Chuông Cổ Lâu

Lượt đọc: 82 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Thực Khách Bất Thường

❊ ❊ ❊

Phong tục cưới hỏi của người dân Bắc Kinh, đến năm 1982, phần lớn vẫn theo kiểu của Tiết Kỷ Dược và Phan Tú Á. "Kết hôn du lịch" chủ yếu vẫn thịnh hành trong tầng lớp cán bộ và con em trí thức; còn "tập thể hôn lễ" dù được báo chí tuyên truyền đề xướng nhiều lần, nhưng tỷ lệ người tham gia trong tổng số người kết hôn rốt cuộc vẫn rất ít ỏi. Đương nhiên, giống như mỗi cây liễu đều không chỉ khác cây dương, cây dâu, cây du... chúng lại có điểm khác với những cây liễu khác, đám cưới kiểu Tiết Kỷ Dược Phan Tú Á thường bao gồm các bước sau: Một, dùng xe hơi đón dâu. Khi xe đến cửa nhà trai thì phải đốt pháo, tung giấy ngũ sắc. Cửa nhà tự nhiên phải dán chữ hỉ màu đỏ. Hai, làm lễ thành hôn tại nhà trai. Chủ yếu đãi đằng họ hàng thân thích của nhà trai, trong đó những người thân thiết chính sẽ ở lại ăn cơm. Nhà gái nếu ở xa, thông thường chỉ có người đưa dâu của nhà gái (thường là chị dâu, cô, dì các loại nhân vật) có mặt, cha mẹ và họ hàng thân thích khác của nhà gái ngày hôm đó thường không có mặt. Ba, ngày hôm đó hoặc ngày hôm sau, nhà trai cùng nhà gái "lại môn" (về thăm nhà ngoại), "lại môn" thường không đi xe con nữa mà đổi sang đi xe đạp hoặc đi xe điện, xe buýt công cộng. Nhà gái khoản đãi họ hàng thân thích của nhà gái, trong đó những người thân thích chính thường cũng phải ở lại ăn cơm, nhưng quy mô và chi phí thường kém hơn nhà trai. Cuối cùng, thường là sau một tuần, hai bên thông gia cùng một cặp tân nhân, cộng thêm những người thân cận nhất, cùng nhau tụ họp ăn uống — đương nhiên phần lớn là ở nhà nhà trai, nhưng cũng có tập trung tại nhà nhà gái. Đến đây, hoạt động cưới hỏi thế là cũng "khúc chung tấu nhã" (hạ màn viên mãn).

Trong cùng một dòng phái này đương nhiên lại có các cách thức xử lý khác nhau cho từng khâu: có người khi đón dâu tuyệt đối không chịu thỏa mãn với một chiếc xe con mà phải làm thành một "đội xe" — điều đó đương nhiên không phải thuê xe taxi mà là điều động xe công, thường là một đến hai chiếc xe con, kèm theo hai đến ba chiếc xe "mini bus" hoặc xe jeep nhỏ; có người không bày tiệc tại nhà nhà trai mà bao trọn một cỗ bàn ở quán ăn, khi hành xử theo cách này, thường cha mẹ của cả hai bên trai gái và họ hàng thân thích chí thân của cả hai bên đều có mặt cùng lúc, khâu "lại môn" vẫn được giữ lại, nhưng thường cũng không mở tiệc đãi khách nữa, mà chỉ dùng nước trà và kẹo bánh để tiếp đãi — khi áp dụng phương thức này, chi phí bao cơm ở quán ăn do cha mẹ cả hai bên cùng gánh vác, đương nhiên, nhà trai thường phải chịu phần lớn.

Vào ngày Tiết Kỷ Dược kết hôn, tính cả chị dâu Mạnh Chiêu Anh gánh vác nhiệm vụ đón dâu, người họ hàng thân thích đến đầu tiên lại chính là Lô Bảo Tang, đây thật sự là một điềm gở.

Tiết Kỷ Dược nhìn thấy Lô Bảo Tang không chỉ cụt hứng mà còn chán ghét, nhưng anh đành chịu bó tay, chỉ biết gượng cười, bước rời khỏi cạnh tủ năm ngăn, chào Lô Bảo Tang rằng: "Cậu đấy à! Ngồi đi! Ăn kẹo!"

Lô Bảo Tang không những ăn mặc lếch thếch mà râu ria còn xồm xoàm, chẳng thèm che giấu sự coi thường của hắn đối với tôn nghiêm của chủ nhà, đặt mông ngồi lệch trên chiếc sofa mới, nhìn đĩa kẹo trên bàn trà, lớn tiếng nói: "Ai thèm ăn mấy cái kẹo rách này của mày! Cho tao một bao thuốc lào thuốc lá mới là chuyện chính."

Tiết Kỷ Dược ném cho hắn một bao thuốc lá đầu lọc "Lễ Hoa", hắn đón lấy xem qua, bĩu môi, ném thẳng cả bao thuốc lên bàn trà, vươn cổ phản đối: "Mẹ kiếp cho tao hút cái này thôi á? Thôi thôi, móc cái nhãn 35 của mày ra đi, tao biết mày có mà, mẹ kiếp mày không cho tao hút thì giữ lại cho ai hút?"

Tiết Kỷ Dược quả thực có mấy bao thuốc lá Anh nhãn 35, là do người nhà của Phan Tú Á xoay xở đổi ngoại tệ để mua, nhưng anh thật sự không nấy gì làm vui vẻ khi mang ra tiếp đãi Lô Bảo Tang, liền sầm mặt nói: "Cậu đừng có ăn nói khó nghe như thế được không? Chỉ có cái này thôi, không thích hút thì đừng hút!"

Lô Bảo Tang trợn mắt lườm Tiết Kỷ Dược một cái, "phì" một tiếng bật cười, nghiêng đầu vồ lấy bao thuốc "Lễ Hoa" trên bàn trà, mở ra rút lấy một điếu, móc từ trong túi ra một chiếc bật lửa, "cạch" một tiếng đánh ra ngọn lửa cao vút, châm lửa hút điếu thuốc ấy, đoạn thoải mái ngả đầu tựa vào ghế sofa, hút chụt chụt như trẻ con bú sữa. Tiết Kỷ Dược để ý chiếc bật lửa mà hắn đang nghịch trong tay là đồ ngoại tạo, loại siêu mỏng, không biết được mạ loại hợp kim gì, bề mặt sáng bóng lóa. Chiếc bật lửa cao cấp này và bộ trang phục lếch thếch của hắn, trong mắt Tiết Kỷ Dược chẳng những không hề thấy mâu thuẫn, mà ngược lại, Tiết Kỷ Dược cảm thấy hai thứ đặt cạnh nhau ấy lại chính là biểu hiện rõ ràng nhất cho việc Lô Bảo Tang đích thị là Lô Bảo Tang.

Lô Bảo Tang ngồiệệệ chễm chệ, vô cùng an tâm đường hoàng trên ghế sofa, mang theo sự thèm ăn ở trạng thái thi đấu đỉnh cao cùng một bộ dạ dày có chức năng hoàn thiện, sẵn sàng đánh chén một trận thỏa thuê trong tiệc cưới, xét về bản thân hắn, quả thật có đủ tư cách nhất.

Cha của Lô Bảo Tang tên là Lô Thắng Thất, em gái của Lô Thắng Thất đã gả cho em chồng của đại cô Tiết Kỷ Dược, cho nên Lô Bảo Tang cũng gọi đại cô của Tiết Kỷ Dược là cô. Cứ theo đó mà suy ra, hắn gọi cha của Tiết Kỷ Dược là đại gia (bác trai), gọi mẹ của Tiết Kỷ Dược là đại má (bác gái), hắn với Tiết Kỷ Huy và Tiết Kỷ Dược tức là anh em vai vế ngang hàng. Anh em trong nhà hôm nay kết hôn, chẳng lẽ hắn không nên đến sao?

Không chỉ có mỗi tầng quan hệ ấy, hiện nay hắn lại cùng một đơn vị với Tiết Kỷ Huy, Mạnh Chiêu Anh, cho nên hắn lại là đồng nghiệp của anh chị Tiết Kỷ Dược — không chỉ là đồng nghiệp bình thường, lúc Tiết Kỷ Dược và Phan Tú Á sắm sửa đồ đạc, hắn với tư cách là thợ khiêng vác đã bỏ ra rất nhiều công sức, lúc khiêng cái tủ đứng ba cánh to tướng vào căn phòng này, lúc sắp xếp vị trí, toàn là hắn hô hào chỉ huy. Chẳng lẽ hắn vẫn chưa đủ anh em nghĩa khí hay sao?

Lô Bảo Tang năm nay đã 29 tuổi mà vẫn còn độc thân. Ở người hắn, ảnh hưởng ngấm ngầm mưa dầm thấm lâu từ gia đình hay nói cách khác là từ gia tộc, là rất rõ ràng.

Dường như chưa có nhà nghiên cứu xã hội học nào đến nghiên cứu về những người dân thành phố Bắc Kinh. Cư dân thành phố nói đến ở đây không phải là cư dân thành phố theo nghĩa rộng — theo nghĩa rộng mà nói, phàm là người sinh sống ở thành phố Bắc Kinh đều là cư dân Bắc Kinh; cư dân thành phố ở đây là chỉ những kẻ "thổ địa", tức là tối thiểu từ ba đời trở lên đã định cư ở Bắc Kinh, và cấu thành nên những cư dân bình thường nhất thuộc "tầng lớp hạ lưu" của Bắc Kinh — "tầng lớp hạ lưu" này tự nhiên là một thuật ngữ mượn dùng. Sau khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập, bất cứ cư dân nào của thành phố Bắc Kinh, về nhân cách đều là bình đẳng, và đã không còn sự phân biệt tầng lớp giữa kẻ bóc lột và người bị bóc lột, kẻ áp bức và người bị áp bức, cho nên, để biểu đạt chính xác hơn một chút, thì nên khái quát đặc điểm của họ như sau: Một, xét về địa vị chính trị, không thuộc phạm trù cán bộ; Hai, xét về địa vị kinh tế, thuộc phạm trù thu nhập thấp; Ba, xét về trình độ văn hóa chung, thuộc phạm trù văn hóa thấp; Bốn, xét về đặc trưng nghề nghiệp chung, phần lớn thuộc ngành dịch vụ thành phố, hoặc thuộc phạm trù kỹ thuật kém trong công nghiệp, hàm lượng lao động chân tay nặng nhọc; Năm, xét về khu vực cư trú, phần lớn vẫn tập trung trong những ngõ hẻm lớn nhỏ và đại viện lớn nhỏ chưa kịp cải tạo ở nội thành Bắc Kinh; Sáu, xét về phương thức sinh hoạt, tương đối mà nói vẫn còn bảo lưu khá nhiều màu sắc truyền thống; Bảy, xét về tính ổn định trong tình trạng chung của họ, vượt hơn hẳn các cư dân khác của thành phố Bắc Kinh — bởi vì không ở trong "quan trường", cho nên không có những biến động kịch tính kiểu "sóng gió hoạn hải"; bởi vì không dính líu đến "trường danh lợi" kiểu "văn đàn", cho nên cũng chẳng có bao nhiêu cảm giác nhạy bén về vinh nhục sáng tắt; họ cách xa chính trị, chưa từng bị coi là trọng điểm đả kích, phê phán, cũng chưa từng bị coi là đối tượng để được minh oan lật lại án tích, thực thi chính sách. Văn nghệ cũng rất ít khi lấy họ làm trọng điểm miêu tả. Có người dứt khoát dùng thái độ khinh miệt mà gọi họ là "tiểu thị dân" (thị dân nhỏ mỏi), hoặc tóm lại trong một câu: chúng sinh vạn loại.

Nhưng sự tồn tại và tố chất của họ lại ảnh hưởng một cách mạnh mẽ đến cảnh quan sinh thái xã hội chung của thành phố Bắc Kinh, cho nên nếu dốc toàn lực nâng cao văn minh vật chất và văn minh tinh thần của thành phố Bắc Kinh, thì không thể không nghiên cứu họ, thấu hiểu họ, từ đó dẫn dắt họ, khai hóa họ. Xin mỗi một "đại thị dân" luôn tự cảm thấy mình đứng ngoài "tiểu thị dân" hãy suy ngẫm một chút: Cuộc sống của bạn có rời xa được "tiểu thị dân" không? Bạn không thể tránh khỏi việc gặp gỡ họ ở cửa hàng, trên xe điện xe buýt công cộng, trên vỉa hè, trong công viên và rạp chiếu phim, trong quán ăn và tiệm giải khát... Nói một câu, thực ra bạn không thể rời xa họ. Sở dĩ bạn có thể duy trì được một cảm giác ưu việt của "đại thị dân", chính là nhờ có vô số "tiểu thị dân" trong xã hội đang khỏa lấp những khoảng trống xã hội mà bạn và những kẻ bạn coi là đồng loại không cam lòng, không thèm khỏa lấp cho bạn và những kẻ bạn coi là đồng loại — mà tuyệt đối không phải là những khoảng trống nhỏ nhặt không đáng kể.

Mọi người vẫn luôn phàn nàn mãi: Nhân viên phục vụ của một số ngành dịch vụ, tại sao thái độ phục vụ lúc nào cũng không tốt? Công nhân trẻ của một số nhà máy, con em "tiểu thị dân", tại sao lúc nào cũng thô lỗ, hách dịch, phóng túng như thế? Thông qua các thủ đoạn giáo dục tư tưởng, phê bình biểu dương, thưởng phạt cho đến "xử lý nghiêm khắc", đương nhiên cũng giải quyết được không ít vấn đề, thế nhưng, dường như mọi người vẫn cần phải đi sâu nghiên cứu một cách tỉ mỉ từ thuộc tính xã hội và cấu trúc văn hóa, tâm trí, tâm lý, giáo dục đặc thù của đại đa số bọn họ, từ đó dò dẫm ra một bộ thủ đoạn giáo hóa thích ứng với họ, có lẽ mới có thể giải quyết vấn đề một cách hiệu quả hơn.

Đương nhiên, hoàn cảnh của mỗi người trong số họ lại muôn hình vạn trạng.

Hoàn cảnh của Lô Bảo Tang rốt cuộc là thế nào?

Cha và mẹ của Lô Bảo Tang đều thuộc tầng lớp dân nghèo thành thị đời đời kiếp kiếp trong thành phố Bắc Kinh.

Đến thời cận đại nhà Thanh, những người nghèo khổ ở tầng lớp thấp nhất trong thành phố Bắc Kinh đại khái phân bố ở hai khu vực: một khu vực là vùng Chung Cổ Lâu ở nội thành, cái gọi là Cái bang (tập đoàn ăn mày), đại khái đều tụ tập ở đây, ban ngày từ đây tỏa ra theo ba hướng đông, tây, nam để đi khắp nơi khất thực, ban đêm lại quay về "doanh bàn" (lỗ cửa, hiên phố, nhà xuyên đường, lều tranh) gần Chung Cổ Lâu; khu vực thứ hai chính là vùng Thiên Kiều ở ngoại thành, Thiên Kiều tuy cũng có ăn mày, nhưng chủ thể của nó lại là đủ loại nhân vật biểu diễn xiếc giang hồ, họ ít khi di chuyển, thường sinh sống ở những căn phòng rách nát trong các đại viện từ đường Long Tu Cú, Trữ Tử Trận doanh hướng về phía nam.

Lô Bảo Tang vẫn còn nhớ người ông của mình, ông hắn đến năm 1957 mới phát bệnh rồi qua đời. Điểm mà hắn nhớ rõ nhất chính là thói quen đi giày đi ngủ vào ban đêm của ông — đợi đến khi lớn lên hắn mới biết, đó là bởi vì ngày xưa cứ hễ đến mùa đông, đám ăn mày rất khó sinh sống, ban đêm đành tụ tập lại "nhà lửa" để qua đêm. Cái gọi là "nhà lửa" chính là nhà quan tồi tàn sắp sập (năm xưa có lẽ là nơi hội họp của đám "chấp kim ngô" đi tuần phố của quan phủ), trong nhà không còn một mảnh đồ vật. Đám ăn mày khoét một cái hố trong nhà, nhặt ít cành cây nhóm lên một đống lửa, quây quần sưởi ấm xong, rồi cứ thế mặc kệ nam phụ lão ấu nằm lăn lộn ngủ bừa. Bởi vì những kẻ ăn mày có giày sợ những kẻ ăn mày không giày lén lấy mất đôi giày rách của mình, cho nên tất cả đều đi giày đi ngủ. Nghe nói quy củ của Cái bang lúc bấy giờ là: Phàm là đồ vật đã lọt vào tay, lên người của những kẻ ăn mày khác, nếu ăn mày khác cướp đoạt hoặc trộm lấy thì sẽ bị xử tử; nhưng phàm là đồ vật đã tuột khỏi tay, rời khỏi người của những kẻ ăn mày khác, mà tiện tay nhặt lấy, lấy đi ngay trước mặt thì đều danh chính ngôn thuận.

Ông của Lô Bảo Tang từng có thời gian làm "cán đầu" (đầu sỏ cái bang), tức là "hoa tử cán" (gậy ăn mày). Hiện nay có vở kịch kinh điển "Đậu Chấp Ký" vẫn thường được biểu diễn, nhân vật Kim Tùng là cha của Kim Ngọc Nô trong kịch, chính là một "cán đầu", hơn nữa lại là một người tốt. Cho nên Lô Bảo Tang nhờ "Đậu Chấp Ký" mà có cảm tình với Kinh kịch, lại nhờ "Đậu Chấp Ký" mà có cảm tình với Đàm Đài Trí Châu cùng viện với gia đình đại gia Tiết, từ đó lại khiến cho tâm hồn thô ráp của hắn tăng thêm một chút sự dịu dàng mờ ảo — đây là chuyện tạm gác lại không bàn tới.

Đám ăn mày thế hệ ông của Lô Bảo Tang coi việc khất thực như một nghề nghiệp, cũng giống như việc tiệm cầm đồ ở Chung Cổ Lâu ngày xưa nổi tiếng ngặt nghèo khắc nghiệt, đám ăn mày ở Chung Cổ Lâu ngày xưa cũng có uy danh "dân bướng khó chọc". Mỗi khi gặp hỉ sự cưới xin mừng thọ của quan thương phú dân, đầu gối (cán đầu) liền dẫn đầu chạy đến "chúc mừng", phòng gác cổng, phòng kế toán nếu không thèm đếm xỉa tới, thậm chí còn xua đuổi mắng chửi, vậy thì chẳng bao lâu sau, dưới sự chỉ huy của cán đầu, đám ăn mày sẽ luân phiên chạy đến quấy rối, trò dùng đủ kiểu, cho đến khi khách khứa ngoài cửa và chủ nhân trong nhà không thể chịu nổi, ra lệnh cho phòng gác cổng, phòng kế toán phát tiền bố thí, thì bọn chúng mới chịu thu binh dần dần.

Ăn mày ngày xưa có các phương thức khất thực khác nhau như "nhuyễn khất" (xin xỏ mềm mỏng), "ngạnh khất" (xin xỏ cứng rắn), "hoa khất" (xin xỏ bằng văn nghệ), "thảm khất" (xin xỏ bằng sự bi thảm), mang đậm ý vị phân chia các môn độp sinh, đán, tịnh, mạt, xẩu khác nhau của Kinh kịch, mà trong cùng một môn độp lại phân hóa ra các thể loại khác nhau, giống như trong đào kép của Kinh kịch lại có chính đán, thanh y, hoa đán, khuê môn đán, bát lạt đán, ngoạn tiếu đán, võ đán, đao mã đán v.v., trong các loại hình khất thực khác nhau lại phân chia ra rất nhiều kiểu khất thực khác nhau. Cái gọi là "nhuyễn khất", phần lớn là phụ nữ người già và trẻ em ăn mày, đạt được mục đích bằng cách van xin khóc lóc, nhắm vào những đối tượng khác nhau, trong miệng bật ra những lời kiểu như nói vè: "Phu nhân cho con xin hai đồng, phu nhân sống lâu vạn vạn năm." "Quy gia cửa vào, ông chủ đại phát tài." "Lão gia đại ban ơn, sinh con lại sinh cháu."... Trong "nhuyễn khất" lại chia thành hai loại "tọa khất" (ngồi xin) và "kếu nhai" (hét phố), "kếu nhai" trong lúc lang thang thỉnh thoảng cũng thu lại tiếng khóc mà lộ ra bộ mặt hung ác, hét lên những lời quái đản như "Không cho tiền tài, tao không đến, mày giữ tiền thừa mua quan tài!" "Mày không cho, tao không xin, xem con mày chết gấp hay không!" nhưng rốt cuộc vẫn thuộc phạm trù quấn lấy kỳ kèo, khác với "ngạnh khất". "Ngạnh khất" phần lớn là nam giới tráng niên, mồm mép chưa chắc đã có nhiều ngón nghề như vậy, chủ yếu dựa vào động tác, hành vi để đạt hiệu quả. Phương pháp khất thực của họ thường được gọi là "tác nhai", chẳng hạn như tay cầm hai con dao dài hoặc hai viên gạch nguyên, liên tục đập vào bộ ngực trần, khiến ngực sưng đỏ rớm máu; lại như miệng ngậm vài chiếc đinh dài, tay cầm một viên gạch, trước mặt mọi người đâm thẳng chiếc đinh dài vào một cục thịt trên đầu, dùng gạch đập mạnh, máu tươi từ kẽ đinh phun xối xả, thảm thiết đáng sợ; lại như dùng một sợi xích sắt có móc sắt, móc chiếc móc sắt cắm sâu vào xương quai xanh, kéo lê sợi xích bước đi, đầu tận cùng của sợi xích thường còn buộc thêm một quả cầu sắt, đập xuống đất kêu lanh lảnh... "Hoa khất" là mượn một số thủ đoạn tạp kỹ nguyên thủy nhất, như múa "liên hoa lạc" (tay cầm một ống tre, mỗi đốt khoét mấy lỗ nhỏ, trong lỗ xỏ mấy đồng tiền kẽm, vừa múa vừa xin), đánh "ngọc cổ" (tay cầm một ống tre, một đầu căng bong bóng lợn, dùng ngón tay búng vỗ tạo ra các nhịp điệu thay đổi), "điểm phong đầu" (cắm một cây kim thô giữa ấn đường, đầu kim chống một chiếc bát thô, vừa lắc lư vừa khất thực), chơi rắn xanh, múa lộn đầu v.v. "Thảm khất" là chỉ sự khất thực của những kẻ tàn phế, như "xán chiếu bích" (chi dưới tàn phế, dùng vải rách buộc vào đầu gối, bảo vệ mông, ngồi trên mặt đất lê lết), "lật thái tuế" (tay chân tàn phế, lăn lộn trong bùn lầy), "giải lương thảo" (kẻ tàn phế nằm ngửa trong chiếc xe gỗ nhỏ, hai kẻ ăn mày đi kèm trước kéo sau), "đá thạch đầu" (ăn mày nam cõng ăn mày nữ tàn phế đi qua chợ)...

Sư phụ Tuân Hưng Vượng cùng viện với nhà họ Tiết, hồi nhỏ cũng từng theo mẹ đi ăn mày, nhưng đó là phương thức mưu sinh tạm thời của người nông dân nghèo khổ trong năm mất mùa ở nông thôn, có sự khác biệt về chất so với lối sống khất thực mang tính nghề nghiệp của Cái bang trong thành phố Bắc Kinh ngày xưa. Trên thực tế, hai loại người này không chỉ có tâm thái khác nhau, mà diện mạo bên ngoài thể hiện ra thường cũng có sự khác biệt rất lớn.

Cha của Lô Bảo Tang là Lô Thắng Thất, sau khi trưởng thành đại khái thuộc hàng ngũ "ngạnh khất"; khi Bắc Kinh giải phóng ông đã 36 tuổi, vẫn chưa kết hôn, cho đến năm 1950 được chính phủ cứu trợ an trí, làm công nhân đạp xe ba gác phẳng, mới coi như có được một nghề nghiệp cố định thực sự có ích cho xã hội; năm 1952 khi ông sắp bước sang tuổi 40, mới cưới được mẹ của Lô Bảo Tang, mà lúc đó bà cũng đã 35 tuổi rồi. Cặp vợ chồng kết hôn muộn màng này sinh được một đứa con trai độc tôn là Lô Bảo Tang vào năm thứ hai sau khi kết hôn.

Ngành vận chuyển xe ba gác phẳng từng phát huy tác dụng to lớn trong sự nghiệp vận tải hàng hóa nội thành Bắc Kinh, và cho đến nay vẫn đang phát huy một tác dụng nhất định, từ lâu đã thuộc tính chất hợp tác xã tức là sở hữu tập thể, xét kỹ ra, những công nhân xe ba gác trong đó, tuy rằng những người dân nghèo thành thị có lý lịch trong sạch chiếm tỷ trọng nhất định, nhưng cũng không thiếu hai luồng cặn bã của xã hội cũ: một loại chính là những kẻ dân nghèo kiểu Lô Thắng Thất, nghèo thì nghèo thật, mà lại chẳng có tư cách lao động gì, phần lớn đều là những kẻ ăn mày, lưu manh, con cháu phá gia chi tử của các gia đình sa sút trong quá khứ; loại thứ hai chính là đám sĩ quan cấp dưới, cảnh sát, tay sai thời trước giải phóng có tội trạng nhẹ, dân phẫn không lớn, sau một thời gian thẩm tra, giáo dục, hoặc tuyên bố là phần tử bị quản chế, hoặc miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, vì họ cũng giống như loại nhân vật thứ nhất, không có một kỹ nghệ sở trường nào, cho nên một bộ phận trong đó cũng được an trí vào đội ngũ công nhân vận chuyển xe ba gác phẳng. Hai loại người này có mấy điểm chung: thiếu thói quen lao động, sành ăn uống hút chích; thiếu tự trọng tự ái, quen bàn chuyện nam nữ; tham chút lợi nhỏ nhưng lại trọng nghĩa khí, thích vung tay quá trán nhưng lại chịu được khổ... Đương nhiên, tuyệt đối không phải ai cũng như vậy, mà cùng với sự tiêu hóa, cải tạo của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đối với họ, phần lớn trong số họ quả thực cũng đang không ngừng diễn ra sự lột xác đáng mừng là vứt bỏ cặn bã, tăng thêm tinh hoa.

Thế nhưng, hoàn toàn tiêu hóa, cải tạo họ thành những con người mới tuyệt đối không phải là chuyện dễ dàng, phải biết rằng cải tạo Phổ Nghi, cải tạo tội phạm chiến tranh cũng có mặt dễ tiếp cận hơn của nó — họ có văn hóa, có thể tiến hành suy nghĩ mang tính triết lý, lập trường chính trị một khi chuyển biến, chớp mắt có thể trở thành người đáng yêu đáng kính; còn cải tạo cặn bã xã hội lại có mặt cực kỳ gian nan — họ không có văn hóa, mà lại có một bụng rác rưởi, cho dù họ không có vấn đề gì về chính trị, họ vẫn có khả năng tỏa ra bầu không khí đáng ghét đáng khinh.

Có một lần ở nhà tắm Hâm Viên trên đường Yên Đại Tiết Giới bên cạnh Cổ Lâu, ba người Lô Thắng Thất, Tiết Vĩnh Tuyền, Tuân Hưng Vượng tình cờ gặp nhau. Sau khi ngâm mình thỏa thuê trong bồn nước nóng nhất, cả ba đều ra ngoài nằm trên sạp để nghỉ ngơi. Lúc này nếu có ai chú ý quan sát họ, sẽ phát hiện ra rằng mặc dù nhìn lướt qua thì cả ba đều không thuộc tầng lớp cán bộ, trí thức, mà thuộc phạm trù quần chúng lao động, thế nhưng mỗi người về mặt thể mạo, khí chất lại có sự khác biệt rõ rệt.

Sư phụ Tuân Hưng Vượng da ngăm đen, thô ráp, nhưng cơ bắp đầy đặn, săn chắc, gọn gàng, toàn bộ vóc dáng mang lại cho người ta một cảm giác vẻ đẹp hoang dã mà sung túc. Điều này chủ yếu không phải vì ông kém họ vài tuổi, mà là bởi vì ông là một người sản xuất và chiến đấu từ nhỏ đã tham gia lao động chân tay bình thường, bắt đầu là làm ruộng, sau đó là làm quân đội giải phóng, cuối cùng làm công nhân công nghiệp.

Sư phụ Tiết Vĩnh Tuyền da trắng phớt vàng, vóc dáng hơi mập mạp, nhưng khắp nơi lại phảng phất những dấu vết mà cuộc sống gian khổ để lại — ông quàng, choàng hai chiếc khăn tắm lớn trắng muốt lên người, rồi cứ thế nằm dài lên sạp, dù bạn không biết ông từng làm lạt ma đi nữa, cũng có thể không kìm được mà liên tưởng đến bức tượng Phật nằm trong chùa, hình ảnh đó rất khó nói là đẹp, nhưng cũng tuyệt đối không hề xấu xí, nói cách khác, nhìn vẫn rất thuận mắt.

Làn da của Lô Thắng Thất là một thứ màu nâu đất rất khó hình dung, trên trán có một cục thịt dị hình, đó là do ngày xưa lúc làm "ngạnh khất" đã cố ý nuôi dưỡng lên để cho đinh sắt đâm vào; trên ngực phải có một vết sẹo kỳ cục, đó là nơi ngày xưa trong "ngạnh khất" đã móc vào bằng móc sắt... Giống như nhiều đồng nghiệp đạp xe ba gác phẳng của ông, họ từ độ tuổi ba bốn mươi mới bắt đầu tham gia lao động chân tay bình thường, cho nên, một mặt họ không thể thay đổi triệt để vóc dáng đã hoàn thành việc phát triển từ lâu, mặt khác hệ thống cơ bắp, xương cốt của họ lại buộc phải dốc sức vắt kiệt để biến dạng, tăng sinh nhằm thích ứng với gánh nặng mới, vì thế vóc dáng của họ phần lớn đều trở nên vô cùng kỳ dị. Lô Thắng Thất chính là như vậy: cơ ngực không phát triển, mà cơ bụng lại săn chắc, bắp tay trên gầy gò mà bắp tay dưới to thô, gân xanh ở chân nổi cồng cềnh, tổng thể hình ảnh khiến người ta không khỏi liên tưởng đến một con bọ ngựa hoặc con nhện.

Khí chất của họ lại càng khác nhau hơn. Tuân Hưng Vượng gọi một ấm trà, liền dùng trà của nhà tắm, lúc nhân viên phục vụ đến châm nước, ông niềm nở và tự nhiên trò chuyện với nhân viên phục vụ; từ biểu cảm của ông có thể hiểu rõ một cách chắc chắn rằng, ông cảm thấy nhân viên phục vụ cũng là anh em giai cấp với mình, hiện tại người ta phục vụ mình, ở một dịp khác rất có thể mình sẽ phục vụ lại người ta. Tiết Vĩnh Tuyền cũng gọi một ấm trà, cũng mua trà của nhà tắm, nhưng ông chỉ xé phần miệng túi trà ra một phần ba, đổ một nửa số trà vào ấm, sau đó gấp gọn túi giấy lại, giữ lại nửa số trà còn lại để mang về nhà; lúc nhân viên phục vụ châm nước, ông cúi người liên tục nói "làm phiền anh nhé", lễ nghĩa vô cùng chu đáo, nhưng ít nhiều có vẻ hơi từng trải thấu đời. Lô Thắng Thất thì hoàn toàn khác hẳn. Ông mang theo trà của chính mình, đựng trong một chiếc ống sắt dẹt nhỏ — đợi trà của người ta đã pha xong xuôi hết rồi, ông mới lấy cái ống trà đó ra, liên tục nói với người ta rằng: "Pha bằng cái này của tôi đi, pha bằng cái này của tôi đi, cái này của tôi là hàng chính gốc một tệ hai một lạng đấy..." Người ta đương nhiên từ chối, ông liền bưng ấm trà của người ta sang, mở nắp ra xem vẫn chưa đủ, còn đưa mũi lại gần ngửi, nhe răng trợn mắt nói: "Không ổn không ổn, cái loại năm hào một lạng này sắc không chuẩn, vị không thuần, uống vào rát cổ họng đấy." Bình luận xong liền mở nắp ống trà của mình ra, ép chặt lại đưa đến sát mũi người ta bắt ngửi: "Ngửi xem cái này của tôi là mùi gì đi!" Ông lớn tiếng hô hào giục giã nhân viên phục vụ, bảo người ta đến châm trà cho mình, người ta bưng ấm trà tới, ông kéo sát lại kiểm tra từ nắp ấm cho đến vòi ấm, bới ra một loạt lỗi lầm... Lúc người ta châm nước vào ấm, ông nghiêng người, nhắm mắt hờ, rõ ràng là đang tận hưởng một sự hầu hạ...

Cha của Lô Bảo Tang là Lô Thắng Thất hoàn toàn khác biệt với Tiết Vĩnh Tuyền và Tuân Hưng Vượng như vậy đó.

Lô Thắng Thất vào năm 1982 đã 69 tuổi rồi. Ông đã sớm nghỉ hưu. Ông nuôi một con hoạ mi, một con mỏ sừng, sắm sửa cho chúng những chiếc lồng chim tinh xảo mà đắt tiền, bình đựng thức ăn, rèm che và các thứ vật dụng khác, con trước nuôi để nghe hót, con sau nuôi để ngắm nhặt bóng. Lô Bảo Tang mãi không thể lập gia đình, sống chung với cha mẹ, liền xếp kín bức tường trong căn phòng của mình bằng những chiếc bể cá hình vuông tự hàn, nuôi toàn cá nhiệt đới, có nào là thần tiên, hôn chủy (cá môi hôn), lam man long (cá thần tiên xanh), hổ bì, vằn vện, thủy tinh phàm thuyền, ngũ sắc kim phượng và rất nhiều chủng loại khác, trong bể cá còn trồng thêm nào là ngọc trâm, hoàng quan, như liên, chuối, lưỡi bò, hoa cúc và đủ loại cỏ nước. Từ đó có thể thấy đời sống vật chất, tinh thần của hai cha con họ, rốt cuộc đã có sự khác biệt rất lớn so với thế hệ ông cha, nhưng cái tâm thái ăn mày thấm đượm từ người ông cán đầu, cùng với tinh thần "ngạnh khất" tỏa ra từ người cha Lô Thắng Thất, thì vẫn không khó tìm thấy dấu ấn trên người Lô Bảo Tang.

Mà sở dĩ Lô Bảo Tang trở thành Lô Bảo Tang, lại không chỉ chịu sự hun đúc từ hệ cha, mà còn chịu sự hun đúc từ hệ mẹ.

Mẹ hắn là Lô Hoàng thị, xuất thân từ Thiên Kiều — tức tập đoàn dân nghèo Nam Thành đối ứng từ xa với Chung Cổ Lâu. Nghe nói từ thời kỳ địch ngụy đến trước thềm giải phóng, ở Thiên Kiều có cái gọi là "Bát đại quái" (tám quái dị lớn), trong số bọn họ có: "Đại Kim Nha" (kéo dương phiến - trò xem tranh phóng sự, đồ đệ gọi là "Tiểu Kim Nha"); "Vân Lý Phi" (hát kịch nhỏ, mặc đồ trang phục làm bằng giấy dán); "Tặng Du Nhi" (bán một loại thuốc tẩy vết bẩn dầu mỡ, vừa hát vừa bán); "Quản Nhi Trương" (dùng sáo trúc nhỏ nhét vào mũi để thổi, có thể tấu ra đủ loại giai điệu); "Vương Bán Tiên" (cùng con gái biến hóa xiếc, tiết mục chính là múa dải giấy trắng, dải giấy có thể lộn ra lộn vào, tròng lên tròng xuống trong tay hai cha con họ); "Bảo Tam" (biểu diễn múa phướn trung tâm, vật lộn); Tôn Hồng Lượng (bán thuốc trị côn trùng, vừa bán vừa hát, sau này thế mà lại trở thành một tên cợt nhả một cõi, tậu được mặt tiền cửa hàng, ức hiếp bách tính, sau giải phóng bị trấn áp); "Đại Binh Hoàng" (từng làm sĩ quan cấp dưới trong quân đội quân phiệt, thân hình cực kỳ tráng kiện, hắn mỗi ngày bày một vòng ghế ở Thiên Kiều, bán ít thuốc trị trật đả tổn thương, nhưng hắn không biểu diễn tạp kỹ, cũng không biểu diễn võ nghệ, mà cứ ngồi đó, gân cổ lên chửi mắng, mắng thời cục, mắng quan tham, mắng lại nhũng, bởi vì hắn chửi có lý, chửi sảng khoái, cho nên ngày nào cũng có người ngồi thành một vòng nghe hắn chửi bới. Hắn mặc một bộ quân phục xám cũ kỹ, giọng Đức Châu, Sơn Đông, dùng từ bậc vai vế để chửi thề, thế mà lại vì thế mà nổi danh). Mẹ của Lô Bảo Tang, theo truyền thuyết chính là con gái của "Đại Binh Hoàng", tuy nhiên mọi người cũng chỉ bàn tán xì xào sau lưng, ngoài viên cảnh sát hộ tịch của đồn công an ra, hình như cũng chẳng có ai dám đến hỏi thẳng bà, mà cảnh sát hộ tịch đối với chuyện này hình như cũng chưa từng sinh ra chút hứng thú thừa thãi nào. Cho dù tin đồn này là thật hay giả, từ phía hệ mẹ của Lô Bảo Tang, hắn quả thực đã được hun đúc ra một thứ khí thế dám nói dám chửi, dám đứng ra bênh vực kẻ yếu.

Lại nói vào ngày Tiết Kỷ Dược tổ chức hỉ sự, Lô Bảo Tang với tư cách là người thân bạn bè đến đầu tiên, vừa vào cửa đã mang đến cho nhà họ Tiết vô số niềm khó chịu. Mục đích trực tiếp nhất của hắn khi đến là để ăn uống thả cửa một trận, hắn cũng không thèm che giấu điều này, cho nên hắn bước vào phòng tân hôn, gặp Tiết Kỷ Dược mà không có lấy một câu khách sáo chúc mừng nào, việc đầu tiên là đòi Tiết Kỷ Dược thuốc lá nhãn 35; sau khi không được như ý nguyện, hắn đành hạ mình hút tạm thuốc "Lễ Hoa"; ngồi trên ghế sofa một lúc, hắn liền đứng dậy đi quanh phòng, cuối cùng lượn ra trước tủ năm ngăn, nhón gót nghiên cứu tấm ảnh cưới trên tường. Bỗng nhiên hắn "hì" một tiếng bật cười, đó là một tiếng cười mỉa mai quái gở; cười xong hắn áp sát lại gần Tiết Kỷ Dược, thò sát tai Tiết Kỷ Dược hỏi: "Thế nào! Chưa chơi đùa trước à? Tao thấy cô ta đủ cho mày vật lộn một trận đấy!"

Khuôn mặt Tiết Kỷ Dược đỏ bừng lên, tức giận lồng lộn đẩy phắt hắn ra: "Cút đi mày! Bậy bạ!"

Lô Bảo Tang độ lượng nháy mắt với Tiết Kỷ Dược một cái, rồi ngậm điếu thuốc bước ra khỏi phòng tân hôn. Hắn nhanh nhẹn rẽ vào căn lều tạm bợ dùng làm nhà bếp.

Tiết đại nương nhìn thấy hắn, đành phải qua loa lấy lệ: "Ôi, Bảo Tang đến rồi đấy à! Sao tía má cháu không đi cùng nhau thế?"

Lô Bảo Tang cười hì hì nói: "Tiết đại má, chúc mừng đại má nhé! Tía má cháu lại chẳng muốn đến cơ — nhưng chẳng phải đại má với đại gia không mời họ đấy sao?"

Tiết đại nương cất cao giọng ứng phó: "Ôi dào, hai nhà chúng ta còn cần đến mấy cái lễ nghĩa khách sáo ấy làm gì nữa? Lại còn cần phát thiếp mời nữa cơ à. Biết tin rồi, tự nhiên là nên đến chứ — chẳng phải các cháu cũng có ‘góp phong bì’ đâu cơ chứ? Ta chẳng thèm chấp cái lễ nghĩa này đâu, chúng ta với ai với ai cơ chứ, chỉ riêng việc cháu phụ giúp khiêng đồ đạc, cái sức trâu ấy, đã đáng mấy cái ‘phong bì’ của người khác rồi chứ lị!" Cái gọi là "góp phong bì", chính là tiền mặt mệnh giá nhỏ mà họ hàng bạn bè mừng cho nhà có hỉ sự, thường ít thì hai tệ mà nhiều thì 20 tệ. Tiết đại nương nhắc đến vấn đề này, khiến cho mặt mũi Lô Bảo Tang có chút không giấu vào đâu được, hắn vội giả vờ tham quan cảnh tượng đủ kiểu trong nhà bếp, kết quả tự nhiên lại chạm mặt với Lộ Hỉ Thuần đang bày biện đĩa nguội lớn.

Lộ Hỉ Thuần sớm đã nghe ra là hắn qua tiếng nói, sau khi bốn mắt nhìn nhau, Lộ Hỉ Thuần liền mỉm cười nói với hắn: "Cậu lại đến đây để chực ăn chực uống rồi đấy à?"

"Anh bạn!" Lô Bảo Tang không ngờ hôm nay sư phụ được nhà họ Tiết mời đến lại chính là Lộ Hỉ Thuần, hắn không khỏi "kinh hô nhiệt trung tràng" (vui mừng khôn tả), vỗ đét một cái vào vai Lộ Hỉ Thuần nói, "Là cậu đấy à! Cậu phải trổ hết tài nghệ cho ra trò vào đấy nhé. Đây là nhà đại gia đại má của tao, nhị huynh đài của tao cưới vợ, nể mặt tao, cậu cũng không được phép làm ăn lơ mơ đâu đấy!"

Tiết đại nương không kìm được hỏi: "Hai đứa các cháu quen nhau từ bao giờ thế?"

Lô Bảo Tang tranh thủ trả lời: "Tía nó trước kia cùng đạp xe ba gác phẳng với tía tao. Má nó tao cũng gặp rồi, hai người trước sau gì cũng 'ngỏm củ tỏi' rồi. Nó cũng giống tao, vẫn là một tên quang côn độc thân thôi!"

Lời này vừa thốt ra, trong lòng Tiết đại nương lại thêm chút không được tự nhiên. Trải qua hơn ba tiếng đồng hồ quan sát, bà vốn đã sinh ra sự tín nhiệm và thiện cảm đối với tay nghề và cách làm việc của Lộ Hỉ Thuần; thế nhưng bị Lô Bảo Tang bóc mẽ một trận, hóa ra Lộ Hỉ Thuần này lại là một kẻ độc thân mồ côi cả cha lẫn mẹ, xui xẻo thật đấy! Cái vận xui của nó, liệu có thông qua cơm canh mà truyền sang nhà họ Tiết chúng ta không cơ chứ?

Lộ Hỉ Thuần khẽ lắc đầu, trong lòng liên tục thở dài. Cậu quá hiểu rõ Lô Bảo Tang rồi, hai người họ hồi tiểu học còn là bạn học cơ mà. Lô Bảo Tang vốn cao hơn cậu hai khóa, sau đó ở lại lớp rồi tụt xuống lớp của cậu. Cậu ghét nhất cái bộ dạng xấu xí vừa không tôn trọng người khác lại vừa không tôn trọng chính mình của Lô Bảo Tang. Hồi học tiểu học năm thứ tư, bọn chúng bắt gặp "Cách mạng văn hóa", học sinh lớp lớn tiểu học cũng học theo "phái nổi dậy" của học sinh trung học, đại học lôi hiệu trưởng, thầy cô ra đấu tố, Lô Bảo Tang khi đó lớn hơn học sinh lớp sáu bình thường một tuổi, vóc dáng cơ bản đã phát triển đầy đủ, trông to cao vạm vỡ, bắt đầu thì cậu ta cũng đeo một chiếc băng đỏ lớn, tự cho mình là "hồng ngũ loại", lúc đó xem ra cậu ta hình như quả thực có cái vốn liếng này. Nghe nói tía cậu ta là Lô Thắng Thất, vào thời kỳ trấn áp ác bá ở vùng Chung Cổ Lâu sau giải phóng, đã giúp quân giải phóng thi hành án trói gô ác bá, lôi ác bá ra pháp trường, thể hiện rất chi là cách mạng, rất chi là dũng cảm. Cho nên, trong các đại hội đấu tố lôi hiệu trưởng, thầy cô ra phê phán, cậu ta luôn đóng vai trò lôi kéo người ta "ngồi máy bay". Ngoài việc bẻ quặt tay người ta, ấn đầu người ta ra, cậu ta còn nghĩ ra đủ mọi cách độc ác và hiểm hóc khác để lăng nhục người ta, như giẫm mạnh lên mu bàn chân người ta này, véo tai bắt người ta ngửa mặt lên trời "bễ thị chúng" này, lấy bình mực đổ mực vào cổ áo người ta này... Lúc cậu ta làm những chuyện này còn thích vừa làm mặt quỷ hướng về phía "thầy trò cách mạng" dưới đài. Sau này, cậu ta lại càng đem cái khí thế cuồng bạo hành hạ này trút lên người bạn học, cậu ta bắt những người bạn học có xuất thân gia đình "hắc ngũ loại" dùng trán tì vào đinh trên tường để phạt đứng, dùng kim băng ghim "bản thú tội" của bọn chúng vào da ngực bọn chúng. Thế nhưng, chẳng được bao lâu, không biết thế nào mà tía của Lô Bảo Tang là Lô Thắng Thất lại bị lôi ra ở đơn vị. Lộ Hỉ Thuần từng đi xem đại tự báo, lúc đó không hiểu gì, sau này mới vỡ lẽ ra, hóa ra có người vạch trần rằng, vào đêm trước ngày giải phóng khi sinh viên đại học Bắc Kinh tổ chức biểu tình lớn "phản đói kém, phản nội chiến", kháng nghị chính sách phản động của quốc dân đảng, cảnh sát đặc vụ quốc dân đảng đã mua chuộc một nhóm côn đồ tay sai, thả sức xông vào phá rối đội ngũ biểu tình, đánh đuổi được một học sinh thì cho một cái bánh bao, trong số những tay sai bị mua chuộc có Lô Thắng Thất, một mình hắn kiếm được tận 18 cái bánh bao! Chuyện này sau khi bị vạch trần, Lô Bảo Tang lập tức từ "hồng ngũ loại" biến thành "hắc ngũ loại". Điều khiến Lộ Hỉ Thuần cảm thấy kỳ lạ là, Lô Bảo Tang hoàn toàn không hề lộ ra vẻ đau khổ buồn bã gì, thế thì cũng thôi đi — trong những khung cảnh đấu tố hoang đường sau đó ở trường học, Lô Bảo Tang thế mà thường chẳng đợi người khác lôi kéo, tự động đứng vào vị trí bị đấu tố, chổng mông lên thật cao, hai tay giơ cao về phía sau, có một lần cậu ta còn tự vả vào mặt mình trước mặt mọi người...

Nhớ lại thì, điều khiến Lộ Hỉ Thuần không thể dung tha nhất chính là, vào lúc cậu đang thầm thương cảm cho Lô Bảo Tang dưới đài, trong một khoảnh khắc liếc qua, Lô Bảo Tang lại nghếch mặt lè lưỡi làm mặt quỷ về phía cậu!

Lớn lên rồi, Lộ Hỉ Thuần thường coi Lô Bảo Tang như một chiếc gương soi để kiểm nghiệm tâm hồn chính mình. Cậu có thể tha thứ cho sự ngu muội trước kia của Lô Bảo Tang, cậu cũng có thể dung thứ cho những thói hư tật xấu chưa được gột rửa hết hiện nay của Lô Bảo Tang, nhưng bản thân cậu dù thế nào đi nữa cũng phải lấy đó làm răn đe, cậu phải luôn tôn trọng nhân cách của người khác, càng phải tôn trọng nhân cách của chính mình.

Lô Hỉ Thuần thật sự không thích Lô Bảo Tang xuất hiện trong tiệc cưới của gia đình này, những món ăn do tự tay cậu dày công nấu nướng thế nào cũng sẽ bị Lô Bảo Tang tàn phá cho mà xem! Ví dụ như cái đĩa nguội cỡ một thước hai được bày biện đẹp đẽ tinh xảo này, ở chính giữa là hai trái tim lồng vào nhau được tạo nền bằng khoai tây nghiền, bên trên dùng dải mứt táo chèn nổi lên một chữ hỉ màu đỏ thắm rực rỡ, xung quanh dùng giò lụa, phồng tôm, trứng cuộn thái sợi, thịt thủ lợn, dưa chuột khoét rỗng, hoa cà chua, trứng muối cắt lát v.v. cấu thành nên các họa tiết đối xứng đầy màu sắc. Đĩa nguội này sau khi được dọn lên bàn, là phải "nhìn ngắm", "thưởng vị" rồi mới "giải quyết", nhưng làm sao cậu có thể bảo đảm Lô Bảo Tang không dùng đũa khuấy nó nát bét ra cơ chứ? Haizz!

Lô Bảo Tang lại hoàn toàn không thể thấu hiểu tâm trạng của Lộ Hỉ Thuần, hắn tự nhiên sinh ra một cảm giác ưu việt trước mặt Lộ Hỉ Thuần — lúc này Lộ Hỉ Thuần là kẻ hầu hạ người ta, mà bản thân hắn lại chính là một trong những vị khách được Lộ Hỉ Thuần hầu hạ. Hắn ra vẻ ta đây ra lệnh: "Cậu em không được phép giấu nghề ở đây đâu đấy! Mày hãy dốc hết bản sự của mày ra cho bọn tao đi!"

Lúc này, gia đình đại cô của Tiết Kỷ Dược đã đến, Lô Bảo Tang nghe thấy tiếng động liền bước ra cùng Tiết Kỷ nương tiếp đón — vốn dĩ không phải người xa lạ, chưa nói đến việc Tiết Vĩnh Tuyền và ông nhị đã khuất năm xưa của đại cô bọn họ vốn cũng là người của Cái bang, dượng cả từng lăn lộn ở Long Phúc Tự ngày xưa, chẳng phải cũng từng qua lại với gia đình mẹ của Lô Bảo Tang hay sao? Trong lòng Lô Bảo Tang trào lên mối quan hệ họ hàng chằng chịt này, lại càng cảm thấy hôm nay mình đến đây ăn ngon mặc đẹp là chuyện danh chính ngôn thuận.

Đúng lúc ấy sư phụ Tiết Vĩnh Tuyền mồ hôi nhễ nhại xách theo một bọc cỏ lùm xùm phồng to bước về nhà, mọi người huyên náo chào hỏi lẫn nhau. Sư phụ không giấu nổi vẻ sốT ruột nói với Tiết Kỷ nương: "Bà xem chuyện này xem — nhà hàng Mã Khải nói xe vận chuyển bia hôm nay không đến, hôm qua trong kho của họ còn lại chẳng bao nhiêu, lát nữa có hai bàn tiệc kiều bào đặt trước, đều phải dùng hết. Bia của chúng ta thế là hỏng bét toàn tập rồi!"

Tiết Kỷ nương không khỏi lầm bầm cằn nhằn: "Anh xem kìa! Em đã biết là anh chẳng làm nên tích sự gì mà! Hôm qua em bảo mau mua về cất đi, anh không chịu, cứ nói để trong nhà thì bia hỏng, để ngoài trời thì vỡ chai, chi bằng cứ để trong tủ lạnh của nhà hàng là tốt nhất — anh nhìn hôm nay thế nào đi? Người ta có thèm nhận đâu cơ chứ?..."

Sư phụ bèn nói: "Tôi đi từ nhà hàng Mã Khải dọc theo một mạch đến Địa An Môn, hôm nay đều không có bia, tôi đành mua mười chai 'Mạch Tinh Lộ' ở bách hóa Địa An Môn..."

"Cái thứ nước ấy thì tích sự gì chứ!" Lô Bảo Tang hừng hực khí thế xem vào nói, "Không có bia thì còn làm ăn cái quái gì nữa! Vợ chồng Tiểu Dược tử sau này có thể sống yên ổn suôn sẻ được không cơ chứ?"

Trong lòng Tiết Kỷ nương cứ như bị nhét một cục bùn nhão. Lại thêm một mẻ xui xẻo nữa! Đám cưới của người dân thành phố Bắc Kinh thiếu một trong ba loại rượu cũng là một điều kỵ trong phong tục — rượu trắng nếu thực sự không kiếm được một trong bát đại danh tửu, ít nhất cũng phải có "Long Phượng tửu", điều này tượng trưng cho sự phú quý; rượu vang cũng không thể thiếu, nhưng bắt buộc phải là loại "Rượu vang đỏ Bắc Kinh" giá từ ba tệ rưỡi trở lên, điều này tượng trưng cho sự hưng vượng phát đạt; bia bọt phải cung cấp đầy đủ, điều này tượng trưng cho sự hòa thuận mỹ mãn. Hiện tại lại bất ngờ xuất hiện nguy cơ nghiêm trọng "ba thiếu một"!

Đúng lúc Tiết Kỷ nương đang lúc bó tay hết cách, Lô Bảo Tang tuyên bố rằng: "Cháu không tin bên 'Mã Khải' bọn chúng lại thực sự hết hàng! Chắc chắn là bọn chúng thấy đại gia mặt mũi hiền lành nên mới mẹ kiếp giở trò lừa bịp đại gia đấy. Mọi người đợi đấy, cháu đi một chuyến, cháu không tin là không khiêng về nổi một thùng! Đại gia, đưa tiền cho cháu, đưa cả cái đồ đựng rượu nữa, cháu đi đây!"

Lòng dạ Tiết Kỷ nương rối như tơ vò. Bà dậm chân nói: "Tú Á sợ là sắp đến nơi rồi đấy — ngoài cửa cũng chẳng biết có những ai đang canh giữ, bọn trẻ đốt pháo, tung giấy hoa đừng có mà lúc này lại biến mất tăm mất tích đấy nhé."

Đại cô bèn vội vàng dẫn chị họ, cháu trai họ... của Tiết Kỷ Dược đi ra ngoài cửa lớn.

Lúc này sư phụ Tiết đưa 20 tệ và hai chiếc túi lưới lớn cho Lô Bảo Tang, Lô Bảo Tang liền nhanh chân thoăn thoắt xuất chinh hướng nhà hàng Mã Khải mà đi.

Tiết Kỷ nương và sư phụ Tiết tạm thời đi vào trong phòng của họ, Tiết Kỷ nương cầm chiếc chổi đót trên khang, phủi sạch sẽ quần áo cho mình trước, rồi lại phủi cho sư phụ Tiết...

Chẳng chốc lát sau, ngoài cửa truyền đến những tiếng pháo nổ giòn giã. Tiết Kỷ nương vuốt vất tà áo, bước ra khỏi phòng ở của mình một cách trang trọng, lại bước vào trong phòng tân hôn. Sư phụ Tiết lẽo đẽo bước theo sau bà.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.