Mẹ tôi lại có thêm một bạn trai mới tên là Jamie Geoffroy. Tôi chẳng cần gặp cũng biết anh ta có gương mặt khôi ngô, tóc đen, sở hữu một thẻ xanh và nói chuyện mang giọng địa phương đặc sặc. Còn mẹ tôi sau đó sẽ hỏi tôi rằng: "Anh ta có sự cuồng nhiệt của tình yêu không?" Đối với bà, nếu một người đàn ông phải vắt óc tìm kiếm những từ ngữ thích hợp, nếu anh ta run rẩy thốt lên từ "yêu" thay vì đơn giản nói "thích", thì những từ ngữ ấy mới mang lại cảm xúc nồng nhiệt hơn.
Dù lãng mạn là thế, mẹ tôi lại đồng thời là một người rất thực tế. Bà cần bằng chứng của tình yêu: những món quà đáng lẽ nên nhận được. Một bó hoa, những buổi học khiêu vũ, những lời thề non hẹn biển chẳng đổi dời — tất cả những điều đó đều phải do người đàn ông quyết định. Tất nhiên Louise cũng có những lý luận riêng về việc dâng hiến cho tình yêu: từ bỏ hút thuốc vì anh ta và trải qua một tuần giảm cân tại khu nghỉ dưỡng suối nước khoáng, nhưng ngặt nỗi bà lại thích đến suối bùn khoáng Calistoga hoặc khách sạn Sonoma Embassy hơn. Bà cho rằng những người đàn ông biết đến kiểu trao đổi này đều đến từ các quốc gia trỗi dậy — bà chưa bao giờ thốt ra cụm từ "Thế giới thứ ba". Những thuộc địa dưới ách cai trị chuyên chế của nước ngoài quả thực vô cùng xuất sắc. Khi đàn ông từ các quốc gia trỗi dậy không phù hợp, bà sẽ chuyển hướng sang đàn ông Ireland, Ấn Độ, Iran. Bà kiên định tin rằng những người đàn ông từng chịu đựng áp bức và kinh tế chợ đen sẽ hiểu rõ khủng hoảng luôn rình rập khắp nơi, họ sẽ dốc toàn lực để cố gắng chiếm trọn trái tim bạn, và họ cũng rất sẵn lòng thực hiện các giao dịch. Thông qua những tư tưởng chỉ đạo này, mẹ tôi đã tìm thấy tình yêu đích thực, với tần suất nhiều tương đương việc bà cai thuốc lá triệt để.
Không sai chút nào, tôi vô cùng căm ghét mẹ mình. Sáng nay, bà hỏi tôi có thể tiện đường ghé thăm hay không, để tôi được vui vẻ một chút. Thế rồi bà dành tận hai tiếng đồng hồ để đem cuộc hôn nhân thất bại của tôi ra so sánh với cuộc sống chung của bà và Bob. Thiếu vắng sự cam kết của nghĩa vụ, không muốn hy sinh, chỉ nhận mà không cho — đó là những khuyết điểm chung mà bà nhận thấy ở Tây Mông và Bob, trong khi bà và tôi đều là "từ tận đáy lòng cho đi, cho đi, cho đi". Bà đòi tôi một điếu thuốc, rồi đến một que diêm.
"Mẹ đã thấy trước điều này," bà vừa nói vừa hít một hơi thật sâu, "Mười năm trước, còn nhớ lần Tây Mông đi Hawaii nhưng lại để mặc đứa con đang bị cảm cúm là con ở nhà không?"
"Con bảo anh ấy đi đấy chứ. Chúng con mua vé máy bay không thể hoàn tiền, mà anh ấy chỉ bán được một vé." Sao tôi lại phải bênh vực anh ta làm gì nhỉ?
"Con đang ốm, đáng lẽ anh ta phải nấu súp gà cho con uống, chứ không phải tung tăng trên bãi biển."
"Anh ấy đang tung tăng với bà của anh ấy, người đã bị tai biến mạch máu não rồi." Tôi bắt đầu nói bằng giọng khàn đọng lại như một đứa trẻ.
Bà mỉm cười đầy thông cảm với tôi, "Cục cưng à, con hoàn toàn không cần phải chối cãi nữa đâu. Mẹ hiểu cảm giác của con. Mẹ là mẹ của con cơ mà?" Bà dập tắt điếu thuốc, đoạn trưng ra vẻ mặt nhân viên công tác xã hội khô khan quen thuộc của mình, "Tây Mông không yêu con cho lắm, bởi vì chính anh ta, chứ không phải con, thiếu vắng cảm xúc yêu đương. Con vô cùng đáng yêu, và chẳng có lỗi lầm gì cả."
Tôi cứng ngắc gật đầu, "Mẹ, bây giờ con thực sự phải đi làm rồi."
Bà đứng dậy nói: "Con cứ đi trước đi, mẹ uống nốt cốc cà phê đã," rồi liếc nhìn đồng hồ, "Nhân viên kiểm dịch lúc mười giờ sẽ đến phun thuốc diệt bọ chét cho căn hộ của mẹ. Chỉ để cho an toàn thôi, mẹ muốn đợi thêm một tiếng nữa rồi hãy về."
Và bây giờ tôi đang ngồi trước bàn làm việc của mình, chẳng thể làm nổi việc gì, toàn thân trống rỗng như thể bị rút sạch sức lực. Quỷ tha ma bắt, sao bà lại có thể thấu tỏ khả năng yêu đương của tôi cơ chứ? Rốt cuộc bà có biết rõ có bao nhiêu lần chính bà đã vô tình tổn thương tôi hay không? Bà phàn nàn rằng tất cả thời gian ở bên Bob là một sự lãng phí cực độ, thế còn tôi thì sao? Những khoảng thời gian bà không ở bên tôi thì tính sao đây? Chẳng lẽ đó cũng không phải là một sự lãng phí hay sao? Thế nhưng tại sao bây giờ tôi còn phải lãng phí tinh lực để nghĩ về chuyện này nữa? Chẳng phải tôi lại biến thành một đứa trẻ hay khóc nhè đó sao? Hồi đó tôi mới mười hai tuổi, úp mặt xuống giường, cắn chặt một góc gối để Quảng không nghe thấy những tiếng nấc nghẹn ngào ngắt quãng của mình.
"Ly-a," Quảng nhẹ giọng lên tiếng, "Có chuyện gì không ổn vậy? Người không khỏe à? Ăn đại tiệc Giáng sinh nhiều quá đấy phỏng? Lần sau tôi làm nhạt bớt đi vậy... Ly-a, cô có thích món quà của tôi không? Không thích thì nói cho tôi biết nhé? Tôi đan lại cho cô một chiếc khác. Cô bảo tôi lấy màu gì đi, tôi chỉ mất một tuần là đan xong thôi. Đan xong, gói lại, hệt như lặp lại một niềm bất ngờ nữa vậy... Ly-a? Tôi nghĩ bố mẹ từ Công viên Quốc gia Yosemite về sẽ mua quà đẹp cho cô đấy, cả ảnh chụp nữa. Cảnh tuyết đẹp đẽ, đỉnh núi muôn trùng... Đừng khóc nữa! Không! Không! Cô không có ý đó, sao cô có thể hận mẹ mình cơ chứ? ... Hả? Cả bố Bob nữa ư? Ồ, phen này thì hỏng bét rồi..."
Ly-a, Ly-a, tôi bật đèn lên được chứ? Tôi muốn cho cô xem cái này...
Được rồi, được rồi! Đừng có nổi cáu lung tung chứ! Xin lỗi, tôi tắt đi là được chứ gì. Cô thấy chưa? Lại tối đen như mực rồi phải không? Đi ngủ tiếp đi thôi... Cái tôi muốn cho cô xem là chiếc bút máy rơi ra từ túi quần của bố Bob cơ... Cô nghiêng người về phía này, sẽ thấy một vị phu nhân mặc trang phục màu xanh; nghiêng sang phía bên kia, òa! — quần áo tụt xuống rồi. Tôi không gạt cô đâu, tự mình qua đây xem đi. Tôi bật đèn lên đây, cô chuẩn bị xong chưa? ... Ồ, Ly-a, mắt cô sưng húp lên trông như quả mận rồi kìa! Lấy khăn ướt đắp lên mắt đi, ngày mai chúng sẽ đỡ ngứa hơn đấy... Chiếc bút máy đó á? Lúc chúng ta đang làm lễ thánh chủ nhật, tôi thấy nó tuột ra khỏi túi của ông ta. Bởi vì ông ta giả vờ đang cầu nguyện nên không phát hiện ra. Tôi biết việc cầu nguyện của ông ta chỉ là làm ra vẻ mà thôi, hừ hừ hừ, bởi vì đầu ông ta cứ gục xuống thế này — bốp! — và ông ta còn đang ngáy nữa chứ: khò — khò! Thật đấy! Tôi khẽ đẩy ông ta một cái, ông ta không tỉnh dậy, nhưng cái mũi của ông ta thì không phát hiện ra âm thanh kiểu đó nữa. À, cô thấy chuyện đó buồn cười lắm sao? Thế sao cô lại cười chứ?
Dù sao đi nữa, một lát sau, khi tôi đang ngắm hoa Giáng sinh, nến, kính màu, quan sát vị mục sư vung vẩy chiếc đèn lồng đang bốc khói, đột nhiên, tôi nhìn thấy Chúa Jesus đi xuyên qua làn khói đó tới! Phải, chính là Chúa Jesus! Tôi thầm nghĩ ngài đến để thổi tắt nến sinh nhật của mình. Tôi tự nhủ, cuối cùng mình cũng được gặp ngài rồi — bây giờ tôi đã là một tín đồ Thiên Chúa giáo rồi! Ồ, tôi vô cùng kích động, đến mức bố Bob cũng tỉnh giấc và đẩy ngã tôi xuống.
Tôi tiếp tục mỉm cười nhìn Chúa Jesus, nhưng sau đó tôi mới nhận ra — hả? — người đàn ông kia không phải Chúa Jesus, mà là người quen cũ Lão Lỗ của tôi! Ông ấy chỉ tay vào tôi cười lớn, "Đồ ngốc," ông ấy nói, "Tao không phải Chúa Jesus! Này, mày tưởng ngài ấy có cái đầu hói giống tao chắc?" Lão Lỗ bước về phía tôi, ông ấy quơ quơ tay trước mặt bố Bob, chẳng có chuyện gì xảy ra cả. Lão Lỗ dùng ngón út chọc vào trán bố Bob như con ruồi, bố Bob liền giơ tay tát cho mình một cái đát. Lão Lỗ thong thả rút chiếc bút máy đồi trụy từ túi của bố Bob ra, lăn nó vào một nếp gấp váy của tôi.
"Này," Lão Lỗ nói, "Sao mày vẫn cứ thích đến nhà thờ của bọn ngoại quốc thế? Mày tưởng một cục chai ở mông sẽ giúp mày nhìn thấy Chúa Jesus chắc?"
Đừng cười, Ly-a. Lão Lỗ nói năng thô lỗ thật đấy, tôi cảm thấy ông ấy đang nhớ lại khoảng thời gian cuối cùng chúng tôi ở bên nhau trước khi chết. Khi ấy ông ấy và tôi Chủ nhật nào cũng phải ngồi trên chiếc ghế băng cứng hai tiếng đồng hồ. Tuần nào cũng vậy đấy! Cô Ban Nạp cũng thế. Chúng tôi đi nhà thờ bao nhiêu năm trời, mà chưa từng nhìn thấy Thượng Đế hay Chúa Jesus, cũng chưa từng thấy Maria — dù rằng vào lúc đó được gặp bà ấy không phải là chuyện quá quan trọng. Vào những ngày tháng ấy, bà ấy cũng là mẹ của Chúa Jesus đồng thời là vợ lẽ của cha ngài. Bây giờ thì đi đến đâu cũng Maria thế này, Maria nọ! — Thánh mẫu Maria già, ơn cứu trợ của Maria, Maria Mẹ Thiên Chúa, xin hãy tha thứ cho tội lỗi của tôi. Tôi rất mừng vì bà ấy đã được thăng chức, nhưng như tôi đã nói, vào những năm tháng ấy, những người theo đạo Thiên Chúa không nhắc đến bà ấy quá nhiều. Thế nên thứ tôi phải bận tâm duy nhất chỉ là gặp Thượng Đế và Chúa Jesus. Chủ nhật nào những người theo đạo Thiên Chúa cũng hỏi tôi rằng: "Con có tin không?" Thế nhưng tôi buộc phải đáp lại bằng sự phủ nhận. Tôi muốn nói vâng để tỏ ra lịch sự hơn, nhưng như vậy là tôi đang nói dối, và khi tôi chết đi, họ có lẽ sẽ tìm tôi, bắt tôi chịu đựng hai hình phạt từ con ác quỷ ngoại quốc: một là vì tội không tin, hai là vì tội giả vờ tin. Tôi cho rằng bản thân không thể nhìn thấy Chúa Jesus là bởi vì tôi có đôi mắt của người Trung Quốc. Nhưng sau đó tôi phát hiện ra cô Ban Nạp cũng chưa từng nhìn thấy Thượng Đế hoặc Chúa Jesus. Cô ấy bảo với tôi cô ấy không phải là một người vô cùng sùng đạo.
Tôi hỏi: "Tại sao lại như vậy hả cô Ban Nạp?"
Cô ấy đáp: "Trước kia tôi từng cầu xin Thượng Đế cứu rỗi các anh em của mình, tôi cầu xin ngài tha thứ cho mẹ tôi, tôi cầu xin cha tôi có thể trở về bên cạnh tôi. Tôn giáo dạy con người ta rằng đức tin sẽ chăm sóc cho hy vọng, nhưng bây giờ tất cả hy vọng của tôi đều đã tiêu tan rồi, vậy tại sao tôi còn cần đến đức tin nữa chứ?"
"Than ôi," tôi nói, "Điều này thật đáng buồn biết bao! Chị thực sự không còn hy vọng nào nữa sao?"
Cô ấy đáp: "Chỉ còn sót lại vài cái ít ỏi, hơn nữa chẳng có cái nào đáng để cầu nguyện cả."
"Thế còn người trong mộng của chị thì sao?"
Cô ấy thở dài, "Tôi đã đưa ra quyết định rồi, anh ta cũng không đáng để cầu nguyện. Cô biết đấy, anh ta đã bỏ rơi tôi. Tôi từng viết thư cho một sĩ quan hải quân Mỹ ở Thượng Hải, người trong mộng của tôi cũng ở đó. Anh ta từng đến Quảng Châu, thậm chí từng đến Quế Lâm. Anh ta biết tôi ở nơi nào, thế thì tại sao anh ta không đến chứ?"
Nghe thấy tin này tôi cảm thấy vô cùng buồn bã, khi đó tôi vẫn chưa biết người trong mộng của cô ấy chính là tướng quân Cape. "Tôi vẫn còn giữ rất nhiều hy vọng được đoàn tụ với gia đình của mình," tôi nói, "Có lẽ tôi sẽ trở thành một tín đồ theo đạo Thiên Chúa."
"Để trở thành một tín đồ chân chính," cô ấy nói, "Cô buộc phải dâng hiến tất cả mọi thứ của mình cho Chúa Jesus."
"Chị đã dâng hiến bao nhiêu?"
Cô ấy giơ ngón cái lên. Tôi kinh ngạc vô cùng, bởi vì Chủ nhật nào cô ấy cũng giảng đạo truyền giáo, tôi nghĩ việc đó ít nhất cũng phải đáng giá hai cái đùi. Tất nhiên, đối với chuyện truyền đạo cô ấy chẳng có sự lựa chọn nào khác. Chẳng ai hiểu nổi những kẻ ngoại quốc đó, mà họ cũng không thể hiểu nổi chúng ta. Tiếng Trung Quốc họ nói tệ đến mức nghe chẳng khác nào họ đang nói tiếng Anh. Cốt nỗi cô Ban Nạp đành phải làm phiên dịch cho mục sư Amen. Mục sư Amen không hỏi ý kiến cô ấy, ông ta bảo cô ấy phải làm việc này, bằng không cái đại trọ Quỷ Thương này sẽ không có chỗ dung thân cho cô ấy.
Cứ như thế, vào mỗi sáng Chủ nhật, cô ấy và mục sư đứng ở cửa nhà thờ, ông ta cất giọng kỳ quái bằng tiếng Anh: "Chào mừng, chào mừng." Còn cô Ban Nạp thì dịch chúng sang tiếng Trung, "Mau đến căn nhà của Thượng Đế đi nào! Tan họp rồi ăn cơm!" Căn nhà của Thượng Đế thực chất chính là từ đường gia tộc của Quỷ Thương nọ, vốn thuộc về các tổ tiên đã khuất của ông ta và các vị thần linh của họ. Lão Lỗ cho rằng việc những kẻ ngoại quốc lấy nơi này làm nhà của Thượng Đế cho thấy một thái độ vô cùng tồi tệ, "Giống như bị vả thẳng vào mặt vậy," ông ấy nói, "Thần chiến tranh sẽ từ trên trời rơi phân ngựa xuống đấy, cứ chờ mà xem." Lão Lỗ chính là cái kiểu người như thế — khiến bạn ăn không trôi, thì ông ấy cũng bắt bạn sản xuất không xong.
Các nhà truyền giáo luôn đi ở vị trí đầu tiên, cô Ban Nạp xếp thứ hai, tiếp theo là Lão Lỗ và tôi, cùng với những người Trung Quốc còn lại làm việc trong đại trọ Quỷ Thương này — đầu bếp, hai nữ tỳ, người dắt ngựa, thợ mộc, còn ai nữa thì tôi quên mất rồi. Những người đến thăm bước vào nhà của Thượng Đế sau cùng. Phần lớn bọn họ là ăn mày, có lác đác vài tín đồ Khách Gia báiThượng đế, cũng có một cụ bà chắp hai tay, cúi đầu lạy trước bàn thờ ba lần, dù có khuyên nhủ liên tục rằng đừng làm thế nữa cũng chẳng ích gì. Những người mới đến ngồi ở những chiếc ghế phía sau — tôi đoán là để nhỡ may Quỷ Thương kia quay về, bọn họ còn có đường tháo chạy. Lão Lỗ và tôi bắt buộc phải ngồi ở hàng ghế đầu cùng các nhà truyền giáo, hễ mục sư nhíu mày một cái, là trong miệng phải hô lớn "Amen!" Đó là lý do tại sao chúng tôi gọi ông ta là mục sư A Vấn — cũng bởi vì tên của ông ta nghe giống từ "Amen": Harmend hay Harryman, dù sao thì cũng là mấy cái tên đại loại thế.
Ngay khi chúng tôi đã dán mông phẳng lỳ lên những chiếc băng ghế này rồi, thì không được phép nhúc nhích nữa. Phu nhân Amen thường xuyên chồm dậy, nhưng chỉ để quơ quơ ngón tay về phía những người gây ra quá nhiều tiếng động. Đó là quá trình chúng tôi học được những điều bị cấm làm. Đừng gãi đầu vì có rận; đừng hắt xì hơi vào lòng bàn tay; khi đám muỗi vo ve quanh tai tựa như mây đen, đừng thốt lên câu "cứt chó" — bất cứ lúc nào làm gián đoạn giấc ngủ của Lão Lỗ là ông ấy lại nói câu này.
Đó lại là một quy tắc khác: ngoại trừ lúc mục sư Amen cầu nguyện với Thượng Đế, còn lại thì không được phép ngủ. Những lời cầu nguyện vừa dài dòng vừa chán ngắt khiến Lão Lỗ vô cùng vui mừng, bởi vì khi những người theo đạo Thiên Chúa nhắm mắt lại, ông ấy cũng có thể nhắm mắt theo và làm một giấc thật ngon. Còn tôi thì vẫn mở trừng trừng đôi mắt. Tôi sẽ đăm đăm nhìn mục sư Amen, để xem Thượng Đế hoặc Chúa Jesus có giáng lâm từ thiên đàng xuống hạ giới hay không. Tôi từng nhìn thấy chuyện tương tự xảy ra với những người báiThượng đế trong một hội chợ đền chùa. Thượng Đế nhập vào cơ thể của một người bình thường, quật ngã anh ta xuống đất. Khi anh ta đứng dậy lần nữa, anh ta sở hữu sức mạnh phi thường: đao kiếm đâm vào bụng sẽ bị bẻ cong ở đoạn giữa. Nhưng chuyện như vậy chưa từng xảy ra với mục sư Amen. Mặc dù có một lần, khi mục sư đang cầu nguyện, tôi nhìn thấy một kẻ ăn mày đứng ở cửa. Tôi nhớ các vị thần linh Trung Quốc đôi khi cũng làm thế: hóa trang thành kẻ ăn mày để đến xem xét xem chuyện gì đang xảy ra, ai là người trung thành, ai tỏ lòng kính cẩn với họ. Tôi không biết kẻ ăn mày này có phải thần linh hay không, hiện đang tức giận nhìn kẻ ngoại quốc đứng trên cái bệ thờ vốn từng là chỗ của ông ta. Khi tôi quay đầu lại được vài phút, kẻ ăn mày ấy đã biến mất. Cho nên ai mà biết được liệu ông ta có phải là nguyên nhân dẫn đến thảm họa giáng xuống năm năm sau hay không.
Vào thời điểm kết thúc cầu nguyện, buổi giảng đạo chính thức bắt đầu. Chủ nhật đầu tiên, mục sư Amen nói suốt năm phút — nói, nói, nói mãi! — vô số âm thanh mà chỉ những nhà truyền giáo khác mới có thể hiểu nổi. Sau đó cô Ban Nạp dịch trong năm phút. Những lời răn đe về ác quỷ, Amen! Quy tắc thăng thiên, Amen! Dắt bạn bè của cô đến cùng nhé, Amen! Bọn họ cứ qua lại như vậy, tựa như đang tranh cãi với nhau vậy. Thật là chán ngắt làm sao! Suốt hai tiếng đồng hồ, chúng tôi đành phải ngồi im lìm, mặc cho cái mông và cái đầu trở nên tê dại.
Ở phần cuối của buổi giảng đạo, còn có một tiết mục biểu diễn quy mô nhỏ, sử dụng chiếc hộp âm nhạc vốn thuộc về cô Ban Nạp. Mọi người đều vô cùng yêu thích khoảnh khắc này. Hát không hay cho lắm, nhưng khi âm nhạc vang lên, tất cả chúng tôi đều biết nỗi thống khổ của mình sắp kết thúc rồi. Mục sư Amen giơ hai tay lên, bảo chúng tôi đứng dậy. Phu nhân Amen bước lên phía trước căn phòng, vị nhà truyền giáo thần kinh kia cũng bước lên theo. Bà ta tên là Rachel, âm thanh phát ra nghe tựa như "chuột", chúng tôi cũng gọi bà ta như vậy luôn: tiểu thư Chuột. Lại có một vị bác sĩ người nước ngoài tên là Swann, nghe âm thanh giống như "thôi đi" — đã quá muộn. Hảo hứa chi bệnh nhân đều sợ nhìn thấy ông ta. Bác sĩ Thôi Đi chịu trách nhiệm mở chiếc hộp âm nhạc của cô Ban Nạp và dùng chìa khóa vặn cót. Khi âm nhạc cất lên, ba người bọn họ liền cùng cất tiếng hát. Trong mắt phu nhân Amen sẽ có những giọt nước mắt chực trào tuôn rơi. Vợ chồng mấy cụ già dưới quê sẽ lớn tiếng hỏi thăm rằng trong chiếc hộp này có giấu người nước ngoài tí hon nào không.
Cô Ban Nạp từng kể với tôi rằng, chiếc hộp âm nhạc đó là món quà do cha cô ấy tặng, là kỷ vật gia đình duy nhất bên cạnh cô ấy. Cô ấy cất giữ một cuốn album ảnh nhỏ dùng để viết lại những suy nghĩ của mình bên trong hộp. Cô ấy bảo, âm nhạc thực ra là một bài hát tiếng Đức, nội dung kể về việc uống bia, khiêu vũ cùng những nụ hôn dành cho các cô gái xinh đẹp, nhưng phu nhân Amen đã viết lời mới cho nó rồi. Lời bài hát này tôi nghe phải đến cả trăm lần rồi, nhưng nghe vào chỉ thấy giống như đang nói: "Chúng ta mang theo bước chân tâm nguyện đồng hành cùng Chúa Jesus, khi thần chết rẽ lối, chúng ta sẽ gặp được Chúa của mình" hay mấy thứ đại loại thế. Cô thấy đấy, tôi vẫn nhớ bài hát cổ xưa ấy, nhưng hiện tại những lời ca ấy đã mang một ý nghĩa mới. Nói tóm lại, đó chính là bài hát chúng tôi nghe vào mỗi tuần, điều muốn nói với mọi người chính là đi ra ngoài ăn một bát cơm — ân huệ đến từ Chúa Jesus. Chỗ chúng tôi có rất nhiều kẻ ăn mày đều cho rằng Chúa Jesus là một địa chủ sở hữu rất nhiều ruộng lúa.
Chủ nhật thứ hai, mục sư Amen nói năm phút, cô Ban Nạp giảng ba phút. Sau đó mục sư lại nói năm phút, cô Ban Nạp chỉ giảng một phút. Về phương diện tiếng Trung mọi thứ ngày càng trở nên ngắn hơn, hệ quả là vào Chủ nhật hôm đó ruồi nhọt hút mồ hôi của chúng tôi cũng chỉ có một tiếng rưỡi. Chủ nhật tuần sau đó nữa thậm chí chỉ còn một tiếng. Về sau mục sư Amen đã có một cuộc trò chuyện dài với cô Ban Nạp, và trong ngày Chủ nhật tiếp theo, mục sư Amen nói năm phút, cô Ban Nạp cũng giảng thời gian dài tương đương. Mục sư Amen lại nói năm phút, cô Ban Nạp lại giảng ngần ấy thời gian. Nhưng bây giờ cô ấy không còn nói về những quy tắc thăng thiên nữa, cô ấy đang nói: "Từ rất lâu rất lâu về trước, ở một vương quốc xa xôi nọ sống một người khổng lồ và đứa con gái hiếu thảo của một bác thợ mộc nghèo. Bác thợ mộc nghèo này thực chất là một vị vua..." Vào cuối mỗi năm phút, cô ấy đều dừng lại ở phân cảnh vô cùng kịch tính, đoạn nói những câu đại loại thế này: "Bây giờ tôi phải để mục sư nói năm phút đã, nhưng trong lúc chờ đợi, các vị có thể tự hỏi bản thân xem, nàng công chúa nhỏ ấy đã chết rồi ư, hay là con bé đã cứu được người khổng lồ kia?" Sau khi buổi giảng đạo và kể chuyện đều kết thúc, cô ấy bảo mọi người, nếu chuẩn bị đi ăn cơm miễn phí thì hãy hô lớn "Amen". Ồ, hô vang trời dậy đất luôn ấy chứ!
Những buổi giảng đạo ngày Chủ nhật này trở nên vô cùng được chào đón, rất nhiều kẻ ăn mày đến nghe cô Ban Nạp kể chuyện thời thơ ấu. Những người theo đạo Thiên Chúa vui mừng, người đến ăn cơm vui mừng, cô Ban Nạp cũng rất vui mừng. Chỉ có tôi là cảm thấy trong lòng thấp thỏm không yên: Nhỡ mục sư Amen mà biết chuyện cô ấy đang làm thì sẽ thế nào nhỉ? Ông ta có đánh cô ấy không? Bởi vì tôi đã dạy một kẻ ngoại quốc nói những lời vô pháp vô thiên bằng tiếng Trung Quốc, liệu những người báiThượng đế có hất phân lên người tôi không? Mục sư Amen có mất mặt đến mức phải thắt cổ tự tử không? Những kẻ đến vì cơm và vì câu chuyện chứ không phải vì Chúa Jesus liệu có rơi vào địa ngục của người ngoại quốc hay không?
Khi tôi đem những lo lắng của mình kể cho cô Ban Nạp nghe, cô ấy phì cười, bảo sẽ không có chuyện đó xảy ra đâu. Tôi hỏi sao cô ấy biết, cô ấy đáp: "Nếu mọi người đều vui vẻ, thì có hại gì chứ?" Nhưng tôi không hề quên những lời mà người đàn ông trở về núi Kế từng nói: "Quá nhiều hạnh phúc rốt cuộc sẽ tràn lan thành những giọt nước mắt đau thương."
Chúng tôi đã trải qua năm năm tháng tháng vui vẻ. Cô Ban Nạp với tôi trở thành những người bạn tốt đích thực và vô cùng trung thành, thế nhưng những nhà truyền giáo khác đối với tôi vẫn là những kẻ xa lạ. Song từ những thay đổi nhỏ nhặt được nhìn thấy mỗi ngày, tôi cũng nắm rõ bí mật của bọn họ như lòng bàn tay. Lão Lỗ đem những chuyện đáng hổ thẹn mà ông ấy nhìn thấy từ ngoài cửa sổ của bọn họ, cùng với những chuyện quái dị ông ấy trông thấy trong phòng bọn họ kể hết cho tôi nghe: Tiểu thư Chuột đã gào khóc thảm thiết thế nào trước một chiếc hộp kim loại nhỏ đựng một nhúm tóc người chết; bác sĩ Thôi Đi đã dùng thuốc phiện ra sao để trị cơn đau dạ dày của mình; phu nhân Amen đã cất giấu từng miếng bánh thánh trong ngăn kéo của bà ta như thế nào — chưa từng ăn bao giờ, chỉ để dự trữ cho ngày tận thế; mục sư Amen đã báo cáo với nước Mỹ rằng ông ta đã cảm hóa được một trăm người trong khi thực tế chỉ cải hóa được đúng một đổi tượng.
Để đáp lễ, tôi cũng đem một số bí mật do chính mình nhìn thấy kể cho Lão Lỗ nghe: Tiểu thư Chuột dành tình cảm đặc biệt cho bác sĩ Thôi Đi, nhưng ông ta chẳng hề hay biết; bác sĩ Thôi Đi đã sinh ra tình cảm mãnh liệt đối với cô Ban Nạp, mà cô ấy lại làm ngơ như không phát hiện ra. Thế nhưng tôi không nói cho ông ấy biết, cô Ban Nạp vẫn giữ tình cảm vô cùng khác thường đối với người trong mộng thứ ba của cô ấy, một người đàn ông tên là Warren. Chỉ có mình tôi biết chuyện này.
Trong suốt năm năm này, mọi thứ đều trước sau như một, chỉ có một vài thay đổi nhỏ nhặt: Đó là cuộc sống của chúng tôi thỉnh thoảng sẽ có thêm một chút hy vọng, một chút thay đổi, một chút bí mật.
Đúng vậy, tôi cũng có những bí mật của riêng mình. Bí mật đầu tiên của tôi là: Một tối nọ, tôi mơ thấy Chúa Jesus — một người đàn ông ngoại quốc có mái tóc dài, bộ râu dài và rất nhiều môn đồ đi theo. Tôi kể cho cô Ban Nạp nghe, chỉ là quên không nhắc đến phần giấc mơ. Thế là cô Ban Nạp kể lại cho mục sư Amen, và ông ta đã ghi tên tôi vào danh sách tín đồ cải đạo thứ một trăm — đó là lý do tại sao tôi biết chuyện chỉ có duy nhất một người cải đạo. Tôi không bảo cô Ban Nạp đính chính lại, như vậy ông ta sẽ càng cảm thấy hổ thẹn hơn, bởi vì một trăm tín đồ cải đạo của ông ta thậm chí còn chẳng tồn tại nổi một người.
Bí mật thứ hai của tôi lại tồi tệ hơn nhiều.
Chuyện này xảy ra không lâu sau khi cô Ban Nạp kể với tôi rằng cô ấy đã mất đi gia đình và hy vọng của mình. Tôi nói bởi vì bản thân sở hữu quá nhiều hy vọng, tôi có thể dùng phần hy vọng dư thừa của mình để cầu chúc người trong mộng của cô ấy đổi ý quay trở lại bên cạnh cô ấy. Điều này khiến cô ấy vô cùng hạnh phúc. Thế nên đó đã trở thành nội dung cầu nguyện của tôi, chí ít đã cầu nguyện suốt một trăm ngày.
Vào một buổi chiều tối nọ, tôi ngồi trên chiếc ghế đẩu trong phòng cô Ban Nạp, trò chuyện với cô ấy. Chúng tôi trò chuyện mãi, trò chuyện mãi, khi đã phàn nàn xong những câu quen thuộc, tôi hỏi cô ấy có thể cho mình chơi thử chiếc hộp âm nhạc kia không. Được chứ, được chứ, cô ấy nói. Tôi mở chiếc hộp đó ra: Không có chìa khóa. Chìa khóa ở trong ngăn kéo, cô ấy bảo. À, đây là cái gì thế này? Tôi nhặt một món đồ khắc bằng ngà voi đưa lên sát mắt. Đây là hình dáng của một người phụ nữ khỏa thân, vô cùng khác thường. Tôi nhớ mình từng nhìn thấy một thứ tương tự một lần rồi. Tôi hỏi cô ấy bức tượng nhỏ này lấy từ đâu.
"Đó là của người trong mộng của tôi." Cô ấy nói, "Là chuôi gậy ba-toong của anh ấy. Khi cây gậy bị gãy, anh ấy đã đưa nó cho tôi để làm kỷ niệm."
Ối chà! Mãi đến lúc đó tôi mới biết người trong mộng của cô Ban Nạp chính là kẻ phản bội kia, tướng quân Cape. Suốt khoảng thời gian đó, tôi lại vẫn luôn cầu nguyện hắn có thể quay trở lại. Chỉ cần nghĩ đến điều này thôi cũng khiến da đầu tôi tê rần lên rồi.
Cho nên đây chính là bí mật thứ hai của tôi: Tôi đã biết hắn ta là ai. Còn bí mật thứ ba chính là: Tôi bắt đầu cầu nguyện hắn ta đừng quay về nữa.
Để tôi nói cho cô nghe nhé, Ly-a, tôi vốn không hề biết rốt cuộc cô ấy khao khát tình yêu đến nhường nào — bất kỳ bản chất tình yêu nào cũng thế. Tình yêu ngọt ngào sẽ chẳng thể kéo dài lâu, hơn nữa lại quá khó để kiếm tìm. Thế nhưng tình yêu đồi trụy! — có vô số thứ dùng để lấp đầy sự trống rỗng. Và đây mới là thứ cô ấy đã quen thuộc, cũng là thứ một khi quay lại cô ấy sẽ chộp lấy ngay lập tức.