Ngã Thị Lưu Tâm Võ

Lượt đọc: 35 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Đôi Bàn Tay Buông Thả Cánh Chim Của Mẹ

❊ ❊ ❊

Trong sâu thẳm tình cảm, tôi từng có những xung đột ngắn ngủi nhưng gay gắt với mẹ.

Đó là nỗi oán trách đơn phương chôn chặt nơi đáy lòng tôi suốt bao năm. Khi mẹ còn sống, tôi chưa từng thổ lộ với bà. Cho đến trước khi viết bài này, tôi cũng chưa từng giãi bày cùng những người thân thiết nhất.

Từ trường của mẹ

Trung xuân năm 1988, tôi nhận lời mời sang Hồng Kông tham dự lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập báo "Đại Công báo". Trong thời gian đó, tôi ghé thăm một thầy tướng số nổi tiếng ở Hồng Kông; chúng tôi kết giao như những người bạn văn. Ông không chỉ yêu thích văn học mà còn từng xuất bản chuyên khảo văn học, dĩ nhiên nghề chính của ông vẫn là xem bói, xem phong thủy. Nghe nói nhiều nhân vật danh tiếng chốn chính trường, thương giới trong và ngoài nước đều tìm đến nhờ ông coi tướng. Ông cũng xem cho người bình thường, nhưng phải đặt lịch hẹn trước rất lâu. Một năm khác tôi qua Hồng Kông tìm ông, ông đang tiếp một cặp vợ chồng bình dị đến xem tướng cho đứa con hai tuổi, mà lịch hẹn của họ đã có từ gần ba năm trước — khi người mẹ vừa mới mang thai không lâu.

Lần gặp năm 1988 ấy, ông không chỉ đoán định đại vận nửa đời sau của tôi, mà còn lập cho tôi lưu niên mệnh số, trong vòng năm năm gần nhất chuẩn xác đến từng tháng. Ít nhất cho đến tận bây giờ, những lời tiên đoán của ông đều lần lượt ứng nghiệm. Tạm gác chuyện đó sang một bên, điều khiến lòng tôi chấn động nhất là khi ông trịnh trọng nói: "Trong cả cuộc đời này, thường ngay chính cậu cũng không nhận ra, cậu bị bao trùm dưới tầm ảnh hưởng mạnh mẽ nhưng vô hình từ người mẹ; ngược lại, cha cậu không tạo ra ảnh hưởng lớn đến thế." Phải chăng ông đang mượn "phức cảm Oedipus" của Freud (còn gọi là phức cảm yêu mẹ giết cha)? Vị bạn tướng số này có vốn lý luận mệnh học kết hợp cả Đông lẫn Tây. Chỉ cần biết rằng ngoài tiếng Quảng Đông, thứ tiếng ông nói lưu loát nhất là tiếng Pháp, kế đó là tiếng Anh, thư phòng chất đầy sách triết học kể cả ngoại văn, là đủ hiểu ông không phải hạng "thầy tướng giang hồ" tầm thường. Bởi thế, lời ông nói với tôi rõ ràng chẳng phải đơn giản là rập khuôn học thuyết của Freud. Ông thật sự nói trúng tim đen, và lòng tôi run rẩy thốt lên tiếng đồng tình: Đúng vậy. Có lẽ tôi không hề cam tâm, nhưng mỗi khi đứng trước bước ngoặt cuộc đời cần đưa ra lựa chọn quan trọng, "từ trường" của mẹ lại tác động mạnh mẽ lên tôi, khiến tôi bất giác bước đi theo hướng ấy.

Tình yêu của mẹ

Thời thơ ấu và niên thiếu, tôi luôn sống bên mẹ, nhưng cũng chỉ "dừng lại ở đó". Tôi đọc cuốn "Người thương tôi nhất trên đời đã đi rồi" do Trương Khiết dồn hết tâm can viết ra sau khi mẹ bà qua đời, trong lòng bỗng dâng lên một nỗi niềm tựa như ghen tị lẫn bùi ngùi. Bất kể gian nan khốn khó dường nào, bất kể yêu thương quá đỗi cũng sinh ra oán hờn, rốt cuộc họ vẫn nương tựa nhau đến trọn đời trọn kiếp; một người ra đi, người còn lại trên thế gian đã dùng cả một cuốn sách dày cộp để dựng nên tượng đài bất hủ cho mẹ. Người dưới suối vàng nếu có linh thiêng, ắt hẳn sẽ vui sướng xiết bao!

Còn tôi, những năm tháng sống cùng mẹ, vì bên cạnh còn có cha, có anh chị, ai nấy đều cưng chiều tôi, nên trong sự ngây ngô vô tâm, tôi chưa từng đặc biệt chú ý đến việc tận hưởng tình mẫu tử. Người "thương tôi nhất" có lẽ đúng là mẹ, nhưng trong lòng tôi lại chẳng hề hằn sâu chữ "nhất" ấy.

Năm 1942, vào những năm tháng gian khổ nhất của cuộc kháng chiến chống Nhật, mẹ sinh tôi ra trên phố Dục Anh Đường ở Thành Đô, Tứ Xuyên. Khi đó cha tôi đang ở Trùng Khánh. Do máy bay giặc Nhật thường xuyên ném bom Trùng Khánh, nên sinh tôi chưa được bao lâu, mẹ đã theo lời dặn trong thư cha, dắt díu anh chị em tôi trở về quê cũ hẻo lánh — huyện An Nhạc — để "lánh nạn". Mãi đến khi kháng chiến thắng lợi, cha mới đón mẹ con tôi về Trùng Khánh sinh sống.

Thành phố sương mù Trùng Khánh trong ký ức tuổi thơ tôi chỉ là một vệt bóng mờ ảo lãng mạn. Ký ức chân thực và sâu sắc nhất thời thơ ấu lẫn thiếu niên của tôi là cuộc sống ở Bắc Kinh. Từ năm 1950 đến 1959, từ khi tôi 8 tuổi đến 17 tuổi. Hồi đó cha tôi làm việc trong một cơ quan nhà nước ở Bắc Kinh. Ông xuống nông thôn tham gia cải cách ruộng đất một năm, sau đó thường xuyên đi công tác, về sau tuy ít đi công tác hơn nhưng trừ chủ nhật và ngày lễ, ông đều đi sớm về muộn. Các anh chị tôi người thì vốn đã ở nơi khác, người thì lần lượt rời nhà sống tự lập, trong nhà ngày thường chỉ có tôi và mẹ.

Nhớ lại mười năm ấy, sự dưỡng dục của mẹ dành cho tôi cả về vật chất lẫn tinh thần đều phi thường khác biệt.

Về vật chất, bản thân mẹ cực kỳ xuề xòa chuyện ăn mặc, đối với tôi cũng vậy, miễn sao có đồ mặc, không đến mức rách rưới quá, mùa đông không bị lạnh là được. Đồ dùng trong nhà, như bàn ghế tủ giường, so với nhà các vị lãnh đạo thì quả thực quá đỗi thô sơ. Nhưng về ăn uống, đó lại là chuyện hệ trọng bậc nhất. Mẹ nấu những món ăn Tứ Xuyên ngon đến mức tuyệt đỉnh. Chưa kể mẹ có thể tự tay làm nên cả một bàn tiệc thịnh soạn khiến bạn bè của cha — toàn những người từng trải việc đời, từng ăn biết bao sơn hào hải vị — cũng phải hết lời khen ngợi; ngay cả những "món ăn thường ngày" mà mẹ quanh năm không ngơi tay luân phiên chế biến như lạp xưởng Tứ Xuyên, thịt hun khói, thịt kho, dưa muối, tương đậu nước, bánh trôi Lại thang viên, bánh ú thịt, trứng bắc thảo, trứng muối, cơm rượu, ruốc thịt, gà luộc chặt miếng, vịt hun khói trà Chương Châu, thịt kho khâu nhục, thịt hấp bột gạo... màu sắc, hương vị đều không chê vào đâu được, nhìn vào tuyệt đối khiến người ta ứa nước miếng. Mà trong suốt mười năm ấy, ngày nào tôi cũng được ăn những món ngon lành do chính tay mẹ nấu. Mẹ luôn bảo tôi cứ "hắc khởi ngật" (tiếng Tứ Xuyên, ý bảo mở rộng bụng ra mà ăn cho đã). Đơn vị của cha ở xa, trưa không về ăn được, buổi tối cũng chẳng mấy bữa có mặt, nên ngày thường mẹ gần như chỉ cặm cụi chẳng nề hà phiền toái nấu nướng những món ngon cho riêng một mình tôi. Có người biết chuyện nhà tôi, từ sớm đã lên tiếng cảnh báo tôi: "Sau này cậu rời nhà, xem cậu làm sao ăn cho quen được!" Nhưng khi ấy tôi còn khờ khạo, nào có nghĩ đến chuyện "sau này". Cuộc sống có lẽ cứ êm đềm trôi đi như thế mãi chăng? "Mẹ ơi! Con muốn ăn cá sốt tương đậu! Muốn uống canh dưa chua đậu ván nấu thịt hun khói!" Thế là khi ngồi vào bàn ăn tối, chắc chắn sẽ có hai món ngon "tuy chỉ là cơm nhà" ấy... Lúc đó, tôi mơ hồ nghĩ rằng việc ấy đối với mình là lẽ đương nhiên. Nói thêm một câu, đối lập với điều đó là mẹ hầu như không bao giờ mua kẹo bánh quà vặt cho tôi; tôi tự vòi tiền mua đồ ăn vặt, mẹ cũng rất tiếc của, không nỡ cho. Thỉnh thoảng thấy tôi ăn kẹo quả sơn tra cuốn, mứt sơn tra miếng, kẹo kéo Quan Đông... tuy mẹ không đến mức tịch thu, nhưng lần nào cũng cằn nhằn mắng tôi một trận. Mẹ tin chắc rằng một người chỉ cần ăn đủ ba bữa cơm đàng hoàng thì sẽ khỏe mạnh sống lâu; hơn nữa sau những lời nói ấy, dường như còn truyền đi một niềm tin: con người chỉ khi ăn "cơm đàng hoàng" mới đi ngay bước thẳng, ăn quà vặt đồng nghĩa với việc đạo đức bắt đầu trượt dốc — dĩ nhiên mãi nhiều năm sau, tôi mới có thể đúc kết những gì mình thấu hiểu thành những câu chữ như thế này. Mẹ "nuôi nấng" chuyện ăn uống của tôi như vậy khiến hàng xóm chung quanh hết sức kinh ngạc, ai nấy đều đồng thanh cho rằng mẹ quá "nuông chiều" và "quá cưng nựng" tôi. Nhưng sau đó lại có thêm chuyện khiến hàng xóm sửng sốt hơn. Hồi ấy chúng tôi sống trong khu tập thể cơ quan nằm sâu trong một con ngõ ở quận Đông Thành, Bắc Kinh. Mùi thơm bay ra từ căn bếp nhà tôi, rồi việc mẹ thường xuyên phơi lạp xưởng tự làm bên ngoài bếp, những cảnh tượng ấy cố nhiên rất dễ thu hút sự chú ý của mọi người; vả lại thư từ bưu phẩm của mỗi nhà, đặc biệt là báo chí đặt mua, đều phải qua phòng bảo vệ, nếu nhà ai nhận lượng bưu phẩm lớn thì dĩ nhiên càng khó tránh khỏi ánh mắt tò mò và lời bàn tán. Điều khiến hàng xóm ngạc nhiên tột độ là gia đình đặt nhiều báo chí nhất chính là nhà tôi — nếu số báo ấy đều do cha tôi đặt thì chẳng có gì lạ, nhưng cha tôi thực ra chỉ đặt duy nhất một tờ "Nhân Dân nhật báo", số còn lại toàn bộ đều do tôi đặt. Hồi tiểu học và sơ trung là "Nhi đồng thời đại", "Thiếu niên văn nghệ", "Liên hoàn họa báo", "Tân thiếu niên báo", "Trung học sinh", "Tri thức tựu thị lực lượng"... Lên cao trung thì là "Văn nghệ học tập", "Nhân dân văn học", "Văn nghệ báo", "Tân quan sát", "Dịch văn", "Đại chúng điện ảnh", "Hí kịch báo"... cho đến cả "Thu hoạch" và "Độc thư". Nhiều báo chí như thế phải tốn một khoản tiền rất lớn. Có bà bác hàng xóm không hiểu nổi, bèn hỏi mẹ tôi: "Sao cô lại chịu chi nhiều tiền thế cho một thằng con út hả! Cô nhìn cô xem, bản thân mặc rách rưới thế này, trong nhà đến bộ ghế sô-pha cũng chẳng sắm!" Mẹ trả lời rất thản nhiên: "Nó thích mà bác! Sở thích này cứ chiều theo nó thôi!" Thật ra hàng xóm mới chỉ để ý đến khoản đầu tư đặt mua báo chí, họ đâu biết rằng khoản tiền mẹ chi cho tôi mua sách đọc ngoại khóa, rồi sau khi tôi lên cao trung, khoản tiền mua vé xem phim và kịch nói còn là một con số đáng kinh ngạc hơn nữa. Từ năm 1955 đến năm 1959, tôi gần như không bỏ sót bất kỳ bộ phim dịch nhập khẩu nào thời đó, cả những bộ phim Liên Xô bản gốc bán vé chiếu công khai tại hội trường Hội Hữu nghị Trung - Xô ở Nam Trì Tử (những phim như "Khi đàn sếu bay qua", "Người thứ bốn mươi mốt" tôi đều xem ở đó). Lại thêm nhà tôi cách Nhà hát Nghệ thuật Nhân dân Thủ đô không xa, nên hồi ấy gần như mọi vở kịch do Nhà hát Kịch nói Nghệ thuật Nhân dân Bắc Kinh công diễn tôi đều đi xem hết. Vì sao tôi lại tính tất cả những khoản đầu tư này lên đầu mẹ? Bởi vì tiền trong nhà tuy đều là từ đồng lương cha kiếm được (lúc đó ông hưởng bậc lương hành chính cấp 12, mức lương thuộc diện cao), nhưng tiền nong đều do mẹ toàn quyền quán xuyến. Cha bận rộn với công việc của ông, vả lại ông có một thế giới riêng của mình, hầu như chẳng bao giờ can dự vào chuyện của tôi. Mọi sự của tôi đều do mẹ đứng ra lo liệu. Cho nên, nếu mẹ không "dung túng" và "nuông chiều" sở thích văn nghệ của tôi hệt như chuyện cơm nước, thì năm xưa làm sao tôi có thể hấp thu được nhiều dưỡng chất văn hóa (dĩ nhiên cũng khá tạp nham) đến thế?

Chính dưới sự dưỡng dục như thế của mẹ, thể chất tôi sớm phát triển, và tâm lý tôi cũng nhanh chóng bành trướng — tôi mê văn học, nhưng tôi không nghĩ mình chỉ là một "thanh niên văn nghệ" đơn thuần, chỉ nên thử gửi bài tập viết cho các chuyên mục như "Mầm non" của các báo; tôi đã sớm đường hoàng tự coi mình là tác giả trưởng thành, trịnh trọng gửi bài loạn xạ tới những tờ báo, tạp chí cao cấp. Khỏi phải nói, dĩ nhiên tôi nhận về một đống thư từ chối bản thảo, nhưng cuối cùng vào năm 1958, khi tôi 16 tuổi học lớp mười một, tôi đã đăng được bài viết đầu tiên của mình trên tạp chí "Độc thư" — bài "Bàn về 'Người thứ bốn mươi mốt'".

Đối với tôi, đó dĩ nhiên là một sự kiện vô cùng trọng đại. Còn đối với mẹ tôi thì sao? "Nuôi quân nghìn ngày, dùng quân một giờ", chẳng lẽ bà không mừng rỡ phát cuồng ư?

Không, mẹ có lẽ cũng vui, nhưng mức độ vui mừng dường như chẳng hơn gì việc nhìn thấy tôi đạt điểm cao ở trường như bao chuyện thường ngày khác.

Mẹ qua đời vì bệnh tại Thành Đô năm 1988. Bà để lại một chồng nhật ký, riêng năm 1958 là một cuốn riêng dày cộp, gần như ngày nào cũng ghi chép không gián đoạn, bên trong đầy ắp những chuyện vụn vặt trong nhà tôi. Tôi tìm đi tìm lại, chuyện bài viết của tôi lần đầu tiên được in thành chữ chì — một việc đối với tôi là "kinh thiên động địa" — vậy mà bà nhất quyết không đả động lấy một chữ.

Mẹ tôi là một người mẹ bình phàm tột cùng, nhưng trong nét bình phàm ấy lại ẩn chứa bao điều khiến người ta phải suy ngẫm.

Tình yêu mà bà dành cho tôi, mãi rất lâu về sau, tôi mới có thể thực sự thấu hiểu.

Một tình yêu khác lạ

Năm 1959, tôi thi trượt đại học. Sau này chứng minh được rằng, đó không phải do tôi làm bài không tốt, mà là vì nguyên do khác, bên trong chứa đựng một câu chuyện khá phức tạp, ở đây xin tạm không nhắc tới. Tôi được Trường Chuyên khoa Sư phạm Bắc Kinh tiếp nhận, đành miễn cưỡng đến làm thủ tục nhập học.

Tôi cảm thấy "trong cái rủi có cái may" là trường này nằm ngay trong nội thành, nên tôi nghĩ mình đại khái vẫn có thể duy trì lối sinh hoạt gần giống như thời học cao trung — tối về nhà ăn cơm và ngủ lại. Cố nhiên trường học yêu cầu phải nội trú, hơn nữa trường sư phạm ăn uống không mất tiền, nhưng ở đó cũng có vài sinh viên không quá màng đến chuyện phấn đấu rèn luyện, gia cảnh lại chẳng đến mức khó khăn, ngày nào cũng chạy về nhà, bỏ cả suất cơm ở trường; một người bạn cùng lớp với tôi chính là như thế.

Tôi cứ ngỡ mẹ sẽ dung túng cho tôi tiếp tục lối sống "ngựa quen đường cũ" ấy. Thế nhưng bà lại chuẩn bị sẵn bọc chăn nệm và hòm xiểng cho tôi, cho thấy bà chưa từng đắn đo dù chỉ một giây, và cũng chẳng mảy may nghĩ rằng tôi sẽ giở thói vòi vĩnh — bà dứt khoát yêu cầu tôi phải ở nội trú, dặn tôi đến thứ bảy mới được về nhà. Tôi phục tùng, nhưng trong lòng thấy bứt rứt vô cùng.

Hồi ấy, sau giai đoạn "Đại nhảy vọt" đầy khoa trương, đất nước bước vào "thời kỳ ba năm khó khăn", cơm nước ở trường thế nào thì ai cũng tưởng tượng được, dầu mỡ thiếu thốn cùng cực. Mẹ ở nhà tuy cũng dần rơi vào cảnh "khéo vá chẳng nên manh", nhưng cha tôi nhờ cấp bậc chung quy vẫn có chế độ cung ứng đặc thù như chút dầu ăn và đậu tương, cộng thêm việc mẹ thường có tài "hóa mục nát thành thần kỳ", chẳng hạn như biến những thứ người phương Bắc hay vứt đi như đầu cá, ruột lợn thành những món đưa cơm ngon lành đến bất ngờ, nên mỗi độ chủ nhật về nhà, mâm cơm ấy vẫn xứng đáng là sơn hào mỹ vị; bởi thế khi trở lại nhà ăn của trường, bụng dạ lại càng thêm cồn cào khó chịu.

Mẹ không chỉ "đẩy" tôi vào trường, mà còn không chi trả tiền đặt mua báo chí cho tôi nữa, tôi chỉ đành tận dụng tối đa phòng đọc và thư viện của trường. Nơi đó tuy chỉ là một trường chuyên khoa, nhưng công bằng mà nói, lượng sách lưu trữ thông thường cũng khá phong phú, dần dà lôi cuốn khiến tôi say mê. Sau vài tháng, tôi cũng quen với việc giết thời gian trong thư viện, gặp dịp cuối tuần không về nhà mà cắm cúi cả ngày chủ nhật trong thư viện cũng đã xảy ra vài lần.

Tuy nhiên, tiền tiêu vặt hàng tháng mẹ cho tôi, so với số tiền các bạn học khác được gia đình chu cấp, vẫn thuộc dạng nhiều. Do đó thời ấy trong mắt bạn bè, tôi tỏ ra khá dư dả, thỉnh thoảng lại mua chút chà là Iraq (đó là một trong số ít loại thực phẩm không bán theo định lượng trên thị trường khi ấy) mời các bạn thân thiết cùng ăn.

Mùa xuân năm 1960, có một ngày thứ bảy tôi về đến nhà, vừa bước vào cửa đã thấy tình hình khác lạ, trông như thể đang chuẩn bị chuyển nhà... Quả nhiên không ngoài dự đoán, cha tôi nhận lệnh điều động đến giảng dạy tại một học viện quân sự ở Trương Gia Khẩu, mẹ cũng đi theo ông. Còn tôi thì sao? Cả cha và mẹ đều không chút do dự cho rằng tôi nên ở lại Bắc Kinh. Dĩ nhiên tôi cũng không nghĩ mình nên đi theo họ, dù sao tôi cũng đã là sinh viên đại học rồi; vấn đề nằm ở chỗ: căn nhà ở Bắc Kinh này, nói cụ thể hơn là căn phòng tập thể này của chúng tôi, có để lại cho tôi không? Nếu bảo giữ lại cả mấy gian phòng là quá nhiều, thì tại sao không giữ lại cho tôi lấy một gian?

Năm đó, cơ quan của cha có lệnh điều động vài người khác cùng đi Trương Gia Khẩu, trong đó có người chỉ đi một mình, vợ không đi theo, nhà ở Bắc Kinh đương nhiên vẫn được giữ lại. Rất nhiều năm sau, trải qua cả những biến động của thời "Cách mạng Văn hóa", nhưng rốt cuộc người ta có gốc rễ ở Bắc Kinh nên chung quy vẫn "lá rụng về cội". Hồi ấy, cho dù mẹ tôi theo cha đi Trương Gia Khẩu, nếu đề đạt với tổ chức xin giữ lại cho tôi một gian phòng, tổ chức chắc chắn sẽ đồng ý; thế nhưng cha lại trả lại toàn bộ phòng ốc, còn mẹ thì tư tưởng tình cảm hoàn toàn đồng nhất với cha, bà cho rằng trong hoàn cảnh này, tôi nên bắt đầu một cuộc sống hoàn toàn độc lập.

Trong nhà tôi, đối với những vấn đề liên quan đến tôi, mẹ là uy quyền tuyệt đối. Giả sử mẹ đề nghị giữ phòng cho tôi, cha sẽ không phản đối. Hành động này của mẹ cũng khiến hàng xóm chung quanh hết sức khó hiểu, đặc biệt là họ từng tận mắt chứng kiến mẹ nuông chiều tôi trong chuyện ăn uống và đặt mua báo chí ra sao, cớ sao đến chuyện nhà cửa hệ trọng hơn cơm nước và báo chí gấp bội, bà lại đột ngột đẩy tôi vào cảnh "không mảnh đất cắm dùi", thế thì còn xứng là mẹ hiền nữa chăng?!

Hôm cha mẹ dọn đồ rời Bắc Kinh đi Trương Gia Khẩu, vì không phải chủ nhật nên tôi chẳng đi tiễn, vẫn ngoan ngoãn ngồi trong lớp nghe giảng. Đến chiều thứ bảy tuần đó, tôi chợt nhận ra ở Bắc Kinh này, ngoài chiếc giường tầng trên trong ký túc xá tập thể ra, tôi không còn nơi nào khác có thể gọi là nhà nữa! Tôi trèo lên, nằm vật ra chiếc giường ấy, ngây dại nhìn lên vết ố trên trần nhà; tôi không khóc, nhưng có một nỗi đau thấu tận tâm can, không lời nào tả xiết, cũng chẳng biết tỏ cùng ai.

Hôm ấy, tôi còn chưa tròn 18 tuổi.

Tôi nghĩ chắc chắn sẽ có người cười nhạo tôi: Mười bảy, mười tám tuổi bắt đầu cuộc đời độc lập thì có gì lạ! Vào những năm tháng trước năm 1949, có người tầm 15 tuổi đã tham gia cách mạng rồi! Còn trong thời "Cách mạng Văn hóa", biết bao thanh niên lên núi xuống làng, lứa nhỏ nhất trong "Lão tam giới" (học sinh tốt nghiệp sơ trung năm 1966) khi đi cắm chốt nông thôn hay vào binh đoàn sản xuất cùng lắm cũng chỉ mới 16 tuổi. Đúng vậy, tôi cũng từng tự kiểm điểm nơi đáy lòng về sự yếu đuối nhu nhược và hèn mọn của mình, nên suốt bao năm không dám giãi bày tâm sự giai đoạn đó. Nhưng giờ đây thời thế đổi thay, tôi đã ngoài năm mươi, sự tôi luyện qua tháng ngày tự chịu trách nhiệm hoàn toàn về bản thân cũng đúc rút đủ cả bài học lẫn kinh nghiệm, nhờ đó tôi có thể bình tâm thoát khỏi cái tôi cá nhân, đứng ngoài quan sát và phân tích quá trình trưởng thành tâm lý trong giai đoạn bước từ thiếu niên sang thanh niên của mình; để rồi giờ đây tôi càng thấm thía hơn tình yêu thương vô giá mà cha mẹ, đặc biệt là mẹ, đã âm thầm thể hiện cho con cái, đặc biệt là cho tôi.

Mỗi người đều có những trải nghiệm sinh mệnh riêng biệt, nhưng chặng đường đời của tuyệt đại đa số mọi người lại thường có thể quy về những nét tương đồng đại thể. Trong những năm tháng trước năm 1949, nhiều thanh niên tham gia cách mạng hoặc vì gia đình nghèo đói không có cơm ăn, hoặc vì gia đình khá giả, giàu có nhưng bản thân cảm thấy ngột ngạt tù túng, nên đã chủ động dấn thân vào cách mạng, rời nhà bay xa. Còn đại đa số thanh niên trí thức trong thời "Cách mạng Văn hóa", việc họ rời nhà lên núi xuống làng là bị cuốn vào một trào lưu thuận theo thời cuộc, bất kể bản thân ở trạng thái tích cực, tiêu cực hay mơ hồ. Thế nhưng trong một gia đình tương đối khá giả lại chan chứa tình thâm, trong một giai đoạn phát triển xã hội tương đối hòa bình, cha mẹ rất dễ vì nuông chiều và bao bọc con cái mà lơ là việc rèn luyện năng lực sống độc lập cho chúng, thậm chí đến lúc cần phải "buông thả cánh chim" vẫn không nỡ dứt khoát buông tay để chúng bay khỏi tổ, dang rộng đôi cánh bước vào hành trình tự lập. Kể từ thập niên 1980 đến nay, biết bao gia đình nhỏ phải đối mặt với một vấn đề tưởng chừng đơn giản nhưng thực tế lại chẳng hề giản đơn ấy; kết quả là xuất hiện rất nhiều thanh thiếu niên phát triển tâm tính chậm chạp, ảnh hưởng ra xã hội thì tạo thành hàng loạt vấn đề đạo đức, luân lý ngày càng tiêu cực, sự mất cân bằng sinh thái xã hội và sự thoái hóa tố chất dân tộc. Chính trong một môi trường nhân văn mới mẻ như thế, tôi mới đột nhiên nhận ra rằng, việc đứng từ góc độ mới này để hiểu sâu sắc hơn về một vài phương diện ở mẹ tôi, sẽ không chỉ mang lại gợi mở mới mẻ cho chính tôi, cho con trai tôi, mà khi viết ra, có lẽ đối với những người mẹ ngày nay cũng không phải là không có giá trị tham khảo.

Mẹ buông thả cánh chim cho chúng tôi bay đi

Thực ra tôi cũng từng viết về mẹ trong không ít bài văn, chỉ là chưa viết riêng thành một cuốn sách như Trương Khiết. Tôi từng hồi tưởng về nét hiền từ, sự bao dung độ lượng của mẹ, sự thành thật đến mức khi nhớ lại tôi thấy dường như hơi thái quá ở bà, dáng điệu luôn chậm chạp lề mề vì thân hình đẫy đà, rồi cả việc bà thuộc lòng từng nhân vật lẫn chi tiết trong "Hồng Lâu Mộng", việc bà mấy chục năm như một kiên trì viết nhật ký. Bà từng dùng câu văn thế này để kết thúc một trang nhật ký về chuyến đi Di Hòa Viên của cả nhà: "Lúc trở về, đèn muôn nhà đã sáng trưng!" Câu văn ấy người ngoài đọc vào chắc chắn thấy hết sức bình thường, nhưng đối với đứa trẻ lén đọc nó là tôi (khi ấy 11 tuổi) lại là một lần được gột rửa về mặt cảm xúc và thi vị...

Thế nhưng trong những ký ức của tôi về mẹ, không thể có tiếng thở dài của sự nương tựa lẫn nhau, cùng nhau dắt tay qua giông bão cuộc đời; không phải vì nhà nghèo khó nuôi, không phải vì tôi chán ngấy mái nhà cha mẹ muốn "phá cũi sổ lồng" (tâm trạng tôi hoàn toàn ngược lại), thậm chí cũng chẳng phải vì đại cục xã hội bắt buộc tôi phải "cắt rốn" đoạn tuyệt với cha mẹ (cố nhiên hồi ấy sợi dây đấu tranh giai cấp ngày càng căng thẳng, nhưng chưa ảnh hưởng đến việc tôi ít nhất là "dựa dẫm cha mẹ ở mức độ thích hợp", chẳng hạn như hy vọng cha mẹ khi rời Bắc Kinh sẽ "để lại phòng" cho tôi), mà là vì cha mẹ cùng chung quan điểm, đặc biệt là sự "kiên quyết không ngoảnh lại" của mẹ, muốn tôi từ sau 18 tuổi phải tự vỗ cánh bay vào xã hội, từ đó tự chịu trách nhiệm hoàn toàn với bản thân, từ việc tự nuôi sống mình đến tự xây tổ ấm, tự lấy vợ sinh con, tự mở ra một thế giới riêng cho chính mình.

Cha mẹ đối xử với mỗi người con trong nhà đều như thế. Anh cả tôi trước năm 1949 đã rời nhà tòng quân Giải phóng quân; anh hai mười sáu, mười bảy tuổi đã rời nhà đi học nghề làm giấy, năm 1950 được phân công về làm kỹ thuật viên tại một xưởng giấy ở ngôi làng hẻo lánh vùng Diên Biên; một người anh khác tốt nghiệp đại học cũng đi làm việc ở nơi rất xa, chị gái tôi cũng vậy. Tóm lại, tất cả chúng tôi trước tuổi 20 đều được cha mẹ kiên quyết thả cho bay đi.

Trong những năm tháng sau này, vào các kỳ nghỉ, dĩ nhiên chúng tôi đều về nhà thăm cha mẹ, họ sau này cũng từng đến nơi ở của từng người chúng tôi. Tình ruột thịt của chúng tôi không vì xã hội biến động hay sự đời đổi thay mà phai nhạt dù chỉ một chút. Đối với những đứa con đã tung cánh bay xa, mỗi khi chúng tôi gặp khó khăn, cha mẹ luôn không chỉ nâng đỡ về mặt tinh thần mà còn tiếp viện cả về vật chất. Chẳng hạn như năm 1971 khi tôi sinh con trai, cha mẹ tuy đã vì học viện quân sự giải thể mà bị bố trí tái định cư một cách bất hợp lý về quê nhà xa xôi, thế nhưng không những không đòi tôi phải gửi tiền từ Bắc Kinh về, mà hàng tháng còn đúng hẹn gửi từ quê lên Bắc Kinh cho tôi 15 đồng để trợ cấp sinh hoạt; mỗi tờ giấy chuyển tiền ấy đều là nét chữ của mẹ, bạn có thể bảo rằng bà làm thế chỉ vì "nuôi cháu nội", chứ đối với tôi lại không có tình mẫu tử nồng nàn hay sao?

Thế nhưng cha mẹ, đặc biệt là mẹ, ở điểm "con cái lớn khôn phải tự bay đi" thì sự kiên định lại đáng kinh ngạc vô cùng. Anh ba của tôi từng dạy học ở một trường trung học nông thôn phương Nam, bỗng một hôm có bức điện tín gửi về báo anh mắc bệnh lao phổi. Khi ấy cha đang đi công tác xa, người mẹ vốn dĩ hành động chậm chạp ngày thường, ngay hôm sau đã đích thân ngồi tàu hỏa đến chỗ anh, đón anh về Bắc Kinh điều trị, dốc hết tâm sức chăm sóc cho anh bình phục. Trong thời gian đó, hộ khẩu của anh đã được chuyển về Bắc Kinh; sau khi khỏi bệnh, việc tìm một công việc ở Bắc Kinh để ở lại trong nhà chẳng có gì khó khăn, nhưng mẹ lại như con chim mẹ liếm láp vết thương cho chim non, một khi chim non lành vết thương là lập tức thả bay không bàn cãi, tuyệt đối không mảy may nghĩ đến chuyện giữ anh lại bên mình. Anh tôi sau đó quả nhiên lại quay về ngôi trường trung học nông thôn xa xôi và điều kiện vô cùng gian khổ ấy; có hàng xóm cho rằng điều này thật không tưởng tượng nổi, nhưng mẹ thì lòng dạ thanh thản, coi đó là lẽ đương nhiên.

Mẹ có thể rời xa con cái, nhưng không thể rời xa cha. Ngoại trừ thời gian kháng chiến chống Nhật vì "lánh nạn" nên mẹ phải sống xa cha một dạo, suốt chặng đời dằng dặc của hai người, họ luôn gắn bó keo sơn không rời. Năm 1960, cha được điều động đến Trương Gia Khẩu, nơi đó là vùng "ngoài cửa ải", sự gian khổ thế nào có thể tưởng tượng được. Có người khuyên mẹ nên ở lại Bắc Kinh, chính sách chưa chắc đã không cho phép, hơn nữa qua vài năm nữa cha cũng đến tuổi nghỉ hưu, vừa hay có thể lui về an dưỡng tại nhà ở Bắc Kinh, huống hồ Bắc Kinh có tôi, tốt nghiệp trường sư phạm xong sẽ được phân công công tác tại Bắc Kinh, mẹ con vừa hay nương tựa vào nhau, chẳng phải vẹn cả đôi đường sao? Thế nhưng mẹ không hề dao động dù chỉ một phút, vừa nghe có lệnh điều động là bà bắt tay vào thu dọn đồ đạc, theo cha lên vùng ải bắc, trải qua sự gột rửa của "Cách mạng Văn hóa" tại nơi đó. Trong thời gian ấy, toàn bộ giảng viên của trường quân sự đều bị điều chuyển xuống trường cán bộ Hồ Bắc lao động; có những thân nhân quân đội viện cớ mình có hộ khẩu độc lập, không phải nhân viên trường quân sự nên muốn ở lại định cư, sau khi vận động không có kết quả, tổ chức cũng đành phải thu xếp cho họ ở lại.

Nhờ thế sau này khi trường quân sự bị "đập tan tành", một số cán bộ giáo viên lại được quay về với thân nhân chưa bị điều chuyển, điều kiện sinh hoạt tương đối được cải thiện. Nhưng mẹ tôi như thường lệ tuyệt đối không tính toán như vậy; bà lại không hề chần chừ dù chỉ một phút, thản nhiên cùng cha bước lên "toa tàu chở hàng bịt kín", ngồi bệt dưới sàn suốt dọc đường để bị đưa đến trường cán bộ Hồ Bắc... Đối với mẹ, vợ chồng không thể tự ý chia lìa; bất kể gặp phải hoàn cảnh nào, và bất kể sự chia ly dẫu ngắn ngủi có thể mang lại "mối lợi" nào đó trong tương lai, bà đều tuyệt đối không màng tới. Thật đúng là dẫu đường hoa gấm vóc hay biển lửa núi đao, chỉ cần còn một hơi thở, bà đều muốn cùng cha nắm tay đồng hành qua từng ngày từng đêm có thể. Đây là tư tưởng phong kiến "xuất giá tòng phu" chăng? Đây là "chủ nghĩa tình yêu tối thượng của giai cấp tư sản" chăng? Hay có lẽ, điều đó tựa như đôi chim nhạn già cùng nhau bay lượn, là một bản năng tuyệt mỹ?

Đặt sự việc mẹ nhất quyết không thể chia lìa với cha bên cạnh việc bà tuyệt đối buông thả cho con cái trưởng thành tự bay đi mà nhìn nhận, giờ đây tôi mới ý thức được rằng, một người mẹ như thế thực sự không hề đơn giản. Hoặc đổi một cách nói khác: Đây vốn là hình mẫu người mẹ bình thường nhất, nhưng ít nhất là trong môi trường xã hội mà chúng ta đang sống hiện nay, bà lại trở nên chẳng hề bình thường chút nào. Với "khứu giác chính trị" của tôi, cho đến tận mùa xuân năm 1966, tôi vẫn vạn lần không ngờ được rằng một cơn giông bão mang tên "Đại cách mạng Văn hóa vô sản" đã cận kề trước mắt.

Tôi dạy học tại một trường trung học ở Bắc Kinh, bấy giờ chưa đầy 24 tuổi nhưng đã có gần năm năm thâm niên đứng lớp, việc giảng dạy đối với tôi khá quen tay thạo việc. Trường trung học là một thế giới rất nhỏ bé, khi ấy cách rất xa tâm xoáy chính trị. Tôi ngoài việc dạy học thì chỉ ngồi trong ký túc xá của trường đọc sách, viết vài bài văn ngắn gửi đăng phụ trương báo chí kiếm chút nhuận bút còm, ngoài ra là đi dạo chơi ở Bắc Hải, công viên Trung Sơn. Bài viết phê phán "Hải Thụy bãi quan" của Diêu Văn Nguyên vừa đăng trên báo "Văn Hối báo" ở Thượng Hải, tôi đã đọc ngay trong phòng đọc của trường; trong lòng có chút ngạc nhiên, nhưng cũng chỉ dừng lại ở "chút xíu" đó thôi, các giáo viên khác dường như đến hứng thú đọc cũng chẳng có, không ai ngờ rằng bài viết ấy lại là mồi lửa cuốn tất cả chúng tôi vào một trận hạo kiếp. Những bài viết ngắn tôi gửi báo "Bắc Kinh vãn báo" thỉnh thoảng được in ngay bên cạnh mục "Yên Sơn dạ thoại" trên trang phụ trương, nhưng tôi chẳng hề có cảm giác được sủng ái mà lo sợ, càng không thấy điềm triệu bất an, vì thế khi mấy tháng sau những "Hồng vệ binh" hung hãn chất vấn tại sao tôi lại "kẻ xướng người họa" với "Yên Sơn dạ thoại", tôi hoàn toàn chết lặng câm nín...

Chính vào mùa xuân năm ấy, vỏ chăn bông của tôi đã mục nát không thể dùng nổi nữa. Đó là chiếc chăn do chính tay mẹ may cho tôi khi bà buông tay để tôi tự lập. Sau khi cần mẫn phục vụ tôi suốt mấy năm trời, cuối cùng nó cũng đi đến giới hạn buộc phải thay mới. Thế là tôi viết thư cho mẹ ở Trương Gia Khẩu, xin mẹ một chiếc vỏ chăn. Điều này đối với tôi là chuyện tự nhiên đến tột cùng: hồi ấy tuy tôi đã kiếm được mức lương 54 đồng mỗi tháng, thỉnh thoảng lại có thêm dăm ba đồng hay mười đồng nhuận bút, sống một mình nên kinh tế chẳng khó khăn gì, thỉnh thoảng tôi còn gửi biếu mẹ mười, hai mươi đồng để tỏ lòng hiếu thảo. Tôi không phải không đủ tiền sắm một chiếc vỏ chăn mới, nhưng tôi không biết phải đi đâu mua vỏ chăn may sẵn, hoặc mua vải trắng về để tự may. Đó là điều tôi khó lòng nghĩ tới; việc thế này đương nhiên là mở miệng xin mẹ.

Mẹ nhanh chóng gửi bưu phẩm cho tôi, bên trong là một chiếc vỏ chăn mới do bà tự tay may; nhưng đồng thời tôi cũng nhận được thư mẹ, trong thư có mấy câu khiến tôi cảm thấy nhói buốt tâm can: "... Vỏ chăn mà cũng vẫn hỏi xin mẹ, thôi được, lần này học tập Lôi Phong, làm việc tốt, gửi cho con một chiếc..."

Đó chính là xung đột tình cảm trong nội tâm với mẹ mà tôi đã nhắc đến ở đầu bài. Nằm trong chiếc vỏ chăn mới mẹ gửi, tôi dâng lên một cảm giác thê lương; mẹ gửi vỏ chăn cho con trai, sao lại biến thành "học tập Lôi Phong, làm việc tốt", cứ như là đi làm "lao động nghĩa vụ" vậy?!

Dĩ nhiên, trong những năm tháng ấy, đó là một chuyện vô cùng nhỏ nhặt và vụn vặt, huống hồ rất nhanh sau đó đã bước vào thời kỳ "Cách mạng Văn hóa", nỗi không vui đối với mẹ này cũng mau chóng chìm sâu xuống đáy lòng, phủ bụi thời gian.

Sau khi "Cách mạng Văn hóa" qua đi, do một sự tình cờ, những lời mẹ viết trong bức thư gửi kèm chiếc vỏ chăn năm xưa lại trồi lên trên tầng ký ức, thế là tôi thầm phân tích: Phải chăng bà vì chịu sự hun đúc từ "ngữ cảnh" xã hội lúc đó mà thuận tay viết ra? Hay vì chung quy bà cũng chỉ là một bà lão bình thường, không kìm được thói "so đo tính toán" vì một chiếc vỏ chăn? Hay là đối với tôi, nói cho cùng bà không hề có một tình mẫu tử triệt để nhất?

Cũng từng có vài lần đứng trước mặt mẹ, lời đến bên miệng suýt nữa đã hỏi ra, nhưng rốt cuộc lại nuốt ngược trở vào; nuốt vào là đúng đắn. Cũng từng giả định rằng đó chỉ là sự hài hước nhất thời của mẹ năm xưa, mẹ quả thực là người có khiếu hài hước, nhưng đồng thời bà cũng là người không bao giờ lấy từ ngữ chính trị ra để làm trò đùa.

Bây giờ tôi mới bừng tỉnh, lời mẹ khi ấy là những lời vô cùng nghiêm túc và nghiêm nghị; bà muốn bảo tôi rằng, một khi đã thả tôi bay đi, thì những việc như thay vỏ chăn này nọ, tôi phải tự tìm cách giải quyết. Trong những chuyện thế này, bà và tôi đã là "hai gia đình riêng biệt", dĩ nhiên bà sẵn lòng giúp đỡ tôi, nhưng đó thực sự là "phát huy tinh thần Lôi Phong", bà đang nhắc nhở tôi: "Chuyện của mình thì phải ráng tự độc lập giải quyết". Nhớ lại thì từ sau dạo ấy cho đến trước khi kết hôn, tôi thực sự chưa từng chìa tay xin mẹ những thứ như thế nữa; đồ dùng giường chiếu của tôi, việc thay mới hoàn toàn do bản thân tôi tự lo liệu, không mua được đồ may sẵn thì tôi mua vải trước rồi mang ra tiệm may của khu phố thuê họ ráp lại.

Sau khi mẹ buông tay để tôi tự lập, tôi ngày càng rời xa đôi bàn tay từng bao lần âu yếm vỗ về mình; thế nhưng những lời chỉ dẫn nhân sinh mà bà để lại, cho đến tận ngày hôm nay, tôi vẫn có thể từ những điều nhỏ nhặt nhất mà khai quật được những kho báu quý giá khôn cùng... Ai bảo lòng tấc cỏ, báo được ánh xuân ba!

Người yêu tôi nhất trên đời đã đi rồi

Cha tôi đột ngột qua đời vì xuất huyết não vào năm 1978. Sau khi cha mất, mẹ luân phiên đến ở nhà mấy anh chị em chúng tôi. Bà luôn giữ vững phẩm giá và sự độc lập về nhân cách, kiên quyết tiêu tiền của chính mình, viết nhật ký của riêng mình, mỗi ngày đều đọc một lượng lớn sách báo tạp chí, khi trò chuyện cùng con cháu thường xuyên đưa ra những kiến giải vô cùng độc đáo. Chẳng hạn, mỗi lần thấy Tổng thống Mỹ bấy giờ là Carter trên bản tin truyền hình, bà luôn buột miệng: "Cái ông mặt mày ủ rũ rầu rĩ này!" Bà có thể thưởng thức những cuốn tiểu thuyết với phong vị khá kỳ quặc của các nhà văn như Lâm Cân Lan... Hành động của bà cũng luôn tràn đầy sức sống phơi phới, ví như nhận một bác thợ sửa giày chất phác nơi đầu phố làm con nuôi, cùng nhiều chuyện tương tự.

Mùa thu muộn năm 1988, mẹ vì cảm thấy sức khỏe vô cùng bất ổn nên từ nhà anh hai vào bệnh viện; bà kiên quyết đòi tự mình xuống giường ngồi bô để đi vệ sinh.

Sau khi con cái chúng tôi và bầy cháu nội ngoại bà hết mực yêu thương đều đã đến bệnh viện thăm bà, vào một đêm nọ, bà đã dứt khoát tự tay rút mũi kim truyền dịch chống suy kiệt mà y tá vừa cắm cho mình, mỉm cười thanh thản đi theo cha. Khi con cái trưởng thành, bà kiên quyết buông tay để chúng tự bay đi; còn khi góa bụa, điều bà nghĩ tới là tuyệt đối không trở thành gánh nặng của con cái. Vào khoảnh khắc sắp sửa bước vào cảnh ngộ buộc con cái phải thay phiên nhau bưng bô đổ nước tiểu chăm sóc thân xác bệnh tật của mình, bà đã chọn cách an tử không lời tuyên bố, để vẽ nên một dấu chấm hết nhẹ nhõm, thanh thản cho một đời không có gì phải hổ thẹn.

Trong đêm tĩnh lặng, nhớ về mẹ, tôi bỗng dưng liên tưởng đến hai câu thơ Đường: "Duy lân nhất đăng ảnh, vạn lý nhãn trung thu." Đó vốn là câu thơ của thi nhân Tiền Khởi đời Đường viết để tiễn đưa một nhà sư Nhật Bản. Cảnh giới được tạo dựng là một chiếc thuyền chở người đi tu trôi ngày một xa trên biển lớn, nhưng ngọn đèn nơi khung cửa sổ con thuyền ấy lại mãi mãi soi sáng trong tâm khảm thi nhân. Tôi lại cảm thấy hai câu thơ này mượn để bao quát nỗi nhớ về mẹ quả thật vô cùng thỏa đáng. Ngọn đèn sáng lòng mà bà để lại cho tôi không vì thời gian chia ly giữa chúng tôi ngày càng dài mà trở nên mờ mịt tắt lịm; ngược lại, trên chặng đường đời của tôi, ngọn đèn ấy lại càng tỏa sáng rực rỡ hơn bao giờ hết, chỉ có điều ánh sáng sáng lòng ấy nhuần thấm tâm linh một cách lặng lẽ, trong một bầu không khí trang nghiêm mà đồng hành cùng tôi đến trọn đời.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.