The Hundred Secret Senses

Lượt đọc: 55 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2
Người Đánh Cá

❊ ❊ ❊

Trước bảy giờ sáng, chuông điện thoại reo lên. Chỉ có Quế mới gọi điện vào một thời điểm vô lý như vậy. Tôi để điện thoại ghi âm trả lời cô ấy.

“Libby-a?” cô ấy thì thầm, “Libby-a, em có đang nghe không? Là chị cả của em,Quế đây. Chị có chuyện quan trọng muốn nói với em... Em có muốn nghe không?... Tối qua, chị đã mơ thấy em và Simon. Một giấc mơ rất kỳ lạ. Em đến ngân hàng, kiểm tra tiền tiết kiệm của mình. Đột nhiên, cướp ngân hàng xông vào cửa, em nhanh chóng giấu chiếc ví của mình đi, thế là bọn cướp ngân hàng đã cướp đi ví của tất cả mọi người, nhưng lại để em được thoát nạn. Sau đó, em trở về nhà, thò tay vào ví—á!—đâu rồi?—mất rồi! Không phải tiền, mà là trái tim của em đã bị đánh cắp! Bây giờ em không còn trái tim nữa, làm sao có thể sống tiếp? Không còn sức lực, má không còn chút máu, tái nhợt, đau buồn, mệt mỏi vô lực. Chủ tịch ngân hàng nơi em gửi toàn bộ số tiền tiết kiệm nói: “Ta cho em mượn trái tim của ta, không lấy lãi, khi nào em trả cũng được.” Em ngẩng đầu lên, nhìn thấy khuôn mặt của ông ấy—em có biết là ai không, Libby-a? Em đoán thử xem... Là Simon! Đúng—đúng, đã cho em trái tim của anh ấy. Em hiểu chưa! Anh ấy vẫn còn yêu em. Libby-a, em có tin không? Không chỉ là giấc mơ... Libby-a, em có đang nghe chị nói không?”

Vì Quế, tôi có được khả năng ghi nhớ những giấc mơ. Ngay cả ngày hôm nay, tôi vẫn có thể hồi tưởng lại tám, mười, đôi khi là mười hai giấc mơ. Khi Quế từ Trung tâm Viện trợ Maria trở về, tôi đã học được cách ghi nhớ giấc mơ. Ngay khi tôi bắt đầu tỉnh lại, cô ấy sẽ hỏi: “Tối hôm qua, Libby-a, em đã gặp ai? Em đã nhìn thấy gì?”

Tôi, lúc đang ở giữa trạng thái nửa tỉnh nửa mê, sẽ chộp lấy một chùm nhỏ thế giới đang trôi đi, tự kéo mình trở lại vào đó, từ nơi ấy miêu tả cho cô ấy những chi tiết về cuộc sống mà tôi vừa rời khỏi—vết mòn trên giày của tôi, viên sỏi được lấy ra, khuôn mặt của người mẹ hợp pháp đang gọi tôi ở phía dưới. Khi tôi dừng lại, Quế sẽ nói: “Trước đó nữa, em đã đi đâu?” Cứ từng bước dẫn dắt như thế, tôi sẽ truy nguyên lại giấc mơ trước đó, rồi lại giấc mơ trước nữa, mười mấy kiếp sống, đôi khi còn có cả cái chết của họ. Đây đều là những giấc mơ mà tôi sẽ không bao giờ quên lãng, là những khoảnh khắc chỉ phai mờ sau khi tôi chết.

Trải qua ngập ngặn năm tháng mơ mộng đó, tôi đã nếm trải hương vị của lớp tro tàn lạnh lẽo rơi xuống trong đêm mịt mờ sương khói; tôi từng nhìn thấy hàng ngàn lọn tóc bốc cháy tựa ngọn lửa trên đỉnh núi; khi chờ đợi bị chém đầu, tôi từng mơn trớn những mảnh vụn li ti trên bức tường đá; khi sợi thắt cổ siết chặt quanh cổ, tôi từng ngửi thấy mùi sợ hãi tiết ra giống như xạ hương của chính mình; tôi cũng từng cảm nhận được sự nặng nề khi bay lượn trong bầu không khí nhẹ tựa không vật gì; tôi còn nghe thấy tiếng cọt kẹt thở gấp của chính mình trước khi sinh mệnh kết thúc bằng một tiếng “tách”.

“Sau khi chết, em nhìn thấy gì?” Quế luôn hỏi như vậy.

Tôi sẽ lắc đầu: “Em không biết. Mắt em nhắm lại.”

“Lần tới, phải mở mắt ra.”

Trong phần lớn thời gian tuổi thơ, tôi tưởng rằng ai cũng ghi nhớ giấc mơ trong lòng như một cuộc sống khác, một cái tôi khác. Quế chính là làm như vậy. Sau khi cô ấy từ bệnh viện tâm thần trở về, trước khi ngủ trên giường, cô ấy kể cho tôi nghe câu chuyện về những người ở âm phủ—một người phụ nữ tên là Banner, một người đàn ông tên là Cates, một nữ cướp chỉ có một mắt, một người lưỡng tính. Cô ấy kể cứ như thể những con ma này là bạn bè của chúng tôi. Tôi không nói với mẹ hay bố Bob về những gì Quế đang kể: Hãy nhìn xem chuyện gì đã xảy ra sau lần cuối cùng tôi làm thế.

Khi tôi lên đại học, từ đó cuối cùng có thể thoát khỏi thế giới của Quế, thì mọi thứ đã quá muộn. Cô ấy đã cấy thứ trí tưởng tượng của mình vào người tôi. Những con ma của cô ấy từ chối bị xua đuổi khỏi những giấc mơ của tôi.

“Libby-a,” tôi vẫn có thể nghe thấy Quế nói bằng tiếng Trung, “Rốt cuộc chị đã bao giờ kể cho em nghe về việc cô Banner hứa sẽ làm trước khi chúng ta chết chưa?”

Tôi thấy mình giả vờ ngủ.

Và cô ấy tiếp tục nói, “Tất nhiên, chị không thể nói chính xác chuyện này xảy ra từ bao lâu trước, giữa đời này và đời sau, thang đo thời gian là khác nhau. Nhưng chị nghĩ là trong khoảng năm 1864, còn về việc đó là năm âm lịch Trung Quốc hay năm theo lịch Tây phương, thì chị không rõ lắm...”

Cuối cùng thì tôi cũng chìm vào giấc ngủ, vào lúc câu chuyện của cô ấy đang kể đến đoạn nào, tôi luôn quên mất. Cho nên, phần nào là giấc mơ của cô ấy, phần nào là giấc mơ của tôi? Và chúng đan xen vào nhau ở nơi nào? Tôi không biết. Mỗi tối, cô ấy đều kể cho tôi nghe những câu chuyện này, còn tôi thì bất lực nằm lặng ở đó, chỉ mong cô ấy ngậm miệng lại.

Đúng vậy, đúng vậy, tôi chắc chắn đó là năm 1864, bây giờ tôi nhớ ra rồi, bởi vì năm đó nghe rất kỳ lạ. Libby-a, em nghe thử xem: Một, tám, sáu, bốn, cô Banner nói, nghe giống như đang nói: Mất đi hy vọng, trượt vào cái chết. Còn tôi thì nói, không, điều đó có nghĩa là: Có được hy vọng, người chết ở lại. Tiếng Trung là thế đấy, vừa hay lại vừa dở: Có rất nhiều ý nghĩa, hoàn toàn ở chỗ trong lòng em nghĩ thế nào.

Nói tóm lại, tôi tặng trà cho cô Banner chính là vào năm đó. Còn cô ấy thì tặng tôi chiếc hộp âm nhạc ấy, chiếc hộp âm nhạc mà tôi từng trộm từ chỗ cô ấy, sau đó lại mang trả cho cô ấy. Tôi đến bây giờ vẫn nhớ tối hôm đó, chúng tôi đặt chiếc hộp ấy giữa hai đứa, bên trong đựng tất cả những thứ mà chúng tôi không muốn lãng quên. Lúc đó chỉ có hai chúng tôi, không có ai khác, địa điểm là ở trong căn đại trạch của thương gia ma quái ấy—nơi chúng tôi đã sống sáu năm cùng với những người theo đạo Giê-su. Chúng tôi đứng gần Thánh thụ, cái cây lùn ấy giống hệt như loài cây bụi mọc những chiếc lá đặc biệt, mà những chiếc lá giống hệt như thế tôi vẫn thường dùng để làm trà. Chỉ là bây giờ cái cây lùn đó đã bị chặt đi, còn cô Banner thì nói cô ấy rất tiếc vì đã để Tướng quân Cates làm chết nó. Đêm hôm đó thật oi bức và đầy tang thương, mồ hôi và nước mắt tuôn rơi trên khuôn mặt chúng tôi như suối, tiếng ve kêu ngày càng lớn, rồi quy về tĩnh lặng. Sau đó chúng tôi đứng trên nhịp cổng vòm đó, sợ hãi mất mật nhưng cũng rất vui vẻ. Chúng tôi vui mừng khôn xiết khi biết rằng chúng tôi không vui vì cùng một lý do. Đó là năm mà bầu trời trên đầu cả hai chúng tôi đều đang bốc cháy.

Sáu năm trước, khi ấy tôi lần đầu gặp cô ấy, tuổi tròn mười bốn còn cô ấy hai mươi sáu, có lẽ trẻ hơn hoặc lớn hơn một chút. Tôi sinh ra ở một nơi nhỏ bé thuộc vùng núi Trì Sơn ở phía nam Trường Minh. Chúng tôi không phải là người bản địa, tức là những kẻ tuyên bố rằng trong dòng máu của họ chảy nhiều huyết thống người Hán sông Hoàng Hà hơn, do đó mọi thứ đều nên thuộc về họ; chúng tôi cũng không phải là người thuộc bộ tộc Tráng nào đó, những bộ tộc luôn giao chiến với nhau hết thôn này đến tộc nọ; chúng tôi là người Khách Gia, những vị khách đi ở nhờ—ý chỉ những vị khách chưa từng được mời ở lại quá lâu tại bất kỳ chốn tốt lành nào, thế nên chúng tôi mới sống ở một nơi nghèo khó thuộc vùng núi này, nương thân trong những quần tụ nhà tròn Khách Gia ấy. Ở cái nơi nghèo khó đó, bạn phải cày cấy trên vách đá hiểm trở, đứng vững như loài dê, để thu hoạch được một hộc lúa thì trước tiên phải dời đi hai xe đẩy tay đá cuội.

Tất cả phụ nữ đều lao động vất vả cực nhọc hệt như đàn ông, không phân biệt ai là người khiêng đá, ai là người đốt than, ai là người đề phòng kẻ trộm hoa màu ban đêm. Tất cả phụ nữ Khách Gia đều như vậy, khỏe mạnh kiên cường. Chúng tôi không bó chân như các cô gái người Hán—bàn chân tàn tật của họ đen sì và thối rữa giống như quả chuối để lâu ngày, vậy mà vẫn phải dùng chúng để nhảy nhót khắp nơi. Chúng tôi buộc phải chạy khắp núi khắp non để làm việc, không có quần áo bó sát, cũng không đi giày. Chân trần của chúng tôi giẫm trực tiếp lên những cây cỏ Trì Sơn sắc nhọn đã làm nên tên tuổi lẫy lừng cho những ngọn núi ấy.

Ở vùng núi chúng tôi, một cô dâu phù hợp là người có đôi chân dày đặc vết chai, mang khuôn mặt gò má cao, ưa nhìn và chịu thương chịu khó. Gần các thành phố lớn Vĩnh An—nằm giữa những dãy núi—và Kim Điền—nằm bên cạnh dòng sông—có một số gia đình người Khách Gia khác sinh sống, những người mẹ sinh ra trong các gia đình nghèo khó hơn rất thích tìm cho con trai mình một cô gái vừa chăm chỉ vừa xinh đẹp đến từ vùng núi Trì Sơn làm vợ. Vào mùa hội gả chồng, những chàng trai đó sẽ trèo đèo lội suối đến ngôi làng trên núi của chúng tôi, còn các cô gái của chúng tôi thì cất tiếng hát những khúc ca xưa cổ—mà chúng tôi mang theo từ phương Bắc từ một ngàn năm trước. Chàng trai buộc phải hát đối đáp với cô gái mà anh ta muốn cưới, phải tìm từ ngữ để đối lại lời ca của cô ấy. Nếu giọng điệu của anh ta yếu ớt, hoặc lời ca của anh ta kém cỏi, thì thật tồi tệ, đừng hòng mong có chuyện cưới xin. Đó là lý do tại sao người Khách Gia không chỉ vô cùng kiên cường, mà còn sở hữu một cổ họng tuyệt vời, cùng một trái tim khéo léo thông suốt cần thiết để giành lấy bất cứ thứ gì họ muốn.

Trong chúng tôi lưu truyền một câu tục ngữ: Lấy một cô gái Trì Sơn, bạn sẽ có được một người vợ tương đương với ba con trâu: một con là trâu cái, một con là trâu cày, một con là trâu sức vóc để chăm sóc mẹ bạn. Điều đó cho thấy người con gái Khách Gia chịu thương chịu khó đến mức nào. Cô ấy sẽ không bao giờ phàn nàn, ngay cả khi một hòn đá lăn từ sườn núi xuống đập rách mắt cô ấy.

Tai nạn lần đó xảy ra khi tôi mới lên bảy. Tôi rất tự hào về vết thương của mình, chỉ khóc một lúc. Khi bà tôi khâu lại cái hốc từng là con mắt của tôi, tôi nói hòn đá đó bị làm cho lỏng ra bởi một con ngựa của ác ma do nữ ma đầu Nộ Mục cưỡi—chữ “nữ” nghĩa là “cô gái”, Nộ Mục có nghĩa là “ánh mắt sắc bén như dao găm”. Nữ Nộ Mục, chính là cô gái có đôi mắt tựa dao găm. Cô ấy cũng mất đi một bên mắt khi còn trẻ. Cô ấy tận mắt chứng kiến một người bản địa ăn cắp muối của người khác, trước khi cô ấy kịp chạy đi, người bản địa đó đã dùng dao găm đâm vào mặt cô ấy. Kể từ đó, cô ấy luôn kéo một góc khăn trùm đầu xuống để che đi con mắt mù, con mắt còn lại của cô ấy trở nên to hơn, đen hơn, sắc bén hệt như mắt cú mèo. Cô ấy chỉ cướp bóc người bản địa, và khi họ nhìn thấy đôi mắt sắc như dao găm của cô ấy, ồ, nhìn xem họ run rẩy thế nào kìa.

Ở vùng Trì Sơn, tất cả người Khách Gia đều ngưỡng mộ cô ấy, không chỉ vì cô ấy cướp bóc người bản địa, mà còn vì khi Thiên vương quay lại tìm chúng tôi cầu cứu, cô ấy là người đầu tiên gia nhập thổ phỉ Khách Gia của Thái Bình Thiên Quốc. Mùa xuân năm đó, cô ấy dẫn theo một đội quân gồm toàn phụ nữ Khách Gia đến Quế Lâm, quân đội nhà Thanh đã bắt giữ cô ấy. Sau khi họ chặt đầu cô ấy, đôi môi của cô ấy vẫn cử động, nguyền rủa rằng cô ấy sẽ quay lại tiêu hủy một trăm đời gia tộc bọn chúng. Chính vào mùa hè năm đó tôi đã mất đi một con mắt. Khi tôi kể cho mọi người nghe về việc nữ Nộ Mục cưỡi con ngựa quỷ của cô ấy phi nhanh qua, mọi người đều nói đây là một dấu hiệu, chứng tỏ nữ Nộ Mục đã chọn tôi làm sứ giả của cô ấy, giống như Chúa Giê-su đã chọn một người Khách Gia làm Thiên vương, họ bắt đầu gọi tôi là nữ Nộ Mục. Đôi khi, vào thời khắc đêm khuya, tôi cảm thấy mình thực sự có thể nhìn thấy nữ thổ phỉ đó, tất nhiên là không rõ lắm, bởi vì vào lúc đó, tôi chỉ có một con mắt âm.

Ngay sau đó, tôi gặp người nước ngoài đầu tiên của mình. Bất kể khi nào người nước ngoài đến tỉnh của chúng tôi, tất cả mọi người trong vùng—từ Nam Ninh đến Quế Lâm—đều bàn tán về họ. Rất nhiều người nước ngoài đến để giao dịch thứ đồ đen sì của nước ngoài—thuốc phiện—thứ thuốc phiện khiến người nước ngoài ôm ấp những giấc mơ điên cuồng về Trung Quốc; trong khi một số khác đến để bán vũ khí— đại bác, thuốc súng, súng trường, không phải loại nhanh chóng, mới lạ, mà là loại vũ khí chậm chạp, kiểu cũ, là thứ sót lại từ những trận chiến nước ngoài đã chìm vào quên lãng từ lâu, phải dùng diêm tiêu để châm lửa; các nhà truyền giáo đến tỉnh của chúng tôi vì họ nghe nói người Khách Gia là những người theo đạo Bái Thượng Đế, họ muốn giúp nhiều người hơn trong chúng tôi đến thiên đường của họ. Họ không biết rằng người theo đạo Bái Thượng Đế không giống với Cơ Đốc nhân, sau này chúng tôi nhận ra thiên đường của mình cũng khác nhau.

Nhưng người nước ngoài mà tôi gặp không phải là nhà truyền giáo, ông ta là một vị tướng quân người Mỹ. Người Khách Gia gọi ông ta là Cates bởi vì đó là thứ ông ta luôn mặc: một chiếc áo choàng khổng lồ. Ông ta còn đeo găng tay đen, đi bốt đen, không đội mũ, mặc một chiếc áo khoác ngắn màu xám, trên đó có những chiếc khuy giống như đồng tiền lấp lánh, từ eo kéo dài tận đến má. Tay ông ta cầm một cây gậy chống dài, là gậy mây trắng, có đầu gậy bằng bạc và tay cầm bằng ngà voi, trên tay cầm chạm khắc một người phụ nữ khỏa thân.

Khi ông ta đến vùng Trì Sơn, người dân ở tất cả các ngôi làng đều đổ xô xuống núi đến thung lũng màu xanh rộng lớn đó để nhìn ông ta. Khi đến nơi, ông ta cưỡi một con ngựa đang lồng lộn tiến về phía trước, dẫn đầu năm mươi binh lính người Quảng Đông—trước đây là phu thuyền và ăn mày, bây giờ thì cưỡi ngựa lùn, mặc quân phục màu sắc sặc sỡ (được cho là không phải quân phục của người Hán hay người Mãn mà là vật tư dư thừa từ cuộc chiến thuộc địa Pháp ở Châu Phi). Những người lính hô vang: “Người bái Thượng Đế! Chúng tôi cũng là người bái Thượng Đế.”

Một số người trong chúng tôi cho rằng Cates chính là Chúa Giê-su, hoặc giống như Thiên vương, là một người em trai khác của Chúa Giê-su. Ông ta rất cao, râu ngắn, râu quai nón rậm rạp, mái tóc đen xoăn xõa xuống tận vai. Đàn ông Khách Gia cũng để kiểu tóc dài giống như vậy, không còn bóng dáng của chiếc bím tóc, đó là vì Thiên vương nói người của chúng ta không nên tuân theo luật pháp nhà Thanh nữa. Tôi chưa từng nhìn thấy người nước ngoài trước đây, do đó cũng không có cách nào biết được tuổi thật của ông ta. Nhưng theo tôi thấy, ông ta có vẻ rất già. Da của ông ta có màu giống như củ cải đường, đôi mắt mờ ảo như dòng nước nông. Trên mặt ông ta đầy những chỗ lõm sâu và lồi lên, giống như người mắc bệnh tiêu hao kiệt quệ. Ông ta rất ít khi cười, nhưng thường xuyên cười lớn ha hả, và nói những lời chói tai bằng một giọng giống tiếng lừa kêu. Đứng bên cạnh ông ta luôn có một người, đóng vai trò là người trung gian của ông ta, dịch lại những gì Cates nói bằng một giọng điệu tao nhã.

Lần đầu tiên nhìn thấy người trung gian đó, tôi cảm thấy anh ta giống người Trung Quốc, nhưng phút tiếp theo anh ta lại giống người nước ngoài, rồi sau đó lại chẳng giống gì cả. Anh ta giống như những con thằn lằn đổi màu theo cành cây và lá cây. Sau đó tôi được biết mẹ của người này là một người phụ nữ Trung Quốc, còn cha là một thương nhân người Mỹ, anh ta chịu ảnh hưởng huyết thống từ cả hai người. Tướng quân Cates gọi anh ta là "người một nửa", tức là người mang một nửa dòng máu.

Một Nửa nói với chúng tôi Cates vừa từ Quảng Châu tới, ở đó ông ta đã trở thành bạn của Thiên vương Thái Bình Thiên Quốc. Tất cả chúng tôi đều vô cùng kinh ngạc: Thiên vương rốt cuộc là một vị thánh cơ mà, ông sinh ra là người Khách Gia, sau đó được Thượng Đế chọn làm đứa con trai nhỏ bé được ngài yêu quý, là em trai nhỏ của Chúa Giê-su. Thế nên tất cả chúng tôi đều chăm chú lắng nghe.

Cates, Một Nửa nói, là một nhà lãnh đạo quân sự người Mỹ, một vị tướng cấp cao, mang quân hàm cao nhất. Mọi người bắt đầu xì xào bàn tán. Ông ta lặn lội đường xa vượt đại dương đến Trung Quốc, để giúp đỡ những người bái Thượng Đế, những tín đồ theo đuổi thời đại Thái Bình. Mọi người hô vang: “Hay! Hay!” Bản thân ông ta cũng là một người bái Thượng Đế, ông ta ngưỡng mộ chúng tôi, ngưỡng mộ những bộ luật chống thuốc phiện, trộm cắp, dâm dục của chúng tôi. Mọi người đều gật đầu, còn tôi thì dùng một con mắt của mình dán chặt vào người phụ nữ khỏa thân được chạm khắc trên cán gậy của Cates. Ông ta nói ông ta đến để giúp chúng tôi chiến đấu chống lại người Mãn Châu, đây là sự sắp đặt của Thượng Đế, đã được viết trong cuốn Kinh Thánh mà ông ta cầm trên tay từ hàng ngàn năm trước. Mọi người đều chen chúc tiến lên để xem, và chúng tôi cũng biết sự sắp đặt tương tự đó. Thiên vương từ lâu đã nói với chúng tôi người Khách Gia sẽ thừa kế vùng đất này, thống trị vương quốc Trung Quốc dưới sự cai trị của Thượng Đế. Tướng quân Cates thông báo rằng, quân đội Thái Bình Thiên Quốc từ lâu đã chiếm đóng rất nhiều thành phố, thu tụ tập rất nhiều tiền tài và đất đai, mà bây giờ, cuộc đấu tranh chuẩn bị chuyển hướng sang phương Bắc—chỉ cần những người bái Thượng Đế còn lại ở vùng Trì Sơn gia nhập quân đội của ông ta là được. Ông ta bổ sung thêm rằng, những ai tham gia chiến đấu sẽ được chia sẻ ân huệ—quần áo ấm, thức ăn dồi dào, và sau này, đất đai thuộc về chính họ, thân phận và địa vị mới, trường học và gia đình, đàn ông và phụ nữ đối xử bình đẳng với nhau. Thiên vương cũng sẽ gửi thức ăn đến cho gia đình mà họ để lại. Đến lúc này, tất cả mọi người đều hô vang: “Thái Bình Thiên Quốc! Thái Bình Thiên Quốc!”

Tiếp theo, Tướng quân Cates dùng gậy chống gõ xuống mặt đất, tất cả mọi người lại một lần nữa im lặng. Ông ta bảo Một Nửa cho chúng tôi xem những món quà mà Thiên vương bảo ông ta mang đến cho mọi người: Từng thùng từng thùng thuốc súng! Từng bó từng bó súng trường! Từng giỏ từng giỏ quân phục quân đội thuộc địa Pháp ở Châu Phi—một số đã bị rách và dính đầy vết máu. Nhưng ai nấy đều cho rằng chúng vẫn vô cùng đẹp đẽ. Mọi người đều đang nói: “Này, nhìn những chiếc khuy kìa, sờ thử chất liệu này xem.” Ngày hôm đó, rất nhiều người, cả nam lẫn nữ, đã gia nhập quân đội của Thiên vương. Tôi không thể tham gia, bởi vì tôi còn quá nhỏ, mới bảy tuổi, cho nên tôi vô cùng không vui trong đám đông. Nhưng tiếp theo những người lính Quảng Đông đưa quần áo tới, chỉ cho đàn ông, không cho phụ nữ lấy một bộ. Đợi đến khi chứng kiến tình cảnh này, tôi liền không còn không vui như trước nữa.

Đàn ông mặc những bộ quần áo mới của họ, còn phụ nữ thì ngắm nghía những khẩu súng trường mới của mình, những ngọn diêm tiêu dùng để châm ngòi. Sau đó Tướng quân Cates lại gõ gõ cây gậy của ông ta, bảo Một Nửa mang quà của ông ta ra cho chúng tôi. Tất cả chúng tôi đều chen chúc tiến lên, háo hức muốn nhìn thấy một bất ngờ khác. Một Nửa mang ra một chiếc lồng bằng liễu gai, bên trong là một đôi bồ câu trắng. Tướng quân Cates dùng thứ tiếng Trung kỳ quặc của mình tuyên bố rằng, ông ta đã cầu xin Thượng Đế ban cho một điềm báo rằng chúng ta sẽ trở thành một đội quân bách chiến bách thắng, và Thượng Đế đã phái những chú bồ câu này tới. Những chú bồ câu này, Tướng quân Cates nói, có ý nghĩa rằng người Khách Gia nghèo khổ chúng ta sẽ sở hữu thời kỳ thái bình thịnh vượng mà chúng ta hằng khao khát trong suốt hàng ngàn năm qua. Tiếp theo, ông ta mở cửa lồng, lôi những chú bồ câu ra, ném chúng vào bầu không khí. Mọi người reo hò ầm ĩ, chạy đua xô đẩy nhau, nhảy chồm lên, muốn bắt lấy những sinh linh ấy trước khi những chú bồ câu có thể bay đi. Một người đàn ông ngã nhào về phía trước đập vào một tảng đá, đầu anh ta vỡ toác ra, chất xám bắt đầu chảy ra ngoài. Nhưng mọi người nhảy qua cơ thể anh ta, tiếp tục đuổi theo những chú chim hiếm hoi và quý giá ấy. Một con bồ câu bị bắt mất, con còn lại thì bay mất. Thế là, một người nào đó đã có một bữa thịt vào tối hôm đó.

Cha và mẹ tôi đều tham gia trận chiến này. Những người tham gia còn có chú của tôi, thím của tôi, các anh của tôi, gần như mỗi một người trên mười tuổi ở vùng Trì Sơn cũng như các thị trấn dưới núi, tổng cộng có năm vạn hoặc sáu vạn người. Trong đó có nông dân và địa chủ, người bán canh dạo và giáo viên, thổ phỉ và ăn mày, không chỉ có người Khách Gia, mà còn có người Dao, người Mao và người Tráng, thậm chí còn có cả người bản địa nghèo khó. Đối với tất cả những người Trung Quốc tụ tập lại với nhau như chúng tôi, đây thực sự là một khoảnh khắc vĩ đại.

Tôi bị bỏ lại Trì Sơn sống cùng bà tôi. Chúng tôi là những thứ rác rưởi đáng thương của ngôi làng, toàn là trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, người già và tàn phế, kẻ hèn nhát và kẻ ngốc. Thế nhưng chúng tôi cũng rất vui vẻ, bởi vì đúng như những gì ông ta đã hứa, Thiên vương đã phái binh lính mang thức ăn đến cho chúng tôi, chủng loại nhiều vượt xa những gì chúng tôi có thể tưởng tượng trong hàng trăm năm. Những người lính này cũng mang đến cho chúng tôi những câu chuyện về chiến thắng vĩ đại: Thiên vương đã xây dựng vương quốc mới của ông ấy ở Nam Kinh như thế nào; bạc lạng nhiều hơn cả lúa gạo như thế nào; mọi người ở những ngôi nhà đẹp đẽ ra sao—đàn ông một đại viện, phụ nữ ở một đại viện khác; trải qua cuộc sống yên bình ra sao—chủ nhật đi nhà thờ, không làm việc, chỉ có nghỉ ngơi và những chuyện vui vẻ. Chúng tôi vô cùng vui mừng khi biết rằng bản thân bây giờ đang sống trong thời kỳ thái bình thịnh vượng.

Chúng tôi có thể cảm nhận từ cái bụng của chính mình rằng những gì người đó nói là sự thật. Chúng tôi đang ở trong cơn đói khát, Thiên vương đã quên mất chúng tôi, những người bạn phương Tây cũng đã phản bội chúng tôi. Chúng tôi không còn nhận được thức ăn hay tin tức chiến thắng nữa. Chúng tôi rất nghèo, không có mẹ, không có cha, cũng không còn những thiếu nam thiếu nữ ca hát, trong mùa đông càng rét run bần bật.

Sáng hôm sau, tôi rời khỏi làng đi xuống núi. Lúc đó tôi mười bốn tuổi, đã đủ lớn để tự bước đi trên con đường đời của mình. Bà tôi đã qua đời vào năm ngoái, nhưng hồn ma của bà đã không đến ngăn cản tôi. Đó là ngày mùng chín tháng chín, điều này tôi nhớ rất rõ, đây là ngày người Trung Quốc nên đi leo cao, chứ không phải là ngày đi xuống núi, là ngày tưởng nhớ tổ tiên, là ngày thiêng liêng mà những người bái Thượng Đế dùng hành động lờ đi nó để chứng minh rằng họ tuân theo lịch Tây phương có năm mươi hai tuần chủ nhật, chứ không phải lịch năm Trung Quốc. Thế nên tôi đi xuống núi, tiếp tục băng qua thung lũng giữa những ngọn núi. Tôi không còn biết bản thân mình nên tin vào điều gì, nên tin tưởng ai nữa. Tôi quyết định mình nên chờ đợi một điềm báo, xem xem chuyện gì đã xảy ra.

Tôi đã đến thành phố mang tên Kim Điền nằm sát bên mặt nước. Đối với những người Khách Gia mà tôi gặp, tôi nói mình là nữ Nộ Mục, nhưng họ không biết nữ thổ phỉ đó là ai, ở Kim Điền cô ta không phải là nhân vật nổi tiếng. Người Khách Gia ở đó không ngưỡng mộ đôi mắt bị ngựa quỷ làm hỏng của tôi, họ thương hại tôi, nhét một chiếc bát cơm cũ vào lòng bàn tay tôi, cố gắng biến tôi thành một kẻ ăn mày mù một con mắt. Nhưng tôi từ chối trở thành kiểu người mà mọi người nghĩ tôi nên là.

Thế là tôi lại lang thang trong thành phố, trong lòng suy nghĩ bản thân có thể làm công việc gì để đổi lấy thức ăn. Tôi nhìn thấy người Quảng Châu sửa móng chân, người Dao nhổ răng, người bản địa dùng kim nhọn châm chích đôi chân sưng phồng, thế nhưng tôi lại hoàn toàn mù tịt về cái bản lĩnh kiếm tiền từ chỗ thối rữa trên cơ thể người khác. Tôi tiếp tục đi về phía trước, cho đến khi đến bên bờ đê thấp của một con sông lớn. Tôi nhìn thấy những người đánh cá Khách Gia tung những tấm lưới đánh cá khổng lồ từ những chiếc thuyền nhỏ xuống mặt nước, nhưng tôi không có lưới, cũng không có thuyền nhỏ, lại càng không biết phải suy nghĩ thế nào giống như một chú cá nhanh nhẹn, linh hoạt.

Trước khi có thể quyết định làm gì, tôi nghe thấy mọi người đang hò hét dọc theo bờ sông: Người nước ngoài tới rồi! Tôi chạy đến bến tàu, nhìn thấy hai phu thuyền người Trung Quốc, một trẻ một già, đang đi xuống một tấm ván gỗ hẹp, vừa vặn dỡ các hộp và thùng thưa từ một con thuyền lớn xuống. Tiếp theo tôi nhìn thấy những người nước ngoài đó, đứng trên boong tàu,—ba, bốn, năm người, đều mặc trang phục màu đen u ám, ngoại trừ người nhỏ tuổi nhất là ngoại lệ, trang phục và mái tóc của cô ấy có màu nâu sáng rực như loài bọ ăn gỗ. Cô ấy chính là cô Banner, đương nhiên, lúc đó tôi không hề hay biết. Một con mắt của tôi dán chặt vào họ, trong khi năm đôi mắt của họ lại chăm chú nhìn người phu thuyền trẻ và già đang lảo đảo đi xuống tấm ván nhảy dài và mỏng manh ấy. Trên vai phu thuyền là hai chiếc gậy, ở chính giữa chỗ trũng xuống của gậy là một chiếc rương lớn treo lơ lửng trên sợi dây thừng bện. Đột nhiên, người nước ngoài có mái tóc nâu sáng rực chạy xuống tấm ván nhảy—ai mà biết vì lý do gì—để cảnh báo họ, bảo họ phải cẩn thận hơn. Và cũng đột nhiên không kém, tấm ván nhảy đó bắt đầu nảy lên, chiếc rương bắt đầu chao đảo, phu thuyền bắt đầu lảo đảo, năm người nước ngoài trên thuyền thì bắt đầu la hét. Nhìn hai phu thuyền căng cứng toàn bộ cơ bắp, còn người nước ngoài lấp lánh kia thì quạt cánh tay giống như một chú chim cánh cụt, mắt của chúng tôi cũng đảo qua đảo lại từ trước ra sau, từ trên xuống dưới. Khoảnh khắc tiếp theo, người phu thuyền già ở phía cuối tấm ván nhảy, phátت ra một tiếng hét chói tai—tôi nghe thấy tiếng nứt gãy, nhìn thấy xương vai của ông ta chọc lòi ra ngoài. Sau đó hai phu culi, một chiếc rương, cùng với một người nước ngoài mặc quần áo lấp lánh tung bọt nước rơi xuống dòng nước sông dưới chân.

Tôi chạy ra bờ sông. Người phu culi trẻ tuổi từ lâu đã bơi được lên bờ, hai ngư dân trên một chiếc thuyền nhỏ đang vớt những thứ vứt vãi trong rương: trang phục sặc sỡ bay phấp phới như buồm tàu, chiếc mũ lông vũ nổi bồng bềnh như vịt, đôi găng tay dài cào cấu mặt nước giống như ngón tay của ma quỷ, nhưng không một ai cố gắng giúp đỡ người phu thuyền bị thương hay người nước ngoài mặc quần áo lấp lánh kia cả. Những người nước ngoài khác cũng không ra tay cứu giúp: họ sợ phải đi xuống tấm ván nhảy đó. Người bản địa trên bờ sẽ không giúp đỡ: nếu họ nhúng tay vào số phận, họ sẽ phải chịu trách nhiệm cho sinh mạng của hai kẻ chưa chết đuối đó. Nhưng tôi thì không nghĩ vậy, bởi vì tôi là người Khách Gia. Người Khách Gia là những người bái Thượng Đế, mà người bái Thượng Đế chính là những người đánh cá giữa loài người, cho nên tôi chộp lấy một cây sào tre rơi xuống dòng nước, chạy dọc theo bờ đê, chìa cây sào ra, thả sợi dây thừng trên sào xuôi theo dòng nước. Người phu culi và người nước ngoài dùng đôi bàn tay tha thiết của họ túm lấy sợi dây thừng, sau đó tôi dồn hết sức lực toàn thân kéo họ lên.

Ngay khi tôi kéo họ lên, đám người bản địa đó liền đẩy tôi sang một bên. Người phu thuyền bị thương bị họ vứt bỏ trên mặt đất, mặc kệ ông ta rên rỉ chửi rủa. Ông ta chính là lão Lỗ, sau này biến thành người gác cửa, bởi vì xương bão vai bị gãy nên ông ta không thể làm nổi công việc nặng nhọc của phu culi nữa. Còn về cô Banner, đám người bản địa đó kéo cô ấy lên chỗ cao của bờ đê, cô ấy nôn ọe nước sông ở đó, tiếp tục khóc lóc gào thét. Khi mấy người nước ngoài cuối cùng cũng xuống được từ trên thuyền, đám người bản địa đó vây quanh họ, hô lớn: “Đưa tiền cho chúng tôi.” Một người nước ngoài ném vài tấm thép nhỏ xuống mặt đất, đám người bản địa đó lao vào chúng như những chú chim bay, cướp đoạt lấy, rồi tản mác khắp nơi.

Những người nước ngoài dùng một chiếc xe chở cô Banner, một chiếc xe chở người phu thuyền bị gãy xương, lại dùng ba chiếc xe để chở các hộp, thùng thưa và rương đựng quần áo của họ. Họ đi một mạch đến hội quán truyền giáo ở Trường Minh, còn tôi thì chạy theo ở phía sau. Đây chính là quá trình ba chúng tôi sống cùng một ngôi nhà. Số phận khác nhau của ba chúng tôi đã hội tụ lại với nhau ở dòng sông đó, và quấn quýt đan cài vào nhau giống như mái tóc của người phụ nữ chết đuối.

Sự việc cứ diễn ra như thế này: Nếu cô Banner không nhảy nhót trên tấm ván nhảy, lão Lỗ tuyệt đối sẽ không bị gãy xương vai; nếu xương vai của ông ta không gãy, cô Banner tuyệt đối sẽ không suýt chết đuối; nếu tôi không cứu cô Banner, giúp cô ấy thoát khỏi cái chết đuối, cô ấy tuyệt đối sẽ không cảm thấy đau lòng cho việc xương vai của lão Lỗ bị gãy; nếu tôi không cứu lão Lỗ, ông ta tuyệt đối sẽ không kể cho cô Banner nghe những gì tôi đã làm; nếu cô Banner không biết điều này, cô ấy tuyệt đối sẽ không đòi tôi làm bạn đồng hành của cô ấy; mà nếu tôi không trở thành bạn đồng hành của cô ấy, cô ấy sẽ không mất đi người đàn ông mà cô ấy yêu.

Căn đại trạch thương gia ma quái đó ở Trường Minh. Trường Minh cũng nằm ở Trì Sơn, nhưng ở phía bắc ngôi làng của tôi, cách Kim Điền nửa ngày đường. Nhưng vì có quá nhiều rương và những người rên rỉ trên xe, chúng tôi đã tốn gấp đôi thời gian. Sau này tôi mới biết ý nghĩa của Trường Minh là “tiếng hát không bao giờ kết thúc”: Ở phía sau ngôi làng này, nơi cao chót vót chạm đến tận mây xanh, có rất nhiều hang động, hàng ngàn hàng vạn. Khi gió thổi lên, cửa hang sẽ phát ra tiếng u u—đúng y như tiếng kêu do người mẹ đau buồn vì mất con phát ra.

Sáu năm cuối cùng trong cuộc đời tôi đã được trải qua ở đó—trong ngôi nhà ấy. Tôi sống cùng cô Banner, lão Lỗ và những nhà truyền giáo—tín đồ Giê-su đến từ Anh quốc: hai vị phu nhân, hai vị tiên sinh. Lúc đó tôi không hề hay biết những điều này. Đây là chuyện của rất nhiều ngày sau, khi chúng tôi có thể giao tiếp với nhau bằng một thứ ngôn ngữ chung, cô Banner đã kể cho tôi nghe. Cô ấy nói những nhà truyền giáo đó đã đi thuyền đến Ma Cao, truyền giáo ở đó một thời gian, rồi đến Quảng Châu, ở đó lại truyền giáo một thời gian. Đó cũng là nơi họ gặp cô Banner. Trong khoảng thời gian này, một hiệp ước mới ra đời, nói rằng người nước ngoài có thể sinh sống ở bất kỳ nơi nào họ thích tại Trung Quốc. Thế nên những nhà truyền giáo này mới ngồi thuyền đi ngược Tây Giang vào nội địa, đến Kim Điền, còn cô Banner thì đi cùng với họ.

Nơi ở của nhà truyền giáo đó là một địa điểm rất lớn, ở giữa là một đại viện, bên cạnh là bốn tiểu viện, ngôi nhà chính là một căn phòng khổng lồ và kỳ lạ, bên cạnh lại là bốn căn phòng nhỏ hơn. Hành lang kết nối các viện và các ngôi nhà lại với nhau đều có mái che. Xung quanh địa điểm này được bao bọc bởi những bức tường cao, chia cắt thế giới bên trong và bên ngoài thành hai nửa. Đã hơn một trăm năm không có ai sống ở nơi đó rồi. Chỉ có người nước ngoài mới ở lại trong một ngôi nhà bị nguyền rủa. Họ nói họ không tin vào ma quỷ Trung Quốc.

Người dân địa phương nói với lão Lỗ, “Đừng ở đó, có hồ ly tinh quấy phá ở đấy.” Nhưng lão Lỗ nói ông ta không sợ gì cả. Ông ta là một gã phu culi người Quảng Châu đã truyền qua mười đời! Ông ta vô cùng khỏe mạnh, đủ sức làm việc cho đến chết; ông ta cũng rất tinh ranh, hoàn toàn có thể tìm ra câu trả lời cho bất cứ thứ gì ông ta muốn biết. Ví dụ, nếu bạn hỏi ông ta hai vị phu nhân người nước ngoài sở hữu bao nhiêu bộ quần áo, ông ta sẽ đoán rằng có lẽ mỗi người khoảng hai mươi mấy bộ. Ông ta còn vào phòng của các phu nhân khi họ đi ăn, kiểm kê từng món một, tất nhiên rồi, tuyệt đối không trộm cắp. Ông ta kể với tôi rằng, cô Banner, có hai đôi giày, sáu đôi găng tay, năm chiếc mũ, ba chiếc áo khoác dài, hai đôi tất dài màu đen, hai đôi tất dài màu trắng, hai chiếc quần lót màu trắng, một chiếc ô cùng với bảy món đồ khác, hẳn là quần áo, nhưng ông ta không thể chắc chắn chúng dùng để che phần nào của cơ thể con người.

Thông qua lão Lỗ, tôi nhanh chóng hiểu được rất nhiều chuyện liên quan đến người nước ngoài. Tuy nhiên, phải đến tận sau này ông ta mới kể cho tôi nghe lý do tại sao người dân địa phương lại cho rằng ngôi nhà này đã từng bị nguyền rủa. Rất nhiều năm trước, đây là một dinh thự nghỉ mát thuộc sở hữu của một thương gia, người thương gia này sau đó đã chết một cách bí ẩn và đáng sợ, rồi bốn người vợ của ông ta, từng người một, cũng chết một cách bí ẩn và đáng sợ, đầu tiên là người trẻ, sau đó là người già, tất cả những chuyện này đều xảy ra trong khoảng thời gian từ một đêm trăng tròn này cho đến đêm trăng tròn tiếp theo.

Giống như lão Lỗ, tôi cũng sẽ không dễ dàng bị dọa sợ. Nhưng tôi phải nói với bạn, Libby-a, những chuyện xảy ra ở đó năm năm sau lại khiến tôi tin rằng người thương gia ma quái đó đã quay trở lại.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.