Chuông Cổ Lâu

Lượt đọc: 65 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tứ Hợp Viện

❊ ❊ ❊

Một nhân vật lớn của cuốn sách này - tứ hợp viện.

Bắc Kinh còn lại bao nhiêu tứ hợp viện còn nguyên vẹn đại thể? Không biết bộ phận nào nắm giữ những con số chính xác. Bây giờ mọi người bắt đầu nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ động vật hoang dã, năm 1980 từng có vài con thiên nga trắng đến trú ngụ ở Ngọc Uyên Đàm, trong đó một con đã bị một công nhân trẻ tuổi đi ngang qua dùng súng hơi bắn hạ, từng gây ra sự phẫn nộ rộng rãi trong công chúng. Kỳ thực, con số thiên nga hoang dã trong nước lớn hơn rất nhiều so với con số tứ hợp viện được xây dựng từ thời Minh Thanh cho đến nay, nhưng cho đến hiện tại, đối với hành vi đối xử thô bạo với tứ hợp viện - không tiếc nuối mà hoạn, hủy hoại cho đến tháo dỡ, ngoài một số ít chuyên gia nghiên cứu lịch sử kiến trúc cổ đại ra, hình như hầu hết mọi người đều điềm nhiên bình thản. Tứ hợp viện, đặc biệt là tứ hợp viện trong nội thành Bắc Kinh, lại càng đặc biệt là những tứ hợp viện điển hình được xây dựng từ thời Minh Thanh, chính là sản phẩm ở giai đoạn văn hóa phong kiến chín muồi, có giá trị văn vật rất cao. Theo một ý nghĩa nào đó, nó là tư liệu tuyệt hảo để nghiên cứu kết cấu gia đình, phương thức sinh sống, ý thức thẩm mỹ, nghệ thuật kiến trúc, sự diễn biến phong tục, sự lắng đọng tâm lý, quan hệ giao tiếp giữa người với người cũng như bầu không khí thời đại của xã hội thị dân giai đoạn cuối xã hội phong kiến. Nhìn từ xu hướng chung trong việc cải tạo thành phố Bắc Kinh, việc phá dỡ cải tạo một phần tứ hợp viện là điều không thể tránh khỏi, nhưng nhất định phải có ý thức giữ lại một số tứ hợp viện vẫn còn tương đối nguyên vẹn, thậm chí có những tứ hợp viện còn nên cố gắng khôi phục lại diện mạo ban đầu của chúng càng nhiều càng tốt. Nếu có thể chọn ra một số khu dân cư, không chỉ bảo vệ tốt các tứ hợp viện trong đó, mà còn có thể bảo vệ tốt các con phố, ngõ hẻm tương ứng, khiến chúng trở thành "khu bảo tồn" còn có thể lờ mờ nhận ra phong mạo Bắc Kinh thuở nào, thì hậu thế có trình độ văn hóa rất cao của chúng ta nhất định sẽ vô cùng biết ơn thế hệ người Bắc Kinh chúng ta.

Ngày 12 tháng 12 năm 1982 Công nguyên, tiểu viện nằm gần khu vực Lầu Chuông Lầu Trống ở Bắc Kinh, nơi gia đình họ Tiết đang tổ chức hôn lễ, chính là một tứ hợp viện tuy đã trải qua một mức độ hủy hoại nhất định, có chút biến dạng, thế nhưng vẫn xứng đáng gọi là một tứ hợp viện điển hình.

Cái gọi là tứ hợp viện, đúng như tên gọi, chính là khoảng sân do bốn dãy nhà kết hợp lại thành hình vuông. Những người chưa từng đến tứ hợp viện Bắc Kinh, sau khi nghe tên thường sẽ nảy sinh suy nghĩ thế này: Kiểu sân này có gì mà lạ lùng chứ? Chẳng phải vừa đơn điệu vừa nhạt nhẽo sao?

Kỳ thực không phải vậy. Nó vừa vuông vắn lại vô cùng phong phú biến hóa, vừa nghiêm cẩn nhạt nhẽo lại vừa ẩn chứa sự phong phú muôn màu muôn vẻ.

Lấy ngay khoảng sân mà chúng ta đã bước vào và làm quen sơ bộ làm ví dụ. Nó quay mặt về hướng nam tựa lưng hướng bắc. Đây là phương vị lý tưởng nhất, chính quy nhất của tứ hợp viện. Đương nhiên, trong các con phố ngõ hẻm chạy theo hướng đông tây, tứ hợp viện ở phía nam ngõ hẻm đành phải áp dụng bố cục ngược lại và đối xứng với nó, để cho căn nhà chính ở nơi sâu nhất trong viện trở thành nhà hướng bắc đông ấm hè mát, trên bức tường phía nam thường phải trổ ra một hàng cửa sổ phía nam, cho nên đằng sau nhà chính ắt phải có một tiểu viện hẹp và dài; nếu không làm được điểm này, hoặc đành lấy nhà phòng phía nam làm nhà chính, hoặc lấy dãy nhà phòng phía bắc sát cửa viện làm nhà chính, mà thay đổi bố cục viện lạc sau khi bước vào cửa. Tóm lại, trong các con ngõ chạy theo hướng đông tây, tứ hợp viện ở phía bắc con đường thường luôn tỏ ra ưu thế hơn tứ hợp viện ở phía nam con đường. Nghe nói chênh lệch giá cả giữa các tứ hợp viện ở phía bắc con đường và phía nam con đường vào thời đó đôi khi khiến người ta kinh ngạc đến mức tương đối. Nếu ở trong các con phố ngõ hẻm chạy theo hướng nam bắc, hoặc trong các con ngõ xiên có hướng không chính thống - như mấy nơi cách Lầu Chuông Lầu Trống không xa như ngõ Đại Tiểu Thạch Bi, ngõ Bạch Mễ Tương, thì thường áp dụng cách xây dựng thế này: Trổ một chiếc cổng lớn xuôi theo hướng đi của phố ngõ, sau khi bước vào cửa, vốn dĩ không phải là bản thân tứ hợp viện, coi như để trống một khoảng không gian để "xoay người", rồi sau đó mới theo bố cục của phố ngõ hướng đông tây mà xây lên tứ hợp viện có cổng quay mặt về hướng nam, như vậy, những ngôi nhà bên trong sẽ không đến mức cũng bày trí theo hướng nam bắc hoặc hướng xiên; đương nhiên, cũng có những căn xây theo hướng của phố ngõ, giá trị của loại tứ hợp viện này vào thời đó khỏi cần nói cũng biết là kém hơn hẳn.

Tứ hợp viện mà chúng ta đã bước vào này không chỉ có phương vị điển hình nhất, mà bố cục, sự bài trí của nó cũng có thể coi là khuôn vàng thước ngọc. Nếu nói toàn bộ khuôn viên là một hình vuông hoặc hình gần vuông, vậy thì cửa viện của tứ hợp viện tuyệt đối sẽ không mở ở chính giữa mặt tiền, nó thường mở ở góc đông nam của viện đó (nếu là loại tứ hợp viện ngược lại và đối xứng với nó thì sẽ mở ở góc tây bắc). Vị trí cửa viện này thể hiện sự nghiêm cẩn đối nội và sự khép kín đối ngoại của gia đình tiêu chuẩn trong xã hội phong kiến (thông thường là tam đại đồng đường). Cửa viện thường là kiểu mái đỉnh cao "huyền sơn", hai đầu đỉnh mái vươn cong lên hình chiếc "si vĩ" không chạm trổ trang trí. Nền móng thường được làm khá cao, từ mặt đường cho đến cửa viện, thông thường đều bố trí bậc thềm đá từ ba đến cấp, điểm tận cùng của bậc thềm đá là chiếc ngưỡng cửa cao dày tầm một thước, chiếc cửa gỗ dày hai cánh có độ kín khít cực cao, muốn nhìn trộm tình hình bên trong qua khe cửa hầu như là chuyện không thể. Cửa vào thời đó đều được khắc chìm, sơn son thếp vàng những câu đối đại loại như "Trung hậu truyền gia cửu, thi thư kế thế sương". Trên cửa có vòng gõ cửa (giống như chiêng trong nhạc cụ dân tộc nên mới có tên gọi này. Trên núm chiêng có treo một mảnh kim loại hình chiếc lá để khách đến gõ cửa gọi người). Bên cửa thường có một đôi bệ đá nhỏ, hoặc phía dưới vuông phía trên là sư tử, hoặc được tạc toàn bộ thành hình chiếc trống tròn.

Tứ hợp viện vào thời kỳ Minh Thanh thường không phải là dinh thự chính thức của quý tộc công khanh; đọc "Hồng Lâu Mộng" là sẽ biết, phủ đì đại quý tộc dù là quy mô, chế độ kiến trúc hay bố cục đều có sự khác biệt cực kỳ lớn với tứ hợp viện đơn thuần thông thường; chỉ khi công tử vương tôn như Giả Liên muốn lén nạp Dưu Nhị Tỷ, mới tìm một tứ hợp viện ở ngõ Hoa Chi (con ngõ này ngày nay vẫn còn, cách Lầu Chuông Lầu Trống chẳng qua chỉ mấy dặm) để tạm trú. Nhìn chung, tứ hợp viện là nơi sinh sống của những nhân vật không có thân phận quý tộc nhưng là quan lại tầng lớp trung lưu, nhân vật sừng sỏ sai vặt trong Nội vụ phủ, thương gia, thân sĩ, chủ xưởng, danh lưu, cùng với những kẻ phất lên nhanh chóng xuất thân từ bình dân và những kẻ sa sút tách ra từ xã hội quý tộc. Đôi khi trong phim ảnh, kịch nghệ và tranh vẽ, cửa viện của tứ hợp viện được thể hiện là trên đỉnh có lợp ngói lưu ly, trên cánh cửa gắn "đinh đồng" (tức đồ trang trí cửa hình bát tròn đúc bằng đồng), trên cửa không lắp vòng gõ cửa mà lắp quạ Bị Ngạn ngậm vòng, hiển nhiên đều là một loại tưởng tượng vô căn cứ không có lấy một chút sự thật. Sự nghiêm ngặt của đẳng cấp trong xã hội phong kiến, cũng phản ánh ở những quy định nghiêm ngặt về bố cục kiến trúc, cho dù là phủ đì đại quý tộc, cũng không thể tùy tiện dùng ngói lưu ly và tùy tiện dùng đồ trang trí cửa. Lấy triều Thanh làm ví dụ, quý tộc của nó có năm bậc thân vương, quận vương, bối lặc, bối tử và công, mà công lại chia thành trấn quốc công và phụ quốc công, phụ quốc công lại chia thành "nhân bát phần phụ quốc công" và "bất nhập bát phần phụ quốc công". "Bát phần" là gì? Chính là tám dấu hiệu đặc biệt: Một, chu luân (bánh xe ngựa lừa ngồi có thể sơn màu đỏ); Hai, tử cương (dây cương của ngựa đang cưỡi có thể dùng màu tím); Ba, bảo thạch đỉnh (mũ quan có thể trang trí bằng đá quý); Bốn, song nhãn hoa linh (mũ quan có thể trang trí loại hoa linh này); Năm, ngưu giác đăng (có thể dùng loại đèn này để thắp sáng); Sáu, trà đạp tử (vật đựng nước nóng, đại khái giống như bình giữ nhiệt ngày nay, có thể sử dụng vật này); Bảy, mã tọa nhục (có thể dùng vật này khi cưỡi ngựa); Tám, môn đinh (trên cửa phủ có thể trang trí "đinh đồng", mà số lượng đinh lại có quy định tỉ mỉ). Từ đó có thể thấy, tứ hợp viện vốn không phải là dinh thự quý tộc (ít nhất không phải là dinh thự chính thức của quý tộc), trên cửa viện của nó tuyệt đối không được trang trí đinh đồng.

Đẩy cửa viện của tứ hợp viện ra là một chiếc hành lang cửa, phía trước hành lang cửa là một bức bình phong không thể thiếu, bình phong vừa đóng vai trò che chắn tầm nhìn, vừa điều hòa bầu không khí u ám, ngột ngạt vốn được tạo nên bởi sự tối tăm, đơn điệu của hành lang cửa. Bình phong thường được xây bằng gạch xanh mài nước màu nhạt, đón lấy ánh sáng mặt trời, trông thanh nhã và sáng sủa. Phía trên bình phong nhất định đều mô phỏng nhà cửa mà làm phần mái dài kiểu "ngạnh sơn", hai đầu đỉnh mái cũng có chiếc "si vĩ" vươn cong lên trên. Chính giữa bình phong thường có những đường nét chạm trổ gạch tinh xảo, hoặc là tùng hạc diên niên, hoặc là hòa hợp vạn phúc (chạm trổ hai đôi dơi tung cánh bay lượn), hoặc là hoa khai phú quý, hoặc là Lưu Hải hịch kim thiềm... Có những cái không chạm trổ hình ảnh mà chạm trổ chữ đề, loại đơn giản thì chạm một chữ "phúc", loại phức tạp hơn thì thông thường cũng không vượt quá bốn chữ, mà chiếm đa số là hai chữ, như kiểu "cát tường", "như ý", "phúc lộc". Ngoài tâm tường có chạm trổ gạch, một số góc và bệ tường còn có những đường chạm trổ tỉ mỉ, hoặc vân mây hồi văn, hoặc đài hoa sen, hô ứng với hoa văn đề chữ ở trung tâm. Có nhà còn trồng dây leo hoặc cây cối bên phải bức bình phong, ba mùa xuân hạ thu, hoặc hoa tử đằng nở rộ, hoặc bóng râm che rợp như tán cây, khiến người ta vừa bước vào cửa viện là tinh thần sảng khoái hẳn lên.

Tứ hợp viện mà chúng ta bước vào này, hiện nay trong hành lang cửa chất đống một số đồ đạc tạp nhạp, trên đỉnh hành lang cửa còn treo một đôi ghế mây cũ kỹ - đôi ghế mây này trước đó đã nhắc đến nhiều lần, bên dưới vẫn sẽ nhắc đến chủ nhân của nó; bức bình phong phía trước hành lang cửa, hình chạm trổ gạch ở trung tâm đã bị hủy hoại, thế nhưng cây kham ở phía bên phải bức bình phong vẫn còn đó, hơn nữa đã to bằng cái thùng nước, cao bằng tòa nhà ba tầng.

Ở phía đông của hành lang cửa và bức bình phong, có một bức tường, trên tường có một phần lớn là cửa; bốn cánh cửa bình phong tuy là cửa đôi, nhưng mỗi cánh lại có thể gập đôi thành hai nửa tương đương, khi đóng lại, liền hiện ra hình ảnh của bốn tấm ván cửa; có thể nhận ra, tấm ván cửa thuở đó được sơn màu xanh đậu, mà phía trên mỗi tấm ván cửa, mỗi cái đều có một "đấu phương" (tức hình vuông ở trạng thái hình thoi) bằng dầu đỏ, mỗi "đấu phương" hiển nhiên đều có một chữ, bốn chữ cấu thành một ý nghĩa hoàn chỉnh - nay đã không thể khảo cứu được nữa. Đi từ cánh cửa này vào, là một tiểu viện phụ thuộc, hiện do gia đình sư phụ Tuân Hưng Vượng ở, phía nam là hai căn phòng không lớn, phía bắc là bức tường phía nam của gian nhà phía đông ở viện trong, phía đông lại là bức tường viện ngăn cách với viện khác. Tiểu viện phụ thuộc này thuở đó là nơi để người hầu ở. Tứ hợp viện tiêu chuẩn, thông thường đều không thể thiếu một cái tiểu viện phụ thuộc như thế này. Mà cửa của tiểu viện, không biết tại sao, đại đa số đều áp dụng một kiểu dáng nhẹ và mỏng chia làm bốn phần như thế này - có lẽ, là để qua đó thể hiện địa vị thấp kém của nó trong toàn bộ khuôn viên, đồng thời thuận tiện cho người hầu nghe tiếng gọi của chủ nhân mà lao ra bất cứ lúc nào.

Từ bình phong đi về phía tây, là một tiền viện hẹp và dài. Phía nam có một dãy nhà phòng, tổng cộng là năm gian, nhưng được chia thành hai nhóm, ba gian liền kề ở phía đông thông liền với nhau, hiện do gia đình diễn viên kịch Kinh Trú Đàm Đài Trí Châu ở, hai gian liền kề ở phía tây, hiện đang có một gia đình khác ở - chúng ta sẽ nói về họ ở phần dưới - điều đáng chú ý là, có một bức tường hướng nam bắc, lại ngăn hai gian phòng đó cùng khoảng đất trống phía trước thành một tiểu viện khác, đối ứng từ xa với tiểu viện của gia đình sư phụ Tuân Hưng Vượng hiện tại. Thế nhưng, cánh cửa trên bức tường đó đã đổi sang một kiểu dáng khác, hiện tại chúng ta nhìn thấy là cửa nguyệt động (tức cửa viện hình tròn trơn; có tứ hợp viện thì là cửa hình bình, cửa hình bầu lô). Tiểu viện này, thuở đó là chuẩn bị cho người thân bạn bè đến thăm, hai căn phòng nam đó, thông thường đều dùng làm phòng khách. Mà nhà vệ sinh trong viện, thuở đó cũng được bố trí ở trong tiểu viện đó, thông thường là bố trí ở góc tây bắc của tiểu viện. Phía bắc của tiểu viện là bức tường phía nam của gian nhà phía tây ở viện trong, phía tây lại là bức tường ranh giới ngăn cách với viện hàng xóm.

Ba gian phòng nam ở ngoại viện mà Đàm Đài Trí Châu ở, trước kia được sử dụng làm phòng khách ngoài và phòng sách ngoài. Sau thời kỳ Dân quốc, lại thường hay ngăn gian ở tận cùng phía đông ra, trổ cửa ở trong hành lang cửa, và trổ một cửa sổ ở gần cửa viện, do nam hầu ở, cấu thành "môn phòng" (tức phòng thường trực).

Giữa viện trong và ngoại viện, tự nhiên có tường ngăn cách, mà cửa viện ở chính giữa, chính là cái gọi là "thùy hoa môn". Kiểu dáng của nó hoàn toàn trái ngược với vẻ cứng nhắc nghiêm trang của cửa tổng viện, mà hoạt bát xinh xắn đến mức có phần nhẹ nhàng - đặc điểm của nó là, dưới phần mái ngói kiểu "huyền sơn", được trang trí bằng lớp vỏ gỗ chạm trổ kiểu treo ngược, ở phần vươn ra hai đầu trái phải của lớp vỏ gỗ, được chạm trổ tỉ mỉ hoa sen hoặc hoa lạc tiên lật ngược cánh; sự chạm trổ, cẩn khảm của toàn bộ lớp vỏ gỗ vô cùng tinh xảo, mà lại ở các bộ phận khác nhau được trang trí bằng các loại màu dầu tươi tắn ấm áp dịu dàng, đồng thời ở những nơi có thể vẽ tranh đã được phác họa tỉ mỉ các loại hoa cỏ chim chúa cá tôm, lầu các đình đài, tam sự bình lư, nhân vật điển tích... Bộ phận có trình độ thủ công cao nhất, có giá trị văn vật phong phú nhất trong tứ hợp viện, thường chính là ngọn thùy hoa môn này. Đáng tiếc là thùy hoa môn có trình độ cao được bảo vệ nguyên vẹn hiện nay còn lại không còn nhiều nữa, hơn nữa vẫn đang không ngừng mai một. Tứ hợp viện mà chúng ta bước vào này, thùy hoa môn mặc dù không còn tranh vẽ màu, lớp sơn dầu bong tróc, nhưng đại thể vẫn còn nguyên vẹn, ở mức độ khá lớn vẫn có thể truyền đạt lại phong vận thuở trước.

Bức tường ranh giới nơi thùy hoa môn tọa lạc, nửa dưới vốn dĩ là gạch mài nước màu xám, nửa trên là bức tường quét vôi trắng như tuyết, trên sống tường còn có đồ trang trí bằng ngói tinh xảo; hiện tại đã thay đổi hoàn toàn không còn nhận ra nữa, không chỉ đồ trang trí bằng ngói trên sống tường sớm đã bị người ta tháo dỡ dùng làm vật liệu sửa sang nhà bếp nhỏ, mà toàn bộ bức tường so với thuở xưa còn thấp hơn cả hơn một thước - hồi đầu thập niên 70 khi tiến hành "đào hầm sâu", gạch xây hầm phòng không không đủ, ủy ban khu phố hạ lệnh yêu cầu mỗi viện đều tháo dỡ một số bức tường ranh giới loại này để làm phần bổ sung. Tứ hợp viện cầu kỳ, ở đây trên bức tường ranh giới giữa nội viện và ngoại viện, thường còn khảm một số cửa biến hình xuyên cảnh, hoặc hình cánh quạt, hoặc hình quả đào tiên, hoặc hình liên hoàn song thoi, hoặc lựu hướng trời... Tứ hợp viện mà chúng ta nhắc đến này, thuở đó cũng chưa có loại cao cấp đến thế.

Cánh cửa của thùy hoa môn từ lâu đã không còn nữa - nghe nói thùy hoa môn thuở đó thông thường cũng không lắp cánh cửa; hai bên thùy hoa môn ban đầu cũng có một đôi bệ đá, nay cũng không còn nữa; phía bên trong thùy hoa môn thuở đó có bức bình phong cấu thành từ bốn tấm ván gỗ (có thể lắp có thể tháo), từ lâu cũng đã không biết tung tích ở đâu; bước vào thùy hoa môn vốn có "sao thủ du lang", tức hành lang cửa từ bên trong thùy hoa môn thông dẫn đến hai gian phòng sướng tây và cuối cùng hợp ôm lấy căn nhà chính ở hướng bắc - người đã đến hai gian sướng của Lạc Thọ Đường Đường ở Cung Di Hoà sẽ không khó tưởng tượng ra diện mạo của nó, đương nhiên, nó tuyệt đối sẽ không có vẻ uy nghi lộng lẫy đến thế - hiện nay ngoài hành lang cửa ở phần nhà chính phía bắc vẫn thuộc hàng nguyên vẹn ra, các phần còn lại chỉ lưu lại vết tích tàn tạ, mà phần hai bên thùy hoa môn ở phía nam thậm chí đến dấu vết cũng không còn - khi "đào hầm sâu" vì đốt gạch thiếu vật liệu gỗ, phần gỗ của đoạn hành lang đó đã hoàn toàn hy sinh vào miệng lò của lò gạch.

Viện trong của tứ hợp viện thuở đó, mới là nơi ở chính thức của các thành viên gia đình phong kiến. Ba gian nhà bắc cao rộng mà gia đình Trương Kỳ Lâm hiện đang ở, là nơi ở của gia chủ phong kiến thuở đó, gian chính giữa là nơi gia chủ tiếp nhận sự vấn an sáng tối của con cháu, cũng là phòng khách trong để tiếp đón những vị khách quan trọng hoặc thân thiết, thường lại kiêm luôn nhà hàng dùng bữa chung của cả nhà; hai bên chính là phòng ngủ. Nhà bắc thông thường tuyệt đối không chỉ có ba gian, tứ hợp viện mà chúng ta bước vào có năm gian nhà bắc; thế nhưng hai gian khác một ở đầu đông một ở đầu tây, không chỉ thấp thụt hơn so với ba gian ở giữa, hơn nữa do đã bị các gian sướng đông tây che khuất một phần, nên ánh sáng cũng kém hơn, hai gian nhà nhỏ hơn tối hơn này gọi là "nhĩ phòng"; có tứ hợp viện "nhĩ phòng" còn kéo dài về phía sau theo hình chữ L, thuở đó thông thường được sử dụng làm phòng sách trong, "thanh thưởng thất" của gia chủ phong kiến (từ mân mê đồ cổ cho đến hút thuốc phiện đều có thể sử dụng); tứ hợp viện cầu kỳ hơn một chút, phía ngoài nhĩ phòng hai bên lại có tường ngắn ngăn cách với bên ngoài, trên tường khảm cửa nguyệt động hoặc cửa hình bình, trên cửa còn có hoành phi chạm trổ gạch, tương ứng đề là "Trường lạc vị ương, ích thọ diên niên" hoặc "Tây viên hàn mặc, đông bích đồ thư". Hiện nay, nhĩ phòng đông tây đương nhiên đều đã bị ngắt quãng với nhà gia đình Trương Kỳ Lâm, và đang có một già một trẻ có liên hệ qua lại với nhau sinh sống - chúng ta cũng sẽ miêu tả sự tồn tại độc đáo của họ ở phần dưới.

Tứ hợp viện thông thường, cũng chỉ dừng lại ở đây thôi. Điều cần bổ sung, chẳng qua là bên cạnh nhĩ phòng đông tây, thường vẫn bố trí phòng bếp và phòng kho. Một số tứ hợp viện có vẻ khí phái hơn, đằng sau nhà chính và nhĩ phòng vẫn còn khu vườn nhỏ, tận cùng phía sau không dùng tường ranh giới ngăn cách với viện hàng xóm, mà có một dãy tráo phòng thay thế cho tác dụng của tường ranh giới. Tứ hợp viện mà chúng ta bước vào, không hề có tráo phòng, hơn nữa bức tường ranh giới ngăn cách với viện hàng xóm, chỉ cách nhà chính có hai thước mà thôi.

Gian sướng đông tây của tứ hợp viện thuở đó, là nơi để trắc thất, tức vợ lẽ hoặc con cháu ở. Khi con cháu sinh sôi nảy nở liên tục, một tứ hợp viện không thể ở nổi nữa, thì đành phải sắm viện mới khác dời đi một hoặc vài phòng con cháu, nếu không, đành phải gom hết phòng nam của ngoại viện làm phòng ở, ở tạm bợ qua ngày. Cái gọi là "hợp" của tứ hợp viện, thực chất mang ý nghĩa là con cháu ở ba mặt đông nam tây trong viện, đều phục tùng phụng sự gia chủ ở hướng bắc. Bố cục của nó ở đâu cũng thể hiện một thứ trật tự nhất định, bầu không khí ấm cúng, ý thức bài ngoại và vẻ đẹp tĩnh tại mang tính khép kín. Viện trong thuở đó có lối đi hình chữ thập được lát bằng gạch vuông lớn, trên bốn khoảnh đất được cắt ra bởi lối đi, có bốn cây chu sa hải đường - hiện nay chỉ còn sót lại một cây, hơn nữa đã bị tổn thương rất nặng; thế nhưng, sau đó đã trồng bổ sung một cây táo, hiện nay ngược lại đã lớn bằng cái bình giữ nhiệt. Dưới thềm hiên của nhà chính, thuở đó trên bệ đá có hai chiếc chậu gốm khổng lồ, bên trong trồng hoa sen. Dọc theo "sao thủ du lang", được điểm xuyết thêm vài chậu hoa, treo vài chiếc lồng chim. Hiện nay những bức tranh phong cảnh loại này cũng đã tiêu tan hầu hết.

Chúng ta đã biết, hiện nay hai gian ở đầu bắc nhà tây, là gia đình họ Tiết đang lo chuyện hỷ sự cho con trai út, còn gian ở đầu nam thì sao? Cửa thường xuyên khóa, nữ chủ nhân đó không phải ngày nào cũng về, cô ấy có chỗ ở khác. Mà hai gian ở đầu bắc nhà đông, ở người phụ nữ ăn nói luôn ồn ào khoa trương đó là Chiêm Lệ Dĩnh. Gian ở đầu nam ở một cặp vợ chồng trẻ, họ đều là công nhân nhà máy, ngày hôm nay đi làm ca sớm, cho nên tạm thời khóa cửa phòng lại.

Để có được một ấn tượng chính xác hơn về tứ hợp viện ngày nay, tôi phải nhắc nhở độc giả rằng, hầu như mỗi gia đình đều dựng lên những chiếc bếp nhỏ có chiều cao, kích thước, chất lượng khác nhau ở phía trước ngôi nhà vốn có; mà cái gọi là "bếp nhỏ", chẳng qua chỉ là cách gọi quen thuộc mà người dân Bắc Kinh dành cho những căn nhà nhỏ tự xây kể từ thập niên 70; công dụng của nó, càng về sau, thì càng vượt xa chức năng của phòng bếp, hơn nữa có gia đình không ngừng cơi nới và mở rộng nó, có "nhà nhỏ" hoàn toàn không phải là phòng bếp, diện tích thậm chí còn vượt quá ngôi nhà chính ban đầu, nhưng khi nhắc đến vẫn nói là "bếp nhỏ"; bởi vì từ quy định mà nói, người dân cho đến nay vẫn không có quyền tự do xây dựng nhà ở chính thức trong các viện tạp hợp do cơ quan quản lý nhà đất cho thuê, nhưng trong tình thế cơ quan quản lý nhà đất không đủ sức giải quyết sự căng thẳng về nhà ở của người dân, đối với phong trào xây dựng "bếp nhỏ" do người dân Bắc Kinh khởi xướng từ cuối thập niên 60, đầu thập niên 70, và đến cuối thập niên 70 đã cơ bản khiến cho mỗi khuôn viên đạt đến mức bão hòa, thì cũng chỉ có thể từ nhắm một mắt mở một mắt cho đến điềm nhiên bình thản ngầm cho phép. Sự xuất hiện mọc lên như nấm sau mưa của "bếp nhỏ" trong các loại khuôn viên ở chung của Bắc Kinh, đã thay đổi rất lớn cảnh quan sinh thái xã hội của các khu vườn kiểu cũ ở Bắc Kinh. Đây là điều mà chúng ta khi tưởng tượng diện mạo tứ hợp viện Bắc Kinh ngày nay, tuyệt đối không thể bỏ qua.

Tứ hợp viện mà chúng ta bước vào, hiện nay ngoài gia đình Trương Kỳ Lâm đã lắp đường ống nước máy tự dùng ra, các gia đình còn lại đều dùng chung một đường ống nước máy, vị trí của nó, ở phía tây bên ngoài thùy hoa môn. Sau khi bước vào mùa đông, để đề phòng ống nước bị đóng băng, trước mỗi lần xả nước, phải mở nắp giếng đồng hồ (giếng cạn lắp đồng hồ nước) gần ống nước ra trước, sau đó dùng một chiếc cờ lê hình chạc dài, vặn mở van bên dưới, rồi sau đó mới xả nước; sau khi lấy nước xong, nếu thời tiết hãy còn ấm, có thể tạm thời không cần quản, để các nhà khác lần lượt lấy nước; đến chiều tối, hoặc khi thời tiết vô cùng lạnh giá, thì bắt buộc phải "hồi thủy" - dùng miệng ngậm lấy đầu ống nước xả, dùng sức thổi khí, thổi sạch toàn bộ nước đọng từ đầu ống nước cho đến van dưới giếng (khiến nước đọng rỉ vào giếng cạn), rồi sau đó, lại đóng van dưới giếng lại, đậy nắp giếng lên, như vậy, mặc cho thời tiết có lạnh thế nào đi nữa, ống nước cũng sẽ không bị đóng băng nữa. Đối với hàng vạn cư dân tạp viện Bắc Kinh sử dụng nước kiểu như vậy hiện nay, những điều được kể đến ở đây há chẳng phải là dư thừa và vụn vặt sao, nhưng thế hệ cư dân Bắc Kinh mới sau mấy chục năm nữa thì sao? Nếu chúng ta không kể cho họ nghe những chi tiết chân thực về cách thức sinh sống của con người ngày nay, liệu họ có thể tự nhiên mà biết được hay không? Ngay như Bắc Kinh mới chỉ cách đây 60 năm, chúng ta có thể ước chừng được vào thời đó rất nhiều cư dân phải mua nước để ăn, nhưng cảnh tượng bán nước đó rốt cuộc ra sao? Tư liệu chữ viết có thể thuận tiện tra cứu thực sự rất ít, chúng ta thường cần phải thông qua lời kể truyền miệng của các bậc tiền bối, mới có thể biết được chi tiết của nó. Người bán nước ở Bắc Kinh thuở đó phần lớn là người Sơn Đông, tụ tập ở khu vực phố Chợ Thịt Tiền Môn (giếng nước ở đó nhiều lại thêm chất lượng nước tốt), ngoài việc dùng lừa nhỏ kéo xe chở nước lớn bằng gỗ để đi bán nước ở nơi xa, còn có dùng xe đẩy tay nhỏ để bán nước ở gần. Hai bên xe đẩy tay mỗi bên treo một chiếc thùng gỗ, phía trước còn có một câu đối: "Nhất luân minh tự nguyệt, lưỡng thối khoái như phong." Thú vị nhất chính là hoành phi: "Tá quang nhị ca." Tại sao lại không viết là "Tá quang đại ca"? Bởi vì đều là người Sơn Đông, kiêng kỵ "Võ Đại Lang". Hiểu được những chi tiết này, bức tranh sinh hoạt của người dân Bắc Kinh thuở đó, liền nổi bật trước mắt chúng ta. Điều mà chúng ta cảm nhận được từ trong đó, tuyệt đối không chỉ là phương thức sinh sống của con người thời đó, mà là một góc nhìn cắt lớp của một giai đoạn phát triển văn hóa cụ thể - vâng, sự hiểu biết của chúng ta đối với từ "văn hóa" này nên vượt quá quy chuẩn nghĩa hẹp, thực chất, một phương thức sinh sống nhất định, tất cả các chi tiết mà nó sở hữu, liền cấu thành một loại văn hóa cụ thể, không chỉ bao gồm những tác phẩm chữ viết, sáng tác nghệ thuật của con người, mà còn bao gồm cả mặc, ăn, ở, đi lại của con người thậm chí các phương diện tồn tại xã hội.

Bây giờ chúng ta bước vào tứ hợp viện gần Lầu Chuông Lầu Trống này, chúng ta thực chất chính là đang đối mặt với cảnh quan văn hóa cụ thể của xã hội thị dân Bắc Kinh đầu thập niên 80 thế kỷ 20. Đối với những hỷ nộ ái ố, sinh ly tử biệt của những con người khác nhau trong khuôn viên này, cũng như những mâu thuẫn khác biệt, va chạm kích động lẫn nhau giữa họ, chúng ta có lẽ nhất thời vẫn chưa thể thấu suốt giải thích, dự đoán dẫn dắt, thế nhưng trong sự phản ánh càng chân thực và tỉ mỉ nhất có thể, chúng ta có lẽ sẽ có thể lĩnh hội được đôi chút, và ít nhất có thể lưu lại cho người Bắc Kinh ngày mai ít nhiều những tư liệu đốm đốm rằn rri không câu nệ một khuôn mẫu nào.

Cuộc sống, vẫn đang trôi chảy không gián đoạn trong tiểu viện này. Ngày 12 tháng 12 năm 1982 đã bước sang buổi chiều. Những nhân vật mà chúng ta đã quen biết hãy còn chưa phô bày toàn bộ diện mạo của họ, mà những nhân vật mới vẫn sẽ lần lượt bước vào tầm mắt của chúng ta. Thế giới · Cuộc sống · Con người. Thật có biết bao nhiêu điều đang chờ chúng ta tìm hiểu và thấu hiểu đây!

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.