Ngã Thị Lưu Tâm Võ

Lượt đọc: 35 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi Ký Về "Thầy Giáo Chủ Nhiệm"

❊ ❊ ❊

Trong cuốn "Lịch sử Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa của Cambridge (1966-1982)" do Roderick MacFarquhar và John King Fairbank chủ biên, trang 613, tại mục "Năm 1976 và sự xuất hiện của 'Văn học vết thương'" do giáo sư văn học so sánh Douwe Fokkema thuộc Đại học Utrecht (Hà Lan) chấp bút, ông đã viết như sau: "Trong số các nhà văn mới, Lưu Tâm Vũ là người đầu tiên chạm đến những hậu quả tiêu cực của 'Đại cách mạng văn hóa' một cách có phê phán. Truyện ngắn 'Thầy giáo chủ nhiệm' (1977) của ông đã thu hút sự chú ý của cả nước. Ông đã đề cập đến những ảnh hưởng tiêu cực và hậu quả tổng hợp mà 'Đại cách mạng văn hóa' mang lại cho cuộc sống bình thường của những thanh thiếu niên vốn là nạn nhân của nó." Tại trang 800, trong mục "Thời kỳ sau thời Mao" do giáo sư ngôn ngữ Đông Á Cyril Birch thuộc Đại học California chấp bút, lại viết: "Biểu hiện đầu tiên, và thực chất cũng là tuyên ngôn của 'Văn học vết thương', phải kể đến 'Thầy giáo chủ nhiệm' do Lưu Tâm Vũ xuất bản tháng 11 năm 1977. Người giáo viên trung học trong sách là một người kể chuyện xưng 'tôi' và là nhân vật được yêu thích mà Lưu cũng từng viết trong vài tiểu thuyết sau này. Bản thân câu chuyện mà người thầy giáo đó kể không có gì quá kịch tính, nhưng chỉ với vài nét bút đã phác họa nên những hình tượng thanh niên tương phản lẫn nhau. Một người là kẻ lầm lỡ còn sót lại từ thời 'Băng bốn tên', người thầy đó đã bỏ qua sự nghi ngờ của đồng nghiệp để khôi phục danh dự cho cậu ta. Nhưng người lầm lỡ này lại không thành vấn đề, vấn đề nằm ở chỗ cô thư ký chi đoàn bị mông muội về tư tưởng, thậm chí còn không mở mang đầu óc bằng cậu học sinh quậy phá kia, nhưng cô lại có nhiệt tình rất cao, hơn nữa động một chút là ngây thơ phán xét những tác phẩm văn học mình chưa từng đọc qua thành đọc vật dâm uế. Trái lại, học sinh thứ ba là một nhân vật được khẳng định, trong suốt thời gian động loạn, môi trường gia đình đã bảo vệ tâm hồn cô được lành lặn, bởi vì trong tủ sách nhà cô vẫn tiếp tục đặt tác phẩm của Tolstoy, Goethe, Mạo Thuẫn và La Quảng Bân." Sau đó lại nói: "Lưu Tâm Vũ vốn là người đại diện hùng hồn của thế hệ nhà văn trẻ đang bứt phá vươn lên..." Tiếp đó dẫn một đoạn phát biểu của tôi tại Đại hội Văn đại lần thứ tư vào tháng 11 năm 1979, rồi lại viết: "Trong việc vận dụng kỹ xảo truyện ngắn, Lưu Tâm Vũ tiến bộ rất nhanh. Tháng 6 năm 1979, ông xuất bản 'Tôi yêu từng chiếc lá xanh', câu chuyện này đã thành công kết hợp ẩn dụ, sự kiện kịch tính và cấu trúc thời gian phức tạp vào trong miêu tả nhân vật khắc sâu vào lòng người đọc, miêu tả một người kỳ quặc tài hoa xuất chúng nhưng lại bị bức hại. Ý tượng trung tâm của câu chuyện là tấm ảnh một người phụ nữ mà nhân vật chính giấu trong bàn học... Lưu Tâm Vũ đã dùng vật tượng trưng là tấm ảnh cất giấu để ẩn dụ một cách giật mình về 'mảnh đất riêng' của tri thức phân tử... Trong một môi trường như Trung Quốc, đây quả thực là một ý tưởng có thể gây nổ." (Bản dịch dẫn từ Nhà xuất bản Nhân dân Thượng Hải, bản in lần thứ nhất tháng 10 năm 1992). Trích dẫn lời của những "quỷ tây" này quả thực không phải để "sùng bái nước ngoài", mà chỉ nhằm giải thích một cách đơn giản mấy vấn đề sau:

(1) Tác phẩm "Thầy giáo chủ nhiệm" ra đời từ sự phẫn nộ tích tụ dồn nén bấy lâu của tôi đối với "Đại cách mạng văn hóa", trong đó tập trung thể hiện sự bất mãn mạnh mẽ đối với chủ nghĩa chuyên chế văn hóa của "Băng bốn tên".

(2) Tác phẩm này là bài được chính thức xuất bản sớm nhất trong "Văn học vết thương".

(3) Hứng thú đọc của mọi người đối với tác phẩm này, cũng như đối với toàn bộ "Văn học vết thương", chủ yếu vẫn không xuất phát từ sự quan tâm mang tính văn học, mà là tính chính trị, hoặc nói cách khác là sự quan tâm mang tính xã hội.

(4) Loại tác phẩm này sở dĩ có thể gây xôn xao là vì nó đã đi đầu nói ra cảm nhận chân thực "trong lòng ai cũng có" nhưng nhất thời không thể nói ra hoặc không nói rõ được; nói cách khác, nó là một bài viết gánh vác thỉnh cầu biến đổi của dân gian.

(5) Loại tác phẩm này trước tiên thu hút sự chú ý của các "chuyên gia vấn đề Trung Quốc" ở phương Tây như Fairbank, MacFarquhar — những người chủ yếu nghiên cứu chính trị, xã hội, lịch sử Trung Quốc — và được dùng làm tài liệu để khảo sát sự phát triển, biến đổi chính trị và xã hội Trung Quốc. Điều này dĩ nhiên về cơ bản là hai chuyện hoàn toàn khác so với việc đánh giá trên phương diện văn học thuần túy.

(6) Nếu xét văn học trên góc độ văn học, văn bản của "Thầy giáo chủ nhiệm", đặc biệt là kỹ xảo tiểu thuyết, còn thô giáp và vụng về. Nhưng đến khi tôi viết "Tôi yêu từng chiếc lá xanh", kỹ xảo bắt đầu có tiến bộ, tới năm 1981 khi viết truyện vừa "Cầu vượt lập thể", tôi mới bắt đầu có ý thức văn bản tự giác hơn.

Ý tưởng của "Thầy giáo chủ nhiệm" chín muồi và bắt đầu đặt bút vào khoảng mùa hè năm 1977. Khi đó tôi là biên tập viên Phòng biên tập Văn nghệ của Nhà xuất bản Nhân dân Bắc Kinh (nay là Nhà xuất bản Bắc Kinh). Từ năm 1961 đến 1976 tôi là giáo viên Trường Trung học Số 13 Bắc Kinh, từ năm 1974 được "biệt phái" rời công việc giảng dạy để sáng tác, năm 1976 chính thức chuyển sang Nhà xuất bản Nhân dân Bắc Kinh làm biên tập văn nghệ. Tư liệu của "Thầy giáo chủ nhiệm" dĩ nhiên bắt nguồn từ trải nghiệm sống của tôi tại Trường Trung học Số 13 Bắc Kinh, nhưng khi viết nó tôi không còn ở trường trung học nữa. Nhà xuất bản đã cung cấp cho tôi tầm nhìn chính trị và xã hội rộng lớn hơn trường trung học rất nhiều, hơn nữa còn có thể "gần thủy lâu đài" nắm rõ khả năng và điềm báo hồi sinh của văn học lúc bấy giờ; nói cách khác, có thể nắm bắt cơ hội mà số phận ban cho sinh mệnh cá nhân một cách kịp thời và thuận lợi hơn.

Khi viết "Thầy giáo chủ nhiệm", với tư cách là biên tập viên Phòng biên tập Văn nghệ, tôi được phân công phụ trách tiểu thuyết dài tập. Lúc đó trong tay tôi có hai bản thảo tương đối chín muồi: một cuốn là "Yaksa" đã nhắc đến ở trước, cuốn còn lại là "Bài ca đường lớn" do hai tác giả nông dân hợp tác viết về đề tài làm đường ở nông thôn. Bản thảo của họ mang đậm hơi thở cuộc sống, văn phong cũng sống động mượt mà. Mặc dù tháng 10 năm 1976 đã đập tan "Băng bốn tên", nhưng ngày 7 tháng 2 năm 1977, lãnh đạo tối cao thời đó thông qua xã luận của "hai báo một tạp chí" đã nêu rõ: "Hễ là quyết sách do Chủ tịch Mao đưa ra, chúng ta đều kiên quyết bảo vệ; hễ là chỉ thị của Chủ tịch Mao, chúng ta đều trước sau như một tuân theo." "Hai hễ là" này quyết định việc vẫn phải nhấn mạnh lấy đấu tranh giai cấp làm then chốt, dĩ nhiên cũng không thể phủ định "Đại cách mạng văn hóa". Tòa soạn chúng tôi khi lựa chọn bản thảo không thể không lấy đó làm tiêu chuẩn, điều này đã làm khó biên tập viên trách nhiệm là tôi cùng hai tác giả — chúng tôi bắt buộc phải làm cho bản thảo có kẻ thù giai cấp phá hoại, lại còn phải ca ngợi "Đại cách mạng văn hóa". Nhưng việc làm đường ở chỗ họ thực sự không có kẻ thù giai cấp nào phá hoại, thế là tôi đi công tác đến vùng nông thôn của họ, cùng họ bịa đi bịa lại câu chuyện kẻ thù giai cấp phá hoại, nhưng bịa thế nào cũng không trôi. Kết quả, bản thảo cuốn sách đó rốt cuộc không thể xuất bản. Việc tiếp xúc với Tạ Côn, tác giả cuốn "Yaksa", khiến tôi cảm thấy thế hệ chúng tôi phải gấp rút làm việc (năm 1977 tôi 35 tuổi, không còn tính là rất trẻ nữa); thất bại trong việc biên tập "Bài ca đường lớn" đã làm dấy lên trong tôi suy nghĩ từ bỏ bịa đặt, viết sự thật để cầu biến đổi.

Mùa hè năm 1977, tôi bắt đầu lén trải giấy ra viết "Thầy giáo chủ nhiệm" trong căn phòng nhỏ rộng mười mét vuông ở nhà. Viết rất suôn sẻ, nhưng viết xong rồi, lúc đêm thâu thanh vắng tự đọc lại, trong lòng tôi cứ đánh lô lô — đây chẳng phải là phủ định "Đại cách mạng văn hóa" sao! Bản thảo như thế này có thể công khai mang ra ngoài không? Dưới sự thôi thúc của ham muốn xuất bản, cuối cùng tôi đã lấy hết dũng khí. Một ngày nọ sau khi tan làm, tôi đến Bưu điện Đông Đơn gần tòa soạn nhất để gửi, muốn gửi cho tạp chí "Văn học Nhân dân". Nữ nhân viên bưu điện sau quầy kiểm tra đồ trong phong bì lớn của tôi, nghiêm túc chỉ ra rằng trong bản thảo không được kẹp thư từ, nếu không sẽ tính cước theo dạng thư. Tâm lý tôi vốn dĩ đã cảm thấy mình đang làm một việc mạo hiểm, sự "công sự công biện" không chút linh hoạt của cô ấy khiến tôi bức bối, thế là tôi bảo cô ấy không gửi nữa. Từ bưu điện Đông Đơn đạp xe đến công viên Trung Sơn, tôi ngồi ở một góc Thủy Tạ tương đối hẻm lánh, muốn đưa ra quyết định cuối cùng: Bản thảo này có gửi đi hay dẹp luôn? Sau đó tôi lấy bản thảo "Thầy giáo chủ nhiệm" ra đọc kỹ, lại bị chính những dòng chữ mình viết làm xúc động. Tôi quyết định vẫn gửi đi, cùng lắm là không được đăng, còn làm gì được tôi cơ chứ? Qua mấy ngày sau, tôi đến một bưu cục khác và gửi nó đi.

Quá trình xử lý cụ thể bản thảo "Thầy giáo chủ nhiệm" tại tòa soạn tạp chí "Văn học Nhân dân", bản thân tôi cũng không rõ lắm. Tôi là người hướng nội, không giỏi giao thiệp. Có người hỏi tôi tại sao không mang thẳng bản thảo đến tòa soạn "Văn học Nhân dân"? Thực ra từ chỗ ở của tôi lúc đó đạp xe sang chỉ mất hơn mười phút, nhưng vì e ngại, tôi thà tốn tiền tốn thời gian gửi qua bưu điện. Khi tiểu thuyết được xuất bản thì đã là tháng 12 (ấn phẩm bị trễ hạn). Tôi thấy mục lục trên báo, tự đạp xe đến tòa soạn, không nỡ ngại gặp biên tập viên nên đến thẳng phòng lớn của nhân viên tổng vụ, dùng tiền mặt mua mười cuốn. Người trong phòng đó lúc ấy cũng không biết tôi là ai. Rời khỏi tòa soạn, tôi vội vã đạp xe về nhà, giở xem ấn phẩm thơm phức mùi mực in, trong lòng rất vui sướng. Tuy nhiên, đó không phải là lần đầu tiên tôi ngửi thấy mùi mực in từ bài viết của mình — bài viết đầu tiên tôi công khai xuất bản là "Bàn về 'Người thứ bốn mươi mốt'". Trước "Đại cách mạng văn hóa", tôi đã đăng khoảng bảy mươi bài tiểu thuyết cực ngắn, tản văn, bình luận, hầu hết đều rất ấu trĩ. Từ năm 1974 đến 1976, để được chuyển công tác khỏi trường trung học, tôi đã cung cấp các bản thảo phù hợp với yêu cầu thời bấy giờ cho các cơ quan khôi phục hoạt động xuất bản, đăng một số truyện ngắn, một truyện vừa văn học thiếu nhi, một tác phẩm văn học điện ảnh. Dù đây đều là những thứ giờ nhắc lại khiến tôi đỏ mặt, nhưng chúng cũng có thể giúp các biên tập viên "Văn học Nhân dân" khi đó ít nhiều có ấn tượng về tôi, nhờ vậy mà kịp thời thẩm định bản thảo của tôi. Tôi rất trân trọng "Thầy giáo chủ nhiệm", vì dẫu sao đó cũng là tác phẩm đầu tiên tôi viết ra nhận thức chân thực dựa trên cảm nhận chân thực của mình, và nhờ đó tôi trở nên nổi tiếng, được người đời biết đến.

Sau khi "Thầy giáo chủ nhiệm" được đăng, phản hồi của độc giả rất mạnh mẽ. Những người đọc được tác phẩm này liên tục gửi thư cho tôi, đặc biệt là khi Đài Phát thanh Truyền hình Trung ương cải biên thành kịch truyền thanh phát sóng, ảnh hưởng lại càng lớn hơn. Một số tác giả nghiệp dư có quan hệ thân thiết ở Bắc Kinh cũng lần lượt động viên, đồng nghiệp ở nhà xuất bản nơi tôi công tác cũng mừng cho tôi. Mọi người cùng nhau hân hoan sáng lập ra tạp chí "Tháng Mười" (mới đầu chưa gọi là ấn phẩm, gọi là bộ sách, thực chất là ấn phẩm văn học cỡ lớn). Tôi thừa thắng xông lên, đăng "Vị trí của tình yêu" trên số ra đầu tiên của "Tháng Mười", đài phát thanh cũng lập tức phát sóng. Tôi lại đăng "Tỉnh lại đi, em trai" trên tạp chí "Thanh niên Trung Quốc" vừa mới khôi phục ấn hành, đài phát thanh lại tiếp tục phát sóng. Những tác phẩm này tuy "tư tưởng lớn hơn hình tượng", nhưng cũng có độc giả bày tỏ rằng họ cảm nhận được một loại thưởng thức thẩm mỹ khi đọc. Như có một công nhân nhà máy dò hỏi được địa chỉ nhà tôi rồi tìm đến tận cửa, tay cầm cuốn tạp chí đăng "Thầy giáo chủ nhiệm" đưa cho tôi xem. Ông ấy đã gạch chân, khoanh tròn dưới rất nhiều câu chữ trong tiểu thuyết, nói rằng những chỗ đó khiến ông cảm thấy rất sinh động, chẳng hạn như chi tiết công nhân tan làm buổi tối tụ tập dưới cột điện đánh bài, ông cảm thấy chi tiết đó "như con cá sống, xem rất đã". Một số nhân vật có ảnh hưởng lớn trong giới văn học lúc đó, như Trương Quang Niên thì khỏi phải nói, chính ông là người đã chốt phát hành "Thầy giáo chủ nhiệm", ngoài ra như Phùng Mục, Trần Hoang Môi, Nghiêm Văn Tỉnh, Chu Trại... đều nhanh chóng đứng ra ủng hộ. Nhưng ý kiến phản đối cũng khá gay gắt. Có người viết thư ẩn danh, không phải gửi cho tôi hay tòa soạn, mà gửi cho "các cơ quan liên quan", chỉ trích "Thầy giáo chủ nhiệm" và các tác phẩm "Văn học vết thương" là "Văn học tan băng" (đây thời đó không phải là tên gọi tốt, vì nhà văn Liên Xô Ilya Ehrenburg từng xuất bản cuốn tiểu thuyết dài tập tên là "Tan băng", bị coi là tác phẩm khơi mào phối hợp với đường lối chính trị sửa đổi "chống Stalin" của Khrushchev. "Văn học vết thương" đã thuộc về "Văn học tan băng" thì tự nhiên là cổ vũ làm "chủ nghĩa sửa đổi" ở Trung Quốc rồi, tội danh này lớn lắm). Cũng có người có thân phận khá quan trọng chỉ trích một số tác phẩm "Văn học vết thương" là "thủ dâm chính trị" (tuy không nhắm vào "Thầy giáo chủ nhiệm" của tôi, nhưng trong tình cảnh đó, "Văn học vết thương" tuyệt đối là "một người vinh cả họ được nhờ, một người nhục cả họ chịu ảnh hưởng", nên tôi nghe xong cũng giật mình). Càng có nhiều bài viết công khai xuất bản phê bình các tác phẩm này là "thiếu đạo đức", tôi còn nhận được thư có ký tên, nhắm vào bài "Ở đây có vàng" đăng sau đó của tôi (bài đó có phần phủ định "chống phe Hữu"), cảnh báo tôi "đừng đi quá xa" (người gửi thư nói mình từng phạm "sai lầm phe Hữu", nhưng việc phê bình đấu tranh và đưa đi cải tạo sau đó là rất cần thiết, thu hoạch rất lớn, không cho phép tôi dễ dàng xóa bỏ). Trong khi đó, Hồng Kông, Đài Loan và hải ngoại lại đại lực giới thiệu "Thầy giáo chủ nhiệm", có những lời lẽ khá khuếch đại, như nói tôi là "Cha đẻ của Văn học vết thương"...

Thời đó, những "phản hồi hải ngoại" như vậy càng nhiều thì càng khiến một số người nhìn người trong cuộc bằng ánh mắt coi thường. Vì vậy trong một thời gian khá dài, lòng tôi đều không mấy an tâm. Năm 1981, trong thời gian tôi nhận lời mời của NXB Văn nghệ Thuấn Thu sang thăm Nhật Bản, phía chủ nhà đưa chúng tôi đi tham quan mô hình nhà tù thời cổ của Nhật Bản, cô phiên dịch Lâm Mỹ Doanh tử "tức cảnh sinh tình" nói với tôi: "Có phải suýt nữa ông cũng bị nhốt vào đây không?" Cô ấy là người từng sống ở Trung Quốc thời "Đại cách mạng văn hóa", dựa trên trải nghiệm bản thân, khi mới đọc "Thầy giáo chủ nhiệm" (lúc đó đã về Nhật Bản), cô ấy thực sự đã đổ mồ hôi hột thay tôi — trạng thái tâm lý này, 29 năm đã trôi qua, đừng nói thanh niên bây giờ khó hiểu được, ngay cả người trong cuộc là tôi khi nhớ lại cũng như một giấc mơ! Nhưng những việc sau đây tuyệt đối không phải là mơ, mà là trải nghiệm có thực: Sau khi "Thầy giáo chủ nhiệm" xuất bản vào tháng 11 năm 1977, đến tháng 3 năm 1978, trên báo vẫn đăng tải tinh thần bài phát biểu của lãnh đạo tối cao thời đó, nhấn mạnh "hai hễ là", nhấn mạnh phải "tiếp tục phê bình luồng gió lật án phe Hữu của Đặng Tiểu Bình", thậm chí nhấn mạnh tính cần thiết và "thắng lợi vĩ đại" của "Đại cách mạng văn hóa" (chỉ nói "lần này" "Đại cách mạng văn hóa" kết thúc, sau này khi cần vẫn phải làm), còn nói "Băng bốn tên" là "cực hữu", dùng điều này để cản trở yêu cầu phê phán cực tả mạnh mẽ trong và ngoài Đảng. Năm 1978, báo "Quang Minh Nhật Báo" đăng bài "Thực tiễn là tiêu chuẩn duy nhất kiểm nghiệm chân lý", tiếp đó "Nhân Dân Nhật Báo" đăng lại, điều này làm tinh thần tôi phấn chấn hẳn lên, tôi nhận ra những việc này đều liên quan đến sống chết của mình. Tháng 12 năm 1978, Hội nghị Trung ương 3 khóa XI của Đảng họp, cục diện chính trị đã có thay đổi căn bản, đồng thời sự kiện Thiên An Môn "4 tháng 5" được bình phản, tôi vui mừng khôn xiết. Năm 1989, giới văn học hồi sinh lần đầu tiên bình chọn tiểu thuyết xuất sắc toàn quốc, "Thầy giáo chủ nhiệm" đoạt giải nhất. Khi đó Mạo Thuẫn còn sống, tôi đã nhận bằng khen từ tay ông, đồng thời có nhiều bài "Văn học vết thương" cùng đoạt giải. Năm 1981, Hội nghị Trung ương 6 khóa XI của Đảng đã thông qua "Nghị quyết về một số vấn đề lịch sử từ khi lập quốc đến nay", chính thức phủ định hoàn toàn "Đại cách mạng văn hóa", nó bị coi là một trận hoạn nạn lớn. Ngay sau đó, đà cải cách, mở cửa bùng nổ cuồn cuộn, tạo thành thế khó đảo ngược. Nói thực lòng, đến lúc này tôi mới cảm thấy thanh kiếm chính trị treo trên đầu "Thầy giáo chủ nhiệm" đã được lấy đi hoàn toàn. Nhưng "Thầy giáo chủ nhiệm" với tư cách là chức năng gánh vác thỉnh cầu dân gian dưới hình thức tiểu thuyết trong thời kỳ lịch sử đặc biệt cũng theo đó mà kết thúc. Nó được đưa vào "bảo tàng" (các cuốn lịch sử văn học hiện đại, hoặc các tác phẩm mang tính tài liệu như "Lịch sử Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa của Cambridge"), nó không thể nào khiến người yêu thích văn học thông thường tạo ra sự thưởng thức thẩm mỹ khi đọc nữa, thậm chí ngược lại còn gợi ra sự nghi vấn sâu sắc rằng "thứ như thế này sao lại có thể xôn xao một thời". Bước sang thập niên 80 của thế kỷ 20, muốn dựa vào lối sáng tác và văn bản như vậy để một bước thành danh, giành lấy vinh quang là ngày càng khó. Từ sau "Thầy giáo chủ nhiệm", tôi vẫn không ngừng miệt mài viết lách, một mặt kiên trì trách nhiệm xã hội, ngày càng tự giác giữ vững góc độ dân gian, không từ bỏ việc dùng tác phẩm để bộc lộ thỉnh cầu dân gian dạt dào trong lồng ngực, mặt khác nỗ lực nâng cao trình độ thẩm mỹ của bản thân, nỗ lực làm cho tiểu thuyết của mình càng đúng nghĩa là tiểu thuyết hơn, đồng thời mở rộng đáng kể không gian múa bút.

"Thầy giáo chủ nhiệm" xuất bản đến nay đã được 29 năm. Tôi vốn không muốn nhắc lại chuyện cũ này nữa, nhưng gần đây tôi nghe được hai luồng ý kiến trái ngược hoàn toàn từ thế hệ trẻ. Một luồng nói, cách viết của "Thầy giáo chủ nhiệm" cũng như sự xôn xao một thời của nó là một hiện tượng văn học dị dạng; luồng khác lại nói, những tác phẩm như vậy, ở giai đoạn phát triển xã hội thích hợp vẫn nhất định sẽ quay trở lại, đó là hiện tượng bình thường thi thoảng lại lóe lên trong lịch sử văn học. Tôi không thể xác định ai nói có lý hơn, có lẽ chỉ có quỹ đạo phát triển của văn học tương lai mới có thể xác nhận hoặc phủ định những dự đoán khác nhau đó.

Hỏi đáp về "Hồng Lâu Mộng"

[Ghi chú] Đây là một chương trình phỏng vấn do Đài Truyền hình Trung ương ghi hình, đã phát sóng bốn lần vào ngày 10 tháng 7 năm 2006 trên Kênh 1 và Kênh 10 của Đài Truyền hình Trung ương. Sau đây là phần trích lục câu trả lời của tôi đối với MC và khán giả tại hiện trường:

MC: Lần đầu tiên ông đọc "Hồng Lâu Mộng" là vào năm bao nhiêu tuổi?

Lưu Tâm Vũ: Tôi nghĩ chắc là hồi học tiểu học, vì tôi phát hiện ra gối ngủ của bố đặc biệt cao, tôi tốc gối lên thì thấy bên trong có cuốn này, tuy không phải bản đóng chỉ nhưng niên đại in ấn rất cổ xưa. Trong sách còn có tranh khắc họa nhân vật, tôi thấy khá thú vị, sao ông lại xem cái này, tôi xem có được không nhỉ? Bố mẹ tôi thấy tôi còn nhỏ nên không khuyến khích đọc, nhưng khi phát hiện tôi lôi từ dưới gối ra đọc thì họ cũng không trách mạt. Cho nên lần đầu tôi đọc chắc là hồi tiểu học, khoảng độ 12 tuổi.

MC: Tôi không biết lần đầu tiên đọc "Hồng Lâu Mộng", ông thích chọn đoạn nào để đọc nhất?

Lưu Tâm Vũ: Thích xem đoạn đánh nhau, tức là hồi thứ chín: Vì ghen tị trò quậy náo học đường. Bởi vì ở trường tôi là một người tương đối hướng nội, tức là người ít dùng ngôn ngữ cơ thể, khi đọc đoạn này tôi cảm thấy người trong sách đang giải tỏa giúp mình. Còn đoạn Nghê Nhị Chân Kim Cương tôi cũng thích xem, đây đều là nhân vật phụ, người khác sẽ thấy rất kỳ lạ, nhưng vì lúc đó tôi sống ở gần chùa Long Phúc, mấy chỗ như Đông Lang Hạ, Tây Lang Hạ, trong "Hồng Lâu Mộng" có địa danh này, có địa danh Tây Lang Hạ nên tôi đặc biệt hứng thú.

MC: Sau đó đến khoảng bao nhiêu tuổi thì ông cảm thấy mình bắt đầu hiểu được chút hương vị của cuốn sách "Hồng Lâu Mộng" này?

Lưu Tâm Vũ: Tôi nghĩ đó là vào thời thanh niên rồi, nên nói là vào giai đoạn cuối của "Đại cách mạng văn hóa". Khi đó đọc "Hồng Lâu Mộng" rất an toàn, vì Chủ tịch Mao đã đưa ra một số ý kiến về "Hồng Lâu Mộng", sau này bình luận Hồng Lâu là một việc vô cùng an toàn, hơn nữa "Hồng Lâu Mộng" lại được in lại, cho nên lúc đó mới đọc "Hồng Lâu Mộng". Đọc "Hồng Lâu Mộng" tôi có tâm đắc của riêng mình, đó là cảm giác dâu bể của cuộc đời. Trước đây đọc, chẳng hạn như trong đó có một nhân vật tên là Lâm Hồng Ngọc, tức Tiểu Hồng, cô ấy nói "ngàn dặm dựng rạp lớn, thiên hạ không có bữa tiệc nào không tan", trước đây làm sao bị câu nói này làm xúc động được chứ? Thực ra lúc đó mình còn rất trẻ, chưa già lắm, nhưng lại cảm thấy dường như sau khi trải qua nhiều chuyện, giữa người với người, tình đời, bắt đầu ngẫm nghĩ những thứ này, tôi nghĩ từ lúc đó mới bắt đầu đọc ra được cái vị của nó.

MC: Vậy đến khi nào ông mới cảm thấy mình thực sự hiểu "Hồng Lâu Mộng"? Có thể bước ra nói về "Hồng Lâu Mộng" rồi?

Lưu Tâm Vũ: Thẳng thắn mà nói, cho đến tận hôm nay tôi cũng không dám nói mình đã đọc thông "Hồng Lâu Mộng", dám bước ra nói rồi. Tôi xin nhấn mạnh lại một lần nữa, là "Bách Gia Giảng Đàn" hết lần này đến lần khác cứ kéo tôi đến đây giảng, tôi đã nhiều lần nói với họ là tôi không giảng đâu, vì tôi không có tự tin. Khi ghi hình tôi rất nghiêm túc, tính tôi là như thế, không đồng ý thì thôi, đã đồng ý là tôi rất nghiêm túc. Chẳng hạn như chương trình hôm nay, tôi đã nhận lời thì tôi ngồi đây thật thà, bạn hỏi gì tôi nói được là tôi nói hết. Hiệu quả thế nào tôi vừa không dự đoán, cũng không lường trước được, hoàn toàn là vô tình trồng liễu liễu xanh rờn. Có người nói ông muốn nổi tiếng, thực ra nói câu khó nghe là tôi đã nổi tiếng từ lâu rồi, tôi không cần phải nổi tiếng thêm nữa. (Tràng pháo tay) Cho nên nên nói là một trạng thái như vậy, đến giờ tôi vẫn giữ một lòng kính sợ, không dám nói là đã đọc hiểu đọc thông "Hồng Lâu Mộng". Tôi thấy càng như thế này lại càng tốt, bởi vì nếu tôi tự thấy mình đã đọc hiểu đọc thông hoàn toàn, hoàn toàn đúng đắn rồi, lên đây giảng "Hồng Lâu Mộng" là để bảo cho mọi người cái gì là đúng, thì đã không phải là trạng thái hiện tại nữa. Tôi sẽ không đi đọc lại nữa, vì tôi sẽ nghĩ đọc làm gì nữa? Tôi vẫn muốn đọc, vẫn tràn đầy cảm giác tươi mới, tôi nghĩ mình có lẽ sẽ còn có những thu hoạch mới.

MC: Trong tiểu thuyết "Hồng Lâu Mộng", nhân vật ông yêu thích nhất là ai?

Lưu Tâm Vũ: Điều này trong chương trình ghi hình tôi đã nói rồi, tôi nói tôi thích Diệu Ngọc nhất, điều này khiến rất nhiều người đại kinh thất sắc. Vương Mông, một đồng nghiệp cũng là một người bạn của tôi, gọi điện cho tôi đã từng nói, sao ông lại chọn Diệu Ngọc, Diệu Ngọc đáng ghét nhất, nhân vật ông ấy không thích nhất chính là Diệu Ngọc.

MC: Thanh cao, cô độc.

Lưu Tâm Vũ: Đúng thế, rất nhiều người hiểu như vậy, đặc biệt là bị phần tiếp sách 40 hồi sau của Cao Ngạc làm hỏng mất, nối lại tạo thành một hình tượng như thế, thực ra tôi thấy Diệu Ngọc rất không dễ dàng. Mỗi người thích cái gì đều có lý do cá nhân riêng, vì tính cách của tôi vốn khá cô độc, không hợp đàn, tôi vì vấn đề tính cách mà gặp phải rất nhiều trắc trở trong cuộc đời. Thực ra nói đến cùng, vỏ bọc bên ngoài có thể thấy là mang tính chính trị hay xã hội, nhưng thực ra chính là bi kịch tính cách! Thực ra tôi thấy mình không có ý xấu, cũng rất tốt, nhưng người ta lại thấy anh ra vẻ, đúng không? Cho nên bây giờ tôi thấy từ tấm gương Diệu Ngọc có thể soi thấy chính mình. Tôi thích cô ấy không có nghĩa là tôi thấy cô ấy là một hình tượng tích cực hay là một tấm gương nên học tập, không phải ý đó, tôi chỉ thấy sự giải thích của Tào Tuyết Cần về sinh mệnh này làm tôi cảm thấy dễ tiếp nhận nhất. Tất cả ưu điểm, khuyết điểm, điểm yếu của cô ấy, giống như Hình Tụ Yên phê bình cô ấy: "Nam không ra nam, nữ không ra nữ, tăng không ra tăng, ni không ra ni", đây là lời phê bình rất sắc bén. Nhưng trên người Diệu Ngọc có rất nhiều thứ tỏa sáng, vì vậy tôi cũng có một sự tự tôn, tự tin, tự yêu lấy mình.

MC: Điều tôi muốn hỏi là, điều gì ở Diệu Ngọc khiến ông yêu thích và kính trọng đến thế?

MC: Tôi xin đại diện cho những người phản đối ông để hỏi ông một câu hỏi. Chính vì nghiên cứu nguyên mẫu này của ông, đi tìm kiếm nhân vật trong lịch sử để so sánh với nhân vật trong tiểu thuyết, khiến cho toàn bộ nghiên cứu của ông mang màu sắc của một tiểu thuyết trinh thám, cho nên có người nghi vấn ông, nói có phải ông đang bịa chuyện không? Có phải ông đã đem tài năng của một nhà văn, một người viết tiểu thuyết áp dụng vào nghiên cứu học thuật không? Về điều này ông nhìn nhận thế nào?

Lưu Tâm Vũ: Tôi nghĩ ông ấy nảy sinh suy nghĩ như vậy, đưa ra đánh giá như vậy là việc của ông ấy, tôi không nhất thiết phải đối mặt với câu hỏi như vậy để đi tìm một câu trả lời nữa, vì việc này tôi đã làm xong rồi, tôi chính là làm như thế. Tôi thấy hiện nay thực ra tất cả những người nghiên cứu "Hồng Lâu Mộng" đều gặp phải một khó khăn rất lớn, đó là sự thiếu hụt ghi chép lịch sử chân thực tin cậy. Đây là vấn đề chung mà tất cả chúng ta phải đối mặt, bao gồm cả việc Tào Tuyết Cần rốt cuộc có phải là tác giả "Hồng Lâu Mộng" hay không. Ít nhất gần đây có xuất bản hai cuốn sách, trong đó tác giả một cuốn cho rằng tác giả "Hồng Lâu Mộng" là Tào Phủ, có thể là bố của Tào Tuyết Cần, nhưng Tào Phủ có phải là bố của Tào Tuyết Cần hay không thì vẫn chưa có sử liệu đanh thép để giám định điều này. Còn một nhân vật nữa chủ động gửi sách cho tôi, ông ấy cho rằng tác giả "Hồng Lâu Mộng" là Hồng Thăng, chính là tác giả viết "Trường Sinh Điện", đều đưa ra được không ít bằng chứng bàng quan. Cho nên tôi thấy đều nên tôn trọng, tuy tôi đứng trên lập trường tác giả "Hồng Lâu Mộng" là Tào Tuyết Cần để nghiên cứu từ điểm này, nhưng tôi rất tôn trọng quan điểm khác nhau của người khác. Cho nên tôi thấy có người cho rằng tôi không giống ông ấy, tôi thuộc dạng bịa chuyện, thế này thế nọ, thì tôi thấy ông ấy có thể có quan điểm đó, giống như tôi thấy người kia nói là Hồng Thăng, ông ấy cũng tìm một số căn cứ, tôi thấy ông ấy có thể có quan điểm của ông ấy. Trong một xã hội, đối với một sự vật mà có nhiều quan điểm đa dạng để mọi người lựa chọn, xã hội đó chẳng phải mới là một xã hội hòa hợp sao?

MC: Tôi không biết tại sao ông lại lấy nhân vật Tần Khả Khanh trong "Hồng Lâu Mộng" làm chìa khóa để giải mã "Hồng Lâu Mộng"?

Lưu Tâm Vũ: Điều này có hai nguyên nhân, có một nguyên nhân rất riêng tư. Tôi ấy mà, bạn nhìn tôi ngồi đây, về cơ bản tôi tự định vị mình là người Bắc Kinh, vì tám tuổi tôi đã đến Bắc Kinh, sau đó tôi chưa từng rời khỏi thành phố này, đi thăm ngắn hạn không tính, tôi đã định cư ở đây rồi. Nhưng nơi tôi sinh ra là Thành Đô, Tứ Xuyên, phố gì ở Thành Đô, Tứ Xuyên nhỉ? Phố Dục Anh Đường, thế nào gọi là Dục Anh Đường? Dục Anh Đường chính là Dưỡng Sinh Đường. Tôi không phải đứa trẻ bị bỏ rơi ở Dưỡng Sinh Đường đâu nhé, tôi không phải. (Tiếng cười) Nhưng trong thời kỳ kháng chiến, điều kiện kinh tế của chúng tôi lúc đó khá kém, nhà trên con phố đó thuê tương đối rẻ, mẹ tôi lúc đó rất gian khổ ở đó, còn không phải đến bệnh viện sinh tôi ra, mà là ở nhà mời một người đến đỡ đẻ cho tôi, cho nên tôi sinh ra ở phố Dục Anh Đường. Vì vậy khi đọc văn bản "Hồng Lâu Mộng", phát hiện Tần Khả Khanh là được bế từ Dưỡng Sinh Đường về, tôi liền không giống với các độc giả khác, tôi tương đối nhạy cảm, đây dĩ nhiên là một nguyên nhân quá riêng tư rồi. Cho nên từ nhỏ đọc đến đây tôi đã có phản ứng tâm lý, ôi chao, Dưỡng Sinh Đường, vì mẹ tôi nhiều lần nói với tôi Dục Anh Đường chính là Dưỡng Sinh Đường, đây là một nguyên nhân.

Còn một nguyên nhân nữa, đó là tôi thấy cô ấy gợi ra cho tôi nhiều nghi vấn nhất. Các nhân vật khác dĩ nhiên đều có nghi vấn, vì tôi cho rằng 80 hồi đầu về cơ bản là Tào Tuyết Cần viết, 40 hồi sau của Cao Ngạc lại là chuyện khác. Cho nên lấy Thập Nhị Thoa mà nói, ngoại trừ Tần Khả Khanh ra, kết cục của những người khác thế nào cũng là một số nghi vấn, nhưng những nghi vấn đó không sắc bén như vậy, Tần Khả Khanh là một người đã chết ngay trong 80 hồi đầu, hơn nữa chết ở hồi 13, nhưng cô ấy lại để lại nhiều nghi vấn như vậy, cho nên gợi ra hứng thú khám phá bí ẩn của tôi.

MC: Việc tìm kiếm nguyên mẫu nhân vật lịch sử thực tế để nghiên cứu Tần Khả Khanh, phương thức nghiên cứu nguyên mẫu này là do ông sáng tạo ra hay là phương pháp nghiên cứu đã có từ cổ xưa?

Lưu Tâm Vũ: Phương thức nghiên cứu này từ cổ đã có rồi, cổ đến mức nào thì tôi không dám nói. Thực ra phương pháp nghiên cứu của tôi là hai cái, một phương pháp là nghiên cứu nguyên mẫu. Nghiên cứu nguyên mẫu ít nhất từ thế kỷ trước đến nay là một mô hình nghiên cứu rất phổ biến trong giới văn học Trung Quốc và thế giới, chẳng hạn như ở Anh, người ta thường cho rằng tác phẩm "Jane Eyre" là tác phẩm mang tính tự thuật của chính tác giả; lại chẳng hạn như "David Copperfield", thường được coi là tác phẩm mang tính tự thuật của Dickens; hay như Leo Tolstoy của Nga, người ta cho rằng Nekhludov trong "Phục sinh" của ông là lấy chính ông làm nguyên mẫu, cô gái điếm Maslova trong đó cũng có một nguyên mẫu; như "Gia" của Ba Kim, khoảng thời gian trước và sau khi Ba Kim qua đời có rất nhiều bài viết về Ba Kim chỉ ra rằng, nguyên mẫu quần thể trong "Gia" chính là gia tộc của chính ông ở Thành Đô, trong đó người anh cả Giác Tân chính là anh ruột của ông. Cho nên nghiên cứu nguyên mẫu này không phải là phát minh gì của tôi, thực chất là một phương thức nghiên cứu khá cổ điển. Một phương pháp nghiên cứu khác của tôi là đọc kỹ văn bản. Đọc kỹ văn bản là một trường phái nghiên cứu văn học xuất hiện ở phương Tây vào thế kỷ trước, tức là chủ trương đọc kỹ văn bản. Bạn với tư cách là độc giả thông thường có thể đọc lướt, mà hiện nay có một kiểu đọc gọi là đọc theo đường chéo còn đáng sợ hơn, tức là một bài viết rất to, lướt một cái gạch một đường chéo là coi như biết nội dung là gì rồi. Vì thông tin xã hội hiện nay rất lớn, đây cũng là một cách đọc. Nhưng nếu bạn muốn nghiên cứu "Hồng Lâu Mộng" thì phải đọc kỹ văn bản, tôi là dùng sự kết hợp của hai phương pháp này, kết hợp lại rồi tôi thấy có thành quả, tôi rất vui vẻ và tiếp tục đi tiếp.

MC: Đã là một phương thức nghiên cứu có từ lâu, tại sao lần này ở đây chúng ta lại gặp phải sóng gió lớn như vậy?

Lưu Tâm Vũ: Tôi nghĩ đó là vì một số người hiện nay được gọi là các nhà Hồng học dòng chính, tư tưởng của họ đã bị xơ cứng rồi, dĩ nhiên phê bình người ta như vậy tôi cũng rất ngại, nhưng không còn cách nào, vì họ phê bình tôi trước. (Tiếng cười) Bạn xem bài giảng đó của tôi, từ đầu đến cuối có câu nào phê bình người khác không? Không có, đúng không? Hơn nữa tôi nhiều lần nói điều tôi nói chưa chắc đã đúng, tôi nói quan điểm của bạn không giống tôi thì tôi cũng rất tôn trọng. Tôi nhớ còn có một lần trong đó có một chi tiết, tôi nói tôi chắp tay xái tay với bạn các thứ, hình như đều được giữ lại trong chương trình đã biên tập.

MC: Chúng tôi đã thấy trong chương trình, ông liên tục thừa nhận sai sót, nói mình nói chưa chắc đã đúng, chỉ mang tính tham khảo.

Lưu Tâm Vũ: Nhưng họ lại tức giận như vậy, tôi thấy họ tương đối xơ cứng. Sự xơ cứng của họ là họ coi mô hình nghiên cứu "Hồng Lâu Mộng" thành một quy phạm, đóng đóng nó lại, không thể lưu động được nữa. Chẳng hạn như họ cho rằng "Hồng Lâu Mộng" chính là một cuốn sách giáo khoa về đấu tranh giai cấp, bạn cứ nghiên cứu dưới tiền đề này là được rồi, phương pháp nghiên cứu là lấy hồi thứ tư làm tổng cương, bốn đại gia tộc bóc lột nô lệ thế nào.

MC: Bùa hộ quan.

Lưu Tâm Vũ: Bùa hộ quan, đây là một góc độ nghiên cứu rất đáng tôn trọng, hơn nữa quan điểm cũng tự thành lý lẽ, cũng rất có giá trị tham khảo, nhưng bạn phải cho phép người khác có phương pháp khác chứ. Vì họ kinh doanh bao nhiêu năm như vậy, đúng không? Họ là một sự tồn tại rất mạnh mẽ, cảm thấy sao ông tự nhiên lại làm rùm beng vui vẻ thế, ảnh hưởng lớn thế, có thể họ không thể chấp nhận được.

MC: Tôi muốn nghe quan điểm của ông. Đó là sau khi việc giải mã "Hồng Lâu Mộng" gây ra phản ứng lớn như vậy, trong sự kiện này, ông cảm thấy điều khiến ông tương đối an ủi là gì? Trạng thái khiến ông cảm thấy tương đối tiếc nuối là gì?

Lưu Tâm Vũ: Điều tương đối an ủi là tôi thấy hình như thực sự đã khơi dậy sự hứng thú đối với "Hồng Lâu Mộng" của một số người vốn không hứng thú với nó, đặc biệt là giới trẻ, đây là một trong những mục đích tôi muốn đạt được, tôi thấy ý nghĩa này rất lớn. Vì có một cách nói cho rằng trước đây ông viết "Thầy giáo chủ nhiệm", ông quan tâm đến thực tại xã hội, bây giờ tại sao ông không quan tâm thực tại xã hội nữa mà lại đi quan tâm "Hồng Lâu Mộng"? Tôi lại thấy sau khi cải cách mở cửa, văn hóa phương Tây tràn vào mạnh mẽ, sự tràn vào này là tất nhiên, cũng không thể ngăn cản, cũng có cái tốt. Nhưng trong tình hình đó, có một thế hệ trẻ của chúng ta dành toàn bộ thời gian để xem phim bom tấn Mỹ, xem phim Hàn Quốc, hoặc xem tiểu thuyết dịch, họ tương đối coi nhẹ văn hóa truyền thống, văn hóa cổ điển của Trung Quốc, hoặc chưa nói đến tiền đề coi nhẹ, họ không có thời gian, không có hứng thú.

Cho nên thông qua một bài giảng và hai cuốn sách như vậy, tôi đã phát huy được phần nhiệt lượng còn lại với tư cách là một người hưởng lương hưu có thể phát huy. Thời "Thầy giáo chủ nhiệm" tôi hơn ba mươi tuổi, bây giờ tôi hơn sáu mươi tuổi rồi, tôi vẫn có thể gợi ra một sự xôn xao. Một trong những hiệu ứng của sự xôn xao này khiến tôi an ủi là có một số người trẻ trước đây không biết Trung Quốc còn có cuốn sách thú vị như "Hồng Lâu Mộng", chưa bàn đến việc nó vĩ đại thế nào, bạn có thể nói nó không vĩ đại trước, chỉ nói nó thú vị thế nào thôi, tôi cần gợi lên hứng thú của họ.

MC: Thực ra thầy Lưu cũng đã gián tiếp trả lời một câu hỏi khác, đó là có rất nhiều người nói ông hơi "không lo làm nghề chính", bây giờ ông đã bảo chúng ta rồi, ông là một ông lão đã nghỉ hưu, nghề chính của ông là dưỡng gia tuổi già. Trong tình hình này, ông làm cái gì cũng có thể coi là nghề chính, đúng không? Ông tiếp tục đi ạ.

Lưu Tâm Vũ: Tôi không phải nhà văn chuyên nghiệp, tôi cũng không phải người có nhiệm vụ công tác, hiện giờ tôi hoàn toàn có thể sống cuộc sống nghỉ hưu của mình. Nhưng bạn xem tôi vẫn can thiệp vào xã hội, hơn nữa can thiệp đến mức độ này, gợi ra tranh cãi lớn như vậy, cho nên bản thân tôi cảm thấy khá an ủi. Điều không an ủi, không vui vẻ là tôi không mấy dâng trào muốn ra mặt nữa, không mấy muốn trở thành một điểm nóng của xã hội nữa. Nói thật lòng, chúng ta nói thẳng thắn, tôi cũng không mấy muốn trong lúc được người ta yêu thích lại đồng thời bị một số người ghét đến thế. Nhưng lần này lại xuất hiện tình trạng này, người thích thì thích mê thích mệt, người không thích thì hận không thể xé tôi làm đôi, đây không phải là điều tôi hy vọng nhận được. Thực ra lúc đầu "Bách Gia Giảng Đàn" mời tôi đến giảng, tôi rất miễn cưỡng. Vì dĩ nhiên tôi với ngôi sao lớn như bạn vẫn là hai chuyện khác nhau, nhưng bạn đừng lắc đầu vội, tôi cũng ăn theo chút ánh hào quang lên truyền hình. Tôi đến bách hóa tổng hợp, người ta bảo, ôi chao, ông có phải là ông lão giảng "Hồng Lâu Mộng" đó không? Đúng không, tôi cũng được người ta nhận ra, nên đừng chỉ nghĩ người ta nhận ra bạn, giờ người ta cũng nhận ra tôi rồi, nhưng lại đặc biệt ngượng ngùng. Có một lần thể hiện làm tôi giờ rất hối hận, vì tôi đến một nhà hàng ăn cơm, lập tức quản lý sảnh đi tới: Thầy Lưu, chào mừng thầy, thầy có phải là thầy Lưu không? Lúc đó tôi vì ở cùng mấy người bạn nên cực kỳ không muốn người khác biết, tôi nói xin lỗi tôi không họ Lưu. Lúc đó nụ cười trên mặt cô ấy biến mất trong chớp mắt, tôi cũng không cách nào đính chính lại.

MC: Vậy khi đối mặt với các thính giả, khán giả khác, ông kỳ vọng thái độ của họ như thế nào? Bất luận đối phương đồng ý quan điểm của ông hay không đồng ý, ông muốn thái độ của họ như thế nào? Ông muốn giao lưu thế nào với họ?

Lưu Tâm Vũ: Tôi không có cách nào khống chế thái độ của người khác, tôi cũng thấy mình không có tư cách đặt ra một tiền đề rằng bạn bắt buộc phải đối với tôi bằng thái độ gì, bạn đã làm việc này thì thái độ gì bạn cũng phải chịu đựng. Chẳng hạn như tôi đến hiệu sách Tân Hoa ở Vương Phủ Tỉnh ký tặng sách, có người trên lưng dán một trái tim đỏ lớn "Fan ruột Lưu Tâm Vũ", nhìn làm tôi giật thót tim, ý gì đây? Có phải đang trù tôi không? Người ta bảo không phải, giờ đang thịnh hành, giới trẻ gọi đây là người kiên trung nhất, gọi là "fan ruột". Còn một cái nữa tôi nhìn xong không nói là giật thót tim, nhưng cũng rất ngạc nhiên, đó là "Tôi yêu Lý Vũ Xuân, càng yêu Lưu Tâm Vũ". Loại này tôi cũng phải tiếp nhận, chịu đựng, vì người ta ủng hộ bạn. Còn như trên mạng là một kiểu chửi rủa, hoặc là bài viết mang chút hơi hướm báo đại tự thời "Văn Cách", sỉ nhục nhân cách hoặc tấn công cá nhân các thứ, thì bạn cũng phải chịu đựng. Vì người ta có suy nghĩ đó, đúng không? Bạn không có lý do cấm đoán người ta, cho nên thái độ hiện tại của tôi là tôi đều chịu đựng hết, vì việc này là do tôi làm, tôi đã giảng, đã phát sóng, sách đã xuất bản, giống như phím đàn piano từ nốt cao đến nốt trầm, bạn đều phải chịu đựng hết.

MC: Thực ra người đến chương trình của chúng ta giảng "Hồng Lâu Mộng" không chỉ có một mình thầy, nhưng người gây ra phản ứng lớn nhất lại là thầy, cho nên tôi nghĩ ngoài nội dung nghiên cứu của thầy ra, thực ra nó còn liên quan đến một việc, đó là cách biểu đạt của thầy. Cách biểu đạt của thầy tương đối dễ cho khán giả tiếp nhận, cho nên mọi người hiểu rồi, có hứng thú rồi, tôi muốn trò chuyện với thầy về cách biểu đạt của thầy, chẳng hạn thầy có từng học qua chuyên nghiệp không? Diễn thuyết chẳng hạn? Đã từng rèn luyện bản thân chưa?

Lưu Tâm Vũ: Trước khi tôi nhận lời ghi hình chương trình này, tôi tiếp xúc với biên tập đạo diễn, tiếp xúc với nhà sản xuất, tôi rất đồng ý với một định vị của họ, đó là truyền hình chúng ta không phải là một đại học truyền hình, nó chính là phục vụ cho người dân bình thường, phục vụ cho người có trình độ văn hóa trung bình. Đi làm về rất mệt, đi học bài tập khó khăn lắm mới làm xong, là dành cho những người này xem giải trí theo một ý nghĩa nào đó. Tức là giảng học thuật cũng là dưới hình thức tiêu khiển, giải khát để kích thích hứng thú của họ đối với học thuật.

MC: Nói cách khác là khi làm chương trình, thực ra ông đã có ý thức đem những nghiên cứu học thuật này biểu đạt ra bằng một phương thức tương đối thông tục, thú vị.

Lưu Tâm Vũ: Đúng vậy, có người nói tôi bịa chuyện, thực ra những gì tôi giảng đều có căn cứ. Có người nói tại sao ông không giảng căn cứ của ông ra? Việc này rất phiền phức, chẳng hạn như tôi giảng đến Tần Khả Khanh, nguyên mẫu của cô ấy có liên quan đến gia tộc Dận Thìn, Dận Thìn lúc đầu tại sao gọi là Dận Thìn? Sau này tại sao gọi là Doãn Thìn? Tôi giải thích rõ từng xuất xứ, là trang thứ mấy của cuốn sách nào, hoặc tôi đã tham khảo tác phẩm liên quan của những ai, vậy bạn nghĩ chương trình này có phát sóng được không? Phát sóng rồi có người xem không? Đúng không? Dẫu sao đây cũng là "Bách Gia Giảng Đàn", tôi không phải muốn hoàn thành một thành quả học thuật của mình, cũng không phải nói người nghe tôi xong thì lần lượt đi làm học thuật "Hồng Lâu Mộng", họ có thể có hứng thú với "Hồng Lâu Mộng" là mục đích đã đạt được rồi.

MC: Tôi nghĩ có lẽ các nhà học thuật lo lắng e rằng khán giả nếu nghe qua nhiều bản phiên bản khác nhau rồi sẽ đánh đồng các loại phiên bản làm một, đem tác phẩm văn học, sân khấu tuồng chèo, điện ảnh, phim truyền hình đánh đồng với lịch sử chân thực. Chẳng hạn như bạn hỏi một đứa trẻ nói, cháu hãy giảng lịch sử thời Thanh xem, vua Khang Hi là người thế nào, đứa trẻ sẽ nói với bạn, ông ấy là chiến hữu của Vi Tiểu Bảo, Vi Tiểu Bảo có bảy người vợ, trong đó có một người là em gái ông ấy, thế thì hỏng rồi, đại khái các nhà học thuật lo lắng điều này. Nhưng nếu khán giả chúng ta có đủ năng lực nhận biết, chúng ta biết rõ thực hư thế nào thì chắc cũng không đến mức xảy ra vấn đề này.

Được rồi, bây giờ chúng ta dành một ít thời gian cho khán giả tại hiện trường, về nghiên cứu Hồng học của thầy Lưu, ai có nguyện vọng đặt câu hỏi thì hiện tại có thể đặt câu hỏi.

Khán giả: Thầy Lưu đến "Bách Gia Giảng Đàn" giải mã "Hồng Lâu Mộng", giải mã Tần Khả Khanh, trong Hồng học của "Hồng Lâu Mộng" lại sáng tạo ra một nhánh nhỏ — Tần học, đối với tinh thần tìm tòi và thái độ nghiên cứu này của thầy, tôi rất khâm phục. Tôi muốn hỏi một câu hỏi, đó là thầy Lưu làm sao nảy ra ý tưởng hoặc động cơ lúc đó là gì? Tại sao lại nghiên cứu nguyên mẫu nhân vật trong "Hồng Lâu Mộng"? Đối với một độc giả thông thường như tôi mà nói, tôi nhất thời không nắm rõ được mối quan hệ này, biết được nguyên mẫu nhân vật "Hồng Lâu Mộng" thì đối với việc chúng tôi hiểu "Hồng Lâu Mộng", đọc cuốn sách "Hồng Lâu Mộng" này hoặc nghiên cứu "Hồng Lâu Mộng" có quan hệ gì?

Lưu Tâm Vũ: Vị này hỏi rất hay. Câu hỏi của ông ấy gồm hai phần, một phần là động cơ nghiên cứu của tôi có động cơ bất lương nào không. Bây giờ tôi nói với mọi người, tôi thấy động cơ của tôi là tốt đẹp. Bởi vì bản thân tôi viết tiểu thuyết, trong quá trình sáng tác gặp phải một vấn đề, đặc biệt là sau thập niên 80 của thế kỷ trước, việc dịch thuật văn học nước ngoài ngày càng sôi động, trào lưu mới của văn học nước ngoài truyền vào Trung Quốc, thời đó giữa các nhà văn với nhau mở miệng ra là Márquez, Faulkner các thứ, gặp nhau không bàn đến là bạn lỗi thời rồi. Rất nhiều nhà văn cũng đi tìm hiểu họ viết thế nào, huyền ảo thế nào, biến hình thế nào, hoặc dòng ý thức thế nào v.v. Bản thân tôi cũng rất hào hứng, cũng tham gia vào một quá trình như vậy, hơn nữa từ đó tôi cũng thu hoạch được rất nhiều dưỡng chất. Nhưng tôi vừa nghĩ, tôi vẫn là một người sáng tác bằng ngôn ngữ mẹ đẻ, ở Trung Quốc tôi vẫn kiên trì dùng ngôn ngữ mẹ đẻ của mình để viết tác phẩm mang tính tả thực tương đối truyền thống. Như vậy tôi thấy trước tiên mình vẫn phải học hỏi tham khảo từ các tác phẩm kinh điển trong văn học cổ điển của chính Trung Quốc chúng ta, lựa chọn hàng đầu chính là "Hồng Lâu Mộng". Đặc biệt là lúc đó tôi đang phác thảo ý tưởng cho cuốn tiểu thuyết dài tập thứ ba của mình tên là "Tứ Bài Lầu", tổng thể ý tưởng tiểu thuyết này mang tính chất tự thuật, tự truyện, lịch sử gia tộc, mà "Hồng Lâu Mộng" lại đúng là một cuốn sách như vậy. Làm thế nào để đem tư liệu cuộc sống mà mình nắm giữ, những con người chân thực, bằng xương bằng thịt trong cuộc sống đó chuyển hóa thành hình tượng nghệ thuật, tức là từ nguyên mẫu thăng hoa thành hình tượng nghệ thuật, đây là việc tôi phải hoàn thành, đây chính là động cơ của tôi. Dĩ nhiên nghiên cứu "Hồng Lâu Mộng" thì phải ngược lại, vì nó là một thành phẩm, thứ nó thể hiện trước mắt tôi là một tác phẩm Tào Tuyết Cần đã viết xong, tôi phải xem xem hình tượng nhân vật này của ông ấy từ đâu đến, như vậy có lợi cho sự sáng tác của tôi, cho nên đây là động cơ của tôi.

Câu hỏi thứ hai vừa rồi đặt ra rất hay. Bạn muốn viết tiểu thuyết, bạn đi khám phá như vậy, bạn đi nghiên cứu nguyên mẫu Tần Khả Khanh, bắt đầu từ Tần Khả Khanh rồi nghiên cứu tất cả những nhân vật mà bạn có hứng thú, vậy đối với chúng tôi, nghe bạn nói những điều này thì có ích lợi gì? Tôi nghĩ rằng, ở đây tôi vẫn phải một lần nữa tuyên bố rằng, nghiên cứu của tôi mang tính cá nhân rất cao, là một trường hợp riêng biệt, tuyệt đối đừng cho rằng nghiên cứu của tôi là một tiêu chuẩn, một điều đúng đắn, hay một điều mà bạn bắt buộc phải tiếp nhận. Khi đến đài truyền hình thu âm chương trình này, tôi đã nhiều lần tuyên bố điểm này, tôi hoàn toàn không có ý đó. Vậy ông không có ý đó, ông cũng không bảo đảm là đúng đắn, ông giảng cho chúng tôi nghe làm gì? Tôi muốn khơi gợi sự hứng thú của bạn đối với "Hồng Lâu Mộng".

Người dẫn chương trình: Vậy công việc hiện tại của ông, mà ông gọi là công việc rất ngoài lề, được cấu thành từ những phần nào?

Lưu Tâm Vũ: Công việc của tôi gồm bốn phần:

Thứ nhất, năm xưa tôi được mọi người chú ý là nhờ viết tiểu thuyết, cho nên tôi tiếp tục viết tiểu thuyết. Gần đây tôi còn đăng một cuốn tiểu thuyết ngắn sáu nghìn chữ trên báo "Dương Thành Vãn Báo", tiểu thuyết sáu nghìn chữ là dạng tiểu thuyết ngắn rất điển hình, được tôi viết sau khi đi thăm Mỹ trở về, cho nên tôi liên tục đăng các tác phẩm tiểu thuyết mới.

Công việc thứ hai, tôi viết một lượng lớn tùy bút. Phần lớn những bài tùy bút này là để giải tỏa những bực bội u uất trong lòng tôi, bởi vì áp lực xã hội hiện nay quá lớn, người mắc bệnh trầm cảm rất nhiều, các vấn đề tâm lý rất nhiều. Tôi thường tự dọn dẹp bản thân, tự tiến hành vệ sinh tâm lý, cho nên trước tiên là tôi viết cho chính mình và người thân của mình, cùng những người có cảnh ngộ giống như tôi, sau đó mọi người cùng nhau tập thể dục cho tâm hồn. Tôi nhớ mười mấy năm trước tôi từng viết một bài báo tên là "Ngũ Thập Tự Giới" (Tuổi 50 Tự Cảnh Tỉnh), bài viết này lúc đó có ảnh hưởng nhất định trong một phạm vi nhất định. Tôi nghĩ mình đã 50 tuổi rồi, liệu mình có biến thành một người như vậy không: đột nhiên ngồi trên ghế sofa trong phòng khách, nghĩ đến việc mình đã không còn nổi tiếng như trước nữa, những tác phẩm nổi tiếng hiện tại đều là do người khác viết, đặc biệt là giới trẻ, rồi bắt đầu cằn nhằn giới trẻ sai trái ra sao. Tôi tự nói với mình rằng phải cảnh tỉnh bản thân, không được sống như vậy. Tôi cảm thấy mười mấy năm qua, giờ đây tôi có thể rất an lòng tự đánh giá bản thân rằng tôi đã không sống như thế, tôi không ghen tị với giới trẻ, không ghen tị với những nhà văn viết tiểu thuyết có lượng tiêu thụ lớn hơn tôi hiện nay, không ghen tị với những nhà văn trên bảng xếp hạng, không ghen tị với những nhà văn mới đoạt giải, tôi tiếp tục làm công việc của mình. Trong quá trình này, tôi cũng thông qua tùy bút để liên tục điều tiết tâm lý của bản thân. Đó là công việc thứ hai.

Thứ ba, tôi viết bình luận kiến trúc, điều này rất nhiều người không biết, cái này có tính là văn học không? Đây là một dạng sáng tác xuyên lĩnh vực, tôi đã xuất bản hai cuốn sách.

Thứ tư, nghiên cứu "Hồng Lâu Mộng". Hướng nghiên cứu lớn của tôi thực ra chủ yếu là học hỏi từ một đại gia Hồng học, chính là ngài Chu Nhữ Xương. Tôi hoàn thành nghiên cứu Tần học của mình dưới sự hướng dẫn của ngài Chu Nhữ Xương. Nghiên cứu này của chúng tôi có hai điểm xuất phát căn bản nhất, nói ra thì vô cùng đơn giản: một là chúng tôi kiên trì nhắc nhở mọi người chú ý, tám mươi hồi đầu của "Hồng Lâu Mộng" do Tào Tuyết Cần viết là một chuyện, Cao Ngạc là người viết tiếp, bốn mươi hồi sau của ông ấy lại là một chuyện khác. Hai người này không quen biết nhau, độ tuổi sinh sống cũng khác nhau, không hề giao thiệp, cho nên dù bạn có nói Cao Ngạc viết tiếp rất hay thì đó cũng chỉ là phần viết tiếp của riêng ông ấy mà thôi, vì vậy nghiên cứu của chúng tôi là nghiên cứu tám mươi hồi đầu. Thứ hai, tiền đề của chúng tôi là cho rằng tám mươi hồi đầu của các bản lưu hành hiện nay cũng không tốt, cho nên bạn thấy trong các bài diễn thuyết của tôi, tôi liên tục nhắc đến các bản cổ của "Hồng Lâu Mộng". Bây giờ tôi muốn nói cho bạn biết, tôi đang làm một việc gì? Tôi định đem thành quả mà ngài Chu cùng anh trai của ông (đã qua đời, tên là Chu Hỗ Xương) và con gái của họ đã mất hơn nửa thế kỷ để hoàn thành, đó là so sánh từng câu từng chữ của mười ba bản cổ "Hồng Lâu Mộng", sau đó chọn ra câu được cho là gần nhất với Tào Tuyết Cần hoặc phù hợp với nguyên tác nguyên ý của Tào Tuyết Cần, tạo thành một bản mới. Bản này đã chính thức xuất bản, nhưng rất lặng lẽ. Tôi dự định tiến hành giới thiệu bản này tới các độc giả, đặc biệt là độc giả trẻ, tôi sẽ làm công việc này với vai trò là người bình điểm hoặc dẫn đọc. Không phải nói bản cuối cùng này của chúng tôi nhất định là tốt nhất, nhưng chúng tôi nỗ lực đem thành quả của những người nghiên cứu hoặc người yêu thích có cùng quan điểm này dâng tặng cho xã hội, dâng tặng cho độc giả, đặc biệt là độc giả trẻ.

Người dẫn chương trình: Đó là bốn công việc ngoài lề của ông, vậy cuộc đời ngoài lề của ông chủ yếu bao gồm những nội dung gì?

Lưu Tâm Vũ: Một nội dung vô cùng quan trọng trong cuộc đời ngoài lề của tôi chính là đi ra đồng ruộng vẽ tranh ký họa màu nước, điều này cấu thành một niềm vui rất lớn trong cuộc sống của tôi. Tại sao tôi lại vẽ ở nông thôn? Tôi có một số người bạn ở nông thôn, có vài người bạn làng quê thân với tôi đặc biệt, họ biết nơi nào có cảnh hoang sơ, đất trống. Gần phòng sách mà tôi lựa chọn vẫn còn lại một số vùng đất ngập nước hoang sơ, còn có một số điền viên mang phong vị thiên nhiên hoang dã, tôi đến đó vẽ tranh màu nước, đó là một niềm vui rất lớn trong cuộc sống của tôi.

Người dẫn chương trình: Tức là có lẽ vào một ngày nào đó, chúng tôi cũng sẽ được xem tập tranh của ông.

Lưu Tâm Vũ: Điều này thì tôi không dám nói, cái này chủ yếu là để tự làm vui bản thân.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.