Tứ Bài Lâu

Lượt đọc: 7 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 5

❊ ❊ ❊

1

Anh vẫn luôn nhớ rõ nhà hát ngoài trời ấy.

Có lẽ vì khi đó anh vẫn còn là một thiếu niên chưa phát triển hoàn thiện, nên không gian mà đôi mắt nhìn ra và tâm trí cảm nhận được đều bành trướng hơn rất nhiều so với diện mạo vốn có của sự vật——trong ký ức của anh, nhà hát ngoài trời đó rất lớn, chỗ ngồi của nhà hát là những bậc thềm xi măng tầng tầng lớp lớp dâng cao, toàn bộ khán đài là một hình vòng cung, sân khấu phía chính diện có bệ móng xi măng, mái che và rèm cánh gà cũng rất lớn, còn khung cảnh biểu diễn trong ký ức của anh cũng vô cùng tráng quan.

Nhà hát ngoài trời ấy nằm ở vùng ngoại ô phía tây Bắc Kinh, tọa lạc trong một khu nhà rộng lớn gồm cả những tòa nhà cũ lẫn mới xây, thuộc về một cơ quan trọng yếu, là nơi cơ quan dùng để triệu tập đại hội toàn thể, buổi tối thường dùng để chiếu phim, đến cuối tuần thì có các buổi biểu diễn ca múa nhạc.

Khi đó anh Tư của anh làm mậu dịch viên tại hợp tác xã của cơ quan đó——tức là một cửa hàng nội bộ lấy thực phẩm phụ làm chủ và bách hóa nhật dụng làm phụ——anh Tư là một phần tử tích cực trong việc xem biểu diễn, bất kể nhà hát ngoài trời đó diễn cái gì, dù là phim ảnh, ca múa, kịch nói, khúc nghệ hay hý khúc, anh đều xem tất tần tật, mà thích xem nhất là hý khúc, trong hý khúc mê nhất lại là kinh kịch, thế nên không chỉ các đồng nghiệp trong cửa hàng, mà ngay cả nhiều khách hàng (đều ở cùng một cơ quan nên quen biết nhau) hễ thấy anh cũng đều trêu chọc: "Tiểu Tưởng này, thế nào rồi, chắc phải đổi tên thành Doanh Kinh thôi nhỉ?"

Anh Tư tên là Tưởng Doanh Bình. Kinh kịch tại thánh địa cách mạng Diên An từng được gọi là Bình kịch, sau khi giải phóng, Bắc Bình đổi tên thành Bắc Kinh, Bình kịch cũng đổi tên thành kinh kịch. Tưởng Doanh Bình đã là một kẻ mê kinh kịch, há chẳng phải nên đổi tên thành Tưởng Doanh Kinh hay sao?

Anh Tư trước sau vẫn không đổi tên, nhưng niềm đam mê kinh kịch lại theo anh suốt cả cuộc đời. Kinh kịch chính là——mượn tên một cuốn sách của nữ nhà văn nổi tiếng hồi thập niên 80——người bạn đời vô hình của anh.

2

Kỳ nghỉ hè giữa năm lớp sáu lên lớp bảy, có một khoảng thời gian anh đã trải qua ở chỗ anh Tư. Lúc đó anh Tư sống trong một căn phòng phía sau cửa hàng, căn phòng ấy cửa trước thông ra quầy hàng, cửa sau thông ra nhà hát ngoài trời, giữa cửa sau và mặt sau nhà hát ngoài trời là một khoảng đất hoang cỏ dại mọc um tùm, sau cơn mưa đọng lại mấy vũng nước, đêm xuống tiếng ếch nhái râm ran khắp nơi, ban ngày cũng thỉnh thoảng có tiếng ếch kêu; anh từng nhân lúc anh Tư đang bán hàng mà một mình chạy ra bãi đất hoang đó bắt ếch, nhìn thấy chú ếch ngay trước mắt, dường như chỉ cần khom lưng lấy tay chụp một cái là tóm được, thực ra lại khó vô cùng, thường thường là mệt toát mồ hôi hột, sốt ruột giậm chân bình bịch, vậy mà cả một buổi sáng chẳng bắt được con nào; lũ ếch ở đó quả thực cũng đáng ghét, vì quá nhiều, và cũng vì không chịu rời khỏi mảnh đất hoang tàn ấy, nên dù anh có giậm chân thì chúng cũng chỉ hơi nhảy tránh sang một chút, tạm ngưng tiếng kêu inh ỏi mà thôi, về sau thậm chí anh giậm chân chúng vẫn nằm bẹp dí trong tầm mắt anh không thèm nhúc nhích, bụng phập phồng to nhỏ, giương hai con mắt tròn xoe trừng trừng nhìn anh, như thể đang chế giễu sự bất tài và bất lực của anh vậy.

Trong cơ quan lớn ấy có một khu vườn khá rộng, nói cho đúng thì không phải là hoa viên dành cho người ta tham quan nghỉ ngơi, mà là một khu vực gồm vườn ươm hoa, nhà kính, vườn ươm cây giống và cây non để ươm trồng chậu hoa, cây giống nhằm phục vụ việc bài trí và trồng trọt trong khu làm việc. Ở nơi xinh đẹp và thanh tĩnh ấy, có thể trông thấy Vạn Thọ Sơn cùng Phật Hương Các, Trí Huệ Hải trên núi thuộc Di Hòa Viên cách đó không xa lắm, còn có cả Ngọc Tuyền Sơn chỉ lộ ra bóng hình mờ xám cùng tháp Diệu Cao trên đỉnh; ban ngày nô đùa ở nơi đó, điều khiến anh kinh ngạc nhất là có thể nghe thấy một thứ âm thanh kỳ quái truyền tới từ Di Hòa Viên, hỗn tạp từ đủ mọi loại thanh âm do du khách phát ra, mớ âm thanh mơ hồ như bầy ong vò vẽ về tổ ấy vừa xa xôi lại vừa rõ ràng, vừa yếu ớt mà lại tuyệt không ngắt quãng, vì thế trông có vẻ huyền bí, trống trải, hệt như lũ ếch trên đồng cỏ tưởng như ở ngay trước mắt với tay là được nhưng bắt mãi chẳng xong; nhiều năm về sau, anh mới ngộ ra rằng tất cả những điều đó đều là tượng trưng của nhân sinh, chí ít cũng là tượng trưng cho hoàn cảnh sinh tồn của riêng bản thân anh.

Đến nay anh vẫn luôn cảm niệm anh Tư, người đã giúp anh trải qua một kỳ nghỉ hè khác thường ở nơi ấy.

3

Vì sao anh Tư lại đi làm nhân viên bán hàng?

Anh Tư cũng là học sinh trường trung học Thục Hương, học trên chị Ba, Điền Nguyệt Minh, Cúc Cầm, Băng Long Trân và Tây Nhân một lớp, cùng lớp với Điền Hà Minh - chị gái của Điền Nguyệt Minh. Hồi ấy thỉnh thoảng cha dẫn chúng tôi đến Lệ gia ban ở Trùng Khánh xem kinh kịch, chẳng hạn như Lệ Tuệ Lương, người ngày nay được coi là bậc thái đấu về vai võ sinh, lúc đó vẫn còn là một diễn viên rất trẻ, trong Lệ gia ban vẫn chưa được treo biển đào kép chính, chẳng thể hát vở áp trục hay đại trục, khi ấy người để lại ấn tượng sâu sắc nhất cho chúng tôi là Lệ Tuệ Mẫn đóng vai đán, dường như từ chính công thanh y cho tới đao mã đán bà đều diễn được tuốt, xướng niệm tố đả mọi bề đều xuất sắc, thường xuyên do bà hát vở áp trục hoặc đại trục, nổi tiếng một thời; không rõ vì sao về sau bà lại không thể vượt khỏi Tứ Xuyên để trở thành diễn viên nổi danh toàn quốc, cho đến nay hễ bàn tới chuyện này, anh Tư vẫn thấy bất bình thay cho bà.

Anh Tư học đến năm lớp mười hai thì đúng vào lúc xã hội có biến động lớn, về sau lại theo cha mẹ vào Bắc Kinh, tới Bắc Kinh thì các trường đại học chính quy đã không còn tuyển sinh nữa, là hoàn toàn không tuyển sinh hay đã quá thời hạn tuyển sinh, tôi cũng không nhớ rõ. Tóm lại, cha mẹ và bản thân anh đều không muốn quanh quẩn nhàn rỗi ở nhà, cộng thêm trào lưu thời đại thúc đẩy, anh bèn đi thi vào Trường Đại học Cách mạng Hoa Bắc. Ban đầu cha mẹ từng rất tự hào về anh, mức độ chỉ thua kém niềm tự hào dành cho anh Cả chúng tôi——anh Cả là một quân nhân Giải phóng quân, từng tham gia trận chiến giải phóng Quảng Đông, lúc đó đang ở Quảng Châu; ban đầu anh Tư cũng rất tự hào, nhưng chẳng bao lâu sau đã về kể: Hóa ra đó chẳng phải trường đại học chính quy gì, mà là một lớp huấn luyện chính trị ngắn hạn mở ra cho những trí thức muốn dấn thân vào sự nghiệp cách mạng, cùng với việc truyền thụ lý luận chính trị, vận động cải tạo tư tưởng và sự tiến bộ trong việc tự giác dấn thân của các học viên, trường liên tục cung cấp nhân tài cho các phương diện của đất nước. Đó tuy là một ngôi trường kiểu mới đáng để tự hào, nhưng đối với anh Tư thì quả thực lại không thích hợp. Ví dụ như trong lớp mà anh được phân vào, hơn ba mươi người chỉ có bốn người là tốt nghiệp trung học phổ thông, số còn lại hoặc là sinh viên từng học các trường đại học thời cũ (có người chưa học xong, có người học xong nhưng chưa tìm được việc làm), hoặc là những người hoạt động văn hóa đã đi làm từ lâu, thậm chí đã có thành tựu nhất định trong phạm vi nghề nghiệp của mình, như đạo diễn kịch nói, diễn viên điện ảnh, phóng viên tòa báo, biên tập viên nhà xuất bản, họa sĩ, nhà thơ, người thông thạo ngoại ngữ có thể vừa dịch nói vừa dịch viết, thợ nhiếp ảnh từng mở tiệm chụp hình... thậm chí còn có cả một ảo thuật gia biết làm trò "biến ra người sống", vân vân. Anh Tư sống lẫn lộn cùng bọn họ tuy đã mở mang tầm mắt rất nhiều, cảm thấy mới lạ và thú vị, nhưng chưa đầy một năm học tập đã liên tục có người này đi đoàn kịch, chẳng bao lâu đã dựng xong vở kịch nói "Lôi Vũ", người kia đi xưởng phim, rất nhanh sau đó đã đóng vai bà nông dân trong một bộ phim truyện... lại có những người đến tòa soạn báo, tòa soạn tạp chí, đến lúc tốt nghiệp, hễ ai có tài năng chuyên môn thì hầu như đều bị giành giật sạch trơn, còn trơ lại chỉ là những đứa nhóc không có lấy một ngón nghề chuyên môn nào mà chỉ có lý lịch trong sạch như anh Tư (những người có tài năng chuyên môn kia đa phần trong lý lịch ít nhiều đều có chút vết nhơ), nhưng anh Tư đã trải qua nền giáo dục của trường đại học cách mạng thì tuyệt đối phục tùng sự phân công của tổ chức, thế là bị phân công "tạm thời" về bán hàng trong hợp tác xã của cơ quan lớn nọ. Trong thời gian bán hàng, anh Tư quả thực rất an phận, thái độ phục vụ của anh hoàn toàn có thể trở thành tấm gương mẫu mực cho các nhân viên bán hàng ở các trung tâm thương mại lớn ngày nay, không chỉ hỏi trăm câu không phiền, lấy trăm lần không chán, thậm chí còn có thể đứng tựa quầy hàng nhỏ to tâm sự cùng khách——miễn là không có vị khách nào khác bước lại gần. Sự an phận của anh Tư ngoài tư tưởng tiến bộ ra, tôi nghĩ nhà hát ngoài trời cứ bước ra cửa sau là tới, đặc biệt là việc nơi đó thỉnh thoảng lại diễn kinh kịch, cũng là một nhân tố vô cùng quan trọng.

Sự phân công ấy quả thực chỉ là "tạm thời", lãnh đạo cơ quan đều nắm rõ tình hình của anh Tư, khi trường đại học cách mạng phân bổ hẳn đã có dặn dò——thanh niên trong sạch lại có nhiệt huyết cách mạng như thế này cần phải bồi dưỡng thêm cho tốt, do đó hai năm sau khi các trường đại học chính quy thống nhất tuyển sinh, anh Tư đã có được tư cách dự thi đại học dưới thân phận "cán bộ cấp cao" và được ưu tiên xem xét tuyển nhận. Lúc ấy anh Tư chọn chuyên ngành Ngôn ngữ và Văn học Nga của Đại học Bắc Kinh, vừa niêm yết bảng điểm, anh quả nhiên đã trúng tuyển!

Đừng thấy anh Tư từng làm nhân viên bán hàng, tính ra thì đến nay anh vẫn là người có học vị danh giá nhất trong gia tộc chúng tôi——cho dù anh không học nghiên cứu sinh như chị Ba, nhưng dẫu sao anh cũng từng học ở học phủ cao nhất Trung Quốc cơ mà!

4

Anh nhớ ngày hôm ấy, đó là một ngày chủ nhật, ngày đó vô cùng quan trọng với anh Tư, thậm chí có thể nói là ngày rực rỡ nhất trong cuộc đời anh.

Sáng sớm hôm đó anh cùng cha mẹ ra khỏi nhà, mẹ anh - người luôn có động tác chậm hơn người khác vài nhịp - hôm ấy cũng như "chim ngốc bay trước", chuẩn bị xong xuôi mọi thứ để đi xa, cả ba người cùng nhau đón xe điện bánh sắt đến Tây Trực Môn, rồi từ đó đổi sang xe buýt ngoại thành để đến Đại học Bắc Kinh.

Đúng vào tiết giữa xuân, hồ Vị Danh của Bắc Đại sóng biếc lăn tăn, bóng hình thanh tú của tháp Vị Danh (thực ra là một tháp nước mang hình dáng cổ điển) in bóng xuống lòng hồ, hoa nghênh xuân vẫn chưa tàn hết, hoa du diệp mai đang nở rực rỡ, đinh hương trắng và đinh hương tím cũng đua nhau bung nở, theo gió tỏa ra từng đợt hương thơm ngát sảng khoái lòng người, tùng bách càng thêm xanh biếc, rặng trúc càng lộ vẻ tươi tốt, lại thêm hoa nhị nguyệt lan và mạn đà la nở tự do trên sườn dốc, quyện cùng tiếng ong vo ve chim hót líu lo, tơ liễu bay lượn, cha vừa đi vừa cảm thán: "Đúng là còn có phong vị hơn cả hồ Côn Minh ở Di Hòa Viên!" Mẹ ngày thường chỉ tấu khúc giao hưởng xoong nồi bát đĩa, hoàn toàn lún sâu vào trận đồ củi gạo dầu muối tương giấm trà, đặt mình vào hoàn cảnh như thế này lại càng tươi cười rạng rỡ, mày mắt giãn ra, lẩm bẩm nói: "Thằng Bình thật có phúc, được học ở một nơi như thế này!"

Ở gần Lâm Hồ Hiên, họ gặp Cúc Cầm và Thường Diên Mậu, lúc ấy hai người đã xác định mối quan hệ nhưng vẫn chưa kết hôn, họ cũng đến vì cùng một mục đích, Cúc Cầm vui vẻ nói: "Trước đây toàn là chúng ta mời anh Tư xem chúng ta biểu diễn, hôm nay ngược lại là anh ấy mời chúng ta xem anh ấy diễn, vui thật đấy!"

Chớp mắt một cái lại có tiếng chuông xe đạp reo vang, mọi người ngoảnh đầu lại nhìn, thì ra là Băng Long Trân đang đạp xe tới, cô sống rất gần Bắc Đại nên thường đạp xe vào đây, chỉ thấy cô nhảy xuống xe, trên gương mặt chẳng rõ là niềm vui thuần túy hay có chứa vẻ biểu cảm cường điệu vì ngấm ngầm thấy buồn cười, lớn tiếng thông báo: "Còn không mau đi xem, áp phích lớn lắm đấy! Lần này Doanh Bình giữ vị trí của Mai Lan Phương rồi!"

“Nguyệt Minh sao còn chưa tới?” Cúc Cầm hỏi cô, ai cũng biết Băng Long Trân và Điền Nguyệt Minh liên lạc thân thiết nhất, hai người thường xuyên gọi điện thoại cho nhau.

“Cô ấy á? Cô ấy làm sao nỡ hy sinh buổi hẹn hò với Tây Nhân chứ!”

Ai cũng biết hồi đó hầu như mỗi chủ nhật Tây Nhân đều phải từ sáng sớm chạy vội lên Bắc Kinh, tối cùng ngày lại trở về Thiên Tân, cùng Điền Nguyệt Minh định kỳ diễn màn "Hội ngộ cầu Ô Thước".

“Vậy thì hẹn cả Tây Nhân cùng đến xem anh họ biểu diễn đi chứ!”

Băng Long Trân nhìn Cúc Cầm chỉ cười, lại nhìn Thường Diên Mậu, bảo: "Hai người họ chỉ thích ăn đồ Tây thôi, đâu có như hai anh chị, kim cổ đông tây đều thu nạp cả!"

“Tích Mai chắc không đến nỗi không tới chứ?” Mẹ không kìm được buột miệng nói.

Thẩm Tích Mai là bà con bên ngoại của mẹ, cụ thể mà nói thì là con gái của em họ mẹ, trước kia cũng học ở trường trung học Thục Hương, cùng khối nhưng khác lớp với anh Tư, chị ấy sau này vào học Học viện Lâm nghiệp, học chuyên ngành làm vườn, tốt nghiệp xong được phân công về Cục Công viên Cây xanh Bắc Kinh làm kỹ thuật viên, ngày lễ ngày tết đôi khi cũng ghé qua nhà anh, tức là nhà dì và dượng, tự nhiên cũng quen biết Cúc Cầm, Băng Long Trân các thứ, anh Tư lên sân khấu trổ tài cũng mời cả chị ấy; anh Tư hận không thể mời hết thảy bà con lối xóm bạn bè gần xa, chị Ba đang ở Hà Bắc không có mặt ở Bắc Kinh, nhưng anh cũng mời cả Đạt Dã - đối tượng hẹn hò khi ấy của chị Ba, Đạt Dã qua điện thoại nói với anh rằng thực sự xin lỗi, hôm ấy đằng nhà anh ấy lại vướng chuyện bận không dứt ra được, chúc anh Tư biểu diễn thành công! Khi mời tới Thẩm Tích Mai, Thẩm Tích Mai đã nhận lời nhất định sẽ đến, có điều hôm đó ngoài mẹ ra dường như chẳng mấy ai nhớ tới chị ấy. Câu hỏi đó của mẹ chỉ xem như lời tự lẩm bẩm, không có ai tiếp lời bà.

Băng Long Trân bèn dẫn mọi người đi xem tấm áp phích trước.

Bao nhiêu năm đã trôi qua. Anh vẫn còn nhớ tấm áp phích khổ lớn ấy, nó không được dán trên bảng thông báo, mà được quét sơn thẳng lên bức tường bên hông một tòa nhà. Lúc ấy những phong trào Đại minh đại phóng hay chống phái hữu đều chưa dấy lên, người ta vẫn chưa chuộng dán đại tự báo, vì thế thông báo biểu diễn kia liền lộ vẻ mới mẻ, kỳ lạ, thậm chí có phần đập vào mắt đến giật mình:

Đoàn Kinh kịch Sinh viên Đại học Bắc Kinh đúng mười giờ sáng chủ nhật tuần này

sẽ mở màn biểu diễn các trích đoạn kinh kịch đặc sắc tại Đại lễ đường, xin mời nhanh chân giữ chỗ!

Từ Minh Ích, Lỗ Vũ, Chiêm Đức Quyên, Hà Khang, Hoàng Lục Thanh, Trình Hùng, Phạm Ngọc Nga

Điếu Kim Quy, Thập Ngọc Trạc, Trừ Tam Hại

Danh kịch phái Trình: Tưởng Doanh Bình chủ diễn

Xuân Thu Đình: Chiêm Đức Quyên, Phạm Ngọc Nga, Hoàng Lục Thanh

Đại Đoàn Viên: Hà Khang, Lỗ Vũ, Từ Minh Ích

Thường Diên Mậu ngửa đầu đọc xong liền nói: "Chà, đừng thấy là nghiệp dư nhé, sinh, đán, tịnh, mạt, sửu, các vai diễn cũng đầy đủ gớm!"

Cúc Cầm chỉ cười ha hả.

Băng Long Trân bèn nói: "Thế nào, Tưởng Doanh Bình là trụ cột lớn rồi chứ gì!"

Cúc Cầm liền bảo: "Là trụ cột lớn, nhưng anh ấy không phải Mai Lan Phương của Bắc Đại, anh ấy là Trình Yến Thu của Bắc Đại!"

Băng Long Trân không hiểu kinh kịch, nói: "Dù sao cũng thế cả thôi, cũng có thể nói là Ulanova của Bắc Đại!" Hồi ấy nữ diễn viên múa ba lê Liên Xô Ulanova ở Trung Quốc cũng giống như các bậc đại sư nghệ thuật Mai Lan Phương, Tề Bạch Thạch, danh tiếng vang dội như mặt trời ban trưa.

Mẹ là người xem áp phích kỹ nhất, xem xong bà cười tươi rói nói: "Thằng Bình nở mày nở mặt thật đấy, các con xem, nó hát đại trục đã đành, các diễn viên biểu diễn trước đó, trừ một người tên Trình Hùng vì đóng vai hoa kiểm mà vở 'Tỏa Lân Nang' không dùng tới ra, còn lại tất cả đều quay sang phụ diễn cho nó! Đúng thật là các vì sao vây quanh vầng trăng rồi!"

Cha chỉ mím môi cười, cố ý nói: "Chỉ sợ nó vừa mở miệng đã dọa người ta chạy sạch dưới khán đài, giọng phái Trình dễ hát thế sao?"

Anh nhớ, ngày hôm ấy khi đoàn người bước vào Đại lễ đường, tất cả đều có chút bất ngờ ngoài dự liệu, Đại lễ đường được xây dựng từ thời Đại học Yến Kinh tuy nói không phải quá lớn, nhưng cũng chẳng thể coi là nhỏ, chỉ là một buổi diễn nghiệp dư của một câu lạc bộ văn nghệ sinh viên mà lại thu hút nhiều khán giả đến thế, không chỉ có sinh viên các chuyên ngành và các khóa khác nhau, mà còn có rất nhiều cán bộ công nhân viên giảng dạy, cha bảo ông nhìn thấy mấy vị học giả lớn, giáo sư kỳ cựu vô cùng nổi tiếng trong xã hội, về sau mới biết hôm đó ngay cả hiệu trưởng, phó hiệu trưởng cũng đều có mặt, lại có cả những người mê kịch từ các trường đại học và cơ quan lân cận nghe tin chạy sang, anh Tư sau này kể rằng còn có cả những người trong nghề do bọn họ đặc biệt mời từ trong nội thành ra, bao gồm các diễn viên giới kinh kịch (những người mà họ từng bái sư), các nhà phê bình và những tay chơi tài tử nổi danh, tóm lại là thịnh huống chưa từng có, trước khi mở màn ghế đã kín tới tám chín phần, sau khi mở màn thì dần dần chật ních, đến khi anh Tư diễn vở "Tỏa Lân Nang", thậm chí còn xuất hiện rất nhiều "ghế phụ"——có người từ văn phòng, phòng học gần đó bê ghế sang, ngồi sát chân tường và lối đi để thưởng thức.

Anh nhớ, buổi biểu diễn hôm ấy đã đặc biệt khoanh ra một khu đất ở phía trước để làm "hàng ghế thân nhân", đoàn người bọn họ mới có thể an nhiên ngồi xuống, hơn nữa còn ở vị trí đẹp nhất.

Bởi vì đám bạn diễn kịch của anh Tư hầu như đều từng đến nhà anh làm khách, ở lại dùng cơm, nên anh gần như đều quen mặt. Nhìn những người mình quen biết, thậm chí thân thiết ở dưới đời thực nay lại hát xướng trên sân khấu, cảm giác ấy thực sự mang một phong vị rất đỗi khác lạ.

Người đóng vai lão đán trong vở "Điếu Kim Quy" thì anh không quen, nhưng Lỗ Vũ đóng vai chú hề Trương Nghĩa thì anh lại quá đỗi quen thuộc! Lỗ Vũ ở dưới sân khấu là một chàng trai khôi ngô tuấn tú hơn anh Tư nhiều, chỉ có điều vóc người hơi nhỏ nhắn, đám anh Tư bèn đặt cho anh ta biệt danh "mỹ nam tử bỏ túi", anh thực không ngờ một mỹ nam tử lại cam tâm bôi trắng mũi mình, dùng chất giọng đê tiện rẻ rúng diễn một kẻ tiểu nhân hạ tiện trước bàn dân thiên hạ, huống hồ Lỗ Vũ lại học ngành hóa học, một sinh viên suốt ngày tụng phương trình hóa học, làm sao lại có thể hứng thú với bộ môn kinh kịch chẳng vương chút hơi hướng hóa học nào như thế này nhỉ?

Không hẹn mà gặp, Hoàng Lục Thanh diễn vai Lưu bà mối trong "Thập Ngọc Trạc" cũng là một mỹ nam tử, hơn nữa lại chẳng phải dạng bỏ túi, anh ta lại còn học tiếng Pháp. Mấy năm đó có mấy bộ phim Pháp cực kỳ được ưa chuộng ở Trung Quốc, như "Hành Trình Kỳ Thú Của Fanfan", "Đỏ Và Đen", đều do ngôi sao người Pháp nổi tiếng một thời Gérard Philipe đóng chính. Tướng mạo Hoàng Lục Thanh tuy nói chưa đường hoàng tới mức như Gérard Philipe, nhưng quả thực cũng mang máng tương tự, vậy mà anh ta cũng tự làm xấu bản thân, hóa trang thành một vai thái đán, lúc trang điểm còn chấm một nốt ruồi bà mối tròn vo thật đậm trên môi trên, dùng đủ mọi động tác và giọng điệu cường điệu để tạo tiếng cười, chọc cho khán giả bao gồm cả thầy hiệu trưởng cười nghiêng ngả.

Phải rồi, khi hồi tưởng lại cảnh tượng ngày hôm ấy, anh không khỏi nghĩ rằng, trong thiên tính của con người, quả thực có sẵn cái gen lấy việc làm vai hề làm niềm vui và lấy việc xem vai hề làm trò khoái trá...

"Trừ Tam Hại" là một vở kịch cao cấp hơn "Điếu Kim Quy" và "Thập Ngọc Trạc", nói chung, "Điếu Kim Quy" chú trọng phần hát, "Thập Ngọc Trạc" chú trọng phần diễn bộ, còn "Trừ Tam Hại" lại coi trọng cả hát lẫn diễn bộ, ngoài việc không có các màn vũ đạo đánh đấm, yêu cầu về phần niệm bạch cũng tương đối cao. Hai người diễn vở này, anh biết đều là những người bạn thân nhất của anh Tư. Trình Hùng học ngành địa chất địa lý, vạm vỡ cởi mở, đúng chuẩn là một mảnh đất tốt để diễn tráng hán Chu Xử, giọng hát hoa kiểm của anh ta vang dội cả hội trường, liên tục nhận được những tràng pháo tay tán thưởng của những người sành sỏi dưới khán đài; điều khiến anh kinh ngạc hơn nữa là người đóng vai tu sinh lại là nữ cải nam trang, Phạm Ngọc Nga dưới sân khấu mày thanh mắt tú, tướng mạo chỉ kém chị họ Điền Nguyệt Minh một chút nhưng lại vượt trội hơn hẳn chị Ba, Cúc Cầm và Băng Long Trân. Phạm Ngọc Nga học ngành sinh học, theo anh nghĩ, một cô gái như thế đã thích kinh kịch thì nên diễn thanh y, hoa đán mới phải, đằng này cô cứ nằng nặc đeo râu giả, làm bộ làm tịch sắm vai bậc trưởng giả thời xưa, để có thể ngang tài ngang sức với Trình Hùng trong "Trừ Tam Hại", có thể thấy cô đã dốc hết toàn lực. Theo lời cha giải thích bên cạnh, cô hát theo trường phái của Mã Liên Lương, cách hát phái Mã là cố gắng hướng tới sự tiêu sái và hạn chế tối đa sự kích động, cô diễn dường như cả hát lẫn diễn bộ đều hơi quá đà, nhưng khi nhân vật lão nhân Thời Cát khuyên nhủ Chu Xử do cô thủ vai hát đến đoạn lưu thủy: "Chu hiền điệt hỏi danh tính, để lão hủ nói cùng ngươi chân tình...", thì không chỉ những người trong nghề dưới khán đài liên tục vỗ tay, lớn tiếng khen ngợi "Tuyệt——quá——", mà hát xong gần như toàn thể khán giả cũng đều cùng nhau vỗ tay nhiệt liệt cho cô. Nhà cô cũng ở trong thành, thường xuyên đến nhà họ Tưởng chơi, Tưởng Doanh Bình vắng nhà cô cũng có thể ngồi trò chuyện với mẹ anh một hồi, mẹ anh từng thầm hy vọng anh Tư và cô có thể thành một đôi, nhưng sau này mới biết, cô và người đóng vai tiểu sinh trong vở "Thập Ngọc Trạc" đã là một cặp tình nhân. Anh chàng đóng tiểu sinh ấy tên là Hà Khang, vốn là tài tử khoa Trung văn, sau này trở thành một nhà phê bình có tiếng. Trong chặng đường đời sau này của anh Tư, Hà Khang và Phạm Ngọc Nga là cặp đôi trước sau chưa từng cắt đứt liên lạc với anh.

... Vở "Tỏa Lân Nang" cuối cùng cũng mở màn!

Anh biết, ngày hôm ấy tuy đã trôi qua rất lâu rồi, và những người xem kịch dưới khán đài năm xưa e rằng chỉ còn lại một bộ phận cực kỳ ít ỏi, thậm chí chỉ còn vài người, cho đến tận hôm nay có lẽ chỉ còn lại một mình anh là nhớ được, là có thể hoài niệm. Nhưng đối với anh Tư trên sân khấu mà nói, thì có lẽ khắc sâu vĩnh viễn trong tim, hệt như chiếc túi tỏa lân trong vở kịch kia, vĩnh viễn được trân quý chôn sâu trong tâm hồn, và sẽ thường xuyên giữa đêm khuya thanh vắng, muôn bề tĩnh lặng, lại như thể thò tay vào túi lấy đồ vật ra, đem cảnh tượng tưng bừng của buổi diễn ngày hôm ấy ra nhai từng khúc, ngẫm từng tấc, mà mỗi khúc mỗi tấc ấy đều như san hô đỏ, bích phỉ thúy, xích kim liên, tử anh trâm, bạch ngọc hoàn, song phụng toàn, bát bảo thoa xuyến mà lời ca trong vở diễn đã hát, rực rỡ hào quang, báu vật ngậm sáng...

Anh biết, trải qua hơn ba mươi năm mưa gió cuộc đời, anh Tư nay đã nghỉ hưu vẫn trân trọng cất giữ những bức ảnh chụp lại buổi diễn ngày hôm đó, do các bạn đồng nghiệp trong đoàn kinh kịch chụp giúp. Hồi ấy vẫn chưa có phim màu, lại dùng loại máy ảnh hộp vuông kiểu 120, cũng chẳng có điều kiện dùng đèn flash, kỹ thuật chụp ảnh lại không cứng tay, ảnh chụp ra có tấm tiêu cự không chuẩn, có tấm lấy góc không khéo, chẳng hạn có mấy tấm góc sân khấu bị lệch xẹo, có mấy tấm lấy góc khá ổn thì lại đúng lúc anh Tư đang cất giọng hát vang, cái miệng há to tạo thành một hố đen ngòm, thực sự chẳng nhã nhặn chút nào, tấm trông tạm được đại khái chỉ có một hai tấm, nhưng thời gian trôi qua quá lâu, nay đều đã ngả vàng, còn phim âm bản thì sớm đã chẳng biết lưu lạc phương nào...

Anh biết, cho đến tận hôm nay, khi ở một mình, việc lấy những bức ảnh chụp buổi biểu diễn ngày hôm ấy ra ngắm nghía kỹ càng, vuốt ve nâng niu, vẫn là niềm vui nhân sinh quan trọng nhất của anh Tư...

Anh biết, trên đường đời sau này của anh Tư, các đồng nghiệp, những người thân bạn bè mới quen biết đều không hay biết, thậm chí khó mà tưởng tượng nổi anh từng hát vai thanh y phái Trình.

Thực lòng mà nói, ngay cả thời còn trẻ, người bình thường hễ gặp anh Tư cũng đều chẳng thấy anh đẹp trai, anh tuyệt không phải mỹ nam tử, cũng chẳng phải người đàn ông mảnh mai ẻo lả, râu anh rất rậm, dẫu cho ngày nào cũng kiên nhẫn dùng dao cạo thật sạch sẽ thì bên má, trên môi và dưới cằm vẫn luôn xanh rì một mảng. Cằm anh dường như hơi ngắn, thụt lùi vào phía trong cổ, đôi bàn tay cũng rất to, duy chỉ có đôi mắt là to và sáng ngời, hơn nữa cũng giống như em gái, đều là mắt hai mí, rất khác biệt với tướng mạo mắt một mí, mắt hẹp hoặc mắt dài của ba người anh em còn lại, nhưng anh cũng tuyệt không có hốc mắt sâu như cô em Tưởng Doanh Ba, trán cũng không dô, một tướng mạo như thế ở dưới đời thực chẳng ai nghĩ là có thể nam cải nữ trang được. Thế nhưng vừa vào hậu trường hóa trang, siết chặt chân mày, dán tóc mai giả, thoa phấn nền, dặm phấn hồng, vẽ lại đôi mày, lại thêm đầy đầu châu ngọc ngọc phỉ thúy, khoác lên bộ hí phục có tay áo nước mềm mại, thì liền chẳng còn chút hơi hướng đàn ông nào nữa. Dáng vẻ hóa trang ấy tuy không thể nói là quá xuất sắc, nhưng vừa bước ra sân khấu, gót sen khẽ dịch chuyển, mặt phấn hơi nghiêng, vung nhẹ tay áo nước, cất lên làn điệu phái Trình thanh mảnh như tơ, chà, tuyệt đại đa số khán giả lập tức công nhận ngay——rõ ràng là một người phụ nữ thời xưa!

Trong trích đoạn "Xuân Thu Đình", đoạn đầu anh hát còn chưa nhận được nhiều tiếng khen ngợi, nhưng khi chuyển sang điệu lưu thủy, cất lên câu "Thế thượng hà thường tận phú hào, dã hữu cơ hàn bi hoài bão" (Trên đời đâu phải ai ai cũng giàu sang, cũng có kẻ đói nghèo ôm nỗi đau thương), thì càng lúc càng trở nên tự nhiên, màn đối đáp qua lại giữa anh với a hoàn Mai Hương và quản gia Tiết Lương cũng nắm bắt tiết tấu rất vừa vặn, không nhanh không chậm, làn hơi của anh vừa cao vút lại vừa uyển chuyển, tựa như suối phun lại tựa như rút tơ, câu nọ nối tiếp câu kia, dư âm lượn lờ không dứt, phía dưới khán đài thì tiếng vỗ tay tán thưởng vang lên liên tục, đến khi mấy câu "Lân nhi na hữu thần tống đáo, tích đức tài sinh ngọc thụ miêu, tiểu tiểu nang nhi hà túc đạo, cứu tha cơ khát thắng quỳnh dao" (Kỳ lân con đâu phải do thần đưa tới, tích đức mới sinh được chồi cây ngọc, chiếc túi con con này có đáng là bao, cứu nàng lúc đói khát còn hơn cả ngọc quỳnh) hát xong, tràng pháo tay dưới khán đài liền vang lên như sấm rền...

Trong trích đoạn "Tương Nhận Đoàn Viên", lúc đầu màn biểu diễn của anh Tư không mấy nổi bật, ngược lại Lỗ Vũ sắm vai thái đán với bím tóc độc nhất vểnh lên sau gáy của a hoàn Bích Ngọc lại chiếm hết ánh hào quang. Nhân vật quý phụ Triệu Thủ Trinh do Chiêm Đức Quyên - người đóng Tôn Ngọc Kiều trong "Thập Ngọc Trạc" - thủ vai, trong "Thập Ngọc Trạc" cô là hoa đán, sang "Tỏa Lân Nang" này lại là thanh y, cũng tính là đa tài đa nghệ; cùng với sự tiến triển của cốt truyện, Triệu Thủ Trinh dần dần nhận ra Tiết Tương Linh nay đã lưu lạc làm người ở (tức vai diễn của anh Tư) chính là ân nhân hào phóng tặng túi năm xưa ở Xuân Thu Đình, thế là liên tục bảo Bích Ngọc bày chỗ ngồi cho Tiết thị, thoạt đầu là ngồi lệch một bên, sau đó là ngồi ngang hàng, rồi sau đó nữa lại mời hẳn lên ngồi ghế trên, Bích Ngọc không phục, có rất nhiều màn pha trò chọc cười, Lỗ Vũ khi biểu diễn tùy cơ ứng biến, phát huy ngẫu hứng tại chỗ, khi Triệu Thủ Trinh gọi Bích Ngọc lần thứ ba, anh ta chạy ra mép sân khấu, với vẻ mặt không phục nói với khán giả: "Các bác xem này, cháu rõ ràng là Lỗ Vũ, cứ gọi cháu là Bích Ngọc, không tin cháu có thẻ sinh viên đây các bác xem..." Tiếp đó làm động tác móc túi áo, mồm miệng liến thoắng như nhả vỏ nho tự báo danh tính: Khoa hóa học khóa mấy lớp mấy mã số sinh viên bao nhiêu bao nhiêu ký túc xá ở tòa nhà nào tầng mấy phòng mấy giường số mấy... chọc cho người ngồi dưới cười ầm lên, các bạn học cùng khoa của anh ta thậm chí có lúc còn huýt sáo vang dội. Sau buổi diễn anh Tư lắc đầu bảo: "Cái thằng mỹ nam tử bỏ túi này đúng là đáng ghét chết đi được, bất kể vở kịch gì, hễ có nó lên sân khấu là nó nhất định phải chiếm lĩnh trung tâm vũ đài, không dụ được dưới khán đài hú hét khen hay thì quyết không chịu thôi!" Nhưng vừa cằn nhằn lại vừa không nhịn được bật cười...

Thế nhưng khi Tiết Tương Linh do anh Tư thủ vai hát đoạn lớn từ "Tây bì nguyên bản" chuyển sang "Lưu thủy", Lỗ Vũ không hề quậy phá nữa, hơn nữa nhìn dáng vẻ trên sân khấu của anh ta thì dường như cũng rất thích thú đứng một bên thưởng thức. Anh Tư đem đoạn hồi ức "Người trong kiệu ắt hẳn mang nét mặt u sầu oán hận, nàng tự gạt nước mắt, tiếng khóc đứt quãng, tựa đỗ quyên kêu nơi viện vắng, như tiếng vượn hót thảm thương nơi hẻm núi Ba Hiệp, lay động lòng người, xiết bao thê thảm..." không chỉ hát lên từng khúc quanh co chín đoạn, tình cảm dạt dào, mà còn phối hợp với những tư thế hình thể tao nhã, vung vẩy đôi tay áo nước trắng muốt, thực sự vô cùng đặc sắc, dưới khán đài lại một phen tiếng pháo tay xen lẫn tiếng reo hò rộn rã.

Khi vở kịch kết thúc, Chiêm Đức Quyên đóng vai Triệu Thủ Trinh liên tục phất tay áo nước cúi mình thi lễ vạn phúc với anh Tư đóng vai Tiết Tương Linh, còn Tiết Tương Linh của anh Tư thì liên tục múa tay áo đáp lễ từ chối khiêm nhường. Động tác của hai người vô cùng ưu mỹ, có lẽ vì diễn xuất nghiệp dư dẫu sao cơ hội cũng hiếm hoi, cả hai đều có vẻ lưu luyến không nỡ dứt, muốn dừng lại rồi lại tiếp tục cử động, thành thử đem tổ hợp động tác tạ lễ nhường nhịn một cao một thấp ấy kéo dài từ bên phải sân khấu sang bên trái sân khấu, rồi lại từ bên trái sân khấu lùi bước trở về bên phải sân khấu... Các khán giả dưới khán đài đều đáp lại bằng những tràng cười và tiếng vỗ tay đầy bao dung.

5

Buổi diễn kết thúc, mọi người lục tục ra về, chỉ còn đám thân nhân chúng tôi đứng quanh quẩn ở khu vực hàng ghế đầu, nhất thời không biết nên đi đâu——vào hậu trường thì còn quá sớm, vì đám anh Tư vẫn còn đang ở trên sân khấu tạo đủ mọi tư thế cho các bạn học chụp ảnh; ra khỏi lễ đường thì lại sợ mất liên lạc với nhóm anh Tư, ngộ nhỡ tẩy trang xong anh Tư đi tìm chúng tôi khắp nơi mà chúng tôi lại nháo nhác đi tìm anh, hai bên lại để lỡ mất nhau...

Lúc này tôi bỗng nhiên nhìn thấy ở phía sau nhà hát, trên cái nền của những hàng ghế trống trơn khi khán giả đã tản mác hết, có một người đang đứng, tôi không kìm được cất giọng gọi: "Chị Tích Mai!"

Đúng là chị Tích Mai thật. Chị nghe thấy tiếng tôi gọi liền bước về phía chúng tôi.

Chị Tích Mai chỉ cao chừng một mét năm, lại khá mập mạp, mái tóc ngắn vốn không dày dặn, hai bên gò má không mấy cân đối, xương gò má hơi nhô cao, lại đeo một cặp kính cận độ khá nặng, tướng mạo mười phần chẳng có chút ưa nhìn; tôi nhận ra rằng giữa đám chị em họ và chúng bạn học nữ năm xưa, chị luôn có một mặc cảm tự ti sâu sắc vì điều này, những lần tụ họp ở nhà tôi cũng đều như thế, bây giờ xem xong buổi diễn của anh Tư, nếu tôi không cất tiếng gọi, tất nhiên sớm muộn gì chị cũng sẽ bước lại gần, nhưng e rằng sẽ còn chậm chạp rụt rè hơn nữa.

Tích Mai bước tới chào hỏi cha và mẹ tôi trước, mọi người bèn đua nhau chào hỏi chị, mẹ nắm lấy tay chị, hỏi: "Đến từ lúc nào thế con? Xem trọn vẹn vở 'Tỏa Lân Nang' của Doanh Bình không? Nó hát hay chứ hả!"

“Hát hay lắm ạ!” Chị Tích Mai thật lòng khen ngợi. “Thật không ngờ Doanh Bình lại hát hay đến thế!” Chị Tích Mai cùng tuổi với anh Tư, tính theo tháng dường như còn lớn hơn một chút, nên gọi là anh họ không xong mà gọi là em họ cũng không tiện, đành phải gọi thẳng tên. Chị lại giải thích: "Vở 'Trừ Tam Hại' chưa hát xong con đã tới rồi. Trên đường xe đông quá nên muộn mất một chút. May mà không bỏ lỡ 'Tỏa Lân Nang'——nội dung kịch cũng hay nữa!"

Cúc Cầm, Băng Long Trân đều ghé lại nói chuyện với chị. Ba người phụ nữ đứng chung một chỗ, chị Tích Mai liền thực sự không chịu nổi sự so sánh. Huống hồ chị Cúc Cầm và Băng Long Trân ăn mặc không chỉ thanh nhã xinh xắn, mà tính theo tiêu chuẩn thời bấy giờ thì còn rất sang trọng, dùng cách nói ngày nay là vô cùng sành điệu, chị Cúc Cầm uốn kiểu tóc mới, kiểu cúc mực, Băng Long Trân mặc một bộ âu phục váy áo màu xám nhạt, bên trong cổ áo vest mở rộng lộ ra chiếc áo sơ mi lụa cổ nhọn màu hồng nhạt, lại còn cài thêm một chiếc kẹp cài áo giả đá quý màu tím nhạt viền bạc. Thế nhưng tôi cẩn thận ngắm nghía chị Tích Mai thì nhận thấy hôm ấy chị cũng ăn mặc vô cùng tỉ mỉ, chiếc áo khoác ngắn bằng dạ mỏng màu xanh đen không vương một hạt bụi, bên trong là chiếc áo len dệt kim cổ lọ màu đỏ tía mới tinh, chiếc quần dạ sợi màu nâu thẫm tuy rộng thùng thình nhưng đường ly quần lại thẳng tắp, dưới chân mang đôi giày da màu đen mũi tròn gót cao vừa phải, tay còn đeo một chiếc túi xách nữ bằng da nhân tạo màu đen có khóa đồng... Quả thực trông trang trọng hơn bất cứ lần nào chị ghé nhà chúng tôi, tôi còn ngửi thấy thoang thoảng trên người chị một mùi kem tuyết hoa. Tôi đang tò mò thì nghe thấy Băng Long Trân nói với chị Tích Mai: "Bộ đồ này của chị phối màu không ổn rồi, tông màu trầm quá!" Chị Cúc Cầm cũng vô tâm vô tính phụ họa theo: "Đúng đấy, mặc thế này già dặn quá!"

Tôi nhìn thấy gương mặt của chị Tích Mai từng lớp từng lớp đỏ bừng lên một cách nhanh chóng, hai bàn tay luống cuống không biết để vào đâu, cứ vò qua vò lại chiếc quai túi xách...

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.