Người chị Khổng của tôi tin rằng cô ấy có âm nhãn. Cô ấy có thể nhìn thấy những người đã qua đời, những hồn ma hiện đang sống ở âm gian, và những linh hồn đó thường từ cõi âm đến thăm căn phòng bếp nằm trên phố Balboa ở San Francisco của cô ấy.
"Libby-ah," cô ấy nói với tôi, "Đoán xem hôm qua chị nhìn thấy ai nào, đoán xem." Và tôi hoàn toàn chẳng cần đoán cũng thừa biết cô ấy đang nhắc đến một người chết nào đó.
Thực ra Khổng chỉ là người chị cùng cha khác mẹ với tôi, nhưng tôi chẳng đời nào muốn đem chuyện này rao giảng khắp nơi, đó sẽ giống như một sự sỉ nhục, tựa như việc cô ấy chỉ nhận được một nửa tình yêu từ gia đình chúng tôi vậy. Nhưng nếu trải bày gia phả ra mà nói, thì sự tình chỉ có thế này: Khổng và tôi có chung một người cha. Cô ấy sinh ra ở Trung Quốc, trong khi các anh em Kevin, Tommy và tôi lại được sinh ra ở San Francisco, sau khi cha chúng tôi — Jack Yee — di cư đến đây và kết hôn với mẹ tôi, Louise Canfield.
Mẹ tự gọi mình là "món thập cẩm kiểu Mỹ — một vài thứ béo ngậy, trắng phau, được chiên rán". Bà sinh ra ở thành phố Moscow bang Idaho, từng là nữ chỉ huy dàn kèn đồng xuất sắc nhất ở đó, và thậm chí từng đạt giải thưởng tại hội chợ của quận vì trồng được một củ khoai tây biến dạng có hình dáng giống Jimmy Durante. Bà kể với tôi rằng, bà từng mơ ước có một ngày mình sẽ trở nên thật khác biệt — mảnh mai, phong nhã, cao quý giống như Ruth Roman — nữ diễn viên từng giành giải Oscar nhờ vai diễn trong phim 《The Greatest Show on Earth》. Khi mẹ chuyển đến San Francisco sinh sống và trở thành một cô gái bình thường, bà đã làm một việc chỉ kém hơn lựa chọn hoàn hảo nhất một chút: kết hôn với bố tôi. Mẹ cảm thấy cuộc hôn nhân vượt ra ngoài chủng tộc Anglo-Saxon của bà đã khiến bà trở thành một người theo chủ nghĩa tự do, "Vào thời điểm Jack và mẹ gặp nhau," bà vẫn luôn nói với mọi người, "vẫn còn có luật cấm kết hôn khác chủng tộc đấy, chúng tôi vì tình yêu mà phá vỡ luật lệ." Chỉ là bà quên mất không nhắc rằng những đạo luật này vốn chưa từng được thi hành tại bang California.
Trước khi Khổng mười tuổi, chúng tôi — bao gồm cả mẹ tôi — vẫn chưa từng có ai gặp mặt cô ấy. Trên thực tế, cho đến tận trước thời điểm cha chúng tôi qua đời vì suy thận không lâu, mẹ thậm chí còn không biết sự tồn tại của Khổng. Lúc cha mất, tôi chưa đầy bốn tuổi, nhưng tôi vẫn còn nhớ khoảng thời gian ở bên ông: lảo đảo bước về phía trước rồi ngã vào vòng tay ông; mò mẫm tìm những đồng xu ông ném xuống hồ nước nông; và cả ngày ông qua đời, tôi đã nhìn thấy ông ở bệnh viện, còn những điều ông nói sau đó đã dọa tôi sợ đến mức nhiều năm sau vẫn không được yên giấc.
Kevin cũng ở đó, khi ấy thằng bé mới năm tuổi. Còn Tommy vẫn chỉ là một đứa trẻ sơ sinh, nên nó ở phòng tiếp khách cùng với người họ hàng của mẹ tôi — Betty Dupley — chúng tôi bắt buộc phải gọi bà là dì Betty, người cũng di cư từ Idaho đến. Lúc đó tôi đang ngồi trên một chiếc ghế nhựa cứng, ăn một bát thạch dâu tây mà bố lấy ra từ khay ăn trưa của ông; còn bố thì được kê cao gối nằm trên giường, thở một cách nặng nhọc. Mẹ lúc thì khóc lóc, lúc lại tất bật vui vẻ. Tôi cố gắng tìm hiểu xem đã có chuyện gì xảy ra không đúng. Ký ức tiếp theo của tôi là việc bố đang thì thầm điều gì đó, còn mẹ thì cúi người áp sát để lắng nghe. Miệng mẹ ngày càng há rộng ra, sau đó đầu bà đột ngột quay phắt về phía tôi, khuôn mặt biến dạng vì sợ hãi. Tôi cũng bị dọa sợ: sao ông ấy lại biết được chứ? Sao bố lại phát hiện ra chuyện sáng hôm đó tôi đã dùng que chọc chậm hoặc chọc nhanh rồi xả con rùa của mình xuống bồn cầu chứ? Tôi chỉ muốn xem không có mai thì chúng trông sẽ ra sao, nhưng cuối cùng lại làm đứt lìa đầu của chúng.
"Con gái của anh á?" Tôi nghe thấy mẹ đang nói, "Đưa nó về đây sao?" Tôi chắc chắn ông đang bảo bà đưa tôi đến cái nơi giam giữ đó, hồi con chó Buttons của chúng tôi cắn hỏng chiếc ghế sofa ông cũng từng làm thế. Sau đó, những gì tôi nhớ được chỉ là một sự hỗn loạn: bát thạch rơi xuống sàn nhà, mẹ trân trân nhìn một tấm ảnh, Kevin chộp lấy rồi cười lớn, và tiếp theo là tôi nhìn thấy tấm ảnh chụp nhanh đen trắng nhỏ xíu đó, trên đó là một đứa trẻ gầy gò với mái đầu bù xù. Không biết là lúc nào, tôi nghe thấy mẹ đang hét lên: "Oliver, đừng cãi nữa, bây giờ anh phải đi thôi." Còn tôi thì khóc lóc kêu lên: "Nhưng con sẽ ngoan mà."
Không lâu sau đó, mẹ tôi tuyên bố: "Cha các con đã rời bỏ chúng ta rồi." Bà cũng nói với chúng tôi rằng bà sẽ đón người con gái khác của cha từ Trung Quốc sang sống cùng gia đình chúng ta. Bà không nói là sẽ đưa tôi đến nơi giam giữ đó, nhưng tôi vẫn khóc thút thít, tin rằng tất cả những chuyện này đều có mối liên hệ mơ hồ nào đó — con rùa không đầu bị xoay tít xả xuống bồn cầu, người cha bỏ chúng ta mà đi, người con gái khác sắp sửa đến để thay thế vị trí của tôi. Thậm chí từ trước khi gặp Khổng, tôi đã bị cô ấy dọa cho sợ hãi rồi.
Đến năm mươi tuổi, tôi mới biết chính quả thận của bố đã hại chết ông. Mẹ nói ông sinh ra đã có bốn quả thận chứ không phải hai quả bình thường, và cả bốn quả thận ấy đều đã hỏng. Dì Betty có một lý giải riêng về nguyên nhân xảy ra chuyện này. Bà chưa bao giờ là không có lý giải, và những lý giải đó thường bắt nguồn từ các ấn phẩm như tờ 《Weekly World News》. Bà nói lẽ ra ông phải là một cặp song sinh dính liền, nhưng khi còn trong bụng mẹ, bố tôi — người khỏe mạnh hơn — đã nuốt chửng người em yếu ớt hơn, và gom luôn cả hai quả thận thừa của người kia làm của riêng. "Biết đâu ông ấy còn có hai trái tim, hai cái dạ dày, ai mà biết được chứ." Khi dì Betty đưa ra lời giải thích như vậy, tạp chí 《Life》 vừa hay đang đăng tải những hình ảnh về cặp song sinh dính liền người Nga. Tôi cũng từng xem câu chuyện tương tự: hai cô gái, Tasha và Sasha, dính liền ở phần hông. Cả hai đẹp đến nao lòng, hoàn toàn không nên là người bị dị tật. Đó hẳn là khoảng giữa thập niên sáu mươi, khoảng thời gian tôi học về phân số. Tôi nhớ mình còn từng hy vọng chúng tôi có thể đổi Khổng lấy cặp song sinh dính liền đó, như thế tôi sẽ có một người em gái bằng đúng hai nửa cơ thể ghép lại. Tôi đoán rằng vào lúc đó, tất cả trẻ em trong khu vực này đều sẽ muốn làm bạn với chúng tôi, hy vọng chúng tôi cho chúng xem tụi tôi nhảy dây hoặc chơi trò chơi ô ăn quan.
Dì Betty cũng đề cập đến câu chuyện về sự ra đời của Khổng. Câu chuyện này không đến mức nao lòng, nhưng lại khiến người ta phiền muộn. Bà kể rằng, trong thời kỳ chiến tranh, bố tôi là một sinh viên đại học ở Quế Lâm. Ông thường xuyên đến chợ trời, mua ếch sống từ một người phụ nữ trẻ tên là Lý Thần để làm món ăn. Sau đó ông cưới cô ấy; năm 1944, cô sinh ra con gái của họ là Khổng, chính là đứa trẻ gầy gò trong bức ảnh.
Dì Betty cũng có một lý giải riêng cho cuộc hôn nhân này. "Đối với một người đàn ông Trung Quốc mà nói, cha cháu quả thực rất khôi ngô tuấn tú. Ông ấy được giáo dục đại học, nói tiếng Anh giỏi y như tao với mẹ cháu vậy. Thế thì tại sao ông ấy lại cưới một cô gái nhà quê nhỏ bé chứ? Đó là bởi vì ông ấy không còn cách nào khác, nguyên nhân chính là thế." Và lúc đó tôi đã đủ lớn để hiểu "không còn cách nào khác" rốt cuộc có nghĩa là gì.
Dù là căn bệnh gì đi nữa, tóm lại là vào năm 1948, người vợ đầu tiên của cha tôi đã qua đời vì bệnh phổi — có lẽ là bệnh lao. Bố tôi đến Hong Kong để tìm kiếm việc làm, để lại Khổng cho em gái của vợ ông là Lý Bân Bân chăm sóc. Lý Bân Bân sống trong một ngôi làng nhỏ tên là Trường Minh. Đương nhiên là ông vẫn gửi tiền cho họ sinh sống — người cha nào lại không làm thế chứ? Thế nhưng đến năm 1949, Đảng Cộng sản đã giải phóng đại lục, bố tôi không còn khả năng quay về vì đứa con gái năm tuổi của mình nữa. Cứ như vậy, ông còn có thể làm gì khác đây? Thế là với tâm trạng nặng nề, ông rời Hong Kong, đến nước Mỹ để bắt đầu một cuộc sống mới, và quên đi những chuyện buồn bã trong quá khứ ở phía sau. Mười một năm sau, khi ông sắp chết trong bệnh viện, linh hồn người vợ của ông xuất hiện ở chân giường, "Hãy gọi con gái anh về," cô ấy cảnh báo, "bằng không sau khi chết sẽ phải chịu báo ứng!" Đó là câu chuyện bố tôi kể trước lúc lâm chung — nhiều năm sau, dì Betty đã kể cho chúng tôi nghe như vậy.
Nhớ lại chuyện cũ, tôi có thể tưởng tượng ra cảm giác chắc chắn sẽ có của mẹ tôi khi lần đầu tiên nghe thấy chuyện này. Một người vợ khác? Một đứa con gái ở Trung Quốc? Nhưng chúng ta là một gia đình Mỹ hiện đại, chúng ta nói tiếng Anh; đúng vậy, chúng ta ăn đồ Trung Quốc, nhưng cũng giống như tất cả mọi người, chúng ta ăn đồ mang đi; chúng ta sống trong một ngôi nhà kiểu trang trại ở Daly City; bố tôi làm việc cho Cục Kế toán Chính phủ; mẹ tôi tham gia các buổi họp của hội phụ huynh và giáo viên; trước đó, bà chưa từng nghe bố tôi bàn về những điều mê tín của Trung Quốc, cách hành xử của họ hoàn toàn trái ngược với sự mê tín của Trung Quốc: họ đi lễ nhà thờ và mua bảo hiểm nhân thọ.
Sau khi bố tôi qua đời, mẹ tôi vẫn liên tục nói với mọi người rằng ông từng đối xử với bà ra sao: "Giống như đối xử với hoàng hậu Trung Quốc vậy." Bà đứng trước Chúa và ngôi mộ của bố đưa ra đủ mọi lời thề non hẹn biển đau đớn tuyệt vọng. Theo lời của dì Betty, mẹ tôi đã thề tại đám tang rằng sẽ không bao giờ tái hôn nữa, bà thề sẽ dạy dỗ các con nên người để làm rạng danh gia tộc họ Yee, bà thề sẽ tìm cho ra đứa con đầu lòng của bố tôi là Khổng, và đưa cô ấy đến nước Mỹ.
Bà chỉ giữ đúng duy nhất lời hứa cuối cùng.
Trong khoảng thời gian trước khi Khổng đến, mẹ dẫn dắt bầu không khí vui vẻ để tôi và các em trai có thể phấn chấn đi chào đón một người chị bước vào cuộc sống của chúng ta. Tommy còn quá nhỏ, ngoài việc gật đầu khi mẹ nói thì chẳng làm được gì khác. "Sắp có thêm một chị gái nữa, các con chẳng phấn khích chút nào sao?" Kevin chỉ nhún vai, tỏ ra một bộ dạng ghét bỏ. Chỉ có tôi là nhảy cớo reo hò như một tân binh cuồng nhiệt, nguyên nhân một phần là vì tôi vô cùng vui mừng khi biết Khổng không phải đến để thay thế tôi, mà là đến để gia nhập gia đình chúng ta.
Dù tôi là một đứa trẻ cô độc, nhưng ban đầu tôi thà muốn có một con rùa mới hoặc thậm chí là một con búp bê đồ chơi, còn hơn là có thêm bất kỳ ai đến tranh giành sự chú ý vốn đã bị chia năm sẻ bảy của mẹ, ép buộc tôi phải chia sẻ tình mẫu tử vốn mỏng manh như món đồ kỷ niệm ấy. Khi nhớ lại tất cả những điều này, tôi đương nhiên biết mẹ vẫn yêu tôi, nhưng không phải là yêu hết lòng hết dạ. Mỗi khi tôi so sánh lượng thời gian bà dành cho người khác — thậm chí là những người xa lạ không quen biết chút nào — tôi lại cảm thấy bản thân mình trong hàng ngũ những người được bà yêu mến đang trượt ngã ngày càng xa, hơn nữa trên suốt con đường còn va đông đụng tây, ngã sứt đầu mẻ trán. Trong cuộc sống của mình, bà luôn có rất nhiều thời gian rảnh rỗi để hẹn hò với đàn ông hoặc ăn trưa với những người mà bà gọi là bạn gái, nhưng đối với tôi, bà lại là người rất khó tin tưởng. Những lời hứa đưa tôi đi xem phim hay đi bơi ở hồ bơi, rất dễ dàng bị bà dùng đủ mọi lý do hoặc sự quên lãng để hủy bỏ, hoặc tệ hơn thế: những lời đã nói và ý nghĩa của lời nói sẽ bị bà lén lút thay đổi: "Mẹ ghét cái vẻ mặt xị ra đó của con lắm, Olivia." Có lần bà nói với tôi thế này, "Mẹ không hề hứa là sẽ đi bơi cùng con, mẹ nói là mẹ muốn đi." Tôi làm sao có thể dùng yêu cầu của mình để phản bác lại dụng ý của bà chứ?
Tôi học được cách đừng coi trọng mọi chuyện quá mức, sau đó niêm phong những hy vọng của mình lại rồi gác lên chiếc giá cao với tới không tới. Tôi tự nhủ rằng trong những hy vọng ấy thực ra chẳng có gì cả, qua đó để tránh khỏi tổn thương do sự thất vọng sâu sắc mang lại. Nỗi đau này chẳng tệ hơn cái nhói nhanh chóng khi tiêm chích là bao, thế nhưng nghĩ đến điều này luôn khiến tôi lại tái phát cơn đau đầu. Không hiểu tại sao, khi còn là một đứa trẻ, tôi làm thế nào lại biết được mình đáng lẽ ra phải nhận được nhiều tình yêu hơn từ mẹ chứ? Có phải mỗi người sinh ra đều sở hữu một kho dự trữ tình cảm sâu không thấy đáy không?
Thế nên, tôi đương nhiên là không muốn Khổng đến làm chị của mình rồi. Ngược lại, đây chính là nguyên nhân tại sao tôi phải cố hết sức tỏ ra vui vẻ trước mặt mẹ. Đây là một hình thức bóp méo của logic ngược: nếu hy vọng vĩnh viễn không bao giờ thành hiện thực, vậy thì hãy hy vọng những thứ mà bạn không muốn.
Mẹ nói, một người chị lớn chính là một phiên bản lớn hơn của tôi, vừa đáng yêu lại xinh đẹp, chỉ là trông giống người Trung Quốc hơn, và còn có thể giúp tôi làm đủ mọi thứ thú vị. Thế là thứ tôi tưởng tượng ra không phải là một người chị, mà là một tôi khác, một phiên bản lớn tuổi hơn của tôi — múa may quay cuồng, mặc những bộ trang phục mềm mại vừa vặn, có một trải nghiệm sống đầy bi thương nhưng lại khiến người ta mê mẩn, giống như nữ minh tinh nổi tiếng Natalie Wood — người thủ vai nữ chính Maria trong bộ phim 《West Side Story》 mà tôi đã xem năm 5 tuổi, chỉ có điều là đuôi lông mày của Natalie Wood này xếch lên. Cho đến tận bây giờ, tôi mới hiểu rằng tôi và mẹ đều đang định hình những hình mẫu mà chúng tôi hy vọng dựa theo những nữ diễn viên có cách nói năng điệu đà đó.
Có một buổi tối, trước khi mẹ nhét tôi vào chăn, đã hỏi tôi có cầu nguyện hay không. Tôi biết cầu nguyện có nghĩa là nói những lời hay ý đẹp mà người khác muốn nghe, và mẹ tôi chính là một người như vậy. Thế nên tôi đã cầu xin Chúa và Chúa Jesus có thể giúp tôi trở thành một đứa trẻ ngoan, sau đó tôi lại nói rằng vì mẹ cứ nhắc đi nhắc lại mãi, nên tôi hy vọng chị gái tôi sẽ nhanh chóng đến đây. Khi tôi nói "Amen", tôi nhìn thấy mặt mẹ đầy nước mắt, nhưng vẫn mỉm cười tự hào. Ngay trước mắt mẹ, tôi bắt đầu thu thập những món quà chào mừng dành cho Khổng: chiếc khăn choàng cổ mà dì Diệu Tế tặng tôi làm quà sinh nhật, lọ nước hoa hương cam mà tôi nhận được vào dịp Giáng sinh, những viên kẹo Halloween ngọt đến ngấy răng, và gom những món đồ biến chất, phát ra mùi lạ, chắp vá lung tung này đặt vào chiếc hộp mà mẹ dán nhãn "Dành cho chị lớn của Olivia" với một vẻ ngoài đáng yêu. Tôi đinh ninh rằng vì bản thân đã trở thành một đứa trẻ ngoan như thế, nên chẳng mấy chốc mẹ sẽ nhận ra chúng ta không cần thêm một người chị em nào nữa.
Mẹ sau đó đã kể cho các em trai tôi nghe việc tìm kiếm Khổng khó khăn đến thế nào. "Vào những ngày tháng đó," bà nói, "các con không thể cứ thế mà viết một bức thư, dán tem, rồi gửi đến Trường Minh được. Mẹ đã phải vượt qua đống thủ tục giấy tờ quan trọng, điền hàng tá biểu mẫu. Chẳng có mấy người sẵn lòng phá vỡ quy tắc để giúp đỡ một người đến từ quốc gia cộng sản cả. Dì Betty cho rằng mẹ đúng là phát điên lên rồi! Bà ấy nói với mẹ rằng: 'Làm sao cậu lại có thể đi nhận nuôi một cô gái hầu như đã trưởng thành, và không nói nổi một câu tiếng Anh cơ chứ? Nó sẽ không thể phân biệt được phải trái hay trái phải đâu.'"
Giấy tờ không phải là chướng ngại vật duy nhất mà Khổng buộc phải vượt qua trong lúc hoàn toàn không hay biết gì. Hai năm sau khi bố tôi qua đời, mẹ kết hôn với Bob Rajani. Kevin bây giờ gọi đó là "một sự cố ngẫu nhiên trong lịch sử hẹn hò của mẹ chúng ta với những người di cư nước ngoài — đó chỉ là vì mẹ tưởng Rajani là người Mexico chứ không phải người Ý." Mẹ theo họ của Bob, từ đó khiến cho tên của các anh em tôi và tôi cũng kết thúc bằng họ Rajani — khi tôi kết hôn với Simon, tôi đã rất vui mừng đổi nó thành Bishop. Vấn đề nằm ở chỗ Bob từ đầu hoàn toàn không muốn Khổng đến chút nào, mà mẹ thì thường luôn muốn áp đặt ý chí của mình lên bất kỳ ai. Sau khi họ ly hôn — lúc đó tôi đang học đại học — mẹ đã kể cho tôi nghe việc Bob đã gây áp lực cho bà như thế nào ngay trước đám cưới nhằm hủy bỏ những giấy tờ làm cho Khổng. Tôi nghĩ rằng bà từng có ý định làm vậy và đã quên bén mất chuyện đó. Nhưng bà đã nói với tôi thế này: "Mẹ quan sát lời cầu nguyện của con, con trông đáng yêu và buồn bã làm sao, cầu xin Chúa rằng: 'Xin hãy gửi cho con người chị gái ở Trung Quốc nhé.'"
Khi Khổng đến đất nước này, tôi khoảng sáu tuổi. Chúng tôi đang đợi Khổng ở khu vực hải quan của sân bay San Francisco. Dì Betty cũng ở đó. Mẹ tôi vừa căng thẳng vừa phấn khích, miệng không ngừng lẩm bẩm: "Nghe này các con, nó có thể sẽ ngại ngùng, thế nên đừng có chồm lên người nó... Nó sẽ gầy đét như que củi nên mẹ không cho phép bất kỳ đứa nào trong số các con chế nhạo nó..."
Khi các nhân viên hải quan cuối cùng cũng hộ tống Khổng bước vào đại sảnh nơi chúng tôi đang đợi, dì Betty chỉ tay nói: "Đó chính là nó, tao bảo chúng mày đó chính là nó." Còn mẹ thì lắc đầu. Người này trông giống một phu nhân lớn tuổi kỳ lạ, tròn vo thấp lùn, hoàn toàn không giống với hình tượng trẻ lang thang đói khát mà mẹ đã phác họa, hay như người chị tuổi thiếu niên đầy quyến rũ trong trí tưởng tượng của tôi. Cô ấy mặc một chiếc áo choàng màu nâu xám, hai bên khuôn mặt rộng màu nâu buông thõng hai bím tóc dày.
Khổng hoàn toàn chẳng hề ngại ngùng chút nào. Cô ấy ném túi xách của mình đi, vung tay lớn tiếng hét lên: "Hê lô! Hê lô!" Vừa vẫn đang cười ha hả, cô ấy vừa nhảy tưng tưng lên ré lên chói tai, giống hệt hành động của một chú chó mới trong nhà tôi khi chúng tôi thả nó ra khỏi nhà xe vậy. Người hoàn toàn xa lạ này nhào thẳng vào lòng mẹ, rồi lại ôm chầm lấy bố Bob. Cô ấy nắm lấy vai của Kevin và Tommy rồi lắc lư. Khi nhìn thấy tôi, cô ấy bỗng trở nên im lặng, ngồi xổm xuống sàn đại sảnh, vươn hai tay về phía tôi. Tôi kéo kéo vạt váy của mẹ, "Đó là chị của con sao?"
Mẹ nói: "Nhìn xem, nó có mái tóc đen dày giống hệt bố các con."
Tôi vẫn còn giữ bức ảnh mà dì Betty chụp lúc bấy giờ: mẹ đầu tóc xoăn tít mặc một bộ trang phục vải mohair, trên mặt ánh lên một nụ cười kỳ lạ; bố dượng người Ý gốc Mỹ Bob của chúng tôi với vẻ mặt ngẩn tò te; Kevin và Tommy đội mũ cao bồi làm mặt quỷ; tay của Khổng đặt trên vai tôi, toét miệng cười; còn tôi thì mặc trang phục dự tiệc chất liệu mỏng nhẹ, ngón tay nhét trong cái miệng đang khóc ré lên.
Tôi khóc là bởi vì ngay khoảnh khắc trước khi chụp ảnh, Khổng đã tặng tôi một món quà. Đó là một chiếc lồng nhỏ đan bằng cỏ, cô ấy rút ra từ trong tay áo rộng thùng thình của chiếc áo khoác, kiêu hãnh đưa cho tôi. Tôi đưa nó lên trước mắt, nhìn trộm vào bên trong qua các khe hở đan bằng cỏ. Thứ tôi nhìn thấy là một con quái vật sáu chân: màu xanh như cỏ, mọc đầy hàm răng cưa, đôi mắt lồi ra, còn lông mày thì là một vật giống như chiếc roi da. Tôi thét lên một tiếng, vứt phắt chiếc lồng nhỏ đi.
Về đến nhà, Khổng treo chiếc lồng đang nhốt con châu chấu đã mất đi một chân ấy trong căn phòng ngủ mà từ đó tôi bắt đầu ở chung với cô ấy. Ngay khi màn đêm buông xuống, con châu chấu ấy liền bắt đầu kêu râm ran, âm thanh lớn đến mức giống như tiếng chuông xe đạp cảnh báo mọi người tránh đường vậy.
Kể từ ngày đó, cuộc sống của tôi hoàn toàn thay đổi. Đối với mẹ, Khổng là một bảo mẫu khéo tay hay làm, sẵn sàng tình nguyện, tháo vát lanh lợi mà lại không hề tốn kém. Trước khi mẹ rời đi một buổi chiều để đến tiệm làm tóc hoặc đi dạo phố với bạn gái, bà sẽ dặn tôi phải kè kè lấy Khổng: "Làm một đứa em gái ngoan nhé, giải thích cho nó bất kỳ thứ gì nó không hiểu, được chứ?" Thế là mỗi ngày sau giờ học, Khổng liền bị trói chặt vào người tôi, tôi đi đến đâu, cô ấy đi theo đến đó. Đến khi học lớp một, đối với sự sỉ nhục và mất mặt chốn đông người thì tôi đã quen đến mức thành thạo lắm rồi. Khổng đặt ra vô số câu hỏi ngớ ngẩn, đến mức lũ trẻ cả khu phố đều cho rằng cô ấy là người đến từ sao Hỏa. Cô ấy sẽ nói: "McDonald's là gì?" "Kẹo cao su là gì?" "Gã thủy thủ mắt lồi này là ai? Tại sao lại mất một con mắt? Ông ta là cướp biển à?" Thậm chí ngay cả Kevin và Tommy cũng phải bật cười.
Nhờ có sự đồng hành của Khổng, mẹ tôi mới có thể vô lo vô nghĩ tiếp tục duy trì trạng thái trăng mật với Bob. Khi giáo viên của tôi gọi điện cho mẹ, nói rằng tôi bị sốt, chính Khổng đã đến văn phòng giám thị đón tôi về nhà; lúc tôi bị ngã khi trượt pa-tanh, chính Khổng đã băng bó khuỷu tay cho tôi; cô ấy chải tóc cho tôi, chuẩn bị bữa trưa cho Kevin, Tommy và tôi, lại còn cố gắng dạy tôi hát các bài đồng dao Trung Quốc; khi tôi bị rụng một chiếc răng, chính là cô ấy đến an ủi tôi; lúc tôi tắm rửa thì càng là cô ấy dùng khăn tắm kỳ lưng cho tôi.
Lẽ ra tôi phải mang ơn mang nghĩa với Khổng: tôi luôn có thể dựa dẫm vào cô ấy, mà điều cô ấy thích nhất chính là ở bên cạnh tôi. Nhưng tình hình thực tế lại hoàn toàn ngược lại, phần lớn thời gian tôi đều căm ghét cô ấy vì cô ấy đã thay thế vị trí của mẹ tôi.
Tôi vẫn nhớ ngày đầu tiên tôi muốn vứt bỏ Khổng. Đó là mùa hè, chỉ vài tháng sau khi cô ấy đến, Khổng, Tommy và tôi đang ngồi trên thảm cỏ trước cửa nhà tôi, chán chường giết thời gian. Hai người bạn của Kevin lẻn đến cạnh nhà chúng tôi, bật hệ thống tưới nước phun mưa. Các anh em tôi và tôi đều nghe thấy tiếng phun xì xì của vòi phun và tiếng nước chảy róc rách trong đường ống, thế nên chúng tôi liền cắm cổ chạy ngay trước khi hàng chục vòi phun sắp sửa phun nước ra ngoài. Thế nhưng Khổng lại cứ đứng ngây ở đó, ướt sũng cả người, miệng vẫn còn kinh ngạc vì chốc lát lại có nhiều đài phun nước từ dưới đất phun trào lên đến vậy. Kevin và bạn nó cười ha hả, còn tôi thì hét lên: "Thế này không được đâu."
Sau đó bạn của Kevin, một học sinh lớp hai sành điệu xinh xắn mà tất cả các cô bé đều đem lòng say đắm đã nói với tôi rằng: "Cái gã người Trung Quốc ngốc nghếch đó là chị của cậu à? Này, Olivia, điều đó có nghĩa là cậu cũng là một đứa người Trung Quốc ngốc nghếch phải không?"
Tôi tức giận đến mức hét lên: "Cô ấy không phải chị tôi! Tôi ghét cô ấy! Ước gì cô ấy cút về Trung Quốc đi!" Sau đó Tommy đã kể lại những lời tôi nói cho bố Bob nghe, bố Bob nói: "Louise, tốt hơn hết là em nên quản giáo con gái mình đi." Mẹ tôi lắc đầu, mang một vẻ mặt buồn bã, "Olivia," bà nói, "chúng ta không bao giờ ghét bất kỳ ai cả. Từ 'ghét' là một từ đáng ghét, giống như việc làm tổn thương người khác vậy, nó cũng sẽ làm tổn thương chính con." Đương nhiên rồi, điều này chỉ càng khiến tôi ghét Khổng hơn mà thôi.
Điều tồi tệ nhất chính là ở chung phòng ngủ với cô ấy. Vào ban đêm, cô ấy thích kéo rèm cửa sổ ra, để ánh đèn đường tràn vào phòng chúng tôi. Chúng tôi nằm song song trên hai chiếc giường đôi, dưới "vầng trăng nước Mỹ tươi đẹp này" — như cô ấy nói — Khổng sẽ lẩm bẩm trò chuyện bằng tiếng Trung. Tôi giả vờ ngủ, còn cô ấy thì tiếp tục nói; khi tôi tỉnh dậy, cô ấy vẫn sẽ đang lải nhải. Đây chính là nguyên nhân khiến tôi trở thành người duy nhất trong nhà hiểu tiếng Trung. Khổng đã truyền nhiễm tiếng Trung sang cho tôi. Khi tôi ngủ, tôi hấp thụ ngôn ngữ của cô ấy qua từng lỗ chân lông của mình. Cô ấy nhồi nhét những bí mật Trung Quốc của mình vào đại não tôi, thay đổi cách suy nghĩ của tôi về thế giới. Chẳng bao lâu sau, tôi thậm chí còn mơ cả những cơn ác mộng theo kiểu Trung Quốc.
Để đổi lại, Khổng cũng học được tiếng Anh từ chỗ tôi — theo quan điểm hiện tại của tôi, đây có lẽ chính là nguyên nhân khiến cô ấy chưa bao giờ nói thạo tiếng Anh. Tôi không phải là một giáo viên nhiệt tình. Có một lần — khi ấy tôi bảy tuổi — tôi còn chơi một trò chơi xấu xa với cô ấy. Lúc đó chúng tôi đang nằm trên giường trong bóng tối mịt mờ.
"Libby-ah," Khổng nói. Sau đó cô ấy hỏi bằng tiếng Trung: "Quả lê ngon tuyệt mà chúng ta ăn tối nay, ở Mỹ gọi là gì?"
"Barf ①," tôi nói, rồi bụm miệng lại để tránh bị cô ấy nghe thấy tiếng cười khúc khích của mình.
① Barf, tiếng lóng tiếng Mỹ, có nghĩa là ghê tởm, nôn mửa.
Cô ấy ấp úng lẩm bẩm phát âm mới này — "Ba-er-fa, ba-er-fa" — rồi nói, "Chà, một thứ ngon như vậy sao lại có cái tên khó nghe thế này chứ. Chị chưa bao giờ được ăn thứ quả nào ngon đến thế, Libby-ah, em thật là một cô gái may mắn. Giá như mẹ chị mà còn sống thì tốt biết mấy." Cô ấy có thể từ bất kỳ chủ đề nào chuyển thẳng không ngắt quãng sang bi kịch cuộc đời trước kia của cô ấy, và tất cả những điều này cô ấy đều truyền đạt cho tôi bằng thứ ngôn ngữ Trung Quốc bí mật giữa chúng tôi.
Lần khác, tôi đổ những tấm thiệp ngày Valentine lên giường mình để lựa chọn. Cô ấy đứng bên cạnh quan sát trước, sau đó bước tới, nhặt một tấm thiệp lên, hỏi: "Đây là hình gì vậy?"
"Đây là trái tim. Nó có nghĩa là tình yêu. Nhìn xem, tất cả các tấm thiệp đều có hình trái tim. Tớ phải tặng mỗi cậu con trai trong lớp tớ một tấm thiệp. Nhưng điều đó không có nghĩa thực sự là tớ yêu tất cả bọn họ."
Cô ấy quay về giường mình nằm xuống. "Libby-ah," cô ấy nói, "giá như mẹ chị không chết vì bệnh tim thì tốt biết mấy." Tôi thở dài, nhưng không nhìn về phía cô ấy. Lặp lại một lần nữa, cô ấy im lặng vài phút, sau đó lại nói tiếp, "Em có biết bệnh tim là gì không?"
"Là gì?"
"Nó khiến cơ thể em nóng bừng lên, áp sát vào gia đình em, rồi thổi bay mái nhà bằng tranh đi, mang em rời đi."
"Ồ."
"Em biết đấy, bà ấy không chết vì bệnh phổi, không phải mấy thứ bệnh kiểu đó đâu."
Sau đó Khổng kể cho tôi nghe bố đã không thể dứt ra khỏi những giấc mơ đẹp đẽ như thế nào. Ông không thể không khao khát sự giàu có và một cuộc sống dễ dàng thảnh thơi, thế là hồn vía bay mất, trôi dạt khỏi cuộc sống của họ, và dần dần quên đi người vợ cùng đứa con thơ mà ông để lại phía sau.
"Chị không phải đang nói bố chúng ta là một người đàn ông tồi đâu," Khổng thì thầm với giọng khàn khàn, "không phải thế đâu, chỉ là lòng trung thành của ông ấy quả thực không cao cho lắm. Libby-ah, em có biết sự trung thành là gì không?"
"Là gì?"
"Giống như thế này: Nếu em yêu cầu ai đó chặt đứt một bàn tay để cứu em khỏi bị cuốn bay cùng mái nhà bởi cơn gió lớn, người đó có thể lập tức chặt đứt cả hai tay để thể hiện rằng anh ta rất rất sẵn lòng làm điều đó."
"Ồ ồ."
"Nhưng bố chúng ta đã không làm thế, vào lúc mẹ chị sắp sinh đứa con tiếp theo, ông ấy đã rời bỏ chúng ta. Chị không nói dối đâu, Libby-ah, đây là sự thật. Khi chuyện này xảy ra, theo cách tính tuổi của Trung Quốc thì chị bốn tuổi. Chị vĩnh viễn không thể quên được cảnh tượng lúc đó chị nằm áp sát vào người mẹ, xoa bóp cái bụng đang phình to của bà. Bụng của bà giống như một quả dưa hấu, to thế này này."
Cô ấy dang rộng hai tay hết mức có thể, "Sau đó tất cả nước trong bụng bà ấy trào ra ngoài, giống như nước mắt trào ra từ đôi mắt bà vậy, bà ấy đau khổ biết bao." Hai tay Khổng đột ngột buông thõng xuống hai bên sườn, "Đứa trẻ tội nghiệp và đói khát trong bụng mẹ chị đã ăn mòn một lỗ trên trái tim mẹ chị, thế là cả hai bọn họ đều chết."
Tôi đinh ninh rằng một số lời nói này của Khổng mang ý nghĩa ẩn dụ. Nhưng khi còn là một đứa trẻ, tôi vẫn coi tất cả những gì Khổng nhắc đến đều là sự thật không hề phóng đại: đôi bàn tay bị chặt đứt bay ra từ một ngôi nhà không có mái che; bố tôi trôi nổi trên biển Trung Hoa; đứa trẻ sơ sinh ấy đang bú mớm trái tim của mẹ nó. Hình ảnh này biến thành ảo ảnh. Tôi giống như một đứa trẻ đang xem phim kinh khủng, dùng lòng bàn tay che mắt, qua khe hở giữa các lòng bàn tay lo lắng nhìn trân trân. Tôi là tù nhân tự nguyện của Khổng, còn cô ấy lại là người bảo vệ của tôi.
Khi kết thúc câu chuyện của mình, Khổng luôn nói: "Em là người duy nhất biết chuyện này. Đừng nói với bất kỳ ai nhé. Tuyệt đối đừng, hứa với chị đi, Libby-ah?"
Còn tôi thì luôn lắc đầu, sau đó lại gật đầu, bị ép buộc phải trung thành tuyệt đối với cô ấy vì sự sợ hãi và vì sở hữu một thứ đặc quyền.
Có một buổi tối, mi mắt tôi đã nặng trĩu như chì vì cơn buồn ngủ, nhưng cô ấy lại bắt đầu lẩm bẩm bằng tiếng Trung, "Libby-ah, chị phải kể cho em nghe một bí mật bị cấm truyền tụng nào đó. Bắt chị tiếp tục tuân thủ bí mật quả thực là một gánh nặng không thể kham nổi."
Tôi ngáp một cái, hy vọng cô ấy có thể lĩnh hội được ám hiệu này.
"Chị có âm nhãn."
"Mắt gì cơ?"
"Thật đấy, chị có âm nhãn, chị có thể nhìn thấy những người ở âm gian."
"Ý của chị là sao?"
"Được rồi, chị sẽ kể cho em nghe. Nhưng trước tiên em phải hứa với chị là tuyệt đối không được nói cho bất kỳ ai, tuyệt đối đừng, hứa với chị nhé?"
"Được rồi, em hứa với chị."
"Người ở âm gian, chính là những kẻ đã chết từ lâu ấy mà."
Mắt tôi mở to trân trân, "Cái gì? Chị có thể nhìn thấy người chết?... Ý chị là ma á?"
"Đừng nói với bất kỳ ai, tuyệt đối đừng, hứa với chị nhé, Libby-ah?"
Tôi nín thở, "Ở đây hiện tại có ma không?" Tôi thì thầm.
"Ồ có chứ, rất nhiều. Rất nhiều rất nhiều bạn tốt của chị."
Tôi phắt trùm chăn kín đầu, "Bảo họ đi đi." Tôi khẩn nài.
"Đừng sợ, Libby-ah. Thò đầu ra đi, bọn họ cũng là bạn của em mà. Ồ, em xem, bây giờ bọn họ đang chế nhạo em vì sợ hãi thành cái dạng này đấy."
Tôi bắt đầu khóc. Một lát sau, Khổng thở dài, nói với giọng điệu thất vọng: "Thôi được rồi, đừng khóc nữa, họ đi rồi."
Chuyện về những hồn ma cứ thế bắt đầu, khi tôi cuối cùng cũng thò đầu ra từ dưới chăn, tôi nhìn thấy Khổng ngồi thẳng lưng, toàn thân tắm đẫm ánh sáng nhân tạo của vầng trăng nước Mỹ, hai mắt nhìn trân trân ra ngoài cửa sổ, tựa như đang quan sát những vị khách ghé thăm của mình rút lui vào màn đêm.
Sáng hôm sau, tôi chạy đến tìm mẹ, làm cái chuyện mà tôi từng hứa tuyệt đối sẽ không bao giờ làm: Tôi đem chuyện Khổng có âm nhãn kể cho bà nghe.
Bởi vì bây giờ đã trưởng thành, tôi nhận ra việc Khổng vào bệnh viện tâm thần không phải lỗi của tôi. Ở một mức độ nào đó, đây là do cô ấy tự chuốc lấy. Dù sao lúc đó tôi cũng chỉ là một đứa trẻ bảy tuổi mà thôi. Tôi sợ đến mức hồn vía lên mây, buộc phải đi kể cho mẹ nghe tất cả những gì Khổng nói. Tôi cảm thấy mẹ sẽ bắt cô ấy ngừng nói nhảm những chuyện này lại, nhưng cũng chỉ có thế thôi. Thế nhưng sau đó bố Bob phát hiện ra chuyện hồn ma của Khổng, và nổi trận lôi đình. Mẹ đề nghị đưa cô ấy đến Nhà thờ St. Mary cũ để nói chuyện với mục sư, nhưng bố Bob nói không, chỉ xưng tội thôi là chưa đủ. Ông ấy thậm chí còn tống Khổng vào bệnh viện tâm thần của Trung tâm Hỗ trợ Maria.
Khi tôi đến thăm cô ấy vào tuần sau đó, Khổng thì thầm với tôi: "Libby-ah, chị có vài bí mật, đừng đi kể cho ai nhé, hả?" Sau đó cô ấy chuyển sang nói bằng tiếng Trung: "Khi đám bác sĩ và y tá đó hỏi chị câu hỏi, chị đối xử với họ giống như đối xử với những con ma Mỹ vậy — chị không nhìn thấy họ, không nghe thấy họ, cũng không nói chuyện với họ. Chẳng mấy chốc họ sẽ biết rằng họ không thể thay đổi được chị, khi đó họ sẽ buộc phải thả chị đi." Tôi đến tận bây giờ vẫn nhớ cái bộ dạng nhìn vạn vật của cô ấy, giống hệt như cặp chó đá trước cổng hoàng cung vậy.
Không may là, sự im lặng kiểu Trung Quốc của cô ấy khi đối phó với bác sĩ lại mang đến kết quả hoàn toàn trái ngược. Các bác sĩ cho rằng Khổng đã mắc chứng căng trương lực. Vấn đề là ở chỗ họ khi đó vẫn đang ở giai đoạn đầu thập niên sáu mươi, các bác sĩ chẩn đoán những con ma Trung Quốc của Khổng là chứng rối loạn thần kinh nghiêm trọng, và áp dụng liệu pháp sốc điện cho cô ấy. Chữa một lần, cô ấy lên tiếng; chữa hai lần, cô ấy khóc thét lên, rồi là những đợt chữa trị liên tiếp nối tiếp nhau. Cho đến tận ngày nay, tôi hễ nghĩ đến chuyện này là vẫn run rẩy không thôi.
Lần thứ hai tôi nhìn thấy cô ấy trong bệnh viện, cô ấy lại thổ lộ bí mật với tôi: "Tất cả mấy thứ điện đóm ấy làm lỏng lưỡi chị rồi, thế nên chị không thể tiếp tục giữ sự im lặng như một con cá được nữa. Chị biến thành một con vịt ở quê, quác quác quác kêu to, khoe khoang cho thế giới âm gian. Sau đó bốn con ác quỷ gầm rú lên, 'Mày sao lại có thể nói ra bí mật của bọn tao?' Bọn chúng cho chị một cái đầu âm dương — ép buộc chị tự giật đứt một nửa tóc của chính mình. Đó là nguyên nhân các y tá cạo sạch toàn bộ tóc của chị. Trước khi một nửa cái đầu của chị trở nên trụi lủi như quả dưa hấu, còn một nửa mái tóc giống như quả dừa, chị không thể ngừng tay việc bứt tóc mình. Những hồn ma đó đã đánh dấu chị thành kẻ hai mặt: một mặt là gương mặt của kẻ trung thành, một mặt là gương mặt của kẻ phản bội. Nhưng chị không phải là kẻ phản bội! Nhìn chị đi, Libby-ah, mặt chị có vẻ trông trung thành không? Những gì em nhìn thấy là gì?"
Cảnh tượng tôi nhìn thấy khiến tôi sợ đến mức gần như không thể cử động nổi. Trông cô ấy cứ như thể bị ai đó dùng chiếc máy cắt cỏ đẩy tay cạo trọc lóc, cái trạng thái tồi tệ ấy hệt như nhìn thấy một con động vật bị xe tông chết trên đường phố, khiến người ta hoài nghi nó từng là sinh vật gì, chỉ khác ở chỗ là tôi biết tóc của Khổng trước kia ra sao. Trước kia, Khổng có mái tóc buông rủ qua eo; trước kia, những ngón tay tôi luồn lẩn trong những gợn sóng tóc đen như lụa của cô ấy; trước kia, tôi sẽ túm lấy mái tóc dài và dày của cô ấy, kéo giật nó giống như nắm lấy dây cương của một con lừa rồi hét lên: "Chạy mau, Khổng, kêu như lừa đi!"
Cô ấy cầm lấy tay tôi, chà xát lên phần da đầu như giấy nhám của cô ấy, miệng thì thầm to nhỏ về những người bạn và kẻ thù ở Trung Quốc của cô ấy. Cô ấy nói mãi không dứt, tựa như liệu pháp sốc điện đã phá hủy cơ cắn ở hàm trên và hàm dưới của cô ấy, khiến cô ấy không thể dừng lại được. Tôi sợ hãi vô cùng, chỉ sợ sẽ lây phải cái chứng bệnh nói năng điên rồ này của cô ấy.
Cho đến tận ngày nay, tôi vẫn không biết tại sao Khổng chưa từng trách móc tôi vì những chuyện đã xảy ra. Tôi đinh ninh rằng cô ấy biết chính tôi đã mang lại rắc rối này cho cô ấy. Khi cô ấy từ Trung tâm Hỗ trợ Maria trở về nhà, cô ấy đã tặng chiếc vòng tay nhựa nhận dạng của mình cho tôi làm quà. Cô ấy nhắc đến việc những đứa trẻ ở trường Chúa nhật đến bệnh viện hát vang bài ca 《Đêm tĩnh lặng》, khi một ông lão lớn tiếng hét "Câm miệng", chúng đã ré lên kinh hoàng như thế nào. Cô ấy kể cho tôi nghe ở đó có những bệnh nhân bị hồn ma quấn lấy, những hồn ma này không giống như những người tốt ở âm gian mà cô ấy quen thuộc, thật là đáng tiếc. Nhưng cô ấy thậm chí còn không nói dù chỉ một lần: "Libby-ah, tại sao em lại đem bí mật của chị nói ra ngoài?"
Thế nhưng cách khiến tôi ghi nhớ chuyện này chính là cảm giác của tôi về nó bấy lâu nay: tôi đã phản bội cô ấy, mà đây chính là nguyên nhân khiến đầu óc cô ấy không được minh mẫn. Tôi tin rằng liệu pháp sốc điện cũng là lỗi của tôi, dòng điện đã thả tất cả những con ma của cô ấy ra ngoài.
Đó vẫn là chuyện của hơn ba mươi năm trước, Khổng vẫn luôn đau buồn: "Tóc của chị vốn đen nhánh bóng mượt như thế, óng ả như thác nước, mát lạnh trơn tuột như loài lươn đang bơi. Bây giờ em nhìn xem, tất cả những liệu pháp sốc điện đó, giống như liên tục ném chị vào nhà nghèo khổ, lưu giữ quá lâu trong những món đồ rẻ tiền. Tất cả sắc thái phong phú của mái tóc chị — đã bị vắt kiệt sạch sẽ; tất cả sự mềm mại — đều co rúm lại rồi. Tóc của chị bây giờ chỉ là mấy sợi dây sắt cứng nhắc, truyền tải thông tin xuyên thấu vào đại não của chị: Đừng bao giờ bàn về chuyện âm gian nữa! Bọn chúng làm thế với chị đấy, ha, nhưng chị vẫn không hề thay đổi. Hiểu chưa? Chị vẫn rất mạnh mẽ."
Khổng đã đúng. Khi mái tóc của cô ấy mọc dài trở lại, trông ngắn và cứng, dẻo dai giống hệt như lông của loài chó săn nhỏ Anh Quốc vậy. Khi cô ấy chải tóc, tất cả các sợi tóc đều sẽ dựng đứng cả lên lách tách vì tĩnh điện mạnh mẽ, kêu lốp bốp y như lúc dây tóc bóng đèn bị cháy vậy. Khổng giải thích rằng: "Tất cả thứ điện mà đám bác sĩ đó nhồi nhét vào đại não chị, bây giờ bên trong cơ thể chị đang cuồn cuộn chảy vòng quanh giống như con ngựa chạy vòng quanh đường đua vậy." Cô ấy tuyên bố đây chính là nguyên nhân khiến cô ấy đứng cách ti vi ba feet là có thể khiến nó phát ra tiếng xì xì như vậy. Cô ấy không sử dụng chiếc máy nghe nhạc Sony Walkman mà người chồng George tặng cho; cô ấy buộc phải đặt chiếc đài sát vào đùi mình để nối đất, bằng không cho dù cô ấy có dò đến đài phát thanh nào đi nữa, những gì cô ấy nghe được cũng chỉ là "âm thanh khủng khiếp: bùng pốp pốp, bùng pốp pốp". Cô ấy không thể đeo bất kỳ chiếc đồng hồ nào. Cô ấy từng nhận được một chiếc đồng hồ điện tử làm giải thưởng thi đấu bóng bàn, sau khi đeo chiếc đồng hồ này, các con số trên đồng hồ liền bắt đầu thay đổi chóng mặt như máy đánh bạc cờ bạc trong sòng bạc vậy. Hai tiếng sau, đồng hồ của cô ấy đứng im không nhúc nhích. "Chị vớ được bộ bài đẹp đấy," cô ấy nói với chúng tôi như vậy, "tám tám tám tám tám, con số may mắn, nhưng quả thực là một chiếc đồng hồ hỏng."
Khổng tuy không được đào tạo về kỹ thuật, nhưng cô ấy có thể chỉ ra chính xác sai sót trong một mạch điện chỉ trong chớp mắt, bất kể đó là ổ cắm trên tường hay đèn flash của máy ảnh. Cô ấy từng kiểm tra một số thiết bị của tôi theo cách này. Phải biết rằng tôi là một nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp, vậy mà cô ấy hầu như còn chẳng thao tác nổi chiếc máy ảnh ngắm và chụp đơn giản, thế nhưng cô ấy lại có thể tìm ra bộ phận bị hỏng hóc cực kỳ chính xác của máy quay, cáp điện hoặc bộ pin; sau đó, khi tôi vận chuyển thiết bị nhiếp ảnh đến tận nơi để chụp cảnh bạo loạn của Caprice Cloud ở bang Sacramento, tôi phát hiện ra những gì cô ấy nói hoàn toàn chính xác. Tôi cũng từng nhìn thấy cô ấy chỉ cần ấn ngón tay lên điểm tiếp xúc sạc pin ở mặt sau của một chiếc điện thoại không dây hết pin, vậy mà lại có thể khiến chiếc điện thoại tạm thời kết nối được. Cô ấy không thể giải thích bất kỳ hiện tượng nào như thế này, và tôi cũng chẳng thể giải thích nổi. Tất cả những gì tôi có thể nói chỉ là: Tôi đã tận mắt nhìn thấy cô ấy làm những việc này.
Tôi cảm thấy thứ thần bí nhất trong năng lực của cô ấy chắc chắn là khả năng chẩn đoán bệnh tật. Khi cô ấy bắt tay với người lạ, bất kể họ có từng trải qua gãy xương hay không, thậm chí là đã khỏi hẳn từ nhiều năm trước đi chăng nữa, cô ấy cũng đều có thể nói ra được. Cô ấy có thể nắm bắt ngay trong chớp mắt xem một người có bị viêm khớp, viêm gân, viêm túi thanh mạc, đau thần kinh tọa hay không — cô ấy thực sự rất giỏi mấy thứ liên quan đến cơ bắp và xương khớp này — những căn bệnh mà cô ấy gọi là "xương cháy", "tay bỏng", "khớp nhức", "chân vòng kiềng". Cô ấy nói tất cả những căn bệnh này đều là do đồng thời ăn đồ nóng và đồ lạnh, đếm ngón tay nhẩm tính những chuyện bất đắc ý, lắc đầu quá thường xuyên vì hối hận, hoặc tích trữ sự lo lắng giữa hàm răng và nắm đấm của bạn gây nên. Cô ấy không thể chữa khỏi bệnh ngay tại chỗ cho bất kỳ ai, bởi vì cô ấy chẳng có Điện thờ Lourdes nào hoạt động cả, thế nhưng rất nhiều người nói cô ấy có chức năng chạm vào là khỏi bệnh. Tại Tiệm thuốc Spencer ở cộng đồng Castro nơi cô ấy làm việc, khách hàng của cô ấy chính là những con người như vậy. Phần lớn những người đến lấy thuốc này đều là những người đàn ông đồng tính — cô ấy gọi họ là "những người độc thân". Bởi vì cô ấy đã làm việc ở đó hơn hai chục năm trời, nên cô ấy từng chứng kiến một số khách hàng lâu năm mắc bệnh AIDS rồi phát bệnh. Khi họ bước vào, cô ấy sẽ đấm bóp nhanh lên vai họ một trận, đồng thời lại đưa ra những lời cảnh cáo về mặt y học: "Các cậu vẫn đang uống bia, ăn đồ cay nóng à? Ăn cùng nhau, vào cùng một lúc á? Chà! Chị nói với các em những gì nào? Thật đấy! Thật đấy! Làm thế này sao các em có thể khỏe lên được chứ?" — tựa như họ là những đứa trẻ bị quở trách, hư hỏng vậy. Một số khách hàng của cô ấy, cho dù họ có thể nhận được dịch vụ giao hàng tận nhà miễn phí, vẫn ngày ngày đến đây. Tôi biết đây là vì cái gì. Khi cô ấy đặt tay lên chỗ đau đớn của bạn, bạn sẽ cảm thấy có một cảm giác ngứa ran, tựa như có hàng trăm hàng ngàn yêu tinh nhỏ đang nhảy nhót tưng bừng, sau đó giống như một dòng nước nóng đang cuồn cuộn chảy trong mạch máu của bạn. Bạn không hề được chữa khỏi, nhưng lại cảm thấy sự lo lắng tiêu tan, tâm trạng bình tĩnh lại, giống như đang trôi nổi trên một mặt biển sóng yên gió lặng.
Khổng có từng nói với tôi rằng, "Sau khi bọn họ chết, những kẻ độc thân ở âm gian này vẫn đến thăm chị. Bọn họ gọi chị là bác sĩ Khổng, đương nhiên rồi, là nói đùa thôi." Sau đó cô ấy sẽ ngượng ngùng nói lại bằng tiếng Anh: "Hoặc cũng là để biểu thị sự tôn trọng. Em nghĩ thế nào, Libby-ah?" Cô ấy luôn hỏi tôi như vậy: "Em nghĩ thế nào?"
Không một ai trong gia đình chúng tôi bàn về năng lực siêu phàm của Khổng. Việc đó sẽ khiến mọi người chú ý đến sự kỳ quái của Khổng mà chúng ta đã sớm biết rõ — cho dù là theo tiêu chuẩn Trung Quốc, theo tiêu chuẩn của San Francisco đi chăng nữa. Rất nhiều điều cô ấy nói và những việc cô ấy làm sẽ khơi dậy sự sùng bái đối với cô ấy từ phần lớn những người không đồng tình với thuốc ức chế tâm thần hoặc những người sống ở nông trại tín đồ.
Nhưng tôi đã không còn cho rằng chị gái mình bị điên nữa, hoặc giả như cô ấy có bị điên đi chăng nữa, thì đó cũng là sự điên rồ hoàn toàn vô hại, với điều kiện là mọi người không coi trọng cô ấy một cách nghiêm túc. Cô ấy không lặp đi lặp lại một điệp khúc đơn điệu trên vỉa hè, giống như gã hét toáng lên "California chắc chắn sẽ trượt xuống Thái Bình Dương giống như một đĩa thịt nghêu" ở phố Market kia. Hơn nữa cô ấy cũng không hòa nhập vào cái thế kỷ mới đang mưu lợi khắp nơi này, bạn hoàn toàn không nhất thiết phải vì muốn nghe cô ấy phơi bày kiếp trước của bạn đã xảy ra sai sót gì mà trả cho cô ấy một trăm năm mươi đô la mỗi giờ. Cô ấy sẽ miễn phí nói cho bạn biết, thậm chí bạn không hỏi thì thôi.
Khổng phần lớn thời gian đều giống như những người khác, xếp hàng, mua hàng giảm giá, lẩm bẩm tính toán món hời kiếm được từ tiền thối lại: "Libby-ah," cô ấy nói trong cuộc điện thoại gọi đến vào sáng nay, "Hôm qua, chị đã mua được giày giảm giá một nửa, nhãn hiệu Keds. Đoán xem chị đã bớt được bao nhiêu tiền nào, em đoán thử xem."
Nhưng Khổng rất kỳ quái, điểm này không thể né tránh được. Thỉnh thoảng nó khiến tôi cảm thấy thú vị, đôi lúc lại khiến tôi tức giận, nhưng nhiều hơn thế là khiến tôi tâm thần bất định, thậm chí cảm thấy bực bội — không phải đối với Khổng, mà là bực bội vì mọi chuyện chẳng bao giờ được như những gì bạn hy vọng. Tại sao tôi lại có Khổng làm chị gái của mình chứ? Tại sao cô ấy lại nhắm trúng tôi cơ chứ?
Cứ cách một khoảng thời gian, tôi lại hoài nghi: Nếu trước kia Khổng bình thường hơn một chút, thì mọi chuyện giữa tôi và cô ấy sẽ ra sao nhỉ. Thế nhưng, ai sẽ là người định nghĩa thế nào là bình thường chứ? Có lẽ ở một quốc gia khác, Khổng trái lại sẽ được coi là bình thường ấy chứ. Có lẽ ở một nơi nào đó của Trung Quốc, Hong Kong hoặc Đài Loan, cô ấy còn sẽ nhận được sự tôn trọng nữa kìa. Có lẽ trên thế giới này vẫn còn một nơi, ở đó nhà nhà đều có một người chị gái có âm nhãn ấy chứ.
Khổng bây giờ đã gần năm mươi tuổi, trong khi tôi thì kém cô ấy trọn vẹn mười hai tuổi — bất kể khi nào có ai đó lịch sự hỏi hai chúng tôi ai lớn tuổi hơn thì cô ấy sẽ vô cùng tự hào nhắc đến điều này. Trước mặt người khác, cô ấy rất thích véo má tôi để nhắc nhở tôi rằng: vì tôi hút thuốc và uống quá nhiều rượu lẫn cà phê — những thói quen xấu mà cô ấy không có — da dẻ của tôi đang bắt đầu xuất hiện nếp nhăn. Câu cửa miệng mà cô ấy thích nhất chính là "Đừng gây nghiện, chẳng cần cấm đoán". Khổng vừa không thâm trầm cũng chẳng nhạy bén, bất cứ chuyện gì cũng là trong ngoài như một, nhìn một cái là thấu suốt. Kết quả là chẳng có ai đoán được chúng tôi là chị em cả.
Kevin từng nói đùa một lần rằng, có lẽ những người cộng sản suy đoán người Mỹ chúng ta cho rằng tất cả người Trung Quốc trông đều ná ná nhau, thế nên mới đưa nhầm người sang cho chúng ta. Nghe xong điều này, tôi liền ảo tưởng về một ngày nào đó trong tương lai, chúng ta sẽ nhận được một bức thư từ Trung Quốc gửi đến, nói rằng: "Xin lỗi, người nước ngoài nhé, bọn tôi nhầm rồi." Trong suốt từng ấy năm, Quảng chưa từng hòa nhập vào gia đình chúng ta. Bức ảnh Giáng sinh mà chúng ta chụp mỗi năm trông giống như trò chơi ghép hình của trẻ con vậy, "Bức ảnh này lại có vấn đề gì nữa đây?" Mỗi năm, Quảng đều đứng ở chính giữa hàng đầu, mặc trang phục mùa hè với màu sắc rực rỡ, hai bên đầu cài chiếc kẹp tóc hình con bướm bằng nhựa, ngốc nghếch toét miệng cười, miệng há rộng như sắp xé toạc cả gò má. Cuối cùng mẹ cũng tìm cho cô ấy một chân phụ vụ bàn tại một nhà hàng Trung - Mỹ, Quảng phải mất nguyên một tháng mới nhận thức được rằng những món ăn được phục vụ ở đó vốn được cho là đồ ăn Trung Quốc. Thời gian không hề làm cô ấy mang phong cách Mỹ hơn, cũng chẳng khiến cô ấy cho thấy điểm gì tương đồng với người cha của chúng ta.
Mặt khác, mọi người bảo tôi rằng trong số các người con của cha, dù là ngoại hình hay cá tính, tôi lại là người giống ông nhất. "Nhìn kìa, Olivia ăn nhiều thế mà cân nặng chẳng tăng lấy một pound," thím Betty thường nói như vậy, "giống hệt như Jack." Mẹ tôi từng nói một lần: "Olivia không tiếc công sức phân tích từng chi tiết nhỏ, con bé sở hữu trí tuệ kiểu kế toán của cha nó, hỏng trách sao lại trở thành nhiếp ảnh gia." Những lời bàn tán loại này khiến tôi hoài nghi, không biết rốt cuộc có những thứ gì đã được di truyền qua gen của cha sang cho tôi. Tôi thực sự đã thừa hưởng từ ông tâm trạng ảm đạm đó, sở thích rắc muối lên hoa quả đó, sự chán ghét đối với vi sinh vật đó hay sao?
Ngược lại, Quảng lại là một người nhỏ thỏ đầy năng lượng, cao chưa nổi năm thước, tựa như một con bò đực thu nhỏ trong tiệm đồ sứ. Mọi thứ liên quan đến cô ấy đều lớn tiếng và bất đồng bộ. Cô ấy sẽ dùng chiếc quần màu xanh lá mạ để phối với chiếc áo khoác caro màu tím; cô ấy dùng giọng khàn khàn để lớn tiếng thì thầm với người khác, nghe có vẻ như vừa bị viêm tai giữa vậy, mà thực ra thì chưa từng lâm bệnh bao giờ; cô ấy đưa ra những lời khuyên nhức khỏe, giới thiệu các loại thảo dược Trung Quốc, đưa ra ý kiến về mọi thứ từ cách sửa chữa chiếc cốc vỡ cho đến cuộc hôn nhân rạn nứt. Cô ấy nhảy cóc từ chủ đề này sang chủ đề khác, xen kẽ vào giữa là những tin tức mật về việc tìm mua hàng giá rẻ ở đâu. Tommy từng nói một lần rằng, Quảng tôn sùng tự do ngôn luận, tự do giao du, rửa xe và đổ xăng miễn phí. Trong ba mươi năm qua, sự thay đổi duy nhất trong tiếng Anh của Quảng chính là tốc độ nói của cô ấy. Đồng thời, Quảng lại cho rằng tiếng Anh của mình siêu đỉnh. Cô ấy thường xuyên đi chỉnh sửa lại chồng mình, "Không phải là stealed," cô ấy sẽ bảo George rằng, "phải là Stolened."①
① Trong tiếng Anh, các dạng chia thì của từ steal (trộm cắp) lần lượt là stole và stolen. Do đó Quảng rõ ràng đang dùng cái sai để sửa cái sai.
Mặc dù hai chúng tôi có tất cả những điểm khác biệt rõ mười mươi đó, nhưng Quảng lại cho rằng tôi và cô ấy rất giống nhau. Trong mắt cô ấy, thứ liên kết hai chúng tôi lại với nhau là một sợi dây rốn Trung Quốc rộng lớn vô tận, sợi dây rốn này mang lại cho chúng tôi những đặc điểm di truyền, động lực cá nhân, vận mệnh và vận khí giống hệt nhau. "Tôi với Libby-ah," cô ấy nói với những người mới quen, "ở đây là giống nhau đấy." Sau đó cô ấy sẽ vỗ vỗ đầu tôi, "Đều sinh năm con khỉ cả. Đố cô đoán được ai lớn tuổi hơn đấy? Ai lớn hơn nào?" Tiếp theo cô ấy sẽ áp má mình vào má tôi.
Cái tên Olivia của tôi, Quảng chưa bao giờ phát âm đúng cả. Đối với cô ấy, tôi từ trước đến nay vẫn luôn là Libby-ah, không phải cái tên Libby đơn thuần giống như nước sốt cà chua đâu; mà là Libby-ah, giống như cái quốc gia của Muammar Gaddafi ấy. Kết quả là, chồng cô ấy là George Lưu cùng với hai người con trai từ cuộc hôn nhân đầu tiên của anh ta, và tất cả những người khác trong cái gia đình này cũng đều gọi tôi là Libby-ah. Phần chữ "ah" này đặc biệt khiến tôi nổi giận. Trong tiếng Trung, nó tương đương với việc nói "Này", như kiểu "Này, Libby, lại đây mau." Có lần tôi hỏi Quảng rằng, nếu tôi giới thiệu với mọi người cô ấy là "Này, Quảng", liệu cô ấy có thích không. Cô ấy vỗ vỗ cánh tay tôi, cười đến mức thở không ra hơi, sau đó dùng cái giọng khàn đặc nói rằng: "Tôi thích chứ, tôi thích lắm." Sự tương đồng về mặt văn hóa chỉ có ngần ấy: mãi mãi và vĩnh viễn vẫn cứ là Libby-ah.
Tôi không phải đang nói rằng mình không thích Quảng. Sao tôi có thể không yêu người chị gái của chính mình chứ. Đối với tôi, cô ấy ở rất nhiều phương diện còn ra dáng một người mẹ hơn cả mẹ ruột của tôi. Nhưng tôi lại thường xuyên cảm thấy khó chịu vì bản ý không muốn thân thiết với cô ấy. Ý tôi là, khi sự thân thiết của chúng tôi nằm ở phương thức trò chuyện. Chúng tôi chủ yếu hiểu rõ mọi thứ về đối phương thông qua lịch sử, thông qua việc cùng chia sẻ một cái tủ quần áo, cùng một tuýp kem đánh răng, những món ngũ cốc giống hệt nhau vào mỗi buổi sáng trong suốt mười hai năm, tất cả những lề thói sinh hoạt và thói quen sinh tồn trong cùng một gia đình này. Tôi thực sự cho rằng Quảng là một người đáng yêu, cũng rất trung thành, hơn nữa còn đặc biệt tận tụy trước sau như một. Nếu có ai nói xấu tôi, cô ấy thậm chí sẽ đi xé tai kẻ đó luôn. Điều này không hề tầm thường chút nào. Chính vì điểm này, tôi mới không muốn tiến lại gần cô ấy hơn, không giống như một số cặp chị em coi nhau là bạn thân nhất. Trên thực tế, tôi không hề chia sẻ mọi thứ với cô ấy giống như những gì cô ấy làm. Cô ấy sẽ kể cả những chi tiết vụn vặt kín đáo nhất trong cuộc sống của mình cho tôi nghe, giống như tuần trước, cô ấy đã đem chuyện của chồng mình ra kể cho tôi nghe vậy.
"Libby-ah," cô ấy nói, "Chị phát hiện ra một cái nốt ruồi, to bằng lỗ mũi của chị, nằm ở ngay cái mà—các cô gọi cái vật ở giữa hai chân đàn ông là gì nhỉ, ở Trung Quốc tụi chị gọi nó là bìu dái, tròn vo, đầy những nếp nhăn, giống như hai quả óc chó ấy?"
"Bìu dái."
"Đúng rồi, đúng rồi, phát hiện thấy một nốt ruồi rất to ở trên bìu dái! Bây giờ mỗi ngày—ngày nào cũng vậy, đều phải kiểm tra George, kiểm tra cái bìu dái của anh ta, để xác định chắc chắn rằng nốt ruồi đó không bắt đầu lớn lên."
Đối với Quảng, trong gia đình chẳng có cái ranh giới nào cả. Mọi chuyện đều có thể đem ra mổ xẻ một cách công khai đầy phiền toái và kiệt quệ sức lực—bạn đã tiêu hết bao nhiêu tiền trong kỳ nghỉ, màu da của bạn đã xảy ra vấn đề quái quỷ gì, tại sao trông bạn lại giống như con cá ở bồn rửa bát nhà hàng vốn đã định sẵn là sẽ gặp vận hạn. Tiếp theo cô ấy sẽ thắc mắc tại sao tôi lại không coi cô ấy là một phần có quy luật trong đời sống xã hội của mình. Dù sao thì cô ấy cũng có mời tôi sang ăn cơm mỗi tuần một lần, cùng với việc tham gia mọi buổi tụ họp gia đình phiền phức nào đó—tuần trước, là buổi tiệc tổ chức cho thím của George, ăn mừng việc thím ấy cuối cùng cũng giành được quyền công dân Mỹ sau năm mươi năm, và những thứ đại loại thế. Quảng cho rằng phải có thiên tai địch họa gì nghiêm trọng lắm thì tôi mới được miễn tham gia. Cô ấy sẽ số ruột hỏi lớn rằng: "Tối hôm qua tại sao em lại không đến? Có chuyện gì quan trọng lắm à?"
"Không có chuyện gì cả."
"Cảm thấy không khỏe à?"
"Không."
"Cần chị qua đó, mang cho em ít cam không? Chị có thừa đây này, giá tốt lắm, sáu pound một đô la."
"Thật mà, em rất ổn."
"Cô ấy giống như một con mèo bơ vơ không nơi nương tựa, cọ quậy trong lòng ngực tôi. Suốt cả cuộc đời tôi, cô ấy luôn ở trong trạng thái này: bóc vỏ cam cho tôi, mua kẹo cho tôi, khen ngợi bảng điểm của tôi và bảo rằng tôi thông minh biết bao, thông minh hơn rất nhiều so với những gì cô ấy có thể đạt được. Thế nhưng tôi chẳng làm gì cả để khiến cô ấy thích mình. Hồi còn là một đứa trẻ, tôi thường xuyên từ chối chơi đùa cùng cô ấy. Trong suốt những năm tháng qua, tôi từng la hét với cô ấy, bảo rằng cô ấy đã cản trở tôi. Tôi đã quên mất bản thân từng nói dối bao nhiêu lần để trốn tránh việc phải nhìn thấy cô ấy."
Đồng thời, cô ấy luôn coi những cơn bộc phát cảm xúc của tôi là lời khuyên răn hữu ích, những cái cớ bất lực của tôi là thiện chí tốt đẹp, những cử chỉ ân cần đầy vô cảm của tôi là tình nghĩa chị em trung thành. Và khi tôi không thể chịu đựng nổi thêm nữa, tôi ăn nói hàm hồ mắng xối xả rằng cô ấy điên rồi. Trước khi tôi kịp thu hồi lại những lời sắc mỏng ấy, cô ấy vỗ vỗ cánh tay tôi, mỉm cười rồi lớn tiếng cười vang. Vết thương cô ấy vừa nhận phải lập tức tự chữa lành, trong khi tôi lại mang nỗi hổ thẹn trong lòng mãi mãi.
Trong mấy tháng gần đây, Quảng lại càng trở nên phiền phức hơn. Thông thường sau khi tôi nói "không" lần thứ ba đối với một việc nào đó, cô ấy sẽ bỏ cuộc, nhưng hiện tại tâm trí của cô ấy cứ như thể đang ngưng đọng trên nút tua ngược tự động vậy. Khi tôi không bị cô ấy chọc giận, tôi sẽ lo lắng rằng có lẽ cô ấy sắp tái phát bệnh tâm thần rồi. Kevin nói rằng có lẽ cô ấy đang trải qua thời kỳ mãn kinh, nhưng tôi có thể nhìn ra tình hình còn phức tạp hơn thế nhiều. Cơn ác mộng của cô ấy trầm trọng hơn trước rất nhiều, chủ đề về ma quỷ được nhắc đến ngày càng thường xuyên hơn. Gần như trong mọi cuộc trò chuyện với tôi, cô ấy đều nhắc đến Trung Quốc, nhắc đến việc cô ấy đáng lẽ phải quay về Trung Quốc trước khi vạn vật đổi thay và trước khi quá muộn. Còn tại sao lại gọi là quá muộn thì bản thân cô ấy cũng chẳng hiểu nổi.
Ngoài ra còn có cuộc hôn nhân của tôi nữa. Cô ấy đơn giản là không tài nào chấp nhận được hiện thực tôi và Simon đã đường ai nấy đi. Trên thực tế, cô ấy vẫn luôn tâm cơ ngấm ngầm tìm cách phá hoại vụ ly hôn của chúng tôi. Tuần trước, tôi tổ chức một bữa tiệc sinh nhật cho Kevin, có mời Ben Apfelbaum—gã đàn ông mà tôi đang hẹn hò tới dự. Khi anh ấy nói với Quảng rằng với tư cách là một người có thiên phú về giọng nói, anh ấy đang chủ trì chương trình quảng cáo thương mại trên đài phát thanh, cô ấy liền nói: "À, Libby-ah, với cả tôi nữa, đều có thiên phú thoát khỏi tình huống gai góc, cũng có thiên phú cực lớn để muốn làm gì thì làm. Phải vậy không, Libby-ah?" Cô ấy nhíu mày, "Chồng cô, Simon ấy, tôi nghĩ là anh ta đồng ý với suy nghĩ của tôi đấy chứ, hửm?"
"Anh ấy sắp thành chồng cũ của tôi rồi," sau đó tôi đành phải giải thích với Ben rằng, "Vụ ly hôn của chúng tôi sẽ chính thức có hiệu lực sau năm tháng nữa, vào ngày mười lăm tháng mười hai."
"Có lẽ là không đâu, có lẽ là không đâu." Quảng nói, tiếp theo vừa bấm vào cánh tay tôi vừa cười ha hả. Cô ấy quay mặt về phía Ben và hỏi: "Cậu đã từng gặp Simon bao giờ chưa?"
"Ben lắc đầu, bắt đầu lên tiếng: "Olivia và tôi gặp nhau ở—""
"Ồ, đẹp đôi lắm," Quảng chậc lưỡi nói. Cô ấy chụm lòng bàn tay lại vòng quanh miệng rồi hé lộ: "Simon trông giống hệt như người anh em sinh đôi của Olivia ấy, mang nửa dòng máu Trung Quốc."
"Mang nửa dòng máu Hawaii," tôi nói, "Hơn nữa trông chúng tôi chẳng có điểm nào giống nhau cả."
"Bố mẹ cậu làm nghề gì thế?" Quảng tỉ mỉ đánh giá chiếc áo khoác cashmere mà Ben đang mặc.
"Họ đều nghỉ hưu cả rồi, sống ở Missouri." Ben nói.
"Misery①! Ôi! Ôi!" Cô ấy nhìn tôi, "Điều này thật đáng buồn làm sao."
"① Misery có nghĩa là sự bi ai, nỗi buồn, phát âm khá giống với Missouri. Quảng cố tình dùng cách đọc nhầm này để gây sự vô lý quấn lấy không buông."
Mỗi lần Quảng nhắc đến Simon, tôi lại cảm thấy đầu óc mình sắp phát nổ đến nơi, bởi vì tôi vô cùng tức giận, nhưng lại cố gắng hết sức để kìm nén bản thân không thét lên o o. Cô ấy cho rằng bởi vì tôi là người đề nghị ly hôn, cho nên tôi có thể rút lại yêu cầu này.
"Tại sao lại không thể khoan dung chứ?" Sau bữa tiệc, cô ấy vừa nói vừa táy máy nghịch cái cành hoa đã héo úa trong cụm hoa phong lan. "Bướng bỉnh cố chấp cộng thêm việc nổi giận đùng đùng, đối với em mà nói quả là quá tồi tệ." Chưa để tôi kịp mở miệng, cô ấy lại thay đổi chiến lược: "Chị cảm thấy trong lòng em vẫn còn dành những tình cảm mãnh liệt cho anh ta—hừm, hừm! Tình cảm vô cùng, vô cùng mạnh mẽ. Ôi—nhìn kìa!—nhìn cái mặt của em xem, đỏ bừng lên kìa! Luồng tình cảm yêu thương này trào dâng ra từ tận sâu thẳm tâm can em, chị nói có đúng không? Em nói xem, chị nói có đúng không?"
Lúc cô ấy nói chuyện thì tôi vẫn luôn lật xem thư từ, tiện tay viết nguệch ngoạc mấy chữ "Đã chuyển đi" lên bất kỳ bức thư nào có đính kèm cái tên Simon Bishop. Tôi chưa bao giờ bàn luận với Quảng về nguyên nhân tại sao tôi và Simon lại đi đến bước đường chia tay, cô ấy sẽ không thể hiểu nổi đâu, chuyện đó phức tạp lắm. Không có một sự việc nào hay một trận cãi vã nào có thể khiến tôi giơ ngón tay chỉ vào đó mà nói rằng: "Đó chính là lý do." Sự tan vỡ của chúng tôi là kết quả của vô số chuyện gộp lại: một sự khởi đầu sai lầm, lựa chọn thời điểm không thích hợp, thói quen suy nghĩ và sự im lặng kéo dài qua từng năm tháng giống hệt như hành vi thân mật vậy. Trải qua mười bảy năm ở bên nhau, thế nhưng cuối cùng khi tôi nhận ra bản thân có nhiều nhu cầu hơn đối với cuộc sống, thì nhu cầu về cuộc sống của Simon dường như lại ít đi. Đúng vậy, tôi vẫn yêu anh ấy—yêu quá nhiều; và anh ấy cũng yêu tôi, chỉ là yêu chưa đủ. Tôi đơn thuần chỉ cần có một người coi mình là vị trí số một trong cuộc sống của anh ta, tôi không đời nào chịu đựng thêm những vụn vặt tình cảm nữa.
Nhưng Quảng thì sẽ không thể hiểu được những điều này. Cô ấy không biết người khác có thể khiến bạn tổn thương đến mức độ không thể vãn hồi như thế nào. Cô ấy tin vào những kẻ nói lời xin lỗi, thuộc tuýp người ngây thơ, dễ tin người—tin rằng mọi câu nói trên quảng cáo tivi đều là chân lý không thể lay chuyển. Chỉ cần nhìn vào ngôi nhà của cô ấy là đủ hiểu: đủ loại tiểu thiết bị chất đống khắp nơi—dao đa năng Thụy Sĩ, dụng cụ thái lát và cắt hạt lựu, máy ép trái cây và máy chiên khoai tây kiểu Pháp, cứ kể tên ra là cô ấy mua về hết, bởi vì "Chỉ giới hạn trong năm 1995, đặt hàng ngay bây giờ, giao hàng đến tận nửa đêm."
"Libby-ah," Quảng gọi điện thoại nói vào hôm nay, "Chị có chuyện phải nói với em, tin tức cực kỳ quan trọng. Sáng ngày hôm nay, chị đã nói chuyện với Lão Lỗ rồi, bọn chị quyết định: Em và Simon không được ly hôn."
"Hay thật đấy," tôi nói, "Hai người quyết định thay tôi cơ đấy." Tôi đang chốt sổ séc của mình, vừa cộng trừ tính toán vừa giả vờ như đang lắng nghe.
"Chị với Lão Lỗ. Em còn nhớ ông ấy mà."
"Là họ hàng bên chú của George." Chồng của Quảng dường như có quan hệ họ hàng với gần như tất cả mọi người Trung Quốc ở San Francisco.
"Không phải—không phải! Lão Lỗ không phải họ hàng. Sao em có thể quên được chứ? Chuyện về ông ấy chị đã kể cho em nghe rất nhiều lần rồi mà. Người lớn tuổi, đầu trọc, tay to chân khỏe, tính khí nóng như lửa. Có một lần phóng túng tính khí, cũng đánh mất cả cái đầu, bị chém đứt rồi. Lão Lỗ nói—"
"Đợi một chút, có phải cái kẻ không có cái đầu nào bây giờ đang dạy tôi phải xử lý cuộc hôn nhân của mình như thế nào không hả?"
"Này! Cái đầu bị chém đứt từ hơn một trăm năm trước rồi. Bây giờ trông rất ổn, không có vấn đề gì cả. Lão Lỗ cho rằng em, chị, Simon, ba chúng ta cùng đi Trung Quốc, mọi thứ sẽ ổn cả thôi. Được chứ, Libby-ah?"
"Tôi thở dài, "Quảng, bây giờ em thực sự không có thời gian để bàn luận về chuyện này đâu. Việc trong tay em đang làm dở nửa chừng rồi đây.""
"Lão Lỗ nói không thể cứ thế chốt sổ séc, nhìn xem em còn lại bao nhiêu tiền, mà cũng phải chốt sổ cả cuộc đời nữa."
Rốt cuộc làm sao mà Quảng lại biết được là tôi đang chốt sổ séc chứ?
Giữa Quảng và tôi từ trước đến nay vẫn luôn là loại tình huống như thế: một khi tôi không thèm coi cô ấy ra gì, cô ấy liền ném tới một màn phản bác có sức nặng khiến tôi sợ mất mật, khiến tôi một lần nữa trở thành tù binh của cô ấy. Có cô ấy ở xung quanh, tôi vĩnh viễn không thể có được cuộc sống của riêng mình, cô ấy luôn khiến tôi không dám lơ là với cô ấy dù chỉ một chút.
Tại sao tôi vẫn luôn là đứa em gái bé bỏng trân quý của cô ấy? Tại sao cô ấy lại cảm thấy tôi là người quan trọng nhất trong cuộc đời cô ấy—là người quan trọng nhất cơ chứ! Tại sao cô ấy lại hết lần này đến lần khác nói rằng, cho dù chúng tôi không phải chị em ruột đi chăng nữa, thì cô ấy cũng sẽ có cảm giác tương tự? "Libby-ah," cô ấy nói với tôi rằng, "Chị sẽ không bao giờ rời xa em đâu."
Không! Tôi muốn hét lên, tôi chẳng làm gì cả, và cũng sẽ không nói gì nữa đâu. Bởi vì mỗi một lần cô ấy nhúng tay vào cuộc sống của tôi, cô ấy đều biến tất cả những hành vi chống đối của tôi thành tình yêu thương cần phải bù đắp thêm. Cả hai chúng ta đều biết rõ: Cô ấy vẫn luôn trung thành tận tụy với tôi, và đến một ngày nào đó tôi cũng sẽ phải đối xử với cô ấy như vậy.
Nhưng cho dù tôi có chặt đứt cả hai tay đi chăng nữa, thì cũng chẳng ích gì. Giống như những gì Quảng đã nói từ lâu, cô ấy vĩnh viễn sẽ không bao giờ từ bỏ tôi. Một ngày nào đó, cuồng phong sẽ gào thét nổi lên, cô ấy sẽ túm chặt lấy một chùm mái nhà tranh, chuẩn bị bay đến cõi âm.
"Đi thôi! Mau qua đây nào!" Cô ấy sẽ lấn át tiếng gào thét của bão tố mà thầm thì bên tai tôi, "Nhưng đừng nói cho ai biết đấy nhé. Hứa với chị đi, Libby-ah."