạo thế nào, nên chẳng gọi tên nữa, chỉ gọi cậu ấy là thầy Tư. Thầy Tư hỏi thăm tình hình của bạn, câu đầu tiên buột miệng hỏi chính là: "Đã vào Đảng chưa?" Hồi dạy học ở trường cấp hai bạn rốt cuộc cũng đã được vào Đoàn. Nhưng, vào Đảng, chuyện đó bạn còn chưa từng nghĩ tới, chẳng lẽ... Bạn bèn hỏi lại: "Cậu vào Đảng rồi à?"
Gương mặt cậu ấy rạng rỡ hẳn lên, bảo với bạn: "Sắp rồi!"
Bạn vô cùng kinh ngạc. Đương nhiên, bạn mừng cho cậu ấy...
"Tư Bảo La!"
Bạn từ thang cuốn nơi tiền sảnh khách sạn Vương Phủ bước xuống, cất tiếng gọi người bạn học cũ, người đồng nghiệp cũ nay đã bạc trắng mái đầu và đầy những nếp nhăn trên mặt. Cậu ấy giờ đây quả thực đã quen trở lại với việc người ta gọi mình là Tư Bảo La rồi.
"Ôi chao, cậu... tôi tìm mãi chẳng thấy cái sảnh ấy đâu... Kiền Kỳ đâu rồi?" Tư Bảo La như trút được gánh nặng, vội bước tới nắm lấy tay bạn.
Bạn bèn dẫn cậu ấy tới sảnh Sâm-banh.
Đứng trên thang cuốn, cậu ấy rút chiếc khăn tay ra, chấm mồ hôi trên trán và đầu mũi, hơi ngượng ngùng bảo với bạn: "Thật chẳng quen chút nào..."
7
"Dùng chút đồ uống gì nhé?"
"Tùy ý... sao cũng được..."
"Cậu muốn dùng loại salad nào?"
"Cái nào cũng được... cái nào cũng tốt..."
"Món nóng thì sao? Ăn được ốc sên nướng kiểu Bordeaux không?"
"Ốc sên ư?... Chắc đắt lắm nhỉ? Thôi... khỏi cần..."
"Thích hay không thích nào? Không thích ốc sên à? Vậy đùi cừu thì sao? Đùi cừu nướng nhé?"
"Thế thì được... được đấy..."
"Còn súp? Cậu thích súp đặc hay súp thanh?"
"Thế nào cũng được..."
"Uống chút vang trắng không ngọt nhé? Rượu vang trắng ấy? Của Trung Quốc cũng ngon lắm, uống loại 'Trường Thành' hay 'Vương Triều'?"
"Cậu quyết đi, cậu cứ quyết..."
"Nếu món chính cậu chọn đùi cừu, không dùng cá và hải sản, thì nên phối với chút rượu vang đỏ, vang đỏ không ngọt thấy thế nào? Gọi cho cậu chút vang đỏ của Pháp nhé?"
"Thôi khỏi, thôi khỏi, tôi cũng uống vang trắng đi, giống hai người là được rồi..."
"Muốn ăn món tráng miệng loại nào? Có muốn dùng chút phô mai không? Phô mai của Pháp đứng đầu thế giới đấy, có tới hàng mấy trăm loại..."
"Thôi khỏi cần... gọi một chút cũng được... mà thôi đừng, đủ rồi, đủ rồi..."
"Sau bữa ăn dùng cà phê hay sâm-banh? Tôi đề nghị dùng cả hai, sâm-banh trước, cà phê sau..."
"Thôi khỏi, thôi khỏi... được rồi, được rồi, tôi một thứ là đủ rồi..."
---❊ ❖ ❊---
Bạn nhìn Tư Bảo La, tựa như đang soi mình vào một tấm gương, phản chiếu lại hình ảnh của chính bạn mười năm về trước, dạo ấy lần đầu tiên bạn xuất ngoại đi thăm nước ngoài, mọi người mời bạn ăn cơm, bạn cũng lúng túng y như thế; may sao ngài Niên rốt cuộc không phải người Tây sinh ra và lớn lên ở nước ngoài, cậu ấy vẫn hiểu được tâm lý ẩn sau những câu chữ "tùy ý", "sao cũng được", "cái nào cũng tốt", "thôi khỏi", "khỏi cần"... và vẫn có thể kiên nhẫn sắp xếp một thực đơn chu đáo cho Tư Bảo La trong tình cảnh ấy.
... Vừa ăn vừa trò chuyện. Bạn để ý thấy Tư Bảo La chẳng giống những kẻ nhà quê chưa từng nếm mùi đồ Tây, cậu ấy biết sử dụng dao dĩa đúng quy cách, khi húp súp có thể tự nhiên đưa thìa múc từ trong ra ngoài, chỉ là động tác không được thuần thục nhanh nhẹn cho lắm. Đúng rồi, phải rồi, Tư Bảo La vốn là con trai của một mục sư, gia đình cậu ấy từng một thời vô cùng Tây hóa, từ nhỏ cậu ấy đã chơi dương cầm, tập thể dục dụng cụ, chơi khúc côn cầu trên băng... Vả lại, khu tập thể nơi Niên Kiền Kỳ và Tư Bảo La từng ở năm xưa vốn dĩ là bất động sản của giáo hội, những người sống bên trong nếu không phải giáo sĩ thì cũng là giáo dân từ hai đời trở lên, lối sống đều có phần thiên về Tây hóa, mà nhà Tư Bảo La dường như lại là gia đình khá giả nhất trong số đó...
Niên Kiền Kỳ hỏi thăm cha mẹ Tư Bảo La: "Bác trai bác gái vẫn mạnh khỏe cả chứ?"
Tư Bảo La đáp ngắn gọn: "Mẹ tôi mất nhiều năm rồi, cha tôi hiện giờ rất khỏe, ông là giáo sư tại học viện thần học..."
Bạn để ý thấy trên gương mặt Tư Bảo La thoáng hiện một nét biểu cảm khó tả, bạn đọc được nét biểu cảm ấy, bạn biết cõi lòng cậu ấy hẳn đang giằng xé giữa đau đớn và bối rối, hệt như một bầy rắn đang quằn quại giãy giụa chẳng thể gỡ ra...
Kể từ sau lần tình cờ tao ngộ trong hoạt động học hỏi kinh nghiệm "cách mạng hóa" năm 1965 ấy, bạn và Tư Bảo La chỉ qua lại với nhau đôi ba lần. Có một bận cậu ấy tới tìm bạn, bạn cũng hỏi thăm cha mẹ cậu ấy, cậu ấy thẳng thắn bảo với bạn:
"Họ một người là bạn, một người là thù, dưới sự dẫn dắt của tổ chức, tôi có thể đứng vững trên lập trường cách mạng để đối xử phân minh với họ. Mẹ tôi, cậu biết đấy, bà dạy văn ở trường tiểu học suốt bao năm, tư tưởng lạc hậu, không chịu vạch rõ ranh giới với cha tôi, tôi áp dụng thái độ 'quan tâm có nguyên tắc' đối với bà, nghĩa là về mặt đời sống thì chăm sóc, còn về mặt tư tưởng thì phê phán... Bởi vì bên dưới còn có các em trai, em gái, đời sống gặp khó khăn tạm thời, mấy năm ấy mẹ tôi cứ mỗi quý lại tới ngân hàng máu hiến máu một lần, điều này cũng là chi viện cho sự nghiệp y tế xã hội chủ nghĩa, chẳng có gì xấu cả, đồng thời nhà nước cũng trợ cấp một khoản nhất định cho người hiến máu, thể hiện tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội, thế nhưng hễ về tới nhà là bà lại than thở: 'Ai dà, lại đi bán máu một lần nữa rồi!' Tôi bèn phê phán bà, bảo bà không được nói là 'bán máu', phải nói là 'hiến máu'... Đương nhiên tôi dùng phương thức kiên nhẫn, nói lý lẽ thấu đáo, mưa dầm thấm lâu... Còn đối với cha tôi thì lại khác. Tôi từng muốn cắt đứt quan hệ cha con với ông ấy, nhưng chi bộ Đảng của trường đã phê bình tôi, tôi hiểu ra rồi, đó là tư tưởng hèn nhát, cũng là tâm lý đầu cơ trục lợi, tôi không thể trốn tránh đấu tranh, càng không thể nghĩ rằng chỉ cần dứt khoát một nhát dao là giải quyết xong vấn đề thế giới quan, nhân sinh quan... Cho nên một mặt tôi kiên quyết không tới nông trường cải tạo lao động để thăm ông ấy, khiến ông ấy đừng ôm ảo tưởng vào tôi, mặt khác lại tuyệt đối không né tránh sự thật ông ấy là cha tôi, tôi chủ động hồi tưởng lại những điều ông ấy từng đầu độc tôi, định kỳ mỗi tháng đều nộp một bản báo cáo tư tưởng vạch trần và phê phán ông ấy cho chi bộ Đảng..."
Cho tới tận bây giờ bạn vẫn còn nhớ những lời mà Tư Bảo La — dạo ấy đã đổi tên thành Tư Bảo Hồng — nói với bạn, lúc ấy bạn vô cùng chấn động, không phải chấn động vì cậu ấy, mà là chấn động vì chính bản thân mình — bạn kinh hãi nhận ra rằng, dẫu cho bản thân bạn cũng thực sự đang nỗ lực để "cách mạng hóa", liều mình cải tạo tư tưởng, nhưng cho tới tận lúc ấy bạn vẫn hoàn toàn không thể thấu hiểu những lời cậu ấy nói, đặc biệt là bởi bạn tin vào sự chân thành và chấp niệm của cậu ấy hơn bất kỳ ai...
Thế nhưng dạo ấy những chuyện khiến bạn chấn động cứ tầng tầng lớp lớp kéo đến, với tần suất ngày một dồn dập... Một ngày nọ bạn đọc được trên báo một bài viết chiếm trọn cả trang lớn, bài báo phê phán một nhân vật lãnh đạo trong giới văn hóa, nói rằng ông ta đã đưa ra một loạt quan điểm và chủ trương xét lại, người bị điểm danh phê phán chẳng phải ai khác, chính là cha của Lê Thự Hà. Khi ấy tim bạn đập thình thịch, và không khỏi liên tưởng: Liệu Lê Thự Hà có đang ở một xó xỉnh nào đó đọc tờ báo ấy, bài viết ấy chăng? Cô ta sẽ ra sao? Sẽ cười khẩy để lộ mảng lợi màu hồng phấn, hay da mũi lại nhăn tít vào?...
Bạn biết rằng, khi bạn và Tư Bảo La bị phân về các trường sư phạm, thì Lê Thự Hà dẫu điểm thi không đủ cao nhưng nhờ điều kiện chính trị xuất sắc lạ thường nên đã được nhận vào Đại học Thanh Hoa, ngành học gì thì bạn chẳng nhớ mà cũng chẳng quan trọng — bởi nghe đâu cô ta mới học tới năm thứ hai đã được điều động ra làm cán bộ chính trị chuyên trách, thoạt đầu làm ở cấp khoa, sau đó thăng tiến lên cơ quan cấp trường và được giao phó trọng trách...
Cơn bão táp mưa sa của "Cách mạng Văn hóa" ập tới ngợp trời dậy đất, bạn sợ chết khiếp, chẳng hiểu đầu cua tai nheo ra sao, luống cuống chẳng biết làm thế nào, ngoài những người thân trong gia đình mình, bạn chẳng còn hơi sức đâu mà bận tâm tới sự an nguy của người khác...
Sau "Cách mạng Văn hóa", bạn thuận theo thời thế, rốt cuộc lại trở thành một nhà văn. Có một ngày, bạn tình cờ lật xem một cuốn tạp chí, bắt gặp một bài viết ký tên Lê Thự Hà, không kìm được bèn đọc kỹ một lượt, đọc xong bất giác cảm thấy toàn thân lạnh ngắt. Từ đó về sau bạn chẳng còn thấy bài viết nào ký tên Lê Thự Hà trên báo chí nữa, có lẽ cô ta vẫn ở Thanh Hoa chăng? Vẫn làm công tác chính trị ư? Những bài viết kiểu ấy cô ta chỉ có thể viết một lần, mà bạn cũng chỉ có thể đọc một lần.
Bài viết của Lê Thự Hà là do tòa soạn tạp chí mời viết, nội dung là tưởng niệm song thân của cô ta. Cha mẹ cô ta đều là những cán bộ cách mạng lão thành có mấy chục năm tuổi Đảng, điều này bạn vốn đã biết từ lâu, điều bạn không biết là song thân của cô ta trong thời "Cách mạng Văn hóa" đều bị bức tử dưới tội danh phản cách mạng. Cha cô ta chết ngay tại hiện trường buổi đại hội đấu tố, hôn mê rồi ngã từ trên chiếc bục cao ghép bằng ba chiếc bàn xuống đất mà bỏ mạng tại chỗ; còn mẹ cô ta thì trong căn phòng bị cách ly thẩm tra đã xé chiếc áo sơ mi thành dải vải bện thành sợi dây, tự thắt cổ mình trên tay nắm cửa — hoàn thành nốt hình tượng thứ tư tiếp nối ba hình tượng sân khấu nữ công nhân dệt tiên tiến, nữ cán bộ nông thôn và nữ chính ủy Hồng quân năm xưa, chỉ có điều lần này là diễn trên vũ đài lớn của cuộc đời.
... Mãi nhiều năm sau khi "Cách mạng Văn hóa" kết thúc, bạn mới sực nhớ ra đi tìm Tư Bảo La, điều đó bắt nguồn từ một mục đích thực dụng — bạn muốn có một cuốn "Kinh Thánh", bởi bạn làm văn chương, cần coi đó như một cuốn sách tham khảo và công cụ tra cứu tất yếu; bạn đọc được mẩu tin nhỏ nơi góc báo biết rằng Công giáo và Cơ Đốc giáo đều đã khôi phục lại các hoạt động tôn giáo bình thường, và trong một buổi tọa đàm quán triệt chính sách tôn giáo do cơ quan hữu quan triệu tập, có mấy vị đại biểu giới tôn giáo phát biểu, trong danh sách những người phát biểu được liệt kê, có một vị mục sư chính là cha của Tư Bảo La; bạn tìm tới ngôi trường cấp hai nơi Tư Bảo La giảng dạy để gặp cậu ấy, cậu ấy quả nhiên vẫn ở đó, chưa từng đổi đơn vị hay đổi công việc khác. Cậu ấy trông thấy bạn chẳng lộ vẻ mừng rỡ mà cũng tuyệt nhiên không tỏ ra khó chịu, cậu ấy biết bạn đã trở thành một nhà văn, đã kết hôn và có một cô con gái, câu đầu tiên cậu ấy chủ động hỏi bạn vẫn là:
"Cậu vào Đảng chưa?"
Bạn bèn hỏi lại:
"Còn cậu?"
Cậu ấy nghiêm túc trả lời:
"Lần này là thật đấy — sắp rồi!"
Bạn và ông ấy vừa đi dạo vừa trò chuyện dưới rặng bạch dương cao vút bên rìa sân tập của trường học. Bạn nhớ ông ấy từng nói với bạn: "Tôi xin bố tôi một cuốn Kinh Thánh cho cậu thì không thành vấn đề. Thật ra cậu trực tiếp đến xin ông ấy cũng sẽ cho, ông ấy vẫn còn nhớ cậu. Bây giờ ông ấy là giáo sư của học viện thần học. Hiện tại tôi không thể đơn thuần coi ông ấy là một nhân vật giới tôn giáo, một kẻ duy tâm được nữa, tôi nhận ra rằng, ông ấy cũng là một nhân tài hiếm có của quốc gia. Bởi vì, cậu biết đấy, ông ấy hiểu tiếng La Tinh, tiếng La Tinh cổ, lại còn cả tiếng Hy Lạp, tiếng Hy Lạp cổ nữa, đó là những tử ngữ chẳng khác nào chữ Phạn, chữ Mãn, giờ đây trên thế giới đã chẳng còn ai dùng thứ ngôn ngữ đó để nói chuyện, cũng hầu như chẳng còn ai dùng thứ văn tự đó để viết lách, ngay cả người có thể đọc, nhận biết và hiểu được cũng chẳng còn bao nhiêu, vậy mà bố tôi vẫn thông thạo. Dù ông ấy từng ở trong nông trường cải tạo lao động hơn hai mươi năm, thế mà vẫn có thể nhặt lại được... Các ban ngành liên quan rất coi trọng sở trường này của ông ấy, đang để ông ấy hướng dẫn mấy học trò... Có điều năm xưa quả thực tôi đã quá 'tả' với ông ấy, bây giờ ngoảnh đầu nhìn lại, đúng là 'tả' thật, bị đường lối 'tả', trào lưu tư tưởng 'tả' ảnh hưởng mà! Cậu không biết đâu, cuối năm 1965, cơ quan quản giáo tìm đến tôi, họ bảo tôi rằng, bố tôi đã hết hạn cải tạo lao động, bảo tôi đón bố về nhà, tôi vừa nghe đã ngớ người ra, thế sao được? Bao năm qua tôi vẫn luôn vạch rõ ranh giới với ông ấy, không gặp mặt ông ấy, không cho phép ông ấy thừa cơ dùng mấy thứ thuyết nhân tính, chủ nghĩa nhân đạo tư sản kiểu tình phụ tử này nọ để làm tôi mềm lòng. Huống hồ mẹ tôi đã qua đời, gia đình chúng tôi đã tan tác, tôi đã tự quyết đem căn nhà của gia đình quyên góp cho nhà trẻ của khu phố, tôi và các em đều không còn dựa vào khối bất động sản chẳng sạch sẽ gì của bố mẹ để sống nữa; đúng rồi, em trai, em gái tôi cũng giống tôi, thi đại học bất kể nguyện vọng ban đầu điền cái gì, cuối cùng đều chỉ được các trường sư phạm tuyển nhận, hơn nữa đều bị phân vào chuyên ngành Trung văn, cho nên giống tôi, tất thảy đều là giáo viên ngữ văn, cả nhà làm giáo viên ngữ văn... Tóm lại lúc ấy chúng tôi đều chưa kết hôn, đều ở ký túc xá tập thể của trường, đón bố về tôi cũng chẳng có chỗ nào để sắp xếp cho ông ấy, cơ quan quản giáo liền nói họ có thể thông báo cho trường chúng tôi, để trường thu xếp riêng một phòng ký túc xá cho hai bố con tôi, chuyện đó không thành vấn đề, nhưng tôi không đồng ý, cậu thử nghĩ xem, tôi khó khăn lắm mới kiên trì bao nhiêu năm để vạch rõ ranh giới với bố tôi, giờ thì hay rồi, đùng một cái ông ấy lại dọn đến ở cùng tôi trong trường, ở chung một căn phòng, làm sao tôi chịu nổi? Hơn nữa cậu phải biết rằng, cơ quan quản giáo đã nói với tôi rất rõ ràng: Bố tôi tuy đã hết hạn cải tạo, nhưng cái mũ cánh hữu của ông ấy vẫn chưa được gỡ bỏ, bởi vì ông ấy khăng khăng không chịu thừa nhận tội trạng cánh hữu của mình; cậu nghĩ xem lúc đó tôi có thể đón một người bố như thế về ở cùng được sao? Tôi cũng thực sự không hiểu, ông ấy không nhận tội trạng cánh hữu, vậy cớ sao không tiếp tục cải tạo ông ấy? Cơ quan quản giáo kiên nhẫn giải thích với tôi, bảo rằng tuy bố tôi không nhận tội trạng ban đầu, nhưng ông ấy xúc than đốt lò ở nông trường cải tạo rất tận tụy, lại không có lời nói và hành vi cánh hữu mới nào, mà thời hạn cải tạo ban đầu ấn định quả thực đã mãn, không định xử thêm, cho nên tôi với tư cách là người lớn nhất trong thân nhân phải đến bảo lãnh đưa ông ấy ra... Tôi kiên quyết từ chối, tôi nói dù thế nào tôi cũng không thể dung thứ cho cuộc sống phải ở chung dưới một mái nhà với ông ấy, cơ quan quản giáo bèn khuyên tôi nên gặp bố một lần, đôi bên cùng bàn bạc xem giải quyết thế nào; tôi cũng khăng khăng không chịu gặp bố, tôi bảo tôi là con trai ông ấy thì không có cách nào thay đổi, nhưng tôi không muốn gặp mặt một phần tử cánh hữu ngoan cố, cơ quan quản giáo mới nói vậy thì chỉ đành thu xếp cho bố anh hết hạn ở lại nông trường làm việc. Tôi vừa nghe liền đồng ý, bảo rất tốt, ở lại nông trường làm việc là rất tốt. Đương nhiên, ông ấy ở lại làm việc, tôi cũng vẫn phải tiếp tục thanh trừ những độc hại và ảnh hưởng của ông ấy đối với tôi... Cậu xem, hồi đó tôi 'tả' đến mức nào! Nhưng lúc bấy giờ tôi thật sự đã nghĩ như thế, tôi cứ ngỡ làm vậy là đúng..."
Khi Tư Bảo La kể lại tất cả những chuyện này, giọng điệu có phần bình thản, nhưng bạn nghe xong lại một lần nữa cảm thấy chấn động, từ tận đáy lòng bạn không tài nào hiểu nổi và lượng thứ cho thái độ cùng cách làm năm xưa của ông ấy, bạn dám chắc rằng, nếu đổi lại là bạn, có lẽ bạn cũng sẽ tự nhắc nhở bản thân phải vạch rõ ranh giới với tội trạng cánh hữu của cha mình, nhưng bạn sẽ chẳng hề do dự mà đón ông ấy ra, cùng sống chung một nơi...
Bạn nhớ hôm ấy trời nắng đẹp lạ thường, ánh nắng vàng óng xuyên qua những rặng bạch dương, rải vô số "đồng tiền vàng" lấp loá lên người các bạn, những "đồng tiền vàng" ấy vô cùng quyến rũ, nhưng lại hư ảo khôn cùng...
Bạn hỏi Tư Bảo La: "Sau khi thực hiện chính sách sửa sai, cha ông gặp lại ông, ông ấy có tha thứ cho ông không?"
Tư Bảo La gật đầu nói: "Bố tôi tha thứ, tha thứ hết, tha thứ triệt để. Tôi hỏi ông: Bố, tại sao bố lại tha thứ cho con? Lại hỏi ông: Bố ơi, những năm tháng ấy, đến cả con cái cũng chẳng nhận bố, chẳng cần bố, chính phủ muốn thả bố ra, bọn con ngược lại không dung chứa, bố ở trong đó lại trước sau không chịu cúi đầu nhận tội, bố đã dựa vào cái gì để chống đỡ? Các em tôi cũng nói với ông, hồi đó bố không ra ngoài lại hoá hay, bởi vì nếu ra ngoài, chỉ nửa năm sau là 'Cách mạng Văn hoá', những thành phần địa chủ, phú nông, phản động, phần tử xấu, cánh hữu trong nông trường cải tạo ngược lại không phải chịu đòn tấn công trực tiếp của Hồng vệ binh, chứ Hồng vệ binh đối với lũ trôi nổi bên ngoài thì bất kể chính sách này nọ gì hết, có người bị lôi ra đánh chết tươi tại chỗ. Bố không ra ngoài ngược lại lại giữ được mạng... Bố tôi liền bảo chuyện đó ông cũng chẳng sợ, chúng tôi liền hỏi: Sao bố không sợ? Sao trong bất kỳ hoàn cảnh nào bố cũng có thể thản nhiên đối mặt? Cậu có biết ông ấy đã trả lời chúng tôi thế nào không? Cậu biết không?"
Bạn không thể hình dung ra nổi.
"Câu trả lời của bố tôi rất đơn giản, ông thẳng lưng lên, trang nghiêm nói: Tôi tin Thượng đế!"
Trong lòng bạn dâng lên một nỗi chấn động khôn xiết.
... Về sau bạn đã có được một cuốn Kinh Thánh.
8
"... Dạo này anh lại đang viết tác phẩm mới gì thế?"
Gương mặt ông Niên dường như từ một nơi rất xa xôi lại trôi dạt trở về, hiện ra rõ nét ở phía đối diện bàn ăn. Lúc này bạn mới nhận ra rượu sâm banh tráng miệng đã được mang lên. Bạn chìm đắm trong hồi ức, hoàn toàn không hay biết ông Niên và thầy Tư, hai người bạn học cũ, hàng xóm cũ, bạn đạo cũ này rốt cuộc đã trò chuyện những gì.
Bạn vốn ngỡ ông Niên sẽ nhắc đến cái ngày năm xưa ấy, lần ấy, tại nhà ông ta, lời bạn từng nói với ông ta, rằng bạn muốn viết một cuốn sách, một cuốn tiểu thuyết khá dày, tên là "A Tỉ"... Thế nhưng ông ta tuyệt nhiên không đả động gì tới, rõ ràng ông ta đã quên mất rồi, thậm chí ngay lúc đó ông ta cũng chẳng hề để tâm, chẳng buồn ghi nhớ, cho nên cũng chẳng có chuyện quên hay không... Rõ ràng ông ta chỉ nhớ mang máng hồi ấy bạn ôm mộng trở thành một nhà văn, và cũng chỉ biết bạn đã trở thành một nhà văn qua những tờ báo tiếng Hoa ở Mỹ, cho đến nay ông ta vẫn chưa từng đọc bất kỳ một tác phẩm nào của bạn, mà sau này cũng sẽ chẳng đọc đâu — ông ta quá bận rộn, tâm trí ông ta chủ yếu đặt vào các hoạt động thương mại. Dĩ nhiên, ông ta quả thực cũng có hứng thú tụ tập với bạn học cũ, hàng xóm cũ, bạn đạo cũ, tranh thủ chút thời gian rảnh rỗi giữa các hoạt động thương mại để hẹn họ đến ăn một bữa, hàn huyên đôi câu. Đối với ông ta, đó thực sự là một phương thuốc tuyệt vời để điều hòa thần kinh, xoa dịu tâm lý và bồi dưỡng tinh thần.
Bạn biết, sáng sớm hôm nay ông Niên đã tham dự một lễ ký kết hợp đồng đàm phán thành công, ba giờ chiều còn phải đến bái phỏng một vị lãnh đạo của ban ngành hữu quan, buổi tối thì phải tham dự một buổi tiệc chiêu đãi dành cho dự án thành công hồi sáng — do phía Trung Quốc đài thọ, tại khách sạn Tân Thế Giới, ăn món Triều Châu.
Người Trung Quốc coi trọng giấc ngủ trưa, người Mỹ không ngủ trưa, ông Niên dứt khoát không ngủ trưa, ông ta dành khoảng thời gian từ mười hai giờ rưỡi đến hai giờ rưỡi trưa hôm nay để cùng bạn và Tư Bảo La dùng bữa, ôn lại chuyện xưa.
Đồng thời cũng nhân tiện quan tâm đến hiện trạng của các bạn. Thế nên ông ta mới hỏi dạo này bạn đang viết tác phẩm mới gì.
Chẳng hiểu sao bạn lại như ngửi thấy mùi băng phiến lẫn với ẩm mốc phảng phất từ chiếc áo khoác dạ xương cá cũ kỹ năm nào...
Bạn bèn nói hiện tại mình chỉ viết chút câu chữ vụn vặt, gửi bài cho các chuyên trang phụ san báo chí và các tạp chí giải trí nhẹ nhàng, kiếm chút nhuận bút để trang trải cuộc sống, "viết sách chỉ vì miếng cơm manh áo", thuần túy là bán chữ mưu sinh, vài bài viết chẳng qua chỉ khéo léo gọn gàng một chút, chẳng có ý tứ sâu xa gì, cốt để mua vui cho độc giả một trận cười, dĩ nhiên rồi, "bán nghệ không bán thân"... Kiểu buôn thúng bán bưng này cũng chẳng kiếm được bao nhiêu tiền, cũng giống như giáo viên trung học Tư Bảo La vậy thôi, giờ đây dẫu giáo viên trung học cũng có đủ thứ phụ cấp, nào là phụ cấp chủ nhiệm lớp này, phụ cấp tổ trưởng bộ môn này, phụ cấp dạy vượt giờ này... cùng với một chút tiền phúc lợi trích từ thu nhập của xưởng trường, gom góp cả lại — tiếng lóng thời nay của người Bắc Kinh gọi là "ba lăng nhăng cộng lại", rốt cuộc cũng chẳng có bao nhiêu, tuyệt đối không thể so với dân kinh doanh cá thể, càng không thể bì với các đại thương nhân. Thế nhưng, đừng có "cười nghèo không cười đĩ", đúng không? ...
Uống hết hơn nửa ly sâm banh, bạn cảm thấy miệng lưỡi mình đã trở nên trơn tru, nhìn thấy cái đầu phủ đầy tóc hoa râm của Tư Bảo La đang khẽ gật gù.
"... Đừng viết mấy cái thứ như 'Quần đảo Gulag' làm gì!" Người Mỹ gốc Hoa Niên tiên sinh mân mê chiếc ly thủy tinh miệng rộng hình chiếc ô úp ngược đựng sâm banh, dùng giọng điệu đầy tính chỉ đạo nói với bạn. "Anh xem, bây giờ Liên Xô và Đông Âu, chính quyền người ta đã tự công bố hết cả rồi, còn cần nhà văn đi viết nữa hay sao? Anh viết, liệu có vượt qua nổi những tài liệu do chính quyền tự công bố không? Anh viết không lại đâu!"
Thật không ngờ một ông Niên vốn dĩ phải "buôn có bạn, bán có phường" lại có cái nhã hứng "trong kinh doanh đàm luận văn chương" cùng những kiến giải khá là bất phàm đến vậy.
Câm nín.
Cà phê được mang lên.
9
Sau khi chia tay ông Niên và Tư Bảo La, bạn quyết định cứ thế tản bộ đi bộ về nhà.
Vừa men theo đại lộ Vương Phủ đi về phía bắc, bạn vừa nghĩ: Không nên viết cái gì? Cần phải viết cái gì? Sao ngay cả thương nhân người Mỹ như ông Niên Kiền Kỳ cũng chạy tới chỉ đạo thế này? Những lời chỉ đạo đầy thiện ý kiểu này kiểu nọ quả thực là quá nhiều rồi...
Nói thật, năm xưa sao bạn lại có thể nói trước mặt Niên Kiền Kỳ rằng bạn muốn viết một cuốn sách, một cuốn sách mang tên "A Tỉ", cớ sao bạn lại nghĩ như thế, lại nói như thế? Cho đến tận hôm nay bạn cũng chẳng thể đoán ra nổi...
Thế nhưng rốt cuộc bạn cũng đã trở thành một nhà văn, đã viết một mạch cho tới tận bây giờ. Bạn muốn cái gì? Không muốn cái gì? Nên viết thế nào? Không nên viết thế nào?
Bạn có thứ muốn, có thứ không muốn, có thứ chẳng biết là muốn hay không muốn...
Trong lòng bạn có một hằng số, cái thay đổi chỉ là hình thức thể hiện, như 2+2, 2², (1+1)×2, 8÷2, X-4=0... Chung quy cũng chẳng thể biến ra ngoài cái hằng số 4 ấy được, nên thế nào, không nên thế nào, bạn nói không rõ, giảng chẳng thông, nhưng rốt cuộc bạn vẫn luôn là chính bạn...
Điều quan trọng nhất là bạn không chỉ muốn viết, mà còn có thể viết; bạn tự nhủ với mình, đã muốn viết và có thể viết, vậy thì đừng do dự nữa, cứ tiếp tục viết đi thôi!
Vừa nghĩ ngợi, vừa cất bước như thế, bạn dần dần bước vào con ngõ nhỏ mà thời thơ ấu mình từng sinh sống...