Tại sao lại phải hoài nghi và khó hiểu về thế giới này? Đúng vậy, bởi vì tôi không phải là người Trung Quốc như Quảng, đối với tôi, âm không thể là dương, mà dương cũng chẳng thể là âm. Tôi không thể coi hai sự vật đối lập là một thể thống nhất. Khi tôi và Quảng đi về phía ngôi nhà của Đại nương, tôi bình thản hỏi: "Con gái của Đỗ Lệ Lệ đã chết như thế nào vậy?"
"Hầy, đó là một chuyện rất thê thảm," Quảng bằng tiếng Trung nói, "Có lẽ cậu không muốn biết đâu."
Chúng tôi lại trở về sự im lặng, tôi biết cô ấy hy vọng tôi hỏi tiếp, thế nên tôi nói: "Kể đi."
Quảng dừng bước nhìn tôi: "Cậu không sợ bị dọa sợ sao?"
Tôi lắc đầu, bị dọa sợ thì sao chứ? Khi Quảng kể tiếp, tôi bắt đầu run rẩy, tất nhiên không phải vì lạnh.
Tên con bé là Tiểu Bao Tử, năm con bé chết đuối chúng tôi đều năm tuổi. Con bé cao bằng tôi, rất điềm tĩnh, còn tôi thì lại thích nói năng. Tôi đã nói rất nhiều lần rồi, Đại nương thường vì chuyện này mà cằn nhằn tôi: "Nếu mày còn lắm điều nữa, tao sẽ tống cổ mày đi, tao chưa từng hứa với mẹ mày là sẽ nhận nuôi mày đâu."
Hồi đó tôi gầy gò xương xẩu, biệt danh là Bánh Mỏng, Đại nương gọi tôi là "Miếng Nhỏ", trên đầu gối và khuỷu tay đều đóng vảy. Còn Tiểu Bao Tử thì sao, chân tay tròn vo, giống như chiếc bánh bao thịt vừa mới ra lò. Đỗ Lệ Lệ khi ấy có tên là Đỗ Vân, cô ta được tìm thấy trên đường. Đại nương đặt cho cô ta cái tên Bao Lệ Lệ, bởi vì khi mới đến thôn chúng tôi, cô ta chỉ phát ra tiếng lị lị lị, giống như tiếng hót của loài hạc vàng. Tiếng lị lị lị phát ra từ cái miệng nhỏ màu đỏ của cô ta, tựa như cô ta vừa ăn xong một quả hồng sống, cứ đinh ninh là nó ngọt, ai ngờ lại chát ngắt không chịu nổi. Ánh mắt cô ta nhìn thế giới này giống như một chú chim non, đôi mắt đen láy và tròn xoe tràn ngập sự kinh hãi, ngoài tôi ra không ai biết tại sao cô ta lại như vậy, bởi vì cô ta chưa bao giờ giao tiếp với người khác, ít nhất là không dùng ngôn từ để trò chuyện. Thế nhưng hễ màn đêm buông xuống, khi ánh nến lấp ló trên mái nhà và vách tường, cô ta bắt đầu dùng đôi bàn tay nhỏ bé để lên tiếng. Chúng lúc thì chậm rãi lúc thì dồn dập, lúc thì cao vút lúc thì dịu êm, cái bóng được ánh nến chiếu lên trông giống như những đàn chim trắng bay lượn giữa tầng mây. Đại nương luôn lắc đầu khó hiểu: "Ái chà, cái gì thế này?" Còn Đỗ Vân thì ngây ngốc nhìn như một kẻ đần độn. Chỉ có tôi là hiểu được ý nghĩa của những cái bóng tay do Tiểu Bao Tử tạo ra. Tôi biết rằng điều đó không thuộc về thế giới này. Bạn biết đấy, lúc đó tôi cũng chỉ là một đứa trẻ, vẫn hoàn toàn cách biệt với mọi thứ ở cuộc đời này, thế nhưng tôi lại nhớ rằng mình từng là một cỗ tinh linh bay rời khỏi thể xác của một chú chim trên thế giới này.
Ngay trước mặt Đỗ Vân, mọi người trong thôn đều cười hì hì: "Đây là Tiểu Bao Tử nhà cô đấy à, con bé thật kỳ lạ phải không?" Thế nhưng hễ rời khỏi viện nhà chúng tôi, họ lại chụm đầu thì thầm bằng phương ngữ, những lời đó vượt qua bức tường viện lọt vào tai tôi.
"Con bé này được nuông chiều sắp thành thần kinh rồi," tôi nghe thấy một người hàng xóm họ Ngô nói, "Nhà nó chắc chắn là người có tiền, Đỗ Vân nên thường xuyên đánh nó một trận, ít nhất một ngày phải đánh ba lần."
"Nó chắc chắn bị ma ám rồi," một người khác nói, "Linh hồn của một phi công người Nhật rơi từ trên trời xuống đã bám lấy nó, thảo nào nó không biết nói tiếng Trung, chỉ dùng tay khua khoáng lên xuống, trông giống như một chiếc máy bay cắm đầu xuống đất."
"Nó là một đứa ngốc," một người hàng xóm khác nói, "Đầu óc trống rỗng như mặt đất vậy."
Thế nhưng, theo suy nghĩ của Đỗ Vân, Tiểu Bao Tử không nói chuyện là bởi vì Đỗ Vân có thể nói thay cho nó. Người làm mẹ luôn là người hiểu rõ tâm sự của con gái nhất. Cô ta có thể nói giúp con bé, rằng con bé nên ăn gì, nên nghĩ gì, đã cảm nhận được những gì. Đơn cử như những cái bóng tay của Tiểu Bao Tử chính là minh chứng, Đỗ Vân đã từng nói, tổ tiên của con bé là vương phi trong cung điện, cái bóng tay của con bé chính là minh chứng đích thực. Đại nương liền đáp lại: "A! Nói vậy thì đôi tay của nó đã thành đôi tay phản cách mạng rồi, nói không chừng có ngày sẽ bị chặt đứt đấy. Tốt hơn là nó nên học cách dùng ngón tay bịt một bên mũi, hỉ nước mũi vào lòng bàn tay thì hơn."
Tiểu Bao Tử chỉ có một chuyện khiến Đỗ Vân vô cùng đau lòng. Đó chính là loài ếch. Tiểu Bao Tử không thích những con ếch vào mùa xuân, những con ếch da xanh to bằng ngón chân út của con bé. Cứ đến chập tối, bạn có thể nghe thấy tiếng kêu của chúng như tiếng gọi hồn dưới âm phủ: ộp ộp, ộp ộp. Đại nương và Đỗ Vân cầm thùng nước và vợt, lội vào ruộng lúa. Lúc này, tất cả lũ ếch đều nín thở, muốn dùng sự tĩnh lặng để ngụy trang cho bản thân. Thế nhưng chẳng bao lâu sau chúng không chịu nổi nữa, ộp, ộp, ộp, tiếng kêu của chúng càng thêm vang dội, mưu cầu dùng cách này để gọi mời bạn tình.
“Có ai mà lại thích thứ này cơ chứ?” Đỗ Vân luôn mỉa mai như vậy. Lúc này Đại nương sẽ đáp lời rằng: “Ta thích—chỉ có điều là dùng chúng làm món ngon trên mâm cỗ mà thôi.” Bắt những sinh linh nhỏ bé này đối với họ quả thực dễ như trở bàn tay, trong chiếc xô, dưới ánh trăng phản chiếu, lũ ếch tỏa ra một lớp ánh sáng bóng nhẫy. Đến rạng sáng, Đại nương và Đỗ Vân đã rao bán dọc đường rồi: “Bán ếch đây! ếch tươi ngon mơn mởn đây, mười con một đồng.” Còn Tiểu Bao Tử và tôi, ngồi bên cạnh những chiếc thùng nước úp ngược, ngoài việc bị ánh mặt trời đang dâng lên từ từ sưởi ấm cơ thể ra, thì chẳng có việc gì làm để tiêu khiển.
Bất kể việc kinh doanh tốt hay xấu, Đại nương và Đỗ Vân thế nào cũng phải giữ lại hơn chục con ếch làm bữa trưa cho chúng tôi. Đến xế trưa, chúng tôi trở về nhà, bảy chiếc thùng xách nước đã trống trơn, chỉ còn lại một chiếc là vẫn đựng nửa thùng hàng. Trên chiếc bếp lò ở sân nhà, Đại nương nhóm lửa cho thật lớn, còn Đỗ Vân thì đến chiếc thùng bắt ếch, lúc này Tiểu Bao Tử sẽ nhanh chân trốn ra sau lưng tôi, tôi có thể cảm nhận được nhịp đập kịch dồn dập trong lồng ngực con bé, vừa nhanh vừa gấp, tựa như những con ếch đang giãy giụa trong tay Đỗ Vân cứ kêu vang không ngừng.
“Hai đứa nhìn cho kỹ vào,” Đỗ Vân nói với tôi và Tiểu Bao Tử, “Đây là cách làm thịt ếch ngon nhất.” Cô ta lật ngửa con ếch lại, nhanh chóng đâm chiếc kéo vào phần hậu môn của con ếch, một tiếng “soạt” là cắt dọc đến tận khóe miệng, rồi dùng ngón cái thọc vào vết cắt, giật mạnh một cái, toàn bộ ruột gan phèo phổi của con ếch liền lòi cả ra ngoài, nhân thế toàn bộ bàn tay vuốt xuôi từ trên đầu xuống một cái, lớp da ếch cũng bị lột sạch sành sanh, con ếch đã được làm thịt xong xuôi treo lủng lẳng trên ngón tay cô ta, trông giống như một nghi thức đầu hàng của vị võ sĩ thời cổ đại. Tiếp theo đó, Đỗ Vân xả liền mấy nhát kéo, con ếch bị phanh thây, phần thân và đùi được giữ lại, còn phần đầu thì bị vứt bỏ.
Trong lúc Đỗ Vân giết từng con ếch một, Tiểu Bao Tử vẫn luôn ngậm ngón tay trong miệng, giống như chiếc bao cát bịt chỗ rò rỉ trên đê sông vậy. Con bé làm thế là để không thét lên thành tiếng. Khi Đỗ Vân nhìn thấy biểu cảm trên khuôn mặt con bé, cô ta sẽ đổi sang giọng điệu của người mẹ rồi nói: “Con yêu, đợi thêm một lát nữa thôi, mẹ sẽ cho con ăn ngay đây.”
Chỉ có tôi là biết trong lòng Tiểu Bao Tử đang nghĩ gì, từ trong ánh mắt của con bé, tôi có thể nhìn thấy những gì con bé nhìn thấy và nghe thấy, rõ ràng đến mức cứ như thể chính tôi là người trải qua vậy. Cảnh tượng lớp da thịt bị lột ra khỏi cơ thể này chính là cách mà cha mẹ con bé đã chết. Con bé đã tận mắt chứng kiến tất cả những điều đó trên một tán cây lớn, chính người cha đã tự tay giấu con bé lên trên cây, một chú chim hoàng ly đang hót trên cái cây ấy, cảnh cáo Tiểu Bao Tử hãy tránh xa cái tổ chim của nó ra. Thế nhưng Tiểu Bao Tử không hề phát ra bất kỳ âm thanh nào, không có tiếng khóc, thậm chí không có cả tiếng thở hổn hển, bởi vì con bé đã hứa với mẹ rằng sẽ đảm bảo không phát ra tiếng động. Đây chính là nguyên nhân vì sao con bé chưa bao giờ nói chuyện. Bởi vì con bé đã thề với mẹ mình.
Mười mấy phút sau, hơn chục con ếch đều đã xèo xèo trong chảo dầu, những chiếc đùi tươi ngon ấy thỉnh thoảng vẫn co giật vài cái, một tay Đỗ Vân cầm chảo lắc, một tay cầm xẻo đảo, cô ta quả thực không hổ danh là một cao thủ chế biến món ếch.
Tiểu Bao Tử lại chẳng có chút khẩu vị nào để thưởng thức món ăn ngon này. Dưới ánh đèn mờ ảo, con bé nhìn chúng tôi đang ngấu nghiến nhai ngấu nghiến, hàm răng của chúng tôi làm việc tất bật giữa thịt ếch và xương ếch. Mà da ếch mới là món ngon nhất, mềm mại và mọng nước, đứng thứ hai là gặm những chiếc xương nhỏ, đặc biệt là xương ngón chân.
Lúc này Đỗ Vân thường sẽ nói với đứa con gái mới của mình rằng: “Đừng nghịch nữa, ăn đi con, cục cưng của mẹ, ăn đi!” Thế nhưng Tiểu Bao Tử sẽ vung đôi tay lên, tung ra vài cái bóng tay, Đỗ Vân lập tức trở nên vô cùng não nề, cô ta biết rằng con gái sẽ không ăn món ăn do chính tay cô ta làm ngon đến thế này đâu. Lẽ ra cậu phải nhìn khuôn mặt của Đỗ Vân — ngập tràn tình yêu thương dành cho đứa con gái mà cô ta nhặt được trên đường. Còn tôi thì biết rằng Tiểu Bao Tử cũng đang cố gắng dùng trái tim tàn tạ của mình để yêu thương Đỗ Vân. Con bé đi theo Đỗ Vân trong thôn, chìa một bàn tay ra để Đỗ Vân dắt đi, thế nhưng vào những đêm lũ ếch cất tiếng ca, khi Đỗ Vân nhấc chiếc thùng bắt ếch lên, Tiểu Bao Tử sẽ chạy đến một góc khuất, cuộn tròn thành một nhúm, bắt đầu ngâm nga: lị lị…… lị lị……
Đó chính là ký ức của tôi về Tiểu Bao Tử. Chúng tôi là những người bạn rất thân thiết, sống chung một phòng, ngủ chung một chiếc giường. Giống như chị em ruột thịt vậy, chúng tôi có thể cảm nhận được mọi thứ của đối phương: Dù ở độ tuổi nhỏ nhặt nhường này, chúng tôi đã thấu hiểu nỗi buồn, hơn nữa nỗi buồn ấy không chỉ thuộc về riêng hai chúng tôi. Cả hai chúng tôi đều thấu hiểu nỗi buồn ở thế gian này. Tôi đã mất đi mái nhà của mình, và con bé cũng vậy.
Năm Đỗ Vân nhặt được Tiểu Bao Tử trên đường là một năm kỳ lạ, năm đó tuyệt nhiên không có lũ lụt. Trước kia, thôn chúng tôi vốn dĩ rất nhiều mưa, mùa xuân thế nào cũng có ít nhất một trận hồng thủy. Lũ lụt sẽ nhấn chìm quê hương chúng tôi, cuốn trôi vạn vật tan hoang mỗi nơi một ng mảnh. Thế nhưng vào năm Tiểu Bao Tử đến lại không có lũ lụt, chỉ có mưa, hoa màu và loài ếch đều được hưởng lợi lớn, người trong thôn cũng cảm thấy vô cùng kinh ngạc: “Không phát lũ lụt, phúc đức này tích từ đâu ra chứ, chẳng lẽ là vì đứa con gái mà Đỗ Vân nhặt về kia ư, ừm, chắc chắn là có liên quan đến chuyện này rồi.”
Năm tiếp theo thì dứt khoát không có lấy một giọt mưa, tất cả các thôn xóm xung quanh đều có mưa như những năm trước, mưa to, mưa nhỏ, mưa dầm dề, cuồng phong bão táp, thế nhưng thôn chúng tôi thì hoàn toàn không có mưa. Không có trận mưa cày cấy vụ xuân, không có trận mưa thu hoạch vụ hè, không có trận mưa gieo trồng vụ thu, không có mưa, đồng nghĩa với việc không có thu hoạch. Không có nước khiến cho ruộng lúa không thể sinh trưởng, cũng chẳng có thức ăn để nuôi lợn. Ruộng lúa khô cằn nứt nẻ như ổ bánh mì bị nướng quá lửa, lũ ếch nằm bẹp dí trên bờ ruộng, quắt queo như những cọng cỏ khô. Đủ loại côn trùng bò lổm ngổm từ các khe nứt dưới mặt đất ra ngoài, vung vẩy đôi tay hướng lên trời cao thể hiện sự khát khao của chúng, chúng tôi ăn sạch những con vịt gầy trơ xương, ánh mắt chúng tôi hướng về phía ngọn núi mỗi ngày hận không thể nướng chín được một củ khoai tây. Năm đó thật là khủng khiếp, người trong thôn cho rằng Tiểu Bao Tử cũng thật đáng sợ, là một mụ phù thủy, bởi vì con bé chính là nguyên nhân của tất cả những chuyện này.
Một ngày nọ, thời tiết rất oi bức, tôi và Tiểu Bao Tử ngồi trên một chiếc thuyền nhỏ trong con mương dẫn nước đã khô cạn ở cạnh nhà. Chúng tôi mơ màng cho rằng đây là chiếc thuyền nhỏ đưa chúng tôi đến miền đất hứa, đột nhiên, chúng tôi nghe thấy một tiếng sét đánh ngang tai, tiếp theo lại là một tiếng nữa, rồi lại một tiếng nổ lớn — cơn mưa lớn ngay lập tức trút xuống xối xả, những hạt mưa rơi lộp bộp giống như những hạt lúa tẻ đập vào trong mâm vậy, tôi vui mừng reo hò ầm lên. Tiếp theo là vô số tiếng sấm chớp, nước mưa đã làm nổi chiếc thuyền nhỏ của chúng tôi lên. Tôi gào thét ầm ĩ, Tiểu Bao Tử cũng mỉm cười. Đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy con bé cười. Tôi còn nhìn thấy con bé giơ cao đôi tay hướng về phía những tia chớp giữa không trung.
Mưa vẫn tiếp tục rơi ào ào, nước từ trên núi tụ họp chảy xuống, nhanh chóng lấp đầy các lòng sông kênh rạch, mảnh đất nứt nẻ vì khô hạn thậm chí còn chẳng kịp hút lấy lượng nước đột ngột đổ xuống ấy. Con mương nhỏ nơi chúng tôi ở trong chốc lát đã biến thành một dòng sông màu vàng đục, chưa để chúng tôi kịp nghĩ ngợi điều gì, nước đã dâng lên cuồn cuộn ngập tràn khắp chốn, chúng tôi cũng mơ hồ bị cuốn phăng vào trong đồng ruộng.
Lúc sau tôi mới biết được rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì. Khi Đại nương và Đỗ Vân tìm thấy chúng tôi trong dòng nước lũ, cả hai đứa chúng tôi đều đã cứng đờ, sắc mặt trắng bệch, không còn chút hơi thở. Họ rửa sạch bùn đất trong mũi và miệng chúng tôi, chải sạch những đám cỏ dại vướng trong mái tóc của chúng tôi, cơ thể gầy còm yếu ớt của tôi đã tàn tạ không ra hình thù gì, còn Tiểu Bao Tử thì khá hơn một chút. Họ mặc áo quan cho chúng tôi, rồi ra sân rửa sạch hai chiếc máng lợn không dùng đến nữa, dùng hai chiếc ghế đẩu kê lên. Họ đặt cả hai chúng tôi vào trong chiếc quan tài đơn sơ ấy. Rồi ngồi xuống khóc lớn thảm thiết.
Suốt hai ngày trời, chúng tôi nằm trong máng lợn, Đại nương và Đỗ Vân vẫn luôn đợi tạnh mưa, để chôn cất chúng tôi vào lớp đất đá vôi trên núi, nơi đó quanh năm không mọc nổi một cọng cỏ. Sáng sớm ngày thứ ba, một trận cuồng phong thổi bay những đám mây âm u, mặt trời ló dạng, Đỗ Vân và Đại nương mở quan tài để nói lời từ biệt với chúng tôi.
Tôi cảm thấy có những ngón tay đang mơn man trên gò má mình, tôi mở trôi hai mắt, nhìn thấy khuôn mặt của Đỗ Vân, cô ta kinh ngạc há hốc miệng nói: "Vẫn còn sống! Con bé vẫn còn sống!" Cô ta chộp lấy bàn tay tôi, áp nó lên má mình, tiếp theo Đại nương cũng tới, đầu óc tôi mơ màng, trong đầu chỉ còn lại một đám sương mù buổi sớm.
"Con muốn dậy." Lời tôi vừa dứt, Đại nương giật mình nhảy dựng lên, Đỗ Vân chộp lấy tay tôi, tôi nghe thấy họ đang nói: "Rốt cuộc là thế nào? Sao có thể như vậy được chứ?"
Tôi ngồi dậy: "Đại nương, đã xảy ra chuyện gì vậy?" Sự kinh ngạc của họ theo đó biến thành tiếng thét chói tai, âm thanh ấy khiến đầu óc tôi hận không thể nổ tung lên được. Đại nương chạy về phía cỗ quan tài còn lại. Khi bà ấy vén tấm nắp quan tài lên, thứ mà tôi nhìn thấy lại chính là bản thân mình, cỗ thể xác đáng thương ấy của tôi! Đầu óc tôi bắt đầu choáng váng, cơ thể đang rơi xuống phía dưới, trước mắt tối sầm lại, lúc tôi tỉnh lại trời đã tối mịt.
Tôi đang nằm trên chiếc võng mà trước đây từng nằm chung với Tiểu Bao Tử, Đại nương và Đỗ Vân đứng ở bên lề hành lang. "Đại nương," tôi gọi lớn, "Con vừa gặp một cơn ác mộng."
Đại nương kêu lên: "Ái chà, nhìn kìa, con bé biết nói chuyện rồi," tôi ngồi dậy, theo đà lắc chiếc võng. Đại nương lại kêu lên: "Ái chà, nó cử động được rồi," vừa nói vừa bảo tôi đã chết đói rồi, hơn nữa còn muốn đi tiểu. Nào ngờ cả hai người họ lại lùi phắt về phía cửa, Đại nương còn nói: "Mau cút đi, nếu không tao dùng roi cây đào quất mày đấy."
Tôi khó hiểu nói: "Đại nương, nhà chúng ta làm gì có cây đào nào." Bà ấy dùng tay che miệng lại. Lúc đó, tôi vẫn chưa biết hồn ma lại bị người ta cho là sợ roi cây đào. Sau này tôi mới biết đây chỉ là một thứ mê tín dị đoan, tôi còn hỏi qua rất nhiều hồn ma, bọn họ đều khinh bỉ cười nhạt, "Sợ roi cây đào á? Không có chuyện đó đâu!"
Thế nhưng vào lúc ấy, tôi đã buồn tiểu sắp chết rồi, hơn nữa tôi cũng đang rất sốt ruột muốn ăn chút gì đó để lấp đầy cái dạ dày đáng thương của mình. "Đại nương," tôi rất nghiêm túc nói, "Con muốn ra chuồng lợn một lát." Bên cạnh chuồng lợn có một cái hố nhỏ, một thanh gỗ được bắc ngang bên trên, nam nữ gì đều đi vệ sinh ở trên đó. Thói quen này mãi cho đến khi thôn bản nhận được giáo dục về việc tích trữ phân người và phân lợn làm phân bón mới chấm dứt. Kể từ đó trở đi, bạn không chỉ phải dùng trí tuệ, cơ thể, tinh huyết để mưu phúc lợi cho nhân loại, mà thậm chí cả chất thải của bạn cũng không được tha, giống như thứ thuế má ngặt nghèo của Mỹ vậy.
Thế nhưng Đại nương không đồng ý với tôi. Bà ấy bước tới, nhổ nước bọt vào mặt tôi. Đây lại là một sự mê tín dị đoan khác liên quan đến hồn ma; nhổ nước bọt vào họ sẽ khiến họ biến mất. Thế nhưng tôi chẳng hề biến mất tăm tích, ngược lại còn làm ướt sũng cả quần. Một dòng nước ấm tuôn xối xả dọc theo đùi tôi, chảy ra một vũng nước tiểu trên mặt đất, tôi cứ tưởng Đại nương nhất định sẽ đánh mình, thế nhưng bà ấy chỉ thốt lên một câu: "Nhìn kìa, nó đang đi tiểu đấy."
Đỗ Vân khó hiểu: "Sao lại có chuyện này được chứ? Hồn ma làm gì biết đi tiểu."
“Đồ ngốc, tự mày nhìn đi, rõ ràng nó đang đi tiểu kìa.”
“Nó rốt cuộc có phải là ma hay không?”
Họ bước tới, vây quanh vũng nước tiểu do tôi để lại tranh cãi kịch liệt về hình dáng, màu sắc và mùi vị, cuối cùng họ quyết định kiếm cho tôi chút gì đó để ăn. Bởi vì họ cảm thấy, nếu tôi thực sự là ma, sẽ cầm lấy đồ vật rồi rời đi ngay. Còn nếu tôi vẫn là cô bé ấy, tôi sẽ ngừng cằn nhằn mà quay về đi ngủ, và quả thực sau khi ăn xong một nắm cơm nắm thì tôi đã làm đúng như vậy. Tôi ở lại, mơ thấy tất cả những chuyện này chỉ là một phần trong giấc ác mộng dài đằng đẵng mà thôi.
Sáng hôm sau tỉnh dậy, tôi nói với Đại nương rằng tôi vẫn bị cơn ác mộng đó quấy rầy. "Cậu vẫn đang nằm trong mộng đấy chứ," bà ấy nói, "Bây giờ dậy đi, chúng ta dẫn cậu đến một nơi, để cậu hoàn toàn tỉnh táo lại."
Chúng tôi đến một ngôi làng tên là Áp Quy cách phía nam Trường Minh sáu dặm. Trong làng có một người phụ nữ mù tên là Tam Cô. Bà ấy không phải là cô của tôi, thực ra bà ấy chẳng phải cô của ai cả, đó chỉ là tên của bà ấy mà thôi. "Tam Cô" thường là biệt danh của một "kẻ nói chuyện với người chết", khi còn trẻ bà ấy đã nổi tiếng gần xa vì tinh thông đạo lý này, đến khi trung niên, một nhà truyền giáo Thiên Chúa giáo đã thuyết phục bà từ bỏ việc trò chuyện với các linh hồn khác, chỉ tôn sùng Thánh Linh. Đến tuổi xế chiều, quân Giải phóng đã cải tạo bà, bà cũng không còn tin Thánh Linh nữa, đến khi bà già hơn nữa, những lời khuyên răn và cải tạo từng ảnh hưởng đến bà cuối cùng đều trở nên không còn quan trọng nữa, bà cũng quên sạch sành sanh những điều đó.
Lúc chúng tôi bước vào nhà, Tam Cô đang ngồi trên chiếc ghế đẩu ở chính giữa sàn nhà. Đại nương đẩy tôi lên phía trước. "Xem rốt cuộc con bé bị làm sao thế này?" Đỗ Vân rụt rè nói. Tam Cô cầm lấy bàn tay tôi đặt trong lòng bàn tay thô ráp của bà, ngước mắt nhìn màu sắc của những đám mây trên bầu trời, trong phòng ngoại trừ tiếng thở của tôi ra thì tĩnh lặng đến đáng sợ. Cuối cùng, Tam Cô tuyên bố rằng: "Con bé này đã bị hồn ma nhập thể." Đại nương và Đỗ Vân la oai oái, còn tôi thì vừa đá vừa nhảy, muốn giãy giụa thoát khỏi lời nguyền rủa này.
“Chúng ta có thể làm gì không?” Đỗ Vân hỏi.
“Chẳng thể làm gì cả, linh hồn rời khỏi thể xác thì không muốn quay về, linh hồn nhập vào thể xác khác khi chưa tìm thấy linh hồn ban đầu thì không thể rời đi.” Tôi nhớ lại cảnh tượng lần đầu tiên mình nhìn thấy Tiểu Bao Tử, con bé đang nhìn tôi từ sau khung cửa sổ ở căn phòng đối diện, tôi chỉ vào con bé và nói: “Nhìn kìa. Nó ở đằng kia!” Còn con bé hình như cũng đang làm điều tương tự ở sau cửa sổ. Tôi nghĩ những gì tôi nhìn thấy chính là do bản thân mình làm ra.
Trên đường về nhà, Đại nương và Đỗ Vân cãi nhau suốt dọc đường về một chuyện mà một đứa trẻ chưa từng nghe thấy bao giờ.
“Chúng ta nên chôn con bé đi, để nó trở về nơi nó nên thuộc về.” Đại nương nói.
“Không, không được.” Đỗ Vân nói, “Nó sẽ quay lại, là một hồn ma, nó sẽ ôm hận với những việc chúng ta đã làm.”
Đại nương lại nói: “Đừng nói nó là hồn ma nữa, chúng ta không thể mang hồn ma về nhà được. Dù cho nó thực sự là — ôi chao, đây là cái thá gì chứ! — tất cả chúng ta đều sẽ bị thay đổi mất thôi.”
“Nhưng người ta nhìn thấy nó sẽ thấy kỳ lạ, một đứa con gái lại phát ra giọng nói của đứa con gái khác...”
Khi chúng tôi đến Trường Minh, Đại nương và Đỗ Vân quyết định cứ coi như tôi chưa từng xảy ra chuyện gì cả, đây cũng là thái độ bất đắc dĩ mà đại đa số người ta dành cho cuộc sống đổi thay thất thường của họ, sai chính là đúng, phải chính là trái. Nếu có người nói “Con bé này là một hồn ma”, Đại nương sẽ đáp lại rằng, “Đồng chí, anh sai rồi, chỉ có bọn phản động mới tin có ma thôi.”
Trong tang lễ của Tiểu Bao Tử, tôi nhìn thấy thể xác của chính mình nằm trong quan tài. Tôi khóc lớn vì người bạn của mình, và cũng khóc cho chính bản thân mình. Những người đưa tang khác vẫn chưa phân biệt được rốt cuộc là ai đã chết, họ vừa khóc vừa gọi tên tôi. Khi Đại nương đính chính lại cho họ, họ lại vừa khóc vừa gọi tên Tiểu Bao Tử. Lúc này Đỗ Vân bắt đầu ôm mặt khóc rống lên.
Tiếp theo đó trong một thời gian dài, khi giọng nói của tôi phát ra từ cái cổ họng tàn phế ấy, sẽ dọa sợ bất kỳ ai nghe thấy nó. Không ai nói chuyện với tôi, không ai dám chạm vào tôi, cũng không ai chơi đùa cùng tôi. Họ nhìn tôi ăn uống, nhìn tôi đi qua những con hẻm phố. Nhìn tôi khóc lóc. Một đêm nọ, tôi tỉnh lại trong bóng tối, phát hiện ra Đỗ Vân đang ngồi bên mép giường của tôi, miệng lẩm bẩm niệm chú. “Tiểu Bao Tử, cục cưng của mẹ, hãy quay về bên mẹ đi!” Cô ta kéo tay tôi, đưa nó lại gần ngọn nến. Khi tôi rụt tay lại, cô ta chật vật rụt đôi tay của mình về, trông thật bất lực, thật tuyệt vọng, thật não nề, giống như một chú chim bị thương đôi cánh. Tôi nghĩ, cô ta thực sự đã coi tôi như con gái ruột của mình rồi. Tâm bệnh này khiến cô ta vừa không thể thốt lên lời, lại vừa chẳng tài nào giải tỏa nổi. Trong thôn có rất nhiều người mang những nỗi u uất khó nói thành lời như thế này, bọn họ có thể thấu hiểu. Họ vờ như không coi tôi là hồn ma, họ vờ như vẫn coi tôi là cô bé ấy.
Lúc này, mưa lại bắt đầu rơi, tiếp theo thì lũ lụt kéo theo, chẳng bao lâu sau thì có một vị cán bộ mới đến. Anh ta muốn chúng tôi lao động thật hăng say, phá trừ tứ cũ, thiết lập tứ mới. Hoa màu sinh trưởng, ếch nhái kêu ran, bốn mùa luân phiên thay đổi. Cuộc sống bình lặng cứ thế trôi qua ngày này qua ngày khác, cho đến khi mọi thứ lại bắt đầu từ vạch xuất phát.
Một ngày nọ, một người phụ nữ ở thôn bên cạnh hỏi Đại nương, “Này, sao chị lại gọi con bé mập mạp đó là Bánh Kẹp Chảo thế?” Đại nương nhìn tôi, dường như đang suy nghĩ điều gì đó, “Trước kia nó gầy lắm, bởi vì nó nhất quyết không chịu ăn thịt ếch, bây giờ nó không nhịn được nữa nên đã ăn rồi.”
Đúng vậy, tất cả mọi người đều cố gắng né tránh chuyện này, rồi sau đó, họ cũng thực sự quên bẵng đi mất. Bọn họ quên mất năm đó không hề có lũ lụt. Bọn họ quên mất Đỗ Lệ Lệ trước kia tên là Đỗ Vân. Bọn họ quên mất cô bé ấy đã chết đuối. Đại nương vẫn thường xuyên đánh tôi, chỉ là vì cơ thể tôi mập mạp hơn trước rất nhiều, những cú đấm của bà ấy không còn khiến tôi cảm thấy đau đớn như xưa nữa.
Nhìn đôi bàn tay này xem, có những lúc ngay cả bản thân tôi cũng cảm thấy chúng đích thực là của chính mình. Tôi nhớ lại bộ dáng trước kia của mình, có lẽ đó là giấc mộng mà tôi vẫn luôn cố gắng kháng cự khi bản thân tỉnh táo, thế nhưng lúc này tôi sẽ nhớ đến một giấc mộng khác.
Trong giấc mộng đó, tôi đã đến âm phủ, tôi nhìn thấy rất nhiều chuyện. Từng đàn chim, có những con bay tới, có những con bay đi. Tiểu Bao Tử và cha mẹ con bé cùng nhau bay lượn. Những con ếch biết ca hát mà tôi từng ăn lại khoác lên mình bộ cánh màu xanh lá. Tôi biết mình đã chết rồi, tôi nóng lòng muốn gặp mẹ mình. Thế nhưng chưa đợi tôi tìm thấy bà ấy, đã có người lao vụt về phía tôi, trên khuôn mặt mang theo sự phẫn nộ và lo âu.
“Cậu phải quay về,” cô bé vừa khóc vừa nói, “Bảy năm nữa tớ sẽ ra đời. Tất cả những chuyện này đều đã được sắp đặt sẵn rồi, cậu đã hứa là sẽ đợi cơ mà, chẳng lẽ cậu quên rồi sao?” Cô bé cứ lay gọi tôi không ngừng, cho đến khi tôi sực nhớ ra.
Tôi lại bay trở về dương gian. Tôi cố gắng quay trở lại thể xác của mình, tôi vừa kéo vừa đẩy, thế nhưng cỗ thể xác gầy còm ốm yếu của tôi đã sớm tàn tạ không ra hình thù gì. Lúc này trời đã tạnh mưa, mặt trời ló dạng, Đỗ Vân và Đại nương vén tấm nắp quan tài lên. Mau lên, mau lên, rốt cuộc tôi nên làm gì đây?
Nói cho tôi biết đi, Li-bi-a, tôi đã làm sai điều gì chứ? Tôi chẳng còn sự lựa chọn nào khác. Tôi còn có thể hứa hẹn với cậu điều gì nữa đây?