Đoạn này hoàn toàn có thể bỏ qua không đọc. Nhưng đọc chơi cũng chẳng sao.
Khoảng hơn một trăm năm trước. Hoàng đế Quang Tự triều Thanh vừa mới lên ngôi không lâu. Đó là một đêm trăng mờ tối tăm.
Ở phía bắc thành Bắc Kinh, trong một phủ Bối tử cách lầu Chuông, lầu Trống không xa, bỗng vang lên một tiếng thét thảm thiết rợn người.
Bối tử tuy chỉ là hàng quý tộc bậc bốn, xếp sau Thân vương, Quận vương, Bối lặc, nhưng phủ đệ kia cũng vô cùng bề thế, lộng lẫy. Đám người hầu gác đêm cùng phu tuần canh nghe thấy tiếng thét ngắn ngủi ấy liền hoảng hốt bừng tỉnh, vội vã thắp lên vô số ngọn nến lập lòe ánh lửa đỏ, xách theo mấy chiếc lồng đèn sừng cừu, lập tức tiến hành tuần tra khẩn cấp khắp toàn phủ. Khu hoa viên phía sau với những khúc hành lang uốn lượn, cây cối um tùm rậm rạp dĩ nhiên là trọng điểm rà soát.
Bầu trời không một gợn ánh sao, từng cơn gió thoảng qua, những chiếc chuông gió bằng sắt nơi góc mái hiên phát ra những âm thanh xao xác hỗn độn.
Người di nương cai quản việc nhà cùng quan tổng quản trong phủ bị kinh động, đứng tại nghị sự sảnh lắng nghe báo cáo tìm kiếm từ các ngả gia nhân: các cửa nẻo đều không có gì bất thường, toàn bộ dinh thự không hề phát hiện bất kỳ người hay vật lạ nào đột nhập.
Thế là tiếng thét ngắn ngủi kia bị nghi là tiếng kêu của con cú vọ lướt qua bầu trời trên nóc phủ. Đó dĩ nhiên thuộc về "điềm bất tường", cần phải hết sức cẩn trọng — di nương lập tức hạ lệnh, trời vừa sáng phải đến chùa Long Phúc và quán Bạch Vân thỉnh tăng nhân, đạo sĩ về phủ làm lễ trừ tà giải hạn.
Mọi thứ dường như lại trở về bình thường. Những ngọn đèn nến thắp thêm lần lượt bị thổi tắt, đám người thừa thãi lục tục tản đi, kẻ trực đêm lại về phòng trực đêm như cũ, người gác canh lại tiếp tục gõ mõ đi quanh chân tường phủ.
Tầng mây tím dày đặc trên bầu trời bỗng nứt ra một khe hở, một vệt ánh trăng màu lòng trắng trứng đổ dồn xuống mặt đất.
Phủ Bối tử dần dần lộ ra đường nét. Những dãy nhà san sát ở bắc thành dần dần hiện rõ hình hài. Cả lầu Chuông và lầu Trống sừng sững nơi cực bắc của bắc thành cũng dần dần để lộ dáng vẻ hùng vĩ của chúng.
Trên lầu Trống — còn gọi là Tiêu lầu — truyền đến từng chập trống đổi canh, xua tan nỗi quạnh hiu của trời đêm. Một đàn đom đóm lập lòe bay lướt qua bên dưới bức tường thành lầu Trống.
Đây dường như chỉ là một đêm hết sức bình thường. Giống hệt như đêm hôm trước, và so với đêm hôm sau cũng chẳng khác là bao.
Trời dần hửng sáng.
Cùng với sắc trời chuyển từ vàng óng sang xanh bạc, thành phố ngủ say suốt một đêm dài đã thức giấc. Trên con phố lớn trước lầu Trống, các hàng quán mọc lên san sát, đủ loại biển hiệu cờ phướn với dáng vẻ độc đáo cùng màu sắc rực rỡ đung đưa trong gió sớm; những cỗ xe kiệu do la kéo đan xen qua lại, bánh xe bọc sắt nghiến trên mặt đường đá tảng phát ra những âm thanh chói tai; những gánh hàng rong bán trà thang, tào phớ, khoai nướng đương nhiên đã sớm đổ ra đường, ngay cả thợ sửa chữa cũng bắt đầu men theo ngõ hẻm rao to: "Bịt thùng đê!", "Chữa đồ thiếc đê!"... Mấy người phụ nữ bán hoa rảo bước vào các ngõ nhỏ, cất tiếng rao nũng nịu êm tai: "Hoa thược dược đây — tha hồ chọn dáng nào!" Những gã ăn mày "tiểu thập bất nhàn" cố tình bôi phấn trắng lên mũi, vừa gõ chũm chọe nhỏ vừa lanh mồm lanh miệng đi xin xỏ từng nhà... Nhưng kỳ quặc nhất phải kể đến phường bán bẫy và thuốc chuột, thường là hai người đi trước đi sau, tay giương một lá cờ giấy trắng hình vuông vẽ cảnh chuột trộm thức ăn, người đi trước cất giọng khàn khàn rao: "Bẫy chuột kẹp — kẹp chết chuột!", người đi sau dùng chất giọng ồm ồm phụ họa theo: "Thuốc chuột đây! Chẳng tốn mấy tiền, diệt sạch cả ổ!"...
Về phía tây nam cách lầu Chuông, lầu Trống không xa là Thập Sát Hải nức tiếng. Cái gọi là "hải" ấy, thực chất chỉ là một hồ nước nông, một nửa trồng sen, một nửa vỡ thành ruộng lúa. Tương truyền vì ven "hải" có rất nhiều đền miếu am đường nên mới có cái tên "Thập Sát Hải". Thập Sát Hải lại chia thành Tiền Hải và Hậu Hải, giữa hai "hải" có một cây cầu đá nhỏ, nhân hình dáng giống thỏi bạc mà thành tên, người ta gọi là cầu Ngân Đĩnh. Bên cầu Ngân Đĩnh có một gia đình nhỏ chuyên bán nước đậu lên men.
Nước đậu lên men không phải là sữa đậu nành. Đem đậu xanh ngâm nước cho nở, xay thành nước cốt nguyên chất, để cho lên men, sau khi tách ra phần tinh bột dùng làm miến thì lọc lấy "hắc phấn tử" và "ma đậu phụ", cuối cùng thứ nước đục có vị chua chát còn sót lại chính là nước đậu lên men — người chưa quen uống, đặc biệt là cư dân từ phương nam dọn đến Bắc Kinh, thường chỉ hớp một ngụm là nôn mửa không thôi, nhưng người Bắc Kinh cố cựu lại xem nó là thức uống nóng ngon bổ rẻ nhất trần đời, nhiều người thậm chí còn mê mẩn đến mức nghiện. Một trăm năm sau ngày hôm nay, Bắc Kinh vẫn còn không ít người tha thiết với món này, ngay cả những người Bắc Kinh vượt trùng dương định cư nơi xứ người ngót nghét bao năm, dẫu đã nếm trải đủ thứ sơn hào hải vị trên đời, nhưng hễ đặt chân trở lại Bắc Kinh, một trong những tâm nguyện đầu tiên được thốt ra chính là: "Chỉ thèm được húp ngay một bát nước đậu lên men nóng hổi!"
Lại nói năm xưa quán nhỏ bên cầu Ngân Đĩnh kia bán nước đậu lên men vô cùng có tiếng tăm. Chủ quán là một đôi vợ chồng già chất phác ngoài ngũ tuần, nước đậu của họ ủ khéo, lọc sạch, chất lượng thuần khiết đậm đà, vả lại buôn bán có phương pháp, chu đáo nghĩ cho khách hàng hết mực. Có những bà lão người Bát Kỳ gia đạo đã sa sút, vì muốn tiết kiệm mấy đồng tiền lẻ nên khi đến quán không mua nước đậu đã đun nóng, mà mua nước sống mang về đựng trong liễn sành rồi tự đun chín để ăn. Vợ chồng chủ quán đối với họ cũng đối xử bình đẳng như nhau, luôn tươi cười đón tiếp, chẳng hề trễ nải nửa phần. Người Bắc Kinh khi uống nước đậu nóng thường chuộng ăn kèm mấy món: dưa muối, quẩy vòng giòn, bánh nướng. Dưa muối của quán này màu sắc chuẩn, dáng sợi đẹp, vị thơm lừng, sợi dưa muối có đủ loại cay, không cay, bản to, bản nhỏ, ngoài ra còn phục vụ su hào thái hạt lựu rưới dầu ớt, mùa hè lại đem ướp đá, ai cần cứ việc lấy, đúng thật là món bình dân làm theo lối tinh tế. Chiếc quẩy vòng giòn rán lửa vừa vặn, màu vàng ánh đỏ, mỏng tang giòn rụm, kẹp vào trong chiếc bánh nướng sốt mè nhiều lớp phủ kín hạt vừng, vừa nhai vừa húp ngụm nước đậu nóng, với kẻ sành ăn quả thực có cái cảm giác ngây ngất mê hồn.
Thế nhưng chính đôi vợ chồng bán nước đậu ấy, mấy hôm trước lại gặp phải chuyện bất hạnh thảm thương.
Họ có một mụn con gái độc nhất, tuổi vừa trăng tròn mười sáu. Cha mẹ hết mực yêu thương nàng, chẳng nỡ để nàng phải đứng quầy bán quán, càng không bắt nàng mó tay làm lụng, cưng chiều như ngọc quý trên tay, mọi ý muốn của nàng đều được chiều chuộng. Cô con gái này dung mạo vô cùng xinh đẹp — dĩ nhiên là chiếu theo tiêu chuẩn thẩm mỹ thời bấy giờ. Nàng có khuôn mặt trái xoan, đôi mắt mảnh mà dài, sống mũi tẹt nhưng đầu mũi tròn trịa trắng nõn, khuôn miệng chúm chím hoa đào đúng chuẩn, đường viền môi trên cong hình chữ M rõ nét, bên cằm chếch về phía bên phải có một nốt ruồi đen vừa vặn.
Vào đầu mùa hè hoa đinh hương nở rộ, người mẹ dắt con gái từ nhà bà ngoại ở Phong Đài trở về, lúc đến gần Thập Sát Hải thì bóng tà dương đã lặn sau rặng núi. Mặt hồ đầy ắp những búp sen non mới nở khẽ rung rinh trong gió chiều, liễu rủ ven bờ mềm mại như tơ, phất qua thân hình người thiếu nữ, quấn quýt lấy chiếc khăn tay thắt bên hông cùng túi thơm hương cau đung đưa nơi tà áo. Cô gái bất giác dừng chân bên bờ hồ, thở dốc nhè nhẹ, cùng mẹ tạm nghỉ một lát; may sao chỉ cần rẽ thêm hai khúc quanh nữa là tới cầu Ngân Đĩnh rồi.
Nào ngờ tai họa lại bắt nguồn chính từ cái phút nghỉ chân ấy của hai mẹ con.
Nơi họ dừng chân, phía nam là mặt hồ bát ngát trồng đầy sen biếc, phía bắc ngăn cách bởi một con đường xe chạy là một tửu lầu trứ danh — Hội Hiền Lâu. Nhà hàng ấy xây theo kết cấu hai tầng, dưới mái hiên treo một dãy biển dài nền đen chữ thếp vàng, bên dưới biển rủ dải lụa đỏ, phảng phất ý vị "cờ xanh đón khách" của người xưa. Tầng trên tầng dưới đều rộng mười hai gian, toàn bộ tường vách đều xây bằng gạch mài phẳng miết mạch khít khao, trên lầu còn có hành lang rộng thênh thang sơn lan can màu xanh lục, khách quý ngồi trong phòng nhã có thể tựa lan can phóng tầm mắt ra xa, vừa ngắm cảnh vừa nhâm nhi chén rượu.
Trớ trêu thay ngày hôm đó lại có một gã đàn ông phóng đãng khinh bạc đang tựa lan can tầng hai uống rượu say sưa. Hắn xuyên qua những dải liễu rủ biếc xanh, vừa liếc mắt đã trông thấy người con gái của đôi vợ chồng bán nước đậu.
Gã đàn ông phóng đãng ấy chính là chủ nhân của phủ Bối tử mà chúng ta đã nhắc đến ở phần đầu, tức bản thân vị Bối tử kia. Kẻ này thích mặc áo vải sa mỏng màu xanh đen, bên mình luôn mang theo một chiếc quạt xếp lớn nan sắt, mở quạt ra thì nan xòe rộng hơn nửa vòng tròn, trên mặt quạt vẽ một con bướm đen cuồng loạn chập chờn trên khóm hoa đỏ như những giọt máu. Mười ngón tay hắn đeo ít nhất năm chiếc nhẫn, trong đó có hai chiếc là nhẫn sắt có móc ngạnh ngược — chỉ nhìn thế cũng đủ biết tính nết con người hắn ra sao.
Khi con gái của vợ chồng bán nước đậu đang thảnh thơi ngắm cảnh nghỉ chân bên bờ hồ, nàng vạn lần không ngờ đại họa sắp giáng xuống đầu mình. Hôm đó nàng mặc một chiếc áo đơn màu tơ ngó sen, đứng đón gió chiều, nổi bật giữa làn sóng biếc và sen xanh, hệt như một đóa phù dung thanh nhã vừa vươn lên khỏi mặt nước. Nàng lại thỉnh thoảng đưa ngón tay thon dài vén lọn tóc mai bị gió chiều thổi rối, càng lộ rõ vẻ yểu điệu thướt tha, khiến người ta thương xót rung động. Tên Bối tử nhìn từ trên lầu xuống, lập tức bủn rủn cả nửa người...
Khi cô gái cùng mẹ vừa về đến nhà, cả nhà cha mẹ con cái còn chưa kịp hàn huyên trò chuyện thì Bối tử đã dẫn theo một lũ gia đinh hầu cận xông thẳng vào nhà họ. Bối tử tự ỷ thế thân phận tôn quý của mình, nghĩ bụng đừng nói là đòi nạp cô gái làm thiếp, ngay cả ép nàng vào phủ làm một a hoàn "thông phòng", đôi vợ chồng bán nước đậu sợ rằng cũng chẳng dám không theo.
Nào ngờ khi hai mẹ con hoảng hốt tránh vào buồng trong, người cha lại chẳng hề run sợ nhượng bộ, chỉ khảng khái nói: "Gia đình chúng tôi nghèo hèn không dám trèo cao. Vợ chồng tôi chỉ có một mụn con gái này, chúng tôi chỉ mong kén được một chàng rể áo vải bần hàn để duy trì cái quán nước đậu này là đã mãn nguyện lắm rồi."
Bối tử cùng đám gia nô hung hãn hậm hực phẩy tay áo bỏ đi.
Thảm kịch xảy ra vào rạng sáng ngày hôm sau. Tội nghiệp người thiếu nữ! Cùng cha mẹ thức trắng suốt đêm, lòng dạ nơm nớp lo sợ, nhưng trong lòng vẫn ôm một tia hy vọng mong manh có thể may mắn thoát khỏi sự quấy nhiễu của tên Bối tử; khi ánh ban mai rọi qua song cửa, cô gái ngồi trước chiếc gương soi bằng thủy tinh — một trong những món đồ quý giá hiếm hoi của gia đình thuở ấy — đang tỉ mẩn trang điểm buổi sáng, bỗng nhiên một toán gia nô phủ Bối tử đạp cửa xông vào, chẳng nói chẳng rằng, túm chặt lấy nàng lôi xềnh xệch ra ngoài. Cô gái thét lên khóc lóc, liều mạng giãy giụa, cha mẹ nghe tiếng vội vã từ gian bếp lọc nước đậu lao ra, theo bản năng nhào tới giằng lại con — thương thay người cha bị tên gia nô nện một thước sắt trúng đầu, lập tức ngã lăn ra đất bất tỉnh, người mẹ ngã quỵ nơi ngưỡng cửa, gào khóc cầu cứu thảm thiết thì con gái đã bị đám gia nô nhét tọt vào cỗ xe ngựa; chòm xóm láng giềng nghe động túm tụm quanh cửa, ban đầu cũng có người dũng cảm đứng ra gặng hỏi, định ra tay cứu giúp, nhưng tên gia nô cầm đầu chống nạnh quát lớn một tiếng, mọi người liền sợ hãi câm nín, giận mà không dám nói. Tên ác nô kia gầm lên: "Phụng quân lệnh của Bối tử gia, đến đây lùng bắt nàng thiếp trốn chạy! Đứa nào to gan dám xen vào việc bao đồng, bước lên xem trên cổ mọc mấy cái đầu!"
Chính ngọ hôm ấy, lầu Chuông thong thả ngân vang từng hồi chuông, khu vực quanh cầu Ngân Đĩnh thuộc Thập Sát Hải, người dân vẫn sinh hoạt nhộn nhịp như thường lệ. Đằng kia là người bán nước mơ chua và mứt táo nghiền vừa gõ lách cách đôi bát đồng nhỏ (gọi là "băng tiễn nhi") vừa rảo bước đi tới, đằng này là bác thợ cạo cầm thanh nhíp sắt (gọi là "hoán đầu") phát ra tiếng kêu ong óng, lại có cả một người bán "đèn tiên hạc"... Nơi ngõ phố cách đó không xa — có lẽ là ngõ Tà Yên Đới, hoặc giả là ngõ Nha Nhi, vọng lại tiếng hòa tấu của trống bồng, tù và, kèn xoa-na, la đồng, sáo hải địch, ắt hẳn là kiệu hoa rước dâu nhà ai đang đi qua...
Thế nhưng đôi vợ chồng bán nước đậu lại đang chìm trong nỗi đau đớn cùng cực. Người cha mang thương tích nằm liệt trên giường, tuy có hàng xóm giàu lòng trắc ẩn qua lại đỡ đần chăm sóc, nhưng vết thương e rằng khó lòng lành lặn trong một sớm một chiều, trong cơn mê man thỉnh thoảng vẫn thốt ra những lời mê sảng đứt quãng... Người mẹ thì đã rơi vào trạng thái nửa điên nửa dại, bà ngồi bệt bên đầu cầu Ngân Đĩnh, vừa dồn hết sức tàn gào khóc thảm thiết, vừa thốt ra những lời nguyền rủa cay độc nhất...
Theo lời những người chứng kiến kể lại, ngay sau khi tiếng chuông trên lầu dứt hẳn không lâu, bỗng nhiên xuất hiện một thiếu niên cưỡi ngựa, chàng mặc một bộ trường bào hoa lệ, trên đầu đội chiếc mũ mềm đính ngọc quý, tay cầm cây roi ngựa nạm phỉ thúy, thoạt nhìn như một thư sinh nho nhã nhưng giữa đôi mày lại ngời ngời khí phách anh dũng phi thường; chàng xuống ngựa trước mặt người mẹ bán nước đậu, cất giọng ôn tồn hỏi bà cớ sao lại đau đớn khóc than ở chốn này. Mọi người chung quanh liền đỡ lời giúp người mẹ đang cơn bấn loạn kia, đem ngọn ngành sự việc kể lại cho chàng nghe.
Mỹ thiếu niên nghe xong liền dựng ngược đôi mày kiếm, nghiến răng ken két. Mọi người nghe chàng nói: "Bà lão đừng khóc nữa. Hãy chờ nghe tin vui đi!" Đến khi mọi người hoàn hồn trở lại thì chỉ còn nghe thấy tiếng vó ngựa xa dần, trong không khí vương lại một mùi hương thơm kỳ lạ. Mọi người ngơ ngác, suýt nữa tưởng rằng người mình vừa thấy chỉ là nhân vật hư ảo trong mộng cảnh.
Thế nhưng mấy ngày sau, câu chuyện được viết ở phần mở đầu đã xảy ra — vào một đêm trăng mờ tối tăm, trong phủ Bối tử bỗng phát ra một tiếng thét ngắn ngủi rợn người.
Đêm đó người trong phủ Bối tử lùng sục khắp nơi mà chẳng tìm ra manh mối. Mãi đến sáng ngày hôm sau, trời quang mây tạnh, người ta mới phát hiện Bối tử tỉnh lại sau cơn hôn mê, cất tiếng rên rỉ thảm thiết — thì ra đôi mắt của hắn chẳng biết đã bị ai móc mất tự lúc nào, trên mặt chỉ còn trơ trơ hai hố máu rùng rợn. Nghe nói trên rèm giường còn tìm thấy một mảnh giấy, bên trên viết mười sáu chữ: "Khoét mắt ngươi răn, tỉnh ngộ ăn năn. Đao quang loang loáng, kề sát cổ trần."
Đến trưa hôm đó, chuyện xảy ra trong phủ Bối tử đã lan truyền khắp vùng lầu Chuông, lầu Trống và Thập Sát Hải. Hàng xóm láng giềng dĩ nhiên tranh nhau chạy đến báo tin cho vợ chồng người bán nước đậu.
Ai là người đã móc đi đôi mắt của tên Bối tử độc ác kia, vợ chồng bán nước đậu cùng bà con chòm xóm đều tự hiểu trong lòng.
Thế nhưng theo lời đồn thổi từ phủ Bối tử, cho đến tận lúc người trong phủ nghe thấy tiếng Bối tử rên rỉ rồi mở cửa bước vào, mọi then cài cửa lớn cửa sổ trong căn phòng của hắn đều đóng chặt vô cùng cẩn mật, không hề có bất kỳ dấu vết cạy phá nào, và toàn bộ cửa nẻo trong khắp phủ đệ cũng đều nguyên vẹn y như vậy...
Năm tháng đằng đẵng trôi qua. Lầu Chuông, lầu Trống vẫn sừng sững uy nghiêm đứng đó.
Đôi vợ chồng bán nước đậu bên cầu Ngân Đĩnh, chẳng rõ sau này có được đoàn tụ với con gái hay chăng? Quán nước đậu nhỏ bé của họ, trăm năm sau, liệu còn lưu lại dấu tích nào để người đời nhận ra?
Khu phủ Bối tử năm nào, nghe đâu ngày nay đã biến thành một ngôi trường trung học. Khi thầy trò nô đùa trong tiếng cười rộn rã nơi sân trường, liệu có ai còn nhớ rằng, từng có một đêm trăng mờ tăm tối nọ, trong tòa dinh thự âm u kia đã từng xảy ra một chuyện kỳ quái: có một tên Bối tử phóng đãng ngang tàng, giữa lúc cửa nẻo đóng kín then cài, đã bị người ta móc đi đôi mắt, bật ra một tiếng thét thảm thiết kinh hoàng...
Chuyện này dĩ nhiên trở thành một giai thoại trà dư tửu hậu, dẫu qua trăm năm, nay đến khu vực lầu Chuông, lầu Trống, Thập Sát Hải để dò hỏi, vẫn còn có thể nghe những người Bắc Kinh xưa thong thả kể lại, tất nhiên mỗi người lại thêm thắt chút mắm dặm muối, sắp đặt những cái kết khác nhau, tạo nên vô số "dị bản".
Thế nhưng, giữa dòng người không ngừng sinh sôi nảy nở bên lầu Chuông, lầu Trống, những kẻ thuần thiện hay cực ác như trong truyền thuyết kia chỉ là số ít; muôn mặt đời thường bày ra dưới chân lầu Chuông, lầu Trống cũng chẳng phải toàn là "đêm mờ giết người" hay "gió lớn phóng hỏa". Vì vậy, cuốn tiểu thuyết mà giờ đây tôi xin trân trọng gửi tới bạn đọc sẽ không lần theo truyền thuyết ly kỳ ấy để phát triển tiếp, mà sẽ mở ra trước mắt bạn đọc một mặt khác bình dị, vụn vặt nhưng hàm chứa nhiều tầng ý nghĩa phong phú hơn dưới chân lầu Chuông, lầu Trống, chắc hẳn sẽ không làm quý độc giả thân mến phải phiền lòng trách cứ chứ?
Đọc tiếp xuống dưới, quý độc giả sẽ nhận ra rằng, nội dung của cuốn sách này thực ra vô cùng gần gũi với bạn.
Những điều xa xôi thường khiến chúng ta cảm thấy thần bí. Những thứ cận kề lại hay làm chúng ta thấy đỗi bình thường. Nhưng then chốt là liệu ta có phát hiện ra điều gì hay không. Bất kể xa gần, cao thấp, lớn nhỏ, trên dưới, nếu có thể khám phá ra điều mới mẻ, ắt sẽ đem lại cho ta sự gặt hái, mang đến niềm vui. Hãy cùng nhau thử xem sao!
Xin hãy nhớ rằng, nơi cực bắc của trục thần đạo thành Bắc Kinh, có lầu Chuông và lầu Trống cổ kính ngút ngàn năm tháng ngự trị.
Lầu Trống ở trước, tường đỏ ngói vàng.
Lầu Chuông ở sau, tường xám ngói xanh.
Lầu Trống mập, lầu Chuông gầy.
Dẫu rằng giờ đây chúng không còn gióng chuông ban sớm, điểm trống lúc hoàng hôn nữa, nhưng mỗi khi hiện lên trong đáy mắt của những người hữu tâm, chúng vẫn sừng sững uy nghi đại diện cho dòng thời gian đằng đẵng trôi.
Dòng thời gian ấy đã chảy trôi đến ngày 12 tháng 12 năm 1982...
Trong một con ngõ nhỏ gần lầu Chuông, lầu Trống, có một ngôi nhà tứ hợp viện; trong tứ hợp viện ấy có một bà Tiết — xin mời xem, xin mời xem...