The Hundred Secret Senses

Lượt đọc: 56 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Năm
Ngày Giặt Giũ

❊ ❊ ❊

Giống như một chiếc đồng hồ báo thức, chuông điện thoại vang lên đúng tám giờ. Đó đã là buổi sáng thứ ba liên tiếp Quảng gọi đến đúng lúc tôi đang phết bơ vào bánh mì nướng. Chưa để tôi kịp nói "Alo", cô ấy đã tuôn ra một lèo: "Libby-Ah, hỏi thử Tây Mông xem tiệm sửa dàn âm thanh tên là gì thế?"

"Dàn âm thanh của cậu bị bệnh gì à?"

"Bệnh á? À... Âm thanh quá ồn ào. Đúng, đúng, tớ đang nghe đài phát thanh, nó cứ kêu xì... xì."

"Cậu đã thử chỉnh lại tần số chưa?"

"Thử rồi, tớ vẫn hay chỉnh mà."

"Thế thì đứng xa dàn âm thanh ra một chút thì sao? Có lẽ hôm nay cậu mang theo quá nhiều tĩnh điện; người ta bảo trời sắp mưa mà."

"Được rồi, có lẽ cứ thử cách này trước. Nhưng thôi, cứ đề phòng cho chắc, cậu gọi cho Tây Mông một tiếng, hỏi xem tên tiệm sửa chữa là gì."

Tâm trạng của tôi đang khá tốt, tôi cũng muốn xem cô ấy có thể giở trò đến mức độ nào. "Tớ biết tiệm đó," tôi nói, đồng thời vắt óc tìm một cái tên nghe có vẻ hợp lý, "Đúng rồi, là tiệm Hộp Âm Thanh Gầm Thét Burger, ở Phố Market." Tôi gần như có thể nghe thấy bộ não của Quảng đang quay vù vù và lách cách bước vào chế độ lựa chọn.

Cuối cùng cô ấy phì cười, nói: "Này, cậu đúng là một người phụ nữ hư hỏng——dám nói dối! Không có cái tên tiệm nào như thế cả."

"Cũng chẳng có cái lỗi dàn âm thanh nào như thế cả," tôi bồi thêm.

"Được rồi, cậu gọi cho Tây Mông đi, bảo anh ấy là Quảng chúc sinh nhật vui vẻ."

"Thật ra tớ đang định gọi cho anh ấy vì đúng lý do đó đấy."

"Ồ, cậu thật là xấu xa! Sao cứ phải hành hạ tớ, làm tớ bẽ mặt thế này chứ!" Cô ấy phát ra một tràng cười hì hì, rồi thở dốc nói: "Ồ, với lại, Libby-Ah, sau khi gọi cho Tây Mông thì gọi cho mẹ một tiếng nhé."

"Sao thế? Dàn âm thanh của bà ấy cũng hỏng à?"

"Đừng đùa nữa, tim của bà ấy khó chịu."

Tôi hoảng hốt: "Không khỏe chỗ nào? Có nghiêm trọng không?"

"Ừm... tớ tệ quá. Cậu còn nhớ anh bạn trai mới tìm của bà ấy mà tớ gọi là... à... tự do lựa chọn không?"

"Ồ——đủ... tập... tem... treo," tôi chậm rãi phát âm, "Là Jamie Geoffroy."

"Tớ lúc nào cũng nhớ là 'tự do lựa chọn'. Mà đó chính xác là những gì lão ta làm! Hóa ra lão đã kết hôn từ lâu, có một người vợ Chile. Bà vừa xuất hiện là túm lấy tai lão, lôi cổ lão về nhà luôn."

"Không đời nào!" Trên má tôi thoáng hiện lên một gợn sóng vui mừng, nhưng trong lòng tôi lại trách bản thân không nên như vậy.

"Đúng vậy, đúng vậy. Mẹ suýt phát điên! Tuần trước bà mua hai vé du thuyền Tình Yêu, 'tự do lựa chọn' bảo dùng thẻ tín dụng của con đi, bố sẽ trả tiền cho con. Nhưng giờ chẳng ai trả tiền, chẳng có chuyến đi nào hết, cũng chẳng có bồi thường. Hả! Mẹ tội nghiệp của tớ, lúc nào cũng tìm nhầm đàn ông... Này, có lẽ tớ có thể tìm bạn trai cho bà ấy, tớ chọn chắc chắn sẽ tốt hơn so với tự bà ấy chọn. Tớ đã tìm được một đối tượng rất tốt, mang lại may mắn cho tớ cơ mà."

"Lỡ không tốt bằng thì sao?"

"Thế thì tớ buộc phải sửa chữa, khiến nó trở nên hoàn mỹ. Đó là trách nhiệm của tớ."

Sau khi cúp điện thoại, tôi cứ nghĩ mãi về trách nhiệm của Quảng. Hèn chi cô ấy coi vụ ly hôn chưa ngã ngũ của tôi như một thất bại cá nhân và chuyên môn của cô ấy. Cô ấy vẫn tin rằng cô ấy là bà mai tinh thần của chúng tôi, là người mai mối vạn năng của chúng tôi. Tôi hầu như không thể nói với cô ấy rằng cô ấy không phải là người như vậy, bởi vì trước đây tôi từng nhờ cô ấy khiến Tây Mông tin chắc rằng chúng tôi được kết nối bởi sự tất yếu của định mệnh, số mệnh phải gắn kết với nhau.

Tôi và Tây Mông gặp nhau từ mười bảy năm trước. Vào khoảng thời gian đó trong cuộc đời, chúng tôi đều sẵn sàng gửi gắm mọi hy vọng của mình vào những thứ ngớ ngẩn buồn cười——năng lực của kim tự tháp, bùa hộ mệnh của người Brazil, thậm chí cả những lời cảnh báo của Quảng và các hồn ma của cô ấy. Cả hai chúng tôi đều cuồng nhiệt chìm đắm trong tình yêu——tôi yêu Tây Mông, trong khi anh ấy lại yêu một người khác. Người khác ấy tình cờ chết trước khi tôi gặp Tây Mông, nhưng mãi đến ba tháng sau tôi mới biết chuyện đó.

Tôi đặt ánh mắt lên Tây Mông vào học kỳ mùa xuân năm 1976, trong một lớp ngôn ngữ tại phân viện Berkeley thuộc Đại học California. Vì anh ấy cũng giống như tôi, có một cái tên chẳng ăn nhập gì với đặc điểm gốc Á của mình, nên tôi lập tức chú ý đến anh ấy. Sinh viên mang dòng máu lai Âu - Á vào thời điểm đó không phổ biến như bây giờ. Khi tôi nhìn chằm chằm vào anh ấy, tôi có cảm giác như đang nhìn một hồn ma nam giới bằng xương bằng thịt của chính mình. Tôi bắt đầu thắc mắc các gen tác động qua lại thế nào, tại sao những người có cùng hoàn cảnh mà ở một người thì bị chi phối bởi những đặc điểm chủng tộc kiểu này, còn ở người khác thì lại không phải vậy. Tôi từng gặp một cô gái họ Trương, nhưng lại có tóc vàng mắt xanh. Không, cô ấy chán nản giải thích, cô ấy không phải được nhận nuôi. Cha cô ấy là người Trung Quốc. Tôi đoán tổ tiên của cha cô ấy từng có mối tình bí mật với người Anh hoặc người Bồ Đào Nha ở Hồng Kông. Tôi cũng giống cô gái đó, lúc nào cũng phải giải thích họ của mình rốt cuộc là thế nào, tại sao trông tôi không giống một người Rajani. Còn anh em trai của tôi thì trông gần như hoàn toàn là người Ý, hoàn toàn phù hợp với họ của họ: khuôn mặt góc cạnh hơn tôi, tóc màu nâu nhạt và hơi xoăn nhẹ.

Tây Mông không có bất kỳ đặc điểm chủng tộc cụ thể nào, anh ấy là một sự kết hợp hoàn hảo và cân bằng: một nửa dòng máu Hawaii - Trung Quốc, một nửa dòng máu Anh, là sự hòa quyện chứ không phải làm loãng đi của các gen thuộc các chủng tộc khác nhau. Khi lớp ngôn ngữ của chúng tôi lập thành các nhóm học tập, Tây Mông và tôi dần dần xích lại gần nhau, thế nhưng chúng tôi chưa từng đề cập đến điểm chung quá rõ ràng giữa hai đứa.

Tôi vẫn nhớ lần đầu tiên anh ấy nhắc đến bạn gái mình, bởi vì khi ấy tôi vẫn hòng mong anh ấy không có bạn gái. Lúc đó năm người chúng tôi đang ôn thi nước rút để đối phó với kỳ thi giữa kỳ, tôi đang liệt kê các biểu tượng của ngôn ngữ Etruscan thuộc nước Ý: một ngôn ngữ đã chết, đồng thời cũng là một ngôn ngữ cô lập, không có liên hệ với các ngôn ngữ khác... Ngay giữa lúc tôi đang tổng kết, Tây Mông bỗng thốt lên: "Bạn gái tôi, Elsa, cô ấy từng tham gia một chuyến du lịch học tập đến Ý, đã tận mắt nhìn thấy những ngôi mộ Etruscan đáng kinh ngạc đó."

Tất cả chúng tôi đều nhìn anh ấy——giống như là, nói thế nào nhỉ? Bạn phải chú ý điều này, Tây Mông không hề tuyên bố "Bạn gái tôi, nhân tiện nói luôn, giống như thứ ngôn ngữ này vậy, đã chết rồi." Anh ấy nhắc đến cô ấy một cách bàng quang, cứ như thể cô ấy vẫn đang sống sờ sờ, đang ngồi tàu du lịch trên các tuyến đường sắt châu Âu, gửi bưu thiếp từ vùng Tuscany của nước Ý về vậy. Sau vài giây im lặng đến mức khó xử, anh ấy có vẻ lúng túng và lầm bầm tự nói một mình giống như người ta vấp phải sự tranh cãi với chính mình khi đi trên vỉa hè. Tội nghiệp anh chàng, tôi thầm nghĩ, chính vào khoảnh khắc đó, sợi tơ lòng của tôi đã bị khỏa lấp.

Sau giờ học, tôi và Tây Mông thường luân phiên mua cà phê mời đối phương tại quán cà phê Bear's Lair. Ở đó, chúng tôi hòa mình vào tiếng vo ve được tạo ra bởi những cuộc trò chuyện làm thay đổi cuộc đời và sự ngộ ra chân lý của hàng trăm người khác nhau. Chúng tôi thảo luận về chủ nghĩa nguyên thủy như một khái niệm định kiến của phương Tây; thuật ngữ dòng máu hòa trộn là câu trả lời duy nhất cho chủ nghĩa phân biệt chủng tộc; sự mỉa mai, châm biếm, nhại lại chính là hình thức sâu sắc nhất của chân lý. Anh ấy kể cho tôi nghe rằng anh ấy muốn tạo dựng triết học của riêng mình, một thứ triết học sẽ định hướng cho đời sống và công việc của anh ấy, sẽ giúp anh ấy tạo ra những thay đổi mang tính thực chất cho thế giới. Tối hôm đó tôi đã tra từ "thực chất" trong từ điển, để rồi nhận ra rằng tôi cũng cần một cuộc sống có thực chất. Khi ở bên anh ấy, tôi có cảm giác như một phần xuất sắc của bí mật và bản ngã cuối cùng đã được cởi bỏ xiềng xích. Tôi cũng từng hẹn hò với những chàng trai khác thu hút mình, nhưng những mối quan hệ đó hiếm khi vượt qua được cái gọi là khoảng thời gian tốt đẹp thông thường do những buổi tiệc tùng thâu đêm, trò chuyện trong cơn phê pha và đôi khi là tình dục tạo nên, tất cả những thứ đó nhanh chóng trở nên nhạt nhẽo hệt như hơi thở buổi sáng. Ở bên Tây Mông, tôi cười nhiều hơn, suy ngẫm sâu sắc hơn, và cũng cảm thấy vô cùng nhiệt huyết đối với cuộc sống nằm xa ngoài cái tổ ấm nhỏ bé thoải mái của chính mình. Chúng tôi có thể tung hứng các khái niệm qua lại như những vận động viên quần vợt chuyên nghiệp, đọ sức với tâm hồn của đối phương, và khai quật quá khứ của người kia bằng sự nhiệt tình phân tâm học.

Tôi cảm thấy thật kỳ lạ: chúng tôi lại có nhiều điểm chung đến thế. Cả hai chúng tôi đều mất đi một trong song thân trước năm năm tuổi: anh ấy mất mẹ, còn tôi mất cha; chúng tôi đều từng nuôi rùa làm thú cưng: rùa của anh ấy chết sau khi anh vô tình làm rơi chúng vào hồ bơi được xử lý bằng clo; chúng tôi đều cô đơn trong suốt thời niên thiếu, đều bị phó mặc cho những người giữ trẻ——anh bị gửi cho hai người chị chưa chồng của mẹ, còn tôi thì bị bỏ cho Quảng.

"Mẹ tôi đã bỏ mặc tôi trong tay một kẻ chuyên nói chuyện với các hồn ma!" Tôi từng nói với anh ấy như vậy.

“Chúa ơi! Anh thật ngạc nhiên là em không phát điên hơn mức hiện tại đấy.” Cả hai chúng tôi đều phì cười, nhưng tôi cảm thấy việc chúng tôi dùng những chuyện từng khiến mình đau đớn tột cùng ra để đùa cợt như thế có phần hơi thiếu suy nghĩ.

“Mụ già tốt bụng,” tôi nói thêm, “Bà ấy là nhân viên xã hội hoàn hảo nhất, hoàn toàn đắm chìm trong việc giúp đỡ người lạ, nhưng lại phơi bày hậu phương. Bà thà giữ đúng lịch hẹn với thợ làm móng tay còn hơn là nhấc một ngón tay giúp đỡ các con mình. Toàn những lời dối trá! Không phải là bà ấy có bệnh, nhưng, anh biết đấy——”

Tây Mông ngắt lời: “Ừ, ngay cả sự lơ đễnh vô tình cũng có thể gây ra tổn thương suốt đời.” Đây chính xác là điều tôi cảm nhận được nhưng lại không tài nào diễn tả thành lời. Tiếp theo anh ấy lại bóp nghẹt trái tim tôi: “Có lẽ chính sự thiếu quan tâm của bà ấy đối với em đã khiến em trở nên mạnh mẽ như ngày hôm nay.” Anh ấy tiếp tục nói, còn tôi thì hãnh diện gật đầu liên hồi, “Anh đang nghĩ, vì bạn gái của anh——em biết đấy, Elsa—— ồ, cô ấy mồ côi cả cha lẫn mẹ từ khi còn là một đứa trẻ sơ ý. Nói đến ý chí kiên cường—— ừm!”

Đó chính là tình hình giữa chúng tôi, về mọi mặt——thậm chí ở từng điểm nhỏ đều khăng khít không rời. Tôi cảm nhận được chúng tôi thu hút lẫn nhau: về phần tôi, đây là một thứ điện tích tình dục mãnh liệt; còn về phần anh, nó lại giống như sự bám dính của tĩnh điện hơn——anh có thể dễ dàng hất bỏ: “Này, Rajani,” anh ấy sẽ dùng tay nắm chặt lấy bả vai tôi và nói, “Anh rất mệt, phải đi đây. Nhưng nếu cuối tuần này em muốn ôn lại bài tập, hãy gọi cho anh.” Mang theo lời chia tay hờ hững ấy, tôi lê bước nặng nề trở về căn hộ của mình, lãng phí tối thứ Sáu trong sự rảnh rỗi vô tích sự, bởi vì vốn dĩ tôi hy vọng Tây Mông sẽ mời mình đi chơi nên đã từ chối một lời hẹn hò. Khi ấy tôi đang chìm đắm trong sự ngu ngốc của tình yêu dành cho Tây Mông——tự mình đa tình đưa tình liếc mắt, cười khúc khích, đầu óc nhẹ bẫng chẳng biết trôi dạt về đâu, ngu muội đến mức không sao cứu vãn nổi. Đã bao nhiêu lần, khi nằm trên giường, tôi sẽ giả vờ như mình đang co giật vì ham muốn chưa nguôi. Tôi cảm thấy kỳ lạ: Phải chăng mình phát điên rồi? Mình có phải là người duy nhất trở nên hưng phấn thế này không? Dĩ nhiên rồi, anh ấy có bạn gái. Thì sao chứ? Như mọi người đều biết, khi bạn học đại học và đang thay đổi quan điểm của mình về vạn vật, cô bạn gái hiện tại qua một đêm sẽ biến thành cô bạn gái cũ.

Nhưng Tây Mông hình như không hề biết tôi đang tán tỉnh anh ấy. “Em biết anh thích điểm gì ở em không?” anh ấy hỏi tôi, “Em đối xử với anh hệt như một chiến hữu tốt vậy. Chúng ta có thể thảo luận về bất kỳ vấn đề nào mà không bị những chuyện khác xen vào.”

“Chuyện gì khác cơ?”

“Thực ra chúng ta là... ồ, em biết đấy, những chuyện nam nữ ấy mà.”

“Thật á?” tôi nói, ra vẻ kinh ngạc. “Ý anh là, em là con gái còn anh thì là một... em chẳng biết nói thế nào nữa!” Rồi cả hai chúng tôi đều cười lớn xuất phát từ đáy lòng.

Nhưng vào ban đêm, tôi sẽ ấm ức khóc nghẹn, tự nhủ rằng mình thật ngốc nghếch. Đã bao nhiêu lần tôi thề sẽ từ bỏ mọi hy vọng về một mối quan hệ lãng mạn với Tây Mông——cứ như thể có thể dùng ý chí để ngăn bản thân sa vào lưới tình vậy! Ít nhất thì tôi cũng học được cách bày ra vẻ mặt thản nhiên: Tôi tiếp tục đóng vai trò một người chiến hữu vui vẻ, trên mặt treo nụ cười lắng nghe anh ấy nói, trong lòng lại quặn thắt từng cơn. Tôi dự tính trước tình huống tồi tệ nhất. Điều chắc chắn là sớm muộn gì anh ấy cũng sẽ đưa Elsa đến, hệt như thể anh biết cô ấy cũng đang mắc kẹt trong tâm trí tôi vậy.

Sau ba tháng lắng nghe theo kiểu tự hành hạ bản thân, tôi dần hiểu được các chi tiết về cuộc sống của cô ấy: Cô ấy sống ở Thành phố Salt Lake, Tây Mông và cô ấy lớn lên cùng nhau ở đó, từ năm lớp năm, họ vẫn luôn đùa giỡn cãi cọ lẫn nhau; đằng sau đầu gối trái của cô ấy có một vết sẹo dài hai inch, hình dáng và màu sắc giống hệt một con giun đất, đó là di sản kỳ bí từ thời thơ ấu; cô ấy là một vận động viên, từng chèo thuyền kayak, từng mang nặng đi bộ đường dài, đồng thời cũng là một vận động viên trượt tuyết băng đồng thành thạo; cô ấy có năng khiếu âm nhạc, là một nhà soạn nhạc chớm nở, từng học với Arthur Balsam tại một trại hè âm nhạc nổi tiếng ở Blue Hill, Maine. Cô ấy thậm chí còn viết các biến tấu chủ đề của riêng mình dựa trên Biến tấu Goldberg. "Thật á?" Đối với mỗi một điều đáng khen ngợi mà anh ấy kể về cô ấy, tôi đều nói như vậy, "Thật kinh ngạc."

Điều kỳ lạ là anh ấy vẫn luôn dùng thì hiện tại để nhắc về cô ấy, cho nên tôi hoàn toàn tự nhiên cho rằng cô ấy hiện vẫn còn sống. Có một lần, Tây Mông chỉ ra rằng tôi bị dính son môi lên răng, khi tôi vội vàng lau nó đi, anh ấy bồi thêm một câu: "Elsa không trang điểm, thậm chí còn không dùng son môi. Cô ấy không tin vào những thứ đó." Tôi muốn hét toáng lên: Có cái gì mà phải tin với chả không? Cậu không trang điểm thì chính là không trang điểm chứ gì! Đến lúc này tôi thực sự muốn tát cho cô ta một cái: Một cô gái có đạo đức hoàn hảo đến thế, chắc chắn là kẻ tối cổ đáng ghét nhất từng bước đi trên hành tinh này với đôi giày da không làm từ da động vật. Cho dù Elsa có đáng yêu hay tẻ nhạt đến đâu đi nữa, thì điều đó cũng chẳng quan trọng, tôi vẫn sẽ coi thường cô ấy. Trong mắt tôi, Elsa không hề xứng đáng có được Tây Mông. Tại sao cô ta lại xứng đáng có được Tây Mông như một trong những phần thưởng cuộc đời mình chứ? Thứ mà cô ta đáng được nhận chính là một tấm huy chương vàng ném đĩa nữ Olympic; thứ mà cô ta đáng được nhận chính là giải thưởng hòa bình Nobel cứu lấy những chú cá voi non bị trì trệ trí tuệ; cô ta đường đường chính chính là người nên đi chơi đàn phong cầm cho đội hợp xướng giáo hội Mặc Môn.

Mặt khác, Tây Mông lại xứng đáng có được tôi, có được một người có thể giúp anh ấy khám phá những góc khuất bí ẩn trong tâm hồn mình——một lối đi bí mật mà Elsa vẫn luôn dùng sự chỉ trích và phản đối để dựng lên những chướng ngại vật. Nếu tôi ca ngợi Tây Mông——chẳng hạn nói với anh ấy rằng những gì anh nói thật sâu sắc——anh ấy sẽ nói: "Em nghĩ vậy sao? Elsa nói một trong những lỗi lầm lớn nhất của anh là hùa theo bất kỳ thứ gì tốt đẹp và dễ dãi, nhưng lại không suy nghĩ thấu đáo mọi sự việc cho đủ chu đáo."

“Anh không thể tin mọi điều Elsa nói được.”

“Đúng vậy, đó cũng là điều cô ấy nói. Cô ấy ghét việc anh dễ dãi đồng tình với những thứ được ban cho mình như chân lý. Cô ấy tin rằng con người ta phải tin vào trực giác của chính mình, hơi giống cái gã viết cuốn 'Walden' ấy, tên hắn là gì nhỉ, Thoreau phải không. Tóm lại, cô ấy cảm thấy đối với chúng ta, điều quan trọng là phải tranh cãi, để có được tinh hoa và lý do của những gì chúng ta tin tưởng.”

“Em căm ghét cãi vã.”

“Cãi vã mà anh nói không có nghĩa là đánh nhau. Chủ yếu là tranh biện, giống như em và anh đang làm vậy.”

Tôi không thích bị so sánh để rồi phải thất vọng. Tôi cố gắng nói một cách nhẹ nhàng, “Ồ thế à? Vậy hai người thường tranh luận về những gì?”

“Chẳng hạn như những người nổi tiếng có mang trách nhiệm của một biểu tượng hay không chứ không đơn thuần chỉ giống như người thường. Còn nhớ lúc Muhammad Ali từ chối đi lính không?”

“Đương nhiên là nhớ chứ,” tôi nói dối.

“Elsa và anh đều cho rằng ông ấy rất vĩ đại, đã có một lập trường cá nhân chống lại chiến tranh như thế. Nhưng sau đó ông ấy giành lại được danh hiệu vô địch hạng nặng, rồi Tổng thống Ford lại mời ông ấy đến Nhà Trắng. Elsa nói: 'Anh có thể tin được chuyện này không?' Anh nói: 'Mẹ kiếp, nếu anh được mời, anh cũng sẽ đến Nhà Trắng.' Còn cô ấy nói: 'Bị tổng thống của một nước cộng hòa mời á? Vào năm bầu cử ư?' Cô ấy đã viết một lá thư cho ông ấy.”

“Gửi tổng thống á?”

“Không, gửi Muhammad Ali.”

“Ồ, đúng rồi, đương nhiên rồi.”

“Elsa nói em không thể chỉ bàn chuyện chính trị suông hoặc xem nó diễn ra trên TV, em phải làm gì đó, nếu không em sẽ trở thành một phần của nó.”

“Một phần của cái gì cơ?”

“Em cũng biết đấy, chính là sự giả dối. Nó giống như sự suy đồi vậy.”

Tôi tưởng tượng Elsa trông giống như Patty Hearst, đội mũ nồi, mặc quân phục, bên hông đeo một khẩu súng trường tự động.

“Cô ấy tin rằng tất cả mọi người trong cuộc sống đều nên có một lập trường đạo đức tích cực, nếu không thì thế giới này trong vòng ba mươi năm hoặc chưa đầy ba mươi năm nữa sẽ tiêu đời. Rất nhiều bạn bè của chúng ta nói cô ấy là một người bi quan, nhưng cô ấy lại cảm thấy mình là một người lạc quan thực thụ, bởi vì cô ấy muốn làm một số việc theo cách tích cực để thay đổi thế giới này. Nếu em nghĩ kỹ về điều đó, thì cô ấy nói đúng.”

Khi Tây Mông luyên thuyên nhiều hơn về những quan điểm ngớ ngẩn của Elsa, tôi sẽ đắm chìm trong mộng tưởng mà phân tích các đặc điểm ngoại hình của anh ấy, chúng giống như loài tắc kè hoa vậy: Khuôn mặt anh ấy sẽ thay đổi——từ khuôn mặt người Hawaii thành khuôn mặt người Aztec, từ khuôn mặt người Bengal thành khuôn mặt người Bali.

“Bishop rốt cuộc là họ gì vậy?” Một hôm tôi hỏi.

“Đến từ phía cha tôi, là sự cố chấp của một nhà truyền giáo nào đó. Tôi là hậu duệ của dòng họ Bishop——em biết không, gia tộc nổi tiếng ở đảo Oahu ấy? Họ đã đến Hawaii từ một trăm tám mươi năm trước để cảm hóa những kẻ lưu vong và dị giáo, rồi kết cục là kết hôn với hoàng tộc và sở hữu một nửa hòn đảo.”

“Anh đang lừa em đấy à.”

“Không may thay, tôi cũng là hậu duệ của gia đình không thừa kế bất kỳ di sản nào, không có trang trại dứa hay sân golf. Về phía mẹ, chúng tôi là người Hawaii gốc Trung Quốc, có vài nàng công chúa hoàng gia bơi lội trong vũng gen. Nhưng cũng đành lỡ duyên với bất động sản khu nghỉ dưỡng bãi biển.” Rồi anh ấy cười lớn, “Elsa từng nói tôi thừa hưởng sự lười biếng của niềm tin mù quáng từ phía gia tộc truyền giáo, còn từ phía hoàng gia Hawaii, tôi lại thừa hưởng khuynh hướng sai khiến người khác chăm sóc nhu cầu của mình thay vì tự tay làm lấy.”

“Em cho rằng lời nói về bản tính thừa kế là không đáng tin, nghe cứ như thể chúng ta không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc bị định sẵn để trở thành một loại người nào đó. Ý em là, chẳng lẽ Elsa chưa từng nghe nói đến chủ nghĩa định mệnh bao giờ sao?”

Tây Mông có vẻ bối rối, “Ừm,” anh ngẫm nghĩ nói. Trong khoảnh khắc đó, tôi cảm nhận được sự thỏa mãn khi chinh phục được một đối thủ bằng một động tác tinh tế và thành thạo.

Nhưng sau đó anh ấy bình luận: “Chủ nghĩa định mệnh cho rằng tất cả các sự kiện thậm chí cả lựa chọn của con người đều tuân theo quy luật tự nhiên. Thế chẳng phải có nghĩa là nó có vài điểm tương đồng với lời của Elsa sao?”

“Ý em là,” tôi bắt đầu lắp bắp, đồng thời cố gắng hồi tưởng lại những gì mình từng đọc lướt qua trong lớp triết học, “Ý em là, làm sao chúng ta định nghĩa được thế nào là tự nhiên chứ? Ai nói đây là tự nhiên và đây không phải là tự nhiên?” Tôi túm lấy mọi thứ để bấu víu hòng cứu vãn cái tôi đáng thương khỏi rơi xuống nước. “Hơn nữa, gia thế của cô ấy thế nào?”

“Gia đình cô ấy đều là người theo đạo Mặc Môn, nhưng cô ấy được họ nhận nuôi khi mới một tuổi, đặt tên là Elsie. Cô ấy không biết cha mẹ ruột của mình là ai. Nhưng từ khi lên sáu tuổi, khi còn chưa biết đọc bản nhạc, cô ấy đã có thể nghe một bài hát chỉ một lần, rồi tạc đúng từng nốt nhạc, biểu diễn một cách chính xác không sai chút nào. Hơn nữa cô ấy đặc biệt thích Chopin, Paderewski, Mendelssohn, Gershwin, Copland——anh quên mất những người khác rồi. Sau đó cô ấy phát hiện ra mỗi một người trong số họ hoặc là người Ba Lan hoặc là người Do Thái. Chẳng phải điều đó hơi khó tin sao? Cho nên điều đó khiến cô ấy cho rằng bản thân mình có thể là một người Do Thái Ba Lan, và bắt đầu gọi mình là Elsa thay vì Elsie.”

“Em thích Bach, Beethoven và Schumann,” tôi khéo léo nói, “Nhưng điều đó không khiến em trở thành một người Đức.”

“Vẫn chưa hết đâu. Khi cô ấy mười tuổi, có một vài chuyện đã xảy ra, nghe thực sự kỳ lạ vô cùng, nhưng anh thề là chuyện đó có thật, bởi vì anh tận mắt chứng kiến một phần trong số đó. Cô ấy đang ở trong thư viện trường, lật xem một cuốn bách khoa toàn thư; cô ấy nhìn thấy bức ảnh chụp một đứa trẻ đang khóc và gia đình cậu bé bị một đám binh lính vây quanh, phần chú thích nói họ là người Do Thái, đang bị đưa đến trại tập trung Auschwitz. Cô ấy không biết Auschwitz ở đâu, thậm chí cũng không biết đó là trại tập trung. Nhưng cô ấy thực sự ngửi thấy một mùi gì đó kinh khủng, khiến cô ấy run rẩy và câm nín. Tiếp theo cô ấy quỳ xuống, bắt đầu ngâm nga: 'Au... shwitz, Au... shwitz,' những thứ đại loại thế. Thủ thư lắc cơ thể cô ấy, nhưng Elsa không ngừng ngâm nga——cô ấy không thể dừng lại được. Thế nên họ kéo cô ấy đến chỗ y tá Schneebaum của trường. Bà Schneebaum là người Ba Lan, nghe thấy Elsa đang ngâm nga 'Auschwitz' và có hành vi bất thường, tưởng rằng Elsa nói vậy là đang đùa cợt với bà. Này, nghe đây: Cháu đang dùng tiếng Ba Lan để nói từ 'Auschwitz' đấy. Sau khi Elsa thoát khỏi trạng thái xuất thần đó, cô ấy biết được cha mẹ ruột của mình là người Do Thái Ba Lan sống sót trong trại tập trung Auschwitz.”

“Anh nói gì cơ, cô ấy biết á?”

“Cô ấy chỉ biết vậy thôi——giống như đại bàng biết lượn lờ trên các luồng không khí, thỏ biết đứng đờ ra vì sợ hãi vậy. Đây là thứ kiến thức không thể dạy được. Cô ấy nói ký ức của mẹ cô từ trong tim truyền đến tử cung, chúng hiện giờ in hằn không thể xóa nhòa lên vỏ não của cô ấy.”

“Thôi đi!” tôi khinh bỉ nói, “Cô ta nghe giống y hệt chị gái Quảng của em.”

“Sao lại thế được?”

“Ồ, chị ấy cứ đem đủ loại lý thuyết cũ kỹ ra trang điểm chưng diện lại để chiều theo bất cứ thứ gì chị ấy tin tưởng. Dù thế nào đi nữa, bản năng sinh học và ký ức cảm xúc không phải là cùng một thứ. Có lẽ Elsa từng đọc hoặc nghe nói về Auschwitz trước đây, nhưng không nhớ nổi. Anh biết chuyện này thế nào rồi đấy: Người ta sau khi xem ảnh cũ hoặc phim ảnh, qua một khoảng thời gian lại cho rằng đó là ký ức của chính mình. Hoặc là họ có những trải nghiệm như từng trải qua rồi——nhưng thực ra nó chỉ là các khớp thần kinh bị hỏng truyền tải tri giác trực tiếp vào ký ý lâu dài. Ý em là, trông cô ấy có giống người Ba Lan hay người Do Thái không?” Và ngay sau khi tôi nói dứt câu này, tôi lại có một ý nghĩ nguy hiểm, “Anh có ảnh của cô ấy không?” tôi cố gắng hỏi như thể tình cờ nhất có thể.

Khi Tây Mông móc ví ra, tôi có thể cảm thấy trái tim mình đang tăng tốc giống như một chiếc xe đua, chuẩn bị đối mặt với đối thủ cạnh tranh của mình. Tôi sợ cô ấy sẽ sở hữu vẻ đẹp áp đảo——giống như một hào vực nằm giữa Ingrid Bergman được chiếu sáng bởi đèn đường băng sân bay với Lauren Bacall mặt mày ủ dột ngẩn ngơ trong quán bar khói bay mù mịt.

Hiện ra trong bức ảnh là một cô gái thích các hoạt động ngoài trời, bối cảnh là ánh chiều tà lúc chạng vạng, một đầu tóc xoăn làm nền cho một gương mặt buồn rười rượi. Chiếc mũi của cô ấy rất dài, má thì gầy gò trẻ con, môi dưới vì phát âm dang dở mà trề ra, nên trông giống hệt như một chú chó mặt xệ. Cô ấy đang đứng cạnh một chiếc lều cắm trại, hai tay chống hông, lòng bàn tay đặt lên cặp mông săn chắc. Chiếc quần bò tua rua cô ấy mặc bó sát đến mức hằn những nếp nhăn sâu ở vùng háng. Chiếc áo thun tay ngắn cổ tròn cô ấy mặc cũng ngớ ngẩn buồn cười: Chữ "Vấn đề Quyền uy" được viết bằng kiểu chữ thô kệch vắt ngang bầu ngực gồ lên đầy đặn của cô ta.

Tôi thầm nghĩ: Hừm, cô ta vốn chẳng đẹp đẽ gì cho cam, thậm chí còn chẳng có chiếc mũi tẹt tròn xoe đáng yêu, bình thường đến mức giống hệt như một con chó Ba Lan chẳng có chút nhiệt tình nào. Tôi cố gắng kìm nản nụ cười, nhưng tôi quá đỗi vui mừng, lẽ ra phải nhảy một điệu polka rồi mới phải. Tôi thừa biết việc so sánh bản thân với cô ta như vậy là nông cạn và quái đản, nhưng tôi không thể không cảm thấy một thứ ưu việt đầy hạnh phúc, tin chắc rằng mình xinh đẹp hơn, cao ráo hơn, thân hình thon thả hơn và có phong thái hơn. Bạn chẳng cần phải thích Chopin hay Paderewski để nhận ra Elsa là hậu duệ của nông dân Slav. Càng nhìn bức ảnh, tôi càng vui mừng: Cuối cùng cũng nhìn thấy con quỷ dữ đe dọa mình, kết quả lại chẳng đáng sợ hơn miếng đệm đầu gối mặt búp bê của cô ta là bao.

Tây Mông rốt cuộc nhìn thấy điểm gì ở cô ta chứ? Tôi cố gắng khách quan một chút, nhìn nhận cô ấy từ góc độ của nam giới. Cô ta có thể chất cường tráng, điều đó rành rành ra đấy; cô ấy chắc chắn mang lại cho người ta ấn tượng tinh ranh——nhưng đồng thời cũng mang lại cảm giác đe dọa và chán ghét; bầu ngực của cô ta to hơn tôi nhiều lắm, chúng có lẽ có lợi cho cô ta——nếu như Tây Mông ngốc nghếch đến mức thích những quả cầu phúng phính thịt thà, mai sau sẽ chảy xệ đến rốn ấy; có lẽ cậu sẽ nói đôi mắt của cô ấy rất thú vị: đuôi mày hếch lên, trong trẻo có thần. Nhưng nhìn đến cái thứ hai, lại sẽ phát hiện ra chúng gây phiền nhiễu biết bao, lại còn đen ngòm trống rỗng. Cô ta nhìn thẳng vào máy ảnh, ánh mắt vừa sắc bén vừa trống rỗng. Thần thái của cô ấy ám chỉ rằng cô ấy biết tất cả những bí mật về quá khứ và tương lai, mà những bí mật này toàn là những thứ khiến người ta bi thương.

Kết luận của tôi là Tây Mông đã nhầm lẫn giữa sự trung thành và tình yêu. Dù sao thì anh ấy cũng đã quen biết Elsa từ thời thơ ấu. Xét ở mặt nào đó, cậu vẫn phải khâm phục anh ấy vì điều này đấy. Tôi trả lại bức ảnh cho anh ấy, cố gắng không để bản thân lộ ra vẻ đắc ý, “Cô ấy trông cực kỳ nghiêm túc. Đó là thứ di sản được lưu truyền lại khi làm một người Do Thái sao?”

Tây Mông ngắm nghía bức ảnh, “Khi cần, cô ấy có thể trở nên rất thú vị. Cô ấy có thể bắt chước bất cứ ai——tư thế, cách nói chuyện, giọng nước ngoài. Cô ấy vui vẻ, đôi khi cô ấy rất biết cách làm bản thân vui vẻ. Nhưng,” anh ngừng lại một chút, miễn cưỡng nói, “Nhưng em nói đúng, cô ấy chìm đắm trong việc suy ngẫm xem mọi thứ có thể trở nên tốt đẹp hơn bằng cách nào, tại sao chúng lại thành ra như vậy, cho đến khi tự đẩy mình vào cảnh ý chí tiêu điều. Cứ mãi như thế: ủ dột, ra điều nghiêm túc, anh đoán thậm chí em có thể gọi là trầm cảm. Anh không biết nó từ đâu ra nữa. Thỉnh thoảng cô ấy sẽ trở nên, em biết đấy, vô lý đến thế cơ mà.” Giọng anh nhỏ dần, có vẻ bối rối, dường như bây giờ anh đang nhìn nhận cô ấy từ một góc độ hoàn toàn mới, thế nhưng diện mạo của cô ấy lại trở nên vô cùng tầm thường.

Tôi giữ chặt những lời đánh giá trân quý này của anh ấy trong đáy lòng như một thứ vũ khí có thể dùng đến trong tương lai. Tôi không giống Elsa, tôi sẽ là một người lạc quan thực sự, tôi sẽ hành động. Trái ngược với vẻ buồn bã sầu thảm của cô ta, tôi sẽ cởi mở hoạt bát; tôi sẽ thán phục tầm nhìn của Tây Mông, chứ không biến mình thành một tấm gương soi mói; tôi cũng sẽ có lập trường chính trị tích cực, nhưng tôi sẽ luôn nở nụ cười trên môi và cho Tây Mông thấy rằng: Cuộc sống có một người bạn tâm giao tinh thần không nhất thiết phải lúc nào cũng sầu mày uring não và như thể đại họa đến nơi như thế. Tôi quyết tâm làm bất cứ điều gì cần thiết để hất cẳng cô ta ra khỏi tâm trí Tây Mông.

Sau khi nhìn thấy bức ảnh của Elsa, tôi cảm thấy cô ta rất dễ bị thay thế. Tôi thật ngốc nghếch khi không biết rằng thứ tôi cần chỉ là kéo Tây Mông thoát khỏi sự kìm kẹp của một bóng ma. Nhưng ngày hôm đó tôi vô cùng vui vẻ, đến mức nhận lời mời đến nhà Quảng dùng bữa. Tôi mang theo quần áo cần giặt của mình, và chỉ vì sự vui vẻ thú vị, tôi giả vờ nghe theo lời khuyên của cô ấy.

Libby-Ah, để mẹ làm cho, con không biết cách dùng máy giặt của mẹ đâu. Đừng cho nhiều bột giặt quá, cũng đừng dùng nước nóng quá, lúc nào cũng phải lộn mặt trong của túi ra...

Libby-Ah, ây da, sao con lại có nhiều quần áo đen thế chứ? Con phải mặc quần áo màu sắc rực rỡ vào chứ! Hoa nhỏ, hoa chấm bi, màu tím là màu thích hợp với con. Màu trắng, mẹ không thích. Không phải vì mê tín đâu, có người cho rằng màu trắng tượng trưng cho cái chết, chẳng có chuyện đó đâu. Ở cõi âm, có rất nhiều rất nhiều màu sắc mà thậm chí con còn chẳng biết đến, bởi vì con không thể nhìn thấy chúng bằng đôi mắt của mình. Con buộc phải sử dụng cảm giác bên trong của mình, tưởng tượng ra chúng khi trong lòng tràn ngập cảm xúc và ký ức chân thực, vừa cảm thấy vui vẻ lại vừa thấy bi thương. Vui vẻ và bi thương đôi khi xuất phát từ cùng một sự việc, con có biết điều này không?

Dù sao đi nữa, mẹ không thích màu trắng bởi vì nó quá dễ bẩn, quá khó giặt sạch. Nó không thiết thực. Mẹ biết điều này, bởi vì trong kiếp trước của mình, mẹ đã phải giặt rất nhiều quần áo trắng——một đống lớn, một đống lớn, một đống lớn. Đó là cách mẹ kiếm cho mình một chỗ đứng trong đại trạch của thương gia ma quái.

Ngày đầu tiên của mỗi tuần, mẹ bắt buộc phải giặt giũ, ngày thứ hai là ủi quần áo đã giặt, ngày thứ ba là đánh bóng giày da và vá víu quần áo, ngày thứ tư quét dọn sân và lối đi, ngày thứ sáu là lau sàn và lau chùi đồ đạc trong nhà thờ, còn ngày thứ sáu là dành để làm những việc quan trọng.

Mẹ thích ngày thứ sáu nhất. Cô Ban Nam và mẹ đi khắp thôn làng, phát những cuốn sách nhỏ được gọi là "Tin Lành". Cho dù những chữ cái tiếng Anh được in trên những trang giấy này đã biến thành chữ Trung Quốc, mẹ cũng không thể đọc hiểu chúng. Vì mẹ không biết đọc, mẹ cũng không thể dạy cô Ban Nam đọc. Mà ở khu vực nghèo đói của ngôi làng mà chúng tôi đi qua này, cũng chẳng có ai biết chữ. Nhưng mọi người đều rất vui vẻ đón nhận những cuốn sách nhỏ đó. Họ dùng chúng làm vật nhồi cho quần áo mùa đông, đậy chúng lên bát cơm để che ruồi, lấy chúng dán lên những khe nứt trên vách tường. Cứ cách vài tháng, sẽ có thuyền từ Quảng Châu đến, mang theo những thùng sách nhỏ. Cho nên vào ngày thứ sáu của mỗi tuần, chúng tôi luôn có rất nhiều sách nhỏ phải phát đi tận tay mọi người. Nhưng chúng tôi nào có hay biết, những gì chúng tôi thực sự trao cho họ lại chính là vô số rắc rối trong tương lai.

Khi chúng tôi vui vẻ trở về đại trạch của thương gia ma quái với hai bàn tay không, Lão Lỗ sẽ biểu diễn cho chúng tôi xem một màn ảo thuật nhỏ: Lão trèo lên một chiếc cột, rồi nhanh chóng đi lại trên gờ mái nhà, còn chúng tôi thì hò hét đến nghẹt thở: "Đừng ngã xuống đấy!" Tiếp theo lão sẽ quay người lại, nhặt một viên gác đặt lên đỉnh đầu, rồi trên đó lại đặt thêm một chiếc tách trà, một cái chén, một cái chậu——đủ mọi loại kích cỡ và trọng lượng khác nhau. Lão sẽ lại một lần nữa bước đi dọc theo gờ mái nhà mỏng manh đó, trong khi đó chúng tôi thì vừa thét vừa cười. Tôn nghĩ đây luôn là cách lão ta vắt óc tìm cách vớt vát lại sĩ diện từ vụ lão cùng cô Ban Nam và chiếc ráp của cô ấy rơi xuống sông.

Ngày thứ bảy, dĩ nhiên rồi, là phải đi nhà thờ, rồi buổi chiều thì nghỉ ngơi: trò chuyện trong sân, ngắm hoàng hôn, quan sát các vì sao hoặc vào những ngày mưa giông. Đôi khi tôi ngắt lá từ một loại cây bụi mọc trong sân, Lão Lỗ luôn đến sửa lưng tôi: "Đó không phải là cây bụi, đó là cây thánh. Nhìn đây này," lão sẽ duỗi thẳng cánh tay đứng ở đó, giống như một con ma đi trong đêm tối, tuyên bố rằng tinh khí tự nhiên đó hiện đang từ cành cây chảy vào người lão, "Con ăn chiếc lá đó," lão nói, "Con sẽ tìm thấy sự bình yên và cân bằng nội tâm, coi thường tất cả mọi người." Cho nên mỗi Chủ nhật, tôi đều dùng những chiếc lá đó pha trà; tặng cho Lão Lỗ đã biểu diễn như một món quà cảm ơn. Cô Ban Nam lúc nào cũng đến uống một ít. Tuần nào tôi cũng nói: "Này, Lão Lỗ, anh nói đúng, trà làm từ cây bụi này đúng là khiến người ta cảm thấy bình yên." Rồi lão sẽ nói: "Đó chẳng phải thứ cây phân chó vớ vẩn nào đâu, đó là cây thánh." Cho nên con thấy đấy, những chiếc lá đó chẳng hề chữa khỏi cái tật chửi thề của lão chút nào, thật tệ quá.

Sau ngày thứ bảy, lại một lần nữa là ngày đầu tiên, tức là ngày mà bây giờ tôi sẽ kể đến. Giống như tôi đã nói, tôi phải giặt quần áo bẩn.

Tôi giặt quần áo ở hành lang lớn sát ngay nhà bếp. Sàn của hành lang này được lát bằng đá, bên trên không có mái che nhưng có một cái cây lớn che bóng râm. Suốt cả buổi sáng, tôi vẫn luôn để hai nồi nước vôi lớn sôi sùng sục——dùng hai nồi là vì các nhà truyền giáo không cho phép tôi để quần áo của nam giới và phụ nữ cùng bơi lội trong một thứ nước nóng như vậy. Trong một nồi tôi rắc long não, còn nồi kia thì rắc quế——ngửi lên giống như cây long não vậy. Cả hai đều có tác dụng đề phòng mọt ăn. Trong nồi nước long não, tôi luộc áo sơ mi trắng cùng đồ lót sát người của mục sư Amen và bác sĩ "Quá muộn", tôi cũng luộc bộ đồ giường ngủ của họ và những mảnh khăn vải mà họ thường dùng để lau mũi và trán. Trong nồi nước quế đó, tôi luộc áo cánh của các phu nhân, đồ lót sát người, bộ đồ giường ngủ của họ và những mảnh vải họ dùng để lau mũi.

Tôi trải quần áo ướt lên mặt cối xay đá cũ, rồi quay trục cối xay đá để vắt cạn nước trong quần áo. Tôi đặt quần áo đã vắt khô vào hai cái giỏ, quần áo nam và nữ vẫn để riêng; đem phần nước long não còn thừa hắt lên sàn nhà bếp, lại đổ phần nước quế còn lại xuống sàn hành lang, rồi xách giỏ đi qua khung cửa để vào sân sau. Ở đó dọc theo bức tường có hai cái chuồng, một chuồng nuôi la, chuồng còn lại nuôi một con trâu nước. Giữa hai cái chuồng căng chặt một sợi dây thừng, đó chính là nơi tôi phơi khô quần áo đã giặt sạch này.

Bên trái tôi là một bức tường khác, trên tường có một cánh cửa thông đến một khu vườn lớn dùng để tản bộ, xung quanh khu vườn được bao bọc bởi những bức tường đá cao. Đây là một nơi xinh đẹp, từng có thời gian được chăm sóc bởi rất nhiều thợ làm vườn, hiện tại thì đã bị lơ là và hoang phế. Cây cầu đá và non bộ vẫn sừng sững ở đó, nhưng cái ao bên dưới thì đã cạn khô, không cá không tôm, chỉ có cỏ dại. Mọi thứ trong khu vườn——những bụi cây nở hoa, cành cây, cỏ dại và dây leo——đều quấn quýt lấy nhau. Trên những lối mòn trong vườn phủ dày lá cây và cánh hoa của hai mươi năm, dưới chân tôi mềm mại và mát lạnh đến thế. Con đường nhỏ uốn lượn vòng vèo với bố cục đáng kinh ngạc, khiến tôi mơ mộng rằng mình đang leo núi Cát để trở về. Đỉnh của một trong những gò đất đó có kích thước vừa đủ để chứa một tiểu đình, trong tiểu đình có những chiếc ghế đá phủ rêu, ở trung tâm mặt sàn bằng đá là một hố lửa. Từ tiểu đình này, tầm nhìn của tôi có thể vượt qua bức tường cao để nhìn thấy ngôi làng, nhìn thấy những đỉnh núi đá dung nham và mái vòm đi vào thung lũng tiếp theo. Mỗi tuần, sau khi giặt quần áo xong, tôi lại ngâm trứng vịt trong nước vôi còn thừa, rồi đem chúng chôn vào khu vườn để muối. Sau khi làm xong việc này, tôi sẽ đứng trong tiểu đình, trong lòng tưởng tượng rằng thế giới bên ngoài bức tường mà tôi nhìn thấy là của riêng tôi. Tôi đã mơ mộng vẩn vơ như thế suốt mấy năm trời, cho đến một hôm Lão Lỗ nhìn thấy tôi đứng ở đó, lão nói: "Này đồ khốn kiếp, đừng lên trên đó nữa, đây là nơi mà thương gia bản địa chết, ngay trong tiểu đình đó."

Lão Lỗ nói, có một tối nọ, người thương gia đó đứng ở đó, còn bốn người vợ của ông ta thì chờ ở dưới gò đất. Ông ta nhìn bầu trời, nhìn thấy một đám mây đen xì giống như đàn chim đen. Người thương gia nguyền rủa chúng, sau đó trên người liền bốc cháy. Ồ! Ngọn lửa bùng cháy dữ dội, mỡ trên người thương gia xèo xèo văng tung tóe khắp nơi, bên dưới tiểu đình, bốn người vợ hoảng sợ của ông ta ngửi thấy mùi ớt và tỏi chiên xù nồng nặc. Chỉ trong khoảnh khắc đó, ngọn lửa vụt tắt, khói bốc lên theo hình dáng của người thương gia, bị gió thổi tán đi. Khi những người vợ của ông ta rén rén bước lên tiểu đình, họ phát hiện chẳng có tro tàn nào cả, chỉ còn lại đôi chân và đôi giày của ông ta ở đó, thứ để lại còn có mùi hương kinh khủng và thơm phức.

Sau khi Lão Lỗ kể cho tôi nghe câu chuyện này, mỗi khi tôi ra phơi quần áo đã giặt, ra vườn chôn trứng vịt, tôi đều thấp thỏm không yên vì mùi hương đó. Tôi ngửi thấy mùi long não, mùi quế, mùi lá cây héo úa cũng như mùi cây bụi đang nở hoa. Nhưng vào ngày mà tôi đang nhắc đến lúc này, tôi cảm thấy mình ngửi thấy mùi của tên thương gia ma quái đó, ngửi thấy sự sợ hãi cái chết của hắn, vô cùng nồng nặc, chính là mùi ớt và tỏi, có lẽ cũng có một chút mùi giấm. Thời tiết ngày hôm đó nóng như thiêu đốt, chính là tháng mà ve sầu trồi lên mặt đất sau bốn năm trốn kỹ. Ve sầu đang cất tiếng kêu: Ve sầu đực ré lên gọi ve sầu cái, con nào con nấy đều cố gắng kêu to hơn tất cả. Một con mắt của tôi vẫn luôn liếc nhìn về phía cửa ra vào, để đề phòng tên thương gia ma quái đó xuất hiện ở đó, để tìm lại đôi chân của mình. Tôi nghe thấy một tiếng xào xạc, có tiếng lá khô vỡ vụn, tiếng cành cây nhỏ gãy giòn, tiếng chim đen vội vã tung cánh bay lên từ bụi cây, tản mát đi bốn phía, tiếng ve sầu cũng chìm vào tĩnh lặng.

Xương cốt tôi đều run lên bần bật. Tôi muốn bỏ chạy, nhưng tôi nghe thấy hồn ma nữ thổ phỉ trong lòng mình đang nói: "Sợ hãi à? Sao mày có thể bị dọa sợ bởi một tên thương gia bản địa không có chân chứ? Vào xem hắn ở đâu đi." Lúc này tôi vừa sợ đến mất mật, vừa cảm thấy xấu hổ vì điều đó. Tôi cẩn thận bước đến cửa, nhìn trộm vào bên trong. Khi ve sầu bắt đầu kêu râm ran trở lại, tôi chạy vội vào khu vườn, chân bước trên lớp lá khô phát ra tiếng cọt kẹt cọt kẹt. Tôi lao qua chiếc cầu đá, đi ngang qua cái ao khô cạn, trèo lên những gò đất nhấp nhô. Khi tiếng ve sầu kêu đổi điệu, tôi dừng bước, bởi vì tôi biết đám ve sầu đó sắp sửa chìm vào tĩnh lặng vì cạn kiệt sức lực. Tôi cứ thế lợi dụng tiếng kêu của chúng để chạy, dừng lại, rồi lại chạy, lại dừng lại, cho đến khi tôi đứng ở chân sườn núi đủ lớn để xây một tiểu đình nhỏ. Khi tiếng ve sầu ngừng kêu, tôi vừa đi vòng quanh gò đất, vừa nhìn chằm chằm vào một người đàn ông đang ngồi trên ghế đá ăn một quả chuối nhỏ. Tôi chưa từng nghe nói có con ma nào ăn chuối cả. Dĩ nhiên rồi, kể từ sau đó, những con ma khác từng kể với tôi rằng chúng đôi khi sẽ giả vờ ăn chuối, nhưng tuyệt đối không bao giờ dùng loại chuối có rất nhiều đốm đen như thế này——mà thứ này lại đang được cầm bởi người đàn ông trước mắt.

Khi người đàn ông đó nhìn thấy tôi, anh ta vội vàng đứng phắt dậy. Anh ta sở hữu một khuôn mặt tao nhã và đặc biệt, không giống mặt người Trung Quốc, cũng chẳng giống mặt người nước ngoài. Anh ta mặc trang phục của một quý ông. Tôi từng gặp người đàn ông này trước đây, điều này tôi hoàn toàn chắc chắn. Tiếp theo tôi nghe thấy tiếng động truyền đến từ phía bên kia gò đất: Tiếng dòng nước bắn tung tóe đập vào vách đá; tiếng thở dài của một người đàn ông; tiếng bước chân dẫm lên đống lá rụng của hai mươi năm. Tôi nhìn thấy ánh chớp từ đầu gậy chống bằng bạc, cùng với gương mặt hóp vào của người đàn ông sở hữu chiếc gậy này. Tay anh ta đang bận rộn cài rất nhiều chiếc cúc trên quần. Anh ta chính là Tướng quân Cape, còn người đàn ông tao nhã đang ăn chuối chính là kẻ lai mang tên Một Nửa.

Chà! Ngay trước mắt chính là người đàn ông mà tôi từng cầu nguyện được quay về bên cô Ban Nam. Về sau thì tôi lại cầu nguyện anh ta cút đi thật xa, nhưng chắc là số lần cầu Chúa chưa đủ cho nên không linh nghiệm.

Cape gầm lên cái gì đó với Một Nửa, sau đó Một Nửa nói với tôi: "Cô Mộc, vị tiên sinh này là một vị tướng quân nổi tiếng người Mỹ. Căn nhà này có phải là nơi ở của những người theo đạo Bái Thượng Giáo không?"

Tôi không trả lời. Tôi nhớ tới người đàn ông quay về núi Cát từng nói: Tướng quân Cape đã biến thành kẻ phản bội chống lại người Khách Gia. Tôi nhìn thấy Tướng quân Cape đang chăm chú nhìn đôi giày của tôi, anh ta lại mở miệng nói, rồi Một Nửa phiên dịch: "Vị phu nhân cho cô đôi giày da này là bạn rất tốt của tướng quân, bà ấy đang nóng lòng muốn gặp mặt ông ấy."

Cứ như thế, đôi giày da có đôi chân của tôi ở bên trong đã dẫn dắt hai người đàn ông này đến trước mặt cô Ban Nam. Một Nửa nói không sai, cô ấy quả thực đang rất nóng lòng muốn gặp Tướng quân Cape. Cô ấy dang rộng cánh tay ôm lấy anh ta, để anh ta tung mình lên không trung. Tất cả chuyện này diễn ra ngay trước mắt mục sư Amen và phu nhân Amen. Mục sư Amen và phu nhân mặc dù là chồng vợ, nhưng chưa từng chạm vào nhau, thậm chí trong phòng riêng của họ cũng sẽ không có những cử chỉ động chân động tay——đây là do Lão Lỗ nói cho tôi biết. Sau đó vào đêm muộn, khi tất cả mọi người đáng lẽ phải đi ngủ nhưng thực chất lại không hề ngủ, cô Ban Nam mở cửa phòng mình ra, Tướng quân Cape nhanh chóng đi từ phòng anh ta vào phòng cô ấy. Tất cả mọi người đều nghe thấy động tĩnh này: Bởi vì chúng tôi không có cửa sổ, chỉ có bình phong bằng gỗ.

Tôi biết cô Ban Nam sẽ gọi tướng quân đến phòng cô ấy. Vào khoảng thời gian sớm hơn của đêm hôm đó, tôi từng nói với cô ấy rằng Cape là kẻ phản bội của người Khách Gia, và anh ta cũng sẽ không chung thủy với cô ấy. Cô ấy vô cùng tức giận với tôi, cứ như thể tôi nói những chuyện này là đang nguyền rủa cô ấy vậy. Cô ấy nói Tướng quân Cape là một anh hùng, ông ấy bỏ lại cô ở Quảng Châu chỉ để đi giúp phong trào Bái Thượng Giáo mà thôi. Thế là tôi liền kể tiếp cho cô ấy nghe những lời mà người đàn ông quay về núi Cát đã nói: Tướng quân Cape vì vàng mà đã cưới con gái của một chủ ngân hàng Trung Quốc. Cô ấy nói trái tim tôi là miếng thịt thối, còn lời nói của tôi là giòi bọ do lời đồn nuôi béo. Cô ấy nói nếu tôi tin những chuyện về Tướng quân Cape này, thì tôi không còn là người bạn trung thành của cô ấy nữa.

Tôi nói với cô ấy: "Nếu cô sớm đã tin chắc vào một chuyện nào đó, sao cô có thể đột ngột ngừng tin tưởng chứ? Nếu cô là một người bạn trung thành, sao cô lại có thể không còn là bạn nữa chứ?" Cô ấy không trả lời.

Đêm khuya, tôi nghe thấy tiếng nhạc từ chiếc hộp âm nhạc——chính là chiếc hộp âm nhạc mà cha cô Ban Nam đưa cho cô ấy khi cô còn là một thiếu nữ——phát ra. Tôi nghe thấy khúc nhạc khiến phu nhân Amen rơi lệ lã chã, thế nhưng giờ đây khúc nhạc này lại khiến một người đàn ông đi hôn một cô gái. Tôi hết lần này đến lần khác nghe thấy tiếng thở dài của cô Ban Nam, niềm vui của cô ấy nhiều đến mức trào ra ngoài, thấm vào phòng tôi, biến thành những giọt nước mắt bi thương.

Tôi lại bắt đầu giặt quần áo của mình trong nhà của Quảng. Trước đây thường là Tây Mông lo việc giặt giũ——đó là một trong những lợi ích khi kết hôn với anh ấy. Anh ấy thích dọn dẹp phòng ốc, giũ sạch những tấm ga giường sạch sẽ, rồi trải chúng thật phẳng phiu ngay ngắn lên giường. Kể từ khi anh ấy rời đi, tôi đành phải tự giặt quần áo của chính mình. Máy giặt xu nằm ở tầng hầm tòa nhà tôi ở, mà mùi ẩm mốc cùng ánh đèn mờ ảo ở đó khiến thần kinh tôi căng như dây đàn, bầu không khí ấy kích thích trí tưởng tượng của tôi. Tuy nhiên Quảng cũng y hệt như vậy.

Tôi luôn đợi cho đến khi số đồ lót sạch của mình mặc hết, rồi đem ba túi đồ giặt to tướng ném vào xe hơi, lái đến đường Balboa. Ngay cả bây giờ, khi nhét quần áo của mình vào máy sấy của Quế, tôi vẫn đang nghĩ đến câu chuyện mà cô ấy đã kể cho tôi nghe vào ngày mà tôi tràn đầy hy vọng về tình yêu. Khi cô ấy kể đến đoạn niềm vui biến thành nỗi buồn, tôi nói: "Quảng, tôi không muốn nghe những điều này nữa."

"Hả? Tại sao?"

"Nó làm tôi không vui. Mà bây giờ, tôi lại muốn duy trì tâm trạng tốt."

"Có lẽ tôi kể thêm cho cô vài chuyện nữa, cô sẽ không thấy không vui nữa đâu. Cô biết sai lầm mà tiểu thư Ban Nạp đã phạm phải——"

"Quảng," tôi nói, "tôi không muốn nghe chuyện về tiểu thư Ban Nạp nữa, hoàn toàn không muốn nghe nữa."

Thật là một sức mạnh lớn lao làm sao! Thật là nhẹ nhõm biết bao! Tây Mông khiến tôi cảm thấy mình thật mạnh mẽ, điều này thực sự khiến tôi ngạc nhiên. Tôi đã có thể đối kháng với Quảng rồi. Tôi đã có thể quyết định bản thân nên lắng nghe ai và tại sao phải nghe, tôi đã có thể ở bên một người giống như Tây Mông——thực tế, ngăn nắp, hợp tình hợp lý——rồi.

Tôi chưa từng nghĩ rằng anh ấy cũng sẽ dùng những bóng ma để lấp đầy cuộc sống của tôi.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.