Anh trai chú rể cuối cùng cũng lộ diện. Chuyện "bốc xe" và "dỡ xe". "Sóng gió ống nước" trong sân viện.
Bắc Kinh bây giờ còn lại bao nhiêu quán rượu?
Nơi bán cơm kiêm bán rượu không thể tính là quán rượu. Nhất định phải là nơi lấy bán rượu làm chính, kèm theo bán đồ nhắm, mới được coi là quán rượu. Theo lời các cụ già kể lại, năm xưa thành Bắc Kinh có rất nhiều quán rượu, mà trên mặt phố dài hai dặm ngoài Địa An Môn, phía trước Cổ Lâu, không những số lượng quán rượu rất đáng nể, mà chủng loại cũng tương đối đầy đủ.
Người dân Bắc Kinh bây giờ không mấy ai uống hoàng tửu nữa, nhưng năm xưa trong các tửu quán chốn kinh sư, "Nam tửu điếm" lại chiếm một tỷ lệ đáng kể; trong tiệm bán các dòng hoàng tửu khác nhau như "Nữ Trinh", "Hoa Điêu", "Phong Cảng", "Trạng Nguyên Hồng", đồng thời cũng lấy "Trúc Diệp Thanh" làm món phụ trợ bán kèm; đồ nhắm thích hợp với hoàng tửu thì chuẩn bị sẵn giăm bông, cá ướp bã rượu, cua ngâm rượu, bánh mật, trứng bắc thảo. Một loại khác là "Kinh tửu điếm", thời kỳ đầu chỉ cung cấp tuyết tửu, đông tửu, lai tửu, mộc qua tửu, càn sáp tửu, Lương Hương tửu... Về sau dần dà thêm vào các loại danh tiếng vang dội như Phần tửu, Tây Phượng tửu, Lô Châu đại khúc, Quý Châu Mao Đài... Tuy đã không còn đúng với tên gọi ban đầu, nhưng người già quen miệng nên vẫn gọi là "Kinh tửu điếm"; rồi sau này vì lại chuyển sang chủ yếu bán loại "Nhị Oa Đầu" tự sản xuất ở ngoại thành Bắc Kinh, dùng tiêu chí "ngon bổ rẻ" để giữ chân một lớp khách quen, nên rốt cuộc cũng coi như "trở về với bản chất mộc mạc". Đồ nhắm mà "Kinh tửu điếm" cung cấp, thuở xưa phần nhiều là nhân hạt dẻ muối, lạc khô, óc chó, nhân hạt phỉ, táo tàu ngào mật, sơn tra... Mùa hè thêm hạt sen, ngó sen tươi, củ ấu, hạnh nhân... dường như lấy đồ chay làm chính; về sau đồ chay dần giảm bớt, đổi thành trứng vịt muối, cá kho giòn, thịt thỏ khô, thịt lừa... Đến nay thì chủ yếu là dồi trường lợn, móng giò, các loại xúc xích thịt và xúc xích bột. Năm xưa còn có một loại "Dược tửu điếm", bây giờ người dân Bắc Kinh hay gọi hoàng tửu là "liệu tửu" hoặc "dược tửu", nhưng "Dược tửu điếm" ngày trước bán không phải hoàng tửu mà là các loại rượu sương ướp hương hoa quả, như mai khôi lộ, nhân trần lộ, táo lộ, sơn tra lộ... Ngoài ra, các loại rượu chưng cất như liên hoa bạch tửu, lục đậu thiêu tửu, ngũ gia bì... phần nhiều cũng bán trong loại quán này. Quán rượu kiểu này thường không chuẩn bị đồ nhắm, người mua rượu phần lớn đều mang về nhà uống. Ngày nay người Bắc Kinh nói chung không hay uống rượu ướp hương, họ gọi chung các loại đồ uống có cồn ngoài hoàng tửu, bạch tửu và bia là "rượu màu", trong "rượu màu" chỉ có vang đỏ là được hoan nghênh. Còn như "quán bar" chuyên bán rượu Tây như whisky, brandy, ngoài việc được bố trí ở vài khách sạn lớn mà thị dân bình thường không thể tùy tiện ra vào, thì ngoài phố dường như trước sau đều vắng bóng.
Đại lộ trước Cổ Lâu năm xưa, gần ngõ Nghĩa Lưu có một tửu quán quy mô không nhỏ. "Nghĩa Lưu" thực ra là nói chệch của từ "Nhất Lữu Nhĩ", nghĩa là "một lọn nhỏ", bởi con ngõ hẹp đến mức hai người đi đối diện nhau nhất định phải nghiêng mình nhường nhịn mới qua lọt, nên người ta gọi là "Nhất Lữu Nhĩ". Giữa đất Bắc Kinh vốn xưng tụng "ngõ lớn ba nghìn sáu, ngõ nhỏ nhiều như lông bò", ngõ "Nhất Lữu Nhĩ" dường như chẳng đáng nhắc tới, nhưng vì năm xưa quanh đó có khá nhiều tửu quán tiệm ăn nổi tiếng, khách ăn nhậu muốn đi đường tắt thường lách vai qua đây, thành thử tiếng tăm rất lẫy lừng. Từ đại lộ trước Cổ Lâu xuyên qua ngõ "Nhất Lữu Nhĩ" là tới thẳng trước cửa tửu quán kia, trên cửa treo tấm biển lớn chữ vàng nền đen: "Thiên Hương Lâu". Bước vào cổng lớn, đôi câu đối trên cột đối diện đập ngay vào mắt: "Bốn phía sạch không vương bụi tục, tám khung cửa mở đón người say." Bấy giờ có bài thơ Trúc Chi Từ rằng:
Địa An Môn ngoại ngắm sen tươi,
Mấy dặm sen hồng rực nước biếc;
Tuyệt nhất Thiên Hương Lâu ghé lại,
Rượu tàn người xỉn hạt mưa bay.
Đó là nói về mùa hè, thực ra mùa đông buôn bán còn đắt khách hơn, đặc biệt là vào dịp Tết Nguyên tiêu. Phía nam ngõ "Nhất Lữu Nhĩ", cạnh cầu Hậu Môn, có một ngôi miếu Hỏa Thần, nay vết tích vẫn còn. Trước thập niên 20 của thế kỷ trước, mỗi độ Tết hoa đăng Nguyên tiêu, nghe nói trong miếu đều làm lễ đốt "Hỏa Phán", tức là đem tượng thần bằng đất nặn rỗng ruột nhét đầy than củi rồi châm lửa đốt, không những khiến toàn thân và bụng tượng đỏ rực, mà còn "lỗ mũi phun lửa, hai tai sinh gió". Cảnh tượng ấy đương nhiên thu hút vô số người dân đến xem, một bộ phận sau khi thưởng ngoạn xong ắt không khỏi ghé vào "Thiên Hương Lâu" chén thù chén tạc thỏa thuê. Giờ đây, những thị dân khu bắc thành tuổi đã ngoài bảy mươi, mỗi khi nhớ lại cảnh tượng năm đó, vẫn có thể miêu tả sống động như thật. Lúc bà cụ Hải và ông nội Hồ ngồi sưởi nắng trò chuyện dưới chân Cổ Lâu, chẳng biết đã xới lại đề tài này bao nhiêu lần rồi.
Thế nhưng cùng với sự đổi thay của thời đại, số lượng quán ăn ở Bắc Kinh từng có dạo giảm đi rất nhiều, quán rượu từng đứng bên bờ tuyệt tích. Mãi đến sau khi đập tan "bè lũ bốn tên", số lượng và chủng loại quán ăn mới tăng thêm đôi chút, quán rượu cũng phục hồi phần nào. Đương nhiên, cảnh quán rượu mọc lên như nấm thời cũ là một dạng sinh thái xã hội dị tật, cái "truyền thống" ấy vốn chẳng đáng phát huy, nhưng việc cung cấp hợp lý cho người dân một nơi chốn để "tiện đường ghé nhấp chén rượu", mở vài quán rượu có quản lý nề nếp chuyên bán rượu và đồ nhắm, trang bị sẵn chỗ ngồi, xem ra vẫn là điều cần thiết. Vào cuối năm 1982, khu vực Chung Cổ Lâu đã xuất hiện một quán rượu như thế. Nó nằm trong ngõ Chung Lâu Loan ở phía sau Cổ Lâu, phía trước Chung Lâu, là một căn nhà cấp bốn mang tên "Tiệm thuốc lá rượu Nhất Phẩm Hương". Bên trong kê bốn năm chiếc bàn vuông, mười mấy chiếc ghế đẩu vuông, ngoài cung cấp đủ loại thuốc lá và rượu, quán còn bán lạc luộc, nộm sứa, dồi trường lợn, xúc xích bột, xúc xích trà, xúc xích tỏi, xúc xích trứng, thịt hộp, trứng luộc nước trà, thịt đầu lợn, miến trộn... làm đồ nhắm. Do nằm trong con ngõ nhỏ vắng vẻ, nên khách đến uống rượu hiếm khi có người lạ tình cờ qua đường, phần lớn là cư dân quanh đó hoặc công nhân viên chức làm việc gần đấy. Người bán hàng và khách nhậu phần lớn đều quen mặt, giữa các thực khách với nhau cũng quen biết quá nửa, thành thử trong quán lúc nào cũng tràn ngập bầu không khí sôi nổi, hòa thuận.
Lại nói vào hơn bốn giờ chiều ngày 12 tháng 12 năm 1982, Hải Tây Tân đạp xe, theo lời dặn của đại gia Ân đi tìm tung tích Lô Bảo Tang, kết quả phát hiện Lô Bảo Tang đang lảo đảo chui vào quán "Nhất Phẩm Hương". Hải Tây Tân dừng xe trước cửa quán, dựng chân chống, khóa xe cẩn thận, rồi qua ô cửa kính nhìn vào bên trong. Thì ra Lý Khải, chồng của Đạm Đài Trí Châu cùng viện, đã ngồi sẵn trong đó. Lô Bảo Tang vừa bước vào liền nhìn thấy Lý Khải, miệng rõ ràng la lối om sòm, chân nam đá chân chiêu bước tới; Lý Khải đứng dậy đỡ lấy gã, nét mặt lộ vẻ kinh ngạc hỏi han dồn dập...
Hải Tây Tân đang do dự không biết có nên vào "Nhất Phẩm Hương" hay không, bỗng nhiên có người gọi cậu: "Tây Tân!"
Hải Tây Tân quay đầu lại nhìn, là Tiết Kỷ Huy, anh trai của Tiết Kỷ Dược, đang đạp xe đi tới đối diện.
Tiết Kỷ Huy vốn không định xuống xe, tiếng gọi kia chẳng qua chỉ là một lời chào lịch sự, nhưng thấy Hải Tây Tân ra hiệu, anh liền dừng lại bước xuống. Hải Tây Tân hỏi:
"Sao giờ này anh mới tới?"
Tiết Kỷ Huy lộ rõ vẻ mệt mỏi rã rời, ngắn gọn giải thích:
"Tăng ca."
Hải Tây Tân liền bảo:
"Hôm nay là ngày gì mà anh còn tăng ca? Nhà anh loạn cào cào cả lên rồi! Trên mâm cỗ cãi nhau ỏm tỏi, bảo là có người trộm mất cái đồng hồ Rado của nhà anh..." Nói đoạn, cậu hất cằm về phía bên trong quán "Nhất Phẩm Hương": "Thằng Dược nghi cho tay này làm, nhưng giờ vẫn chưa nắm được chứng cứ gì... Dù sao tôi cũng chẳng rõ đầu đuôi, anh mau về đi! Có anh về mới cáng đáng nổi."
Tiết Kỷ Huy chẳng hiểu mô tê gì, nhìn vào trong "Nhất Phẩm Hương" chỉ thấy mỗi Lý Khải, bụng thầm nghĩ: Làm sao có chuyện đó được? Nhất định là hiểu lầm! Tuy nhiên, nét mặt và giọng điệu của Hải Tây Tân đều khiến anh cảm thấy có điềm chẳng lành, anh bèn nói:
"Được, tôi về ngay đây!" Nói xong liền gạt chân chống nhảy lên xe, chỉ mong sao về tới nơi ngay lập tức.
Hải Tây Tân nhìn tấm lưng dày dặn, đầm chắc của Tiết Kỷ Huy xa dần, trong lòng dâng lên niềm cảm thông sâu sắc. Cậu chợt nhớ lại mùa hè năm kia, đám thanh niên trong ngõ rủ nhau ra bờ Thập Sát Hải hóng mát, chẳng biết thế nào mà mọi người lại hùa nhau thách cậu đấu vật với Tiết Kỷ Huy. Hồi đó cậu mới học được chút võ vẽ, luôn muốn tìm cơ hội tỷ thí, bèn dùng lời khích bác khiến Tiết Kỷ Huy phải đứng dậy nhận lời thách đấu. Tiết Kỷ Huy nói: "Chúng ta cũng chẳng cần vật nhau làm gì. Tôi đứng yên ở đây, cậu cứ nghĩ cách làm tôi ngã xuống là được. Tôi mà ngã thì coi như cậu thắng." Dứt lời, hai chân anh hơi dạng ra, hai tay chống nạnh, ưỡn lồng ngực dày cộp vững chãi. Hải Tây Tân đem hết ngón nghề ra, vừa đẩy chưởng bẻ tay, vừa móc chân hích eo, tựa như rồng trắng quấn lấy tháp sắt, vậy mà trước sau chẳng thể nào xô đổ được Tiết Kỷ Huy. Đám trai trẻ chung quanh hò hét ầm ĩ, xem đến là thích chí. Cuối cùng Hải Tây Tân đành chắp tay chịu thua: "Anh Huy, anh bảo đi, em phải chịu phạt cái gì với anh đây?" Tiết Kỷ Huy cười bảo: "Đâu có đâu có, cậu múa cho tôi và mọi người xem một bài quyền đi!" Hải Tây Tân liền đi một bài "Trần thị Thái Cực" vừa mới học thuộc, đến thế "thu thức", Tiết Kỷ Huy liền dẫn đầu vỗ tay. Sau khi mọi người ồ lên khen ngợi, Tiết Kỷ Huy mới bảo: "Vẫn là 'Đâu Có' có công phu. Tôi thực ra chẳng có công phu gì sất. Vốn liếng của tôi chẳng qua chỉ là đầm người." Câu nói ấy Hải Tây Tân ghi nhớ mãi, cậu cảm thấy điều mình cần học hỏi ở Tiết Kỷ Huy chính là cái đức tính "đầm chắc" đáng quý ấy; mà sự đầm chắc tuyệt đối không chỉ thể hiện ở khối cơ bắp cuồn cuộn như sắt đặc kia, đầm chắc chủ yếu là một thái độ làm người nghiêm túc, đàng hoàng...
Nhìn vào cái tên là có thể nhận ra, Tiết Kỷ Huy chào đời cùng lúc với Quốc huy của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Chiều tối ngày 20 tháng 9 năm 1950, ngày Chủ tịch Mao Trạch Đông ra lệnh công bố Quốc huy, Tiết Kỷ Huy đã cất tiếng khóc chào đời trong một gian điện phụ ở chùa Long Phúc. Người đến đỡ đẻ cho Tiết đại nương là một y sĩ hộ sinh của bệnh viện Hiệp Hòa. Nếu ở vào thời trước giải phóng, Tiết Vĩnh Toàn chẳng đời nào dám sang ngõ Tôn Gia Khanh ở phía đông chùa Long Phúc để mời người ta; khi biết đưa Tiết đại nương đến bệnh viện thì đã quá muộn, vị y sĩ liền xách hộp thuốc vội vã chạy đến bên giường sản phụ, thuận lợi đỡ đẻ cho Tiết Kỷ Huy. Ông từ chối nhận thù lao, lại còn nói: "Trước đây bác đến tìm tôi, tôi cũng sẽ tới thôi. Ra ngoài bệnh viện phục vụ sản phụ, tôi tuyệt đối không lấy tiền." Ông là một tín đồ Cơ Đốc, lời nói xuất phát từ tận đáy lòng. Nhưng Tiết Vĩnh Toàn vẫn xem tất cả những điều đó là phúc đức do Đảng Cộng sản giải phóng Bắc Kinh đem lại. Ông và Tiết đại nương lấy nhau khi chưa đầy hai mươi tuổi, trước khi sinh Tiết Kỷ Huy từng sinh ba con trai một con gái, đều mời bà đỡ ở hội chùa đến đỡ. Ba đứa con trai thì hai đứa sinh ra hãy còn sống, nhưng bị dây rốn quấn cổ, bà đỡ cậy thế nào cũng không gỡ nổi cuống rốn ra, trơ mắt nhìn con bị ngạt thở mà chết; một đứa thì khó sinh chết lưu trong bụng; đứa con gái thì sinh nở suôn sẻ, nhưng vừa tròn ba tháng đã nhờ ông chủ hiệu sách "Tu Cằng Đường" trên phố Long Phúc Tự làm mối, đem cho một gia đình quan chức không có con gái, về sau bặt vô âm tín.
Cha mẹ cảm kích Đảng Cộng sản, cảm kích ngày thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, nên mới đặt tên cho đứa con trai duy nhất sống sót này là Tiết Kỷ Huy, với ngụ ý kỷ niệm Quốc huy. Sau khi sinh Tiết Kỷ Huy, sức khỏe Tiết đại nương suy sụp hẳn, chẳng bao lâu sau phát hiện mắc bệnh lao phổi. May thay, ngôi chùa lớn Long Phúc sau giải phóng dần trở thành một trung tâm thương mại lớn chính quy, Tiết Vĩnh Toàn từ một lạt ma biến thành công nhân viên chức chính thức của thương trường, kinh tế gia đình khang trang chưa từng thấy. Tiết đại nương đến "Hiệp hội phòng chống lao" ở Bắc Trì Tử khám chữa định kỳ, vài năm sau rốt cuộc cũng khỏi hẳn. Sau khi cơ thể bình phục, bà lại sinh thêm Tiết Kỷ Dược. Ba mươi mấy năm trôi qua, hai người con trai đều lớn lên khỏe mạnh, vững vàng, nay đều đã dựng vợ gả chồng, an cư lạc nghiệp. Vợ chồng Tiết Vĩnh Toàn lẽ ra phải được mở mày mở mặt trọn vẹn.
Thế nhưng chẳng một xã hội nào, chẳng một gia đình nào có thể ngưng đọng mãi ở một trạng thái. Trong dòng chảy thời gian, đời sống xã hội luôn đầy ắp những mâu thuẫn va chạm, và mỗi cá nhân trên bước đường số phận của mình, lúc nào cũng vừa có niềm vui lại vừa có nỗi buồn.
Năm Tiết Kỷ Huy mười sáu tuổi thì gặp phải "Cách mạng Văn hóa", khi ấy anh vừa lên lớp chín. Anh là một trong những chiến sĩ "Hồng vệ binh" sớm nhất trường, từng cuồng nhiệt tin vào "lý luận tiếp tục cách mạng dưới chuyên chính vô sản", từng mở rộng tầm mắt rất nhiều trong phong trào "Đại xâu chuỗi". Anh chán ghét thói "đập, phá, cướp", từng vì kiên trì nguyên tắc "phải văn đấu, không được vũ đấu" mà nổ ra tranh cãi nảy lửa với các chiến sĩ "Hồng vệ binh" khác. Anh đồng cảm với vị hiệu trưởng và bí thư chi bộ mà anh cho rằng chỉ phạm sai lầm chứ không phải "phái đi theo con đường tư bản ngoan cố", anh hoang mang trước những luận điệu quá khích ngày càng cực đoan của "Tổ Cách mạng Văn hóa Trung ương"... Thế nhưng tất cả những điều đó, những dấu ấn khắc sâu vào tâm hồn anh, những ảnh hưởng tác động tới sự hình thành nhân sinh quan của anh, đều chẳng thấm tháp gì so với cảnh tượng "bốc xe" và "dỡ xe" đầy tính kích động và chấn động mà anh đã tận mắt chứng kiến trong thời kỳ đó.
Thế nào gọi là "bốc xe" và "dỡ xe"?
Thứ bốc dỡ chẳng phải là hàng hóa, mà xe cộ cũng chẳng phải xe tải chở hàng.
Gần con ngõ nơi nhóm Tiết Kỷ Huy sinh sống có một con ngõ khác khang trang hơn, trong ngõ có một khu tứ hợp viện được bảo tồn rất nguyên vẹn, bên trong có một nhân vật tai to mặt lớn cư ngụ. Bấy giờ người này không những tuổi đã ngoài thất tuần mà não bộ cũng đã thoái hóa; thân hình ông ta béo phì, chân cẳng đi lại vô cùng khó khăn, nói thực lòng thì đáng lẽ nên từ chối mọi lời mời mọc, không nên ra ngoài tham gia hoạt động nữa. Thế nhưng trong cơn cuồng triều lật đổ hàng loạt của "Cách mạng Văn hóa", chẳng hiểu sao ông ta lại may mắn sống sót, và trong các đại lễ như mùng một tháng Năm, mùng một tháng Mười, ông ta vẫn nhận được thông báo lên lễ đài Thiên An Môn. Cứ đến ngày đó, trước khi hoạt động trên lễ đài Thiên An Môn chính thức bắt đầu bốn mươi phút, lại có một chiếc xe con tới đón, và một số cư dân gần đó sẽ lẳng lặng vây quanh thành một vòng tròn khá rộng để xem các nhân viên hữu quan và người nhà ông ta làm cách nào để nhét ông ta vào trong xe. Tiết Kỷ Huy chính là một người trong đám đông đứng xem ấy.
Cửa xe con vốn đã chật hẹp so với thân hình ục ịch của ông lão, cộng thêm việc ông ta thần trí lơ mơ, cúi mình gập người rất khó khăn, thế nên mỗi bận, các nhân viên cùng người nhà đều phải tốn bao công sức chẳng khác nào đang bốc dỡ một món đồ quý giá cồng kềnh mà lại dễ vỡ. Đầu tiên là một thanh niên chui vào xe từ cửa bên kia, vươn tay sẵn sàng đỡ lấy, sau đó ba người khác dìu ông lão đến cửa xe bên này, người giúp ông cúi người, người nhẹ nhàng ấn đầu ông xuống, người gần như ôm trọn lấy ông để đẩy vào trong cửa xe. Để ông lão lọt qua cánh cửa ấy rồi nhét gọn vào trong xe thường phải mất tới hơn mười phút. Giữa sự im lặng như tờ của đám đông vây xem, những tiếng rên rỉ thuộc về phản xạ sinh lý của ông lão: "A... a a... a a a..." phát ra (chắc hẳn ông bị chèn ép vô cùng đau đớn), cùng với giọng chỉ huy đầy bình tĩnh và uy nghiêm của người phụ nữ được cho là con gái ông lão: "Chậm thôi! Cuống cái gì! Được rồi, dùng sức đi! Sợ cái gì chứ? Đừng sợ ông ấy kêu, dùng sức đẩy vào trong! Phía bên kia dùng sức kéo vào! Đừng có giật bừa cánh tay ông ấy! Đỡ lấy người bố! Bố, bố kêu cái gì thế?! Sắp ngồi vào trong được rồi còn gì?..." Cảnh tượng ấy thực sự khiến người ta phải giật mình kinh hãi.
Chiếc xe con lăn bánh, những người đứng xem không giải tán hết mà có một bộ phận vẫn nán lại đầu ngõ, xì xào bàn tán. Họ đều đã nắm rõ quy luật, sau khi tiết mục "bốc xe" kết thúc chừng hơn nửa tiếng, nhất định sẽ tiếp tục diễn ra tiết mục "dỡ xe".
Khi ông lão lên đến lễ đài Thiên An Môn, lại có một màn dỡ và bốc xe chớp nhoáng nữa. Ông ta lên lễ đài, người đi cùng bảo phóng viên Tân Hoa Xã có mặt tại đó dùng bút chì đánh một dấu tích vào sau tên ông trên bản danh sách đã in sẵn, thế là đợi ông thở lại cho hơi thở hơi bình ổn, hoạt động còn chưa kết thúc người ta đã vội vã bốc ông lên xe chở về nhà. Xe về tới cửa ngõ, các nhân viên và người nhà lại dưới sự chỉ huy của người con gái đã ngoài năm mươi tuổi kia tiến hành công đoạn "dỡ xe" cuối cùng. "Dỡ xe" tính ra còn khó khăn hơn bốc xe nhiều, nhưng tốc độ bao giờ cũng nhanh hơn, giọng điệu của người chỉ huy cũng trở nên dồn dập, đanh lại: "Đừng sợ! Cứ kéo đi! Đẩy từ bên trong ra xem nào! Bố, bố gào cái gì? Chẳng phải sắp xuống được rồi sao? Được rồi, mau đỡ ông ấy vào trong! Nhanh lên!..."
Bản thân ông lão có cam tâm tình nguyện chịu người ta "bốc dỡ" như thế hay không thì chẳng ai biết được. Nhưng suy nghĩ của cô con gái về việc này thì lại được bộc lộ hết sức rõ ràng. Có một bận "bốc xe" vô cùng trắc trở, dường như một người cháu nội của ông lão không kìm được bèn bảo: "Cháu thấy không đi được thì thôi đừng đi nữa!" Người con gái đang trực tiếp chỉ huy lập tức cáu kỉnh gạt phắt đi: "Không đi nữa à?! Buổi tối trên bản tin thời sự mà không có tên ông cụ, trong khi người ta biết mười mươi cụ chưa chết, thiên hạ lại chẳng bảo cụ bị đánh đổ rồi sao? Nói cho anh biết nhé, chỉ cần một lần không lên được, đám ở lại Bắc Kinh chúng ta còn dễ sống, chứ mấy ổ người ở các tỉnh khác lập tức sẽ bị người ta bắt nạt cho thối mũi ra đấy!..." Vừa nói, bà ta vừa đích thân dùng sức đẩy mạnh ông lão vào cửa xe, khiến ông lão hét lên một tiếng thảm thiết chưa từng có. Nhưng cũng chẳng thể bảo người làm con gái ấy tàn nhẫn máu lạnh, bởi bà ta cũng run rẩy cất tiếng gọi: "Bố!", rồi còn rơi nước mắt trước mặt bao người... Những lời lẽ ấy lọt vào tai Tiết Kỷ Huy, những cảnh tượng ấy đập vào mắt anh, khiến anh cảm thấy cuộc đời đã dạy cho mình một bài học vô cùng phong phú, vô cùng sâu sắc, nhưng cũng vô cùng đau lòng.
Mỗi khi màn kịch "bốc xe", "dỡ xe" kết thúc, chỉ vài tiếng sau, từ những chiếc loa phóng thanh công suất lớn mắc ở các cơ quan gần đó sẽ truyền ra giọng đọc tròn vành rõ chữ, vang rền của phát thanh viên đài phát thanh xướng lên danh sách. Khi tên của ông lão kia rốt cuộc cũng được xướng lên, Tiết Kỷ Huy thường nghiến chặt quai hàm, cõi lòng run lên những nhịp cay đắng, xót xa.
Anh không phải đi thanh niên xung phong về nông thôn. Khóa học sinh của anh may mắn trúng vào đợt phân bổ công tác trong nội thành, anh được phân về đơn vị hiện tại, thoạt đầu làm công nhân bốc vác, sau này học lái xe, trở thành tài xế xe tải hạng nhẹ 130.
Từ trước khi "bè lũ bốn tên" sụp đổ, anh đã thầm phủ định "Cách mạng Văn hóa" trong lòng. Không phải vì anh có nhận thức gì thấu đáo, chuẩn xác về "lý luận" hay bản chất chính trị của nó, mà anh chỉ đúc kết ra một điều từ chính cảm nhận thực tế của bản thân: cuộc "cách mạng" này không thiết thực, không chân thật. Cảnh tượng "bốc xe", "dỡ xe" kia lại càng cho anh sự thức tỉnh như thế.
Anh tự đặt ra cho mình một tín điều: bản thân phải sống thật thà, chất phác. Anh căm ghét thói giả dối còn hơn cả những sai lầm. Lời phê bình nghiêm khắc nhất của anh đối với một sự việc nào đó chính là: "Đừng có làm trò giả vờ giả vịt!"
Lúc này, Tiết Kỷ Huy đạp xe vội vã đến tiệc cưới của em trai Tiết Kỷ Dược, với một thể xác và tinh thần mệt mỏi cùng cực, chuẩn bị đối mặt với cục diện khó bề thu xếp.
Người hiểu cho anh nhất là cha; thứ đến có lẽ là em trai. Nhưng cô dâu mới liệu có thông cảm cho anh không? Hôm nay cớ sao anh cứ nhất quyết phải đi tăng ca cơ chứ? Đối với cô ấy, chẳng phải điều đó là một sự coi thường hay sao? Cả đời người ta có lẽ chỉ có một lần này được đóng vai nhân vật chính, vậy mà người làm anh chồng như anh dường như lại thấy chẳng việc gì phải đến góp vui... Còn mẹ nữa, chẳng ai trên đời trọng điềm lành, coi trọng thể diện hơn mẹ, dẫu cho bà trước nay vẫn luôn hết mực yêu thương và lấy anh làm niềm tự hào, nhưng biểu hiện của anh hôm nay, dẫu có kiên nhẫn giải thích thế nào e rằng cũng khó lòng nhận được sự thấu hiểu từ bà! Mẹ sẽ hỏi: "Cứ cho là bắt buộc phải tăng ca, phải đến muộn một tí, thì làm sao lại muộn đến tận cái nước này?" Có thể thưa với bà rằng: giữa đường xe bị người ta chặn lại nhờ giúp, đó cũng là xe chạy vận tải của thành phố Bắc Kinh, người tài xế sốt ruột toát cả mồ hôi đầu, nơi ấy lại chẳng gần làng xóm quán xá nào, mà cái xe cứ trơ ra không nhúc nhích. Anh ta chặn xe của Tiết Kỷ Huy, khẩn khoản cầu cứu: "Em vẫy đến xe của anh đã là chiếc thứ mười chín rồi, người ta hoặc là không dừng, hoặc dừng lại nghe vài câu là xua tay bỏ đi... Đại ca ơi, em trông cậy cả vào anh đấy!" Tiết Kỷ Huy đã thuyết phục nhóm bốc vác trên xe, nhảy xuống kiểm tra giúp người ta, sau đó lại chui xuống gầm xe sửa chữa, tốn bao nhiêu công sức mới sửa xong giùm... Mẹ nghe xong những lời ấy sẽ nói sao đây? Nhất định mẹ sẽ bảo: "Con không biết bảo nó là hôm nay nhà con có việc bận à? Con không giúp thì nó không gặp được người khác giúp hay sao? Nó bảo chặn mười mấy xe không được là con tin sái cổ à? Để con mủi lòng thì nó chả phải kể khổ ra, con chỉ được cái thật thà quá mức!..." Phải rồi, anh thật thà, anh không thể giương mắt nhìn người khác gặp khó mà ngó lơ; anh không chịu nổi cái thói vô tình bỏ mặc người gặp nạn để lo chạy việc riêng của mình; anh không cho phép bản thân vì muốn về sớm dự đám cưới em trai mà thấy việc nghĩa không làm... Anh mong cầu điều gì? Sự cảm kích? Khen ngợi? Sự báo đáp ngấm ngầm? Hay phần thưởng công khai? Đều không phải, anh chỉ cầu cho lòng mình thanh thản. Anh cảm thấy các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa và đời sống xã hội trước mắt đang ngày một bớt đi sự giả dối, ngày càng trở nên thiết thực hơn. Giữa một thời đại đang vững vàng hiện thực hóa bốn hiện đại hóa như thế này, anh lại càng phải đối đãi một cách đàng hoàng, đầm chắc với quốc gia, với người khác và với chính bản thân mình...
Cuộc gặp gỡ với Hải Tây Tân khiến gánh nặng tinh thần của anh càng thêm trĩu nặng. Giả như tiệc cưới diễn ra êm đẹp thì việc anh đến muộn cũng chỉ là một thiếu sót bình thường; nhưng cớ sao lại rối tung rối mù lên? Đồng hồ Rado gì chứ? Của ai? Ai đã lấy trộm nó? Anh Lý sao lại dính dáng tới chuyện này?... Nghĩ đến sự nhu nhược của cha, thói mê tín của mẹ, sự ấu trĩ của em trai, lòng anh chợt nhói lên chua xót. Họ cần anh có mặt biết bao để chấn chỉnh cục diện! Vậy mà vào thời khắc mấu chốt, anh lại chậm trễ không tới...
Mau lên! Đi nhanh lên! Phải xua tan sự mệt mỏi trong từng thớ cơ, từng sợi dây thần kinh, xốc lại toàn bộ tinh khí thần của bản thân, để làm một người con, người anh, người anh chồng thật tròn vai, đúng mực...
Tiết Kỷ Huy tới bên ngoài cửa phòng tân hôn, dây thần kinh căng thẳng hơi chùng xuống một chút, mọi chuyện dường như vẫn bình thường đấy thôi. Khách khứa trong phòng tân hôn vẫn đang ăn uống, tuy không nói cười rôm rả nhưng cũng coi là náo nhiệt. Trong gian lán bạt truyền ra tiếng xào nấu, tỏa ra mùi thơm của thịt nạc xào tỏi tây. Hơn nữa cô con gái Tiểu Liên Bồng miệng dính một vòng mỡ bóng nhẫy vừa khéo từ trong phòng nhảy chân sáo chạy ra, vừa thấy anh liền mừng rỡ reo to: "Bố!" rồi lại quay người vào trong báo tin: "Bà nội ơi! Bố cháu về rồi này!"
Tiết Kỷ Huy vội bước vào phòng, chạm mặt ngay với mẹ.
Lúc này trong lòng Tiết đại nương đủ cả chua cay mặn đắng, duy chỉ thiếu mất vị ngọt ngào. Cơn sóng gió sau vụ mất đồng hồ Rado khiến đám khách khứa ban đầu lần lượt cáo từ ra về, chỉ còn mỗi đại gia Ân ở lại. Giám đốc Vương cùng những người khác lúc ra về dẫu nói không ít lời an ủi, nhưng chung quy vẫn khiến Tiết đại nương mất hết cả thể diện. Thất cô thì đùng đùng tức giận, hậm hực bỏ đi, hơn nữa trước lúc đi còn buông lại một câu trước mặt cả nhà họ Tiết với Phan Tú Á: "Hôm nay tôi không về nhà mình nữa, tôi sang thẳng nhà bố mẹ cô; ngày mai hai đứa về lại mặt, nếu chuyện này vẫn chưa làm cho ra ngô ra khoai thì Tú Á à, cô đừng có về đây vội, cứ ở lại bên nhà đẻ đã!"... Tiết đại nương thật sự khóc không được, gào không xong, tranh cãi chẳng đành mà phân bua cũng chẳng xuể. Đúng lúc ấy lại có một tốp khách mới kéo tới, Tiết đại nương là người trọng thể diện, không muốn vạch áo cho người xem lưng, đành phải gượng cười, bảo Mạnh Chiêu Anh mau chóng dọn dẹp bãi chiến trường của đợt tiệc trước để bày mâm mới. Cỗ bàn đương nhiên tương đối giản tiện hơn, bưng lên chẳng qua chỉ có thịt xào mộc nhĩ trứng gà, trứng tráng, thịt nạc xào cần tây, thịt xào tỏi tây, cá đù nhỏ kho tộ, rau chân vịt xào miến... Bác thợ Tiết ngượng nghịu giải thích với khách mới tới: cô dâu mệt quá, tạm thời nghỉ ngơi bên phòng kia, lát nữa nhất định sẽ sang châm thuốc mời rượu mọi người; Tiết Kỷ Dược thì say thật rồi, cứ cười ngây ngô, trả lời bừa bãi những lời chúc mừng và trêu chọc của người ta... Dương Cập Quang, cán bộ Đoàn ở thương trường của họ, hoàn toàn vì có lòng tốt nên đã ngẫu hứng ngâm nga bài từ "Thước Kiều Tiên" của Tần Quán thời Tống tặng Tiết Kỷ Dược: "...Tình nồng như nước, kỳ ngộ tựa chiêm bao, nỡ ngoảnh nhìn cầu Ô Thước lối về! Nếu tình đôi lứa mãi dài lâu, há phải sớm hôm quấn quýt mãi!" Nhưng trong một dịp và bầu không khí như thế, có ai hiểu nổi những câu từ anh ta ngâm nga là gì đâu? Anh ta toan giải thích mở rộng hai câu cuối một chút, nhưng nào có ai đủ kiên nhẫn để nghe anh ta giảng giải? Giữa những tiếng chạm ly chúc rượu ồn ào hỗn loạn, anh ta cũng đành phải thôi...
Tiết Kỷ Huy và mẹ đứng đối mặt nhau. Tiết Kỷ Huy chuẩn bị sẵn tinh thần đón nhận những lời chất vấn, mắng mỏ, cằn nhằn, oán trách của mẹ... Thế nhưng mẹ chẳng nói một lời, chỉ ngơ ngẩn nhìn anh, trong ánh mắt ngập tràn vô vàn nỗi sầu muộn, bực dọc, khát khao và mong đợi... Lòng Tiết Kỷ Huy nhói đau như bị kim châm.
Khách khứa trong phòng tân hôn không rõ Tiết Kỷ Huy vừa mới tới, Tiết đại nương và bác thợ Tiết vì nể nang thể diện cũng không gặng hỏi trước mặt mọi người xem vì sao anh lại đến muộn thế; Tiết Kỷ Dược sau khi say rượu đã mất hết khả năng suy nghĩ mạch lạc, thấy anh trai chỉ biết nâng chén rượu lên gào: "Anh! Hai anh em mình cạn một ly!"... Thế nên Tiết Kỷ Huy đã thuận lợi vượt qua được cửa ải đầu tiên, nhanh chóng hòa nhập với mọi người trong phòng tân hôn; điều duy nhất khiến anh cảm thấy hơi ngượng ngùng là bộ quần áo trên người so với những người khác có phần lam lũ quá đỗi, anh thực sự không kịp về nhà mình để thay một bộ lễ phục tươm tất.
Sau khi tiếp đón trên mâm cỗ một lát, anh liền ra khỏi phòng bước vào lán bạt, định bụng tìm hiểu xem vụ mất trộm đồng hồ Rado rốt cuộc là thế nào. Mạnh Chiêu Anh quả đúng như anh dự đoán, đang phụ bếp trong lán bạt. Tiết Kỷ Huy vốn đã chuẩn bị sẵn tâm lý bị mẹ, em trai hay thậm chí cả cha cằn nhằn, nhưng với Mạnh Chiêu Anh thì anh hoàn toàn yên tâm, chẳng lẽ cô lại trách móc anh sao? Anh vạn lần không ngờ tới, người bộc phát toàn bộ nỗi hờn oán uất ức khi vừa nhìn thấy anh lại chính là Mạnh Chiêu Anh. Cô chẳng màng tới việc Lộ Hỉ Thuần đang có mặt ở đó, trước hết giậm chân oán trách:
"Anh còn biết đường mò về cơ đấy! Anh dứt khoát đừng về có phải thoải mái hơn không! Tiểu Liên Bồng có ốm chết anh cũng mặc kệ đúng không? Tôi có mệt chết đi thì anh mới hả dạ đúng không? Tôi là đứa ở đợ của cái nhà này! Đến con dâu nuôi từ bé cũng sướng hơn tôi! Tôi còn sống làm cái thá gì nữa? Chi bằng đâm đầu chết quách đi cho rảnh nợ!" Vừa nói, cô vừa kích động sụt sùi nức nở.
Tiết Kỷ Huy hoảng hồn. Anh chẳng biết phải an ủi cô ra sao. Anh chợt thấu hiểu sự hiền thục, tần tảo của cô và nỗi nhẫn nhịn đến cùng cực trước khi gặp được anh. Lương tâm anh từng cơn cắn rứt. Anh lo nghĩ chu toàn cho bao nhiêu người, vậy mà lại bỏ quên mất cô! Người vợ có tấm lòng lương thiện, yêu thương anh bằng cả sinh mệnh!
Anh cũng chẳng màng tới Lộ Hỉ Thuần hoàn toàn xa lạ đang đứng bên cạnh, bước tới ôm lấy đôi vai đang run rẩy của Mạnh Chiêu Anh từ phía sau, khản giọng nói:
"Là anh không tốt! Về nhà em cứ mắng anh tiếp... Anh biết em thật sự vất vả, làm khó cho em phải một mình quán xuyến tất bật suốt cả ngày nay..." Mạnh Chiêu Anh lấy khăn tay bịt mũi, tiếng nấc càng thêm dồn dập, anh chỉ đành xót xa vuốt ve bờ vai tròn trịa của cô, dịu giọng dỗ dành: "Thôi thôi thôi... Anh hiểu hết mà. Cuộc sống là thế, chẳng ai dễ dàng cả... Đều phải thông cảm cho nhau mới được... Sau này anh sẽ không bao giờ bỏ mặc một mình em nữa, gánh nặng bao nhiêu vợ chồng mình cùng gánh..."
Lộ Hỉ Thuần quay mặt đi chỗ khác, bóc vỏ những quả trứng cút đã luộc chín. Trứng cút là do thím Tuân mang sang, thím ấy bảo nên cho cô dâu ăn mấy quả trước để định thần lại.
Thấy Mạnh Chiêu Anh đã dần bình tĩnh lại, Tiết Kỷ Huy liền tranh thủ hỏi:
"Chuyện cái đồng hồ Rado là thế nào vậy? Anh gặp Tây Tân ở ngoài ngõ, cậu ấy bảo nhà mình ban nãy vừa làm ầm ĩ một trận..."
Mạnh Chiêu Anh bỗng nhiên lại kích động, hất vai một cái giũ phắt hai tay Tiết Kỷ Huy ra, vừa tủi thân vừa khinh bỉ nói:
"Quỷ mới biết là thế nào! Hóa ra từ trước đến nay cứ giấu giếm, lừa phỉnh tôi... Hừ, ai mà thèm cơ chứ! Tôi là cái thá gì? Chỉ cần biết nghe sai bảo là được rồi chứ gì! Người ta là lá ngọc cành vàng, trên cổ tay đã có cái đồng hồ thép không gỉ rồi còn chê chưa đủ oai, nên chuẩn bị sẵn cả cái đồng hồ lắc kê vàng nhỏ của Rado cơ đấy! Nếu không phải vì có tôi vướng mắt ở đây thì người ta đã sớm đem ra đeo vào tay rồi!... Bảo là cất trong ngăn kéo tủ năm ngăn, lúc bác thợ Lộ dọn món 'canh Tứ Hỷ' lên, nói là cái phong bao thưởng tiền canh cũng để trong ngăn kéo, kéo ra xem thì cả phong bao lẫn đồng hồ đều không cánh mà bay! Thế là làm ầm ĩ cả lên!... Bảo là Bảo Tang ngồi sát cạnh cái ngăn kéo ấy, chắc chắn là nó ăn cắp, đòi khám người nó. Thằng Bảo Tang đời nào chịu để người ta khám? Thế là quậy cho long trời lở đất!... Thằng Bảo Tang cũng chẳng phải thứ ra gì, mồm mép bậy bạ làm tổn thương cả bác thợ Lộ... Cô dâu mới giờ này vẫn đang ngồi khóc bên phòng mẹ anh kia kìa, nước mắt của tôi thì đáng mấy đồng tiền bát gạo? Anh mau sang đó đi, kẻo em dâu anh lại chịu ấm ức quá mức!..."
Tiết Kỷ Huy vốn định sang gặp cô dâu ngay để tìm cách dàn xếp. Nhưng nghe mấy câu sau của Mạnh Chiêu Anh thì chân lại chẳng thể bước đi ngay được, đành nắm lấy một bàn tay cô xoa bóp, dỗ dành:
"Đừng như thế, đừng mà... Chuyện gì cũng nghĩ thoáng ra một chút, rồi sẽ làm sáng tỏ hết thôi... Người một nhà với nhau, vẫn phải thông cảm cho nhau, phải đoàn kết..."
Ở gian phòng của vợ chồng bác thợ Tiết ngay sát vách phòng tân hôn, họ hàng thân thích đều đã lánh mặt đi, bát đĩa ngổn ngang bừa bãi trên bàn tiệc cũng chẳng buồn thu dọn; Phan Tú Á ngồi bên mép giường, trong lòng còn thấy ấm ức, bực bội hơn cả Mạnh Chiêu Anh, hai mắt đẫm lệ, khóe miệng trĩu xuống, theo từng nhịp cúi đầu vò vạt áo, những vụn giấy ngũ sắc vốn dính trên tóc liên tục rơi xuống đầu gối... Cô cả của Tiết Kỷ Dược và Chiêm Lệ Dĩnh ngồi hai bên tả hữu, ra sức khuyên nhủ cô. Cô cả thì vụng ăn vụng nói, Chiêm Lệ Dĩnh thì ăn to nói lớn, chẳng ai đi trúng vào trọng tâm.
Phan Tú Á chỉ cảm thấy mình bị lừa gạt. Đồng hồ Rado gì chứ? Có thật không đấy? Thật sự mua cho tôi sao không đưa tôi đeo sớm? Sao lại khéo thế, vừa lấy tiền thưởng canh là đồng hồ Rado cũng bay mất tăm? Đáng giận hơn nữa là bố của Tiết Kỷ Dược năm xưa lại là lạt ma trong chùa lạt ma! Lạt ma chẳng phải là hòa thượng sao? Hòa thượng chẳng phải không được lấy vợ à? Không phải cấm ăn mặn sao?... Thế này thì hay rồi, mình lại gả vào một nhà lạt ma! Đồn đến cơ quan thì người ta chẳng đem mình ra làm trò cười cho thiên hạ chắc! Chỉ riêng cái cớ này thôi cũng đủ để người ta tha hồ chà đạp, mỉa mai mình rồi! Chị dâu cũng thế, lúc làm mối sao chẳng chịu tìm hiểu cho rõ ràng? Tiết Kỷ Dược lại càng quá quắt, sao anh phải giấu giếm? Còn nữa, anh không ăn được cá, hễ thấy cá là nôn mửa, rốt cuộc là cái chứng bệnh quái quỷ gì thế?... Thảo nào mới gặp tôi chưa được mấy lần anh đã vội bảo là "đồng ý"!... Thất cô bỏ đi rồi, rõ ràng là bị người ta ép cho phải đi, mười sáu món ăn mới dọn đến món thứ mười hai đã bê canh lên, chắc chắn là thông đồng từ trước với tay đầu bếp kia rồi! Cái ngữ đầu bếp gì thế không biết! Con trai của gã ma cạo chuyên hầu hạ nhà chứa! Buồn nôn! Lại còn cái tên Bảo Tang gì đó nữa, bôi tro trát trấu vào mặt người ta! Biết đâu đúng là mua cho mình cái đồng hồ Rado thật, và biết đâu đúng là bị hắn ta nẫng mất rồi. Sao số mình lại xui xẻo đến thế cơ chứ! Nhà họ Tiết toàn là cái giống họ hàng thế này! Sau này còn ra cái thể thống gì nữa? Hơi một tí là kéo đến ăn chực một bữa no nê! Ai mà nuôi cho thấu? Lại còn tiện tay dắt dê nữa chứ! Cái lão đại gia Ân kia cũng chẳng ra làm sao, cứ âm dương quái khí, lại còn biết điểm huyệt! Bảo là anh em kết nghĩa năm xưa với bố Tiết Kỷ Dược, tôi thấy chắc mười mươi cũng là lạt ma! Mình đúng là gả vào cái miếu lạt ma rồi! Mẹ ơi! Thế này thì sống làm sao nổi đây trời...
Nghĩ tới đó, Phan Tú Á dứt khoát ôm mặt khóc rống lên.
Chiêm Lệ Dĩnh ôm lấy cô, khẽ lay lay, cất giọng dỗ dành:
"Kìa! Mấy cái chuyện cháu gặp phải này thì bõ bèn gì? Chút hiểu lầm cỏn con! Chút tổn thất bé tí! Đám thanh niên các cháu sướng mà không biết đường sướng! Bằng tuổi cháu hồi đó cô mới thảm này! Bị quy thành phần tử cánh hữu! Cái mùi vị đó ra sao chứ? Đi đày! Cải tạo lao động! Đấu tố! Kiểm điểm!... Chút trắc trở này của cháu thì thấm tháp vào đâu! Mau nín đi đừng khóc ròng nữa, nghe lời cô Chiêm, đi rửa mặt, chải lại đầu tóc, sửa sang lại quần áo, xịt chút nước hoa, rồi tươi vui hớn hở bước ra tiệc mừng!..."
Những lời của Chiêm Lệ Dĩnh tuy không giải tỏa được những mối nghi ngờ trong lòng Phan Tú Á, nhưng tấm lòng nhiệt thành của bà dẫu sao cũng đem lại hơi ấm cho người khác, Phan Tú Á nép vào lòng bà dần dần nín khóc...
Đúng lúc này, Tiểu Trúc bỗng chạy vụt vào:
"Bà Chiêm ơi, bà ở đây này! Ông cháu đóng dấu nhận hộ bà rồi, điện tín của bà này!" Nói đoạn đưa cho bà một phong bao mỏng dính.
Chiêm Lệ Dĩnh nhướng mày, nhận lấy chẳng kịp nói lời cảm ơn, vội vàng xé ra đọc nội dung bức điện, chỉ thấy vẻn vẹn có sáu chữ:
"Anh bệnh đến ngay Huệ Quyên"
Huệ Quyên là em gái ruột của chồng bà. Chiêm Lệ Dĩnh kinh hãi đến hồn xiêu phách lạc. Bà lập tức bỏ mặc cô dâu mới, cũng chẳng buồn giải thích với bà cô cả lấy một lời, siết chặt bức điện tín trong tay rồi cắm đầu chạy thục mạng về nhà mình. Bà ngồi phịch xuống giường, đọc đi đọc lại bức điện thêm hai lần nữa, ngây người ra mất nửa phút, rồi ngã vật xuống giường, giật phắt cái khăn trải gối, theo phản xạ vô thức nhét một góc khăn vào mồm cắn xé.
"Anh bệnh đến ngay"! Bệnh gì chứ? Chẳng lẽ... Bà chợt nhớ lại hồi đầu năm chồng về thăm nhà, bà nấu bánh trôi cho ông ăn, ông từng buột miệng bảo: "Lúc nuốt cứ thấy mình như con vịt Bắc Kinh bị nhồi cám..." Có phải thực quản của ông từ dạo ấy đã có vấn đề rồi không? Hơn nữa dạo gần đây ông gầy sút đi trông thấy!... Đáng sợ quá! Suốt ngày bà đã làm cái trò gì thế này cơ chứ! Toàn đi lo chuyện bao đồng của thiên hạ! Vậy mà lại lơ là, bất cẩn với chính người chồng của mình! Bà còn ngỡ người khác đều là những nhân vật bi kịch cơ đấy, Kế Chí Mãn đáng thương, Mộ Anh cô đơn, nhà họ Tiết mất trộm, cô dâu mới chịu ấm ức, Hàn Nhất Đàm do dự thiếu quyết đoán, Đạm Đài Trí Châu lực bất tòng tâm... Nhưng hóa ra bi kịch lớn nhất lại giáng xuống chính bản thân bà! Đúng vào cái thời khắc chính trị được giải phóng triệt để, sự nghiệp mở ra tiền đồ phát triển, gia đình sắp sửa đoàn tụ sum vầy thế này, thì bóng ma bệnh tật lại ập đến đầy u ám! Đòn tấn công này nhất định phải vô cùng gấp gáp và hung hiểm, bằng không Huệ Quyên đã chẳng ký tên gửi điện tín sang... A! Liệu có phải đã... Người ta trong hoàn cảnh ấy, lúc nào chẳng chỉ dám báo là "bệnh" chứ đâu dám nói thẳng chữ...
Chiêm Lệ Dĩnh bật dậy như lò xo, nắm chặt bức điện tín trong lòng bàn tay, tâm trí rối như tơ vò. Giờ bà phải làm sao đây? Phải rồi, bà phải hành động ngay lập tức, không thể chậm trễ thêm một giây một phút nào nữa!
Đúng rồi, bà phải đi gọi điện thoại ngay, gọi đường dài vào Tứ Xuyên tìm Huệ Quyên, tìm lãnh đạo cơ quan của chồng... Bà còn phải gọi điện xin nghỉ phép với lãnh đạo đơn vị mình nữa. Bà không thể chờ đến ngày mai, ngay hôm nay bà phải bắt chuyến tàu đêm đi luôn; hoặc là bà phải lập tức xoay xở kiếm cho bằng được một tấm vé máy bay ngày mai hoặc ngày kia...
Bà hớt hải lao ra khỏi phòng, vừa chạy về phía cổng thùy hoa được mấy bước lại đột ngột quay ngoắt lại, lao thẳng sang nhà Trương Kỳ Lâm. Chạy đến trước cửa, bà dùng đốt ngón tay gõ dồn dập lên ô kính trên cửa, miệng không ngừng gọi lớn:
"Bác sĩ Vu ơi! Cho tôi dùng nhờ điện thoại nhà bác một lát!" Chợt bà nhìn thấy ổ khóa trên cửa, thì ra Trương Tú Tảo, người duy nhất ở nhà, vừa mới đi ra ngoài. Trong cơn cuống cuồng bực bội, bà không kìm được giật mạnh cái ổ khóa một cái. Rồi bà lại quay người rảo bước đi ra ngoài viện. Vừa ra khỏi cổng thùy hoa, một người đàn ông gầy nhỏ đi ngược chiều đon đả nói với bà:
"Cô Chiêm, cô xem có chuyện này không cơ chứ, lấy nước xong không thèm xả nước đọng, vòi nước đóng băng cứng ngắc rồi, chúng cháu biết làm thế nào bây giờ?"
Bà khác hẳn ngày thường, chẳng buồn nghe lấy một câu, lách người qua mặt đối phương rồi cắm đầu lao thẳng ra cổng viện. Vừa ra khỏi cổng viện, một luồng gió lạnh thốc thẳng vào mặt, bà mới sực nhớ ra mình quên quàng khăn và cũng chưa khóa cửa phòng, nhưng bà chẳng buồn quay lại, cứ thế dứt khoát lao về phía trạm điện thoại công cộng...
Sau khi Chiêm Lệ Dĩnh rời khỏi phòng cô dâu, Tiết Kỷ Huy mới bước vào trong gặp mặt em dâu mới. Anh chân thành nói:
"Để em phải chịu ấm ức rồi! Nhà anh đúng là có nhiều chỗ chưa chu đáo, nhất là anh, không nên đến muộn như thế này... Nhưng mà này cô Phan, ở lâu rồi em sẽ hiểu, cả nhà anh đều là người ăn ngay nói thật, ruột để ngoài da, không đối xử tệ bạc với em đâu... Chúng ta đoàn kết lại, đàng hoàng chất phác mà vun vén cuộc sống, chẳng phải tốt lắm sao? Mất đồng hồ thì chúng ta mua lại cái khác; ai đắc tội với ai thì chúng ta xin lỗi bồi tội... Gặp chuyện sao cứ phải nghĩ quẩn làm gì? Đường đời còn thênh thang lắm! Cô Phan à, trên đời này chẳng có người nào việc nào thập toàn thập mỹ cả, chẳng có hạnh phúc nào dọn sẵn cho mình hưởng đâu, tất cả đều nhờ vào việc nghĩ thoáng ra, nhờ vào sự thông cảm lẫn nhau, nhờ vào nỗ lực giành lấy, nhờ vào phấn đấu vươn lên... Than ôi, anh cũng chẳng biết ăn nói, tóm lại là em hiểu cho tấm lòng của anh là được!..."
Phan Tú Á dẫu sao cũng là người có bản tính chất phác, đối với cuộc sống, đối với con người và sự việc vốn chẳng có yêu cầu quá mức khắt khe. Nghe người anh chồng nói những lời khẩn thiết, thật lòng như thế, cô đã ngừng sụt sùi.
Mạnh Chiêu Anh bưng một đĩa trứng cút bước vào, đưa cả đũa vào tận tay Phan Tú Á, bảo cô:
"Ăn đi em. Thím Tuân ở viện ngoài mang sang cho nhà mình đấy. Bác ấy luộc riêng cho em ăn lấy lại sức đấy. Nếu thấy nhạt thì để chị đi lấy muối cho!"
Tiết Kỷ Huy và Phan Tú Á đều ngước mắt nhìn Mạnh Chiêu Anh, trong lòng cả hai người đều dâng lên nỗi xúc động. Tiết Kỷ Huy càng cảm thấy Mạnh Chiêu Anh có một tấm lòng nhân hậu, bao dung. Cô chẳng qua chỉ trút bớt những uất nghẹn dồn nén trong lòng lên người chồng thân thiết nhất của mình mà thôi, còn trước mặt người khác, cô vẫn dốc lòng dốc sức làm tròn bổn phận. Chẳng lẽ sau này anh không nên yêu thương, bù đắp cho cô gấp bội phần hay sao?...
Cuộc sống trong khoảng sân nhỏ đúng là sóng gió này chưa qua sóng gió khác đã tới. Đôi vợ chồng trẻ sống ở gian nhà phía đông ngăn cách với nhà Chiêm Lệ Dĩnh bởi một bức tường đã đi làm về. Cả hai đều là công nhân của xưởng thủ công thuộc tiểu khu, vóc người đều gầy nhỏ mảnh khảnh. Trong khu tứ hợp viện này, thu nhập của họ là thấp nhất nhưng gánh nặng lại trĩu trịt nhất. Mỗi tháng họ phải chu cấp cho bố mẹ hai bên mỗi bên năm đồng, ngoài ra đứa con trai mới hơn ba tuổi ngày thường gửi bên nhà bà ngoại chăm sóc, nên mỗi tháng phải đưa thêm cho bà ba mươi đồng. Họ cũng giống như bao người dân Bắc Kinh cùng cảnh ngộ, sống một cuộc đời căn cơ, tính toán chi li từng cắc từng đồng. Trong phòng họ chỉ lắp duy nhất một bóng đèn huỳnh quang loại nhỏ sáu oát, vả lại cố gắng hết mức hễ không cần bật là không bật. Họ tuyệt đối không ăn quà vặt, chưa từng thấy nhà họ có khách khứa ghé chơi bao giờ, chứ đừng nói đến chuyện mời ai sang nhà ăn dẫu chỉ là một bát mì tương đen.
Mỗi tháng công tơ điện nhà họ cùng lắm chỉ nhảy một số, mỗi bận Hải Tây Tân tới thu tiền điện nước, hễ nghe nói vì công tơ tổng có số điện dôi ra nên các nhà phải bổ đầu người chia nhau bù vào, là họ lại rủa xả không ngớt cái lũ "chuột cắp điện"; bởi vì ngoài nhà Trương Kỳ Lâm ra, các nhà còn lại đều dùng chung một vòi nước, một đồng hồ nước hiển thị tổng lượng tiêu thụ, nên trong việc dùng nước họ lại không tiết kiệm đến thế; nhưng nếu nhà khác giặt giũ tốn nhiều nước, hoặc mùa đông lấy nước xong không kịp thời xả nước đọng trong ống khiến đường ống bị đóng băng, bắt buộc phải dùng nước sôi đốt nóng ống làm lãng phí một phần nước máy, từ đó đẩy mức tiền nước chia đều cho các nhà tăng lên, thì họ cũng sẽ bực bội, phản đối và xót xa rất lâu...
Hôm nay họ tan ca sáng, cầm vé xem phim do công đoàn phát đến rạp chiếu bóng Viên Ân Tự xem xong hai bộ phim ngắn "Thật Không Ngờ" và "Tiếng Gọi Của Con Tim", về đến nhà liền chia nhau quán xuyến việc nhà. Người chồng tên là Lương Phúc Dân, anh xách thùng nước ra vòi lấy nước; người vợ tên là Hác Ngọc Lan, cô ngồi trong gian bếp nhỏ kiên nhẫn bới từng cây bắp cải tích trữ mua từ trước mùa đông ra xếp lại cho ngay ngắn. Trong bếp nhà họ có một cái vại nước chứa được bốn thùng, vì sợ lỡ đóng băng làm nứt vại nên mỗi ngày họ chỉ múc vào đó hai thùng; họ tích trữ một trăm cân rau loại một, hai trăm cân rau loại hai, để đảm bảo đủ ăn suốt một mùa đông, cứ hễ gặp ngày nắng ráo ấm áp là họ lại kiên nhẫn mang từng cây bắp cải ra sân phơi nắng, và cứ cách hai ba ngày, Hác Ngọc Lan lại đảo xếp lại một lần, không những tuyệt đối không để bắp cải bị thối nát từ bên trong, mà ngay cả lớp bẹ ngoài cũng cố gắng giữ cho không bị hỏng... Thói quen cần kiệm trong cuộc sống của họ chủ yếu tập trung vào chuyện ăn uống, cũng giống như biết bao người dân Bắc Kinh khác, họ mang cái tinh thần gọi là "bòn mót chắt bóp từ kẽ răng"; họ ăn mặc không hề tồi tàn, đồ đạc bàn ghế và chăn đệm trong phòng cũng chẳng thua kém nhà nào, lại còn sắm sửa được cả một chiếc ti vi đen trắng mười hai inch, dẫu rằng bình thường họ chẳng mấy khi bật lên xem, chỉ khi nào có chương trình thật hay hoặc đón con trai về mới mở lên một lát; những tối ngày thường họ thà đạp xe đến câu lạc bộ của nhà máy xem nhờ ti vi màu. Còn đối với cậu con trai, họ tiêu tiền lại vô cùng hào phóng, để con ăn diện bảnh bao xinh đẹp thì khỏi phải nói, thi thoảng còn mua cả cam sành đắt đỏ và chuối tiêu Panama về cho con hãnh diện đứng giữa sân nhâm nhi thưởng thức... Cách đây hai tháng họ từng làm một việc chấn động: đưa con lên Hương Sơn ngắm lá đỏ một chuyến, theo như Hác Ngọc Lan kể với Chiêm Lệ Dĩnh thì nguyên tiền ăn kem giải khát họ đã tiêu mất tám hào! Lúc về cả nhà ba người mặt mũi hồng hào rạng rỡ, cảm thấy thỏa mãn vô cùng với cuộc sống.
Thế nhưng hôm nay họ lại rơi vào cảnh bực mình. Lương Phúc Dân ra xách nước ở vòi, cái vòi nước thế mà lại bị đóng băng cứng ngắc! Rõ ràng là do hôm nay nhà họ Tiết dùng lượng nước quá lớn, từ sáng sớm đã mở van dưới hố nước ngầm ra, vì tiện tay muốn lấy lúc nào dùng lúc nấy, lại ỷ vào buổi trưa trời ấm áp nên cứ để thế không thèm khóa van xả nước đọng, nào ngờ vừa qua bốn giờ chiều, nhiệt độ đã tụt nhanh từng phút từng giây về mức không độ, đến khi Lương Phúc Dân ra lấy nước thì chuyện đã rồi!
Lương Phúc Dân chạy vụt về bếp, bảo với Hác Ngọc Lan:
"Ống nước đóng băng rồi. Tôi chẳng có hơi sức đâu mà đun nước sôi đi rã đông cho nó. Thôi dùng tạm chỗ nước thừa dưới đáy vại đi!"
Hác Ngọc Lan giận dữ nói:
"Vại chỉ còn trơ mỗi cái đáy, đun nước sôi xong thì lấy đâu ra nước mà thổi cơm, tạm bợ thế nào được? Toàn là do nhà họ Tiết ích kỷ, chỉ biết mỗi cái tiện của mình! Hôm nay họ chẳng biết đã xài hết bao nhiêu tấn nước rồi, tháng sau chúng ta lại phải nai lưng gánh tiền nước cho họ! Chẳng việc gì phải nể nang, sang nhà họ mà bảo! Bắt họ phải đi đun nước sôi mà rã đông cái ống nước ra!"
Lương Phúc Dân ngại va chạm, ngượng mặt không dám đi, chỉ biết ấm ức đứng chôn chân một chỗ. Anh thở dài bảo:
"Hôm nay chẳng biết làm sao nữa, ống nước đóng băng, tôi nói với cô Chiêm, một người nhiệt tình như cô ấy đùng một cái còn lạnh lùng hơn cả cái ống nước, chẳng thèm ngó ngàng gì tới tôi, quay ngoắt người bỏ đi luôn..."
Hác Ngọc Lan bèn ngừng xếp bắp cải, đứng phắt dậy, tức tối nói:
"Hóa ra lúc nãy nhà nào nhà nấy đều có người ở nhà, đều xách đủ nước dùng rồi nên mới không sốt ruột... Cái đồ nhát gan đần đụt nhà anh, anh không dám đi đòi thì để tôi đi!" Dứt lời liền phủi tạp dề, vung tay bước phăm phăm ra khỏi gian bếp nhỏ. Vừa bước chân ra ngoài thì vừa khéo Tiết đại nương từ phòng tân hôn đi ra, Hác Ngọc Lan hầm hầm chĩa mũi dùi vào Tiết đại nương gắt gỏng:
"Này bác! Nhà bác phải chịu trách nhiệm đấy nhé! Các bác chỉ biết mỗi việc nhà mình tiện dùng, mở vòi nước ra mà không thèm xả nước đọng, giờ nó đóng băng cứng như đá rồi kia kìa, bảo chúng tôi lấy nước ở đâu bây giờ?"
Những chuyện bực mình vướng víu mà Tiết đại nương gặp phải trong ngày hôm nay vốn đã chất đầy một thúng, khách khứa của tốp thứ ba tiếp đón trong phòng tân hôn rượu thịt đều đã vơi đi một nửa, vậy mà cô dâu mới vẫn chưa thấy tăm hơi đâu, khách khứa không khỏi xì xào bàn tán, ai nấy đều nhao nhao đòi cô dâu phải "hạ phàm" ra mắt một phen. Tiết đại nương ngoài mặt gượng cười đon đả, trong lòng thì kêu khổ thấu trời, vừa bước ra khỏi phòng tân hôn định bụng sang gian bên kia cầu may xem sao, xem cô dâu đã nguôi ngoai đổi ý để quay lại phòng tân hôn gánh vác đỡ đần cục diện hay chưa, nào ngờ chân vừa bước qua bậu cửa thì Hác Ngọc Lan đã xộc thẳng tới chặn đường!
Tiết đại nương sửng sốt. Đập vào mắt bà là Hác Ngọc Lan gầy gò khô quắt, mắt nhỏ mũi nhỏ, vốn dĩ chẳng lấy gì làm đẹp đẽ, lại thêm vẻ mặt giận dữ, hai tay chống nạnh, lời lẽ xấc xược, tức thì khiến trong bụng bà dâng lên một luồng xú khí. Hôm nay Tiết đại nương vốn đã thề dù có quỷ dạ xoa phương nào đến quấy rối thì cũng đều phải lựa lời ngon ngọt mà đối đãi, nhưng trước đòn tấn công bất ngờ này của Hác Ngọc Lan, bà nhất thời lại mất kiểm soát. Nhất là khi nghĩ đến chuyện những nhà khác trong viện đối với hỷ sự của Dược Tử đều tặng quà cáp ra hồn: vợ chồng Cục trưởng Trương và bác sĩ Vu tặng một phích nước nóng có vòi bấm tự động, bà cụ Hải và Hải Tây Tân tặng một ấm tráng men "ấm còi" có còi ở vòi, Chiêm Lệ Dĩnh và Mộ Anh cùng tặng một bộ mỹ phẩm sản xuất từ Hồng Kông, nhà Đạm Đài Trí Châu tặng một tượng Quan Âm bằng sứ trắng, biên tập viên Hàn và cô giáo Cát tặng một hộp bánh quy Kim Kê Thượng Hải, nhà thợ cả Tuân tặng không chỉ một món, đáng giá nhất là chiếc đèn bàn có chân đế bằng mica... Chỉ riêng Lương Phúc Dân và Hác Ngọc Lan là chỉ cầm một cuốn lịch treo tường điện ảnh năm 1983 đến để lấy lệ — Tiết đại nương biết thừa, cuốn lịch treo tường đó là do nhà máy phát cho bọn họ...
Một cục tức nghẹn ứ ở cổ họng Tiết đại nương, không thể không xả ra. Bà dùng giọng điệu răn dạy vãn bối nói với Hác Ngọc Lan: "Có ai ăn nói như cô không hả? Không thấy nhà chúng tôi đang lo việc hỷ sao? Có chuyện gì không thể đàng hoàng thương lượng được à? Cớ gì cứ phải giương mày trừng mắt lên như thế?"
Hác Ngọc Lan lại cảm thấy là Tiết đại nương bạc đãi nhà mình. Cô ta đâu biết rằng, sau khi cô ta cùng Lương Phúc Dân đạp xe đi làm lúc năm giờ rưỡi sáng, Tiết đại nương cũng từng bưng kẹo cưới sang tìm họ, thấy khóa cửa đành phải quay về, còn dặn dò Mạnh Chiêu Anh: "Vợ chồng tiểu Lương tiểu Hác có con trai nhỏ, phải cho chúng nó nhiều kẹo cưới một chút, chiều chúng nó về, nếu mẹ quên thì con nhớ bù vào nhé!"... Lúc này Hác Ngọc Lan đối diện với Tiết đại nương đang nổi giận, thầm nghĩ nhà bà làm đám cưới thì có gì ghê gớm chứ! Lão keo kiệt! Lấy của chúng tôi cuốn lịch mới toanh, mà ngay cả một mẩu giấy bọc kẹo cũng không cho chúng tôi thấy mặt! Ai mà thèm của bà chứ! Bọn này "nghèo nhưng không hèn", kẹo cưới thèm vào lấy của bà, còn cái ống nước đóng băng kia thì phải ngoan ngoãn đun nước mà làm tan ra cho chúng tôi!
Hai người hàng xóm cứ thế dựa trên tâm lý ấy, người một câu tôi một câu cãi cọ ầm ĩ.
Bà cụ Hải nghe tiếng vội chạy lại can ngăn. Bà đứng giữa Tiết đại nương và Hác Ngọc Lan, cậy già lên mặt nói: "Cả hai đứa bớt lời đi giùm tôi với! Cứ đôi co thêm nữa thì chẳng khác gì mấy trò mãi võ của 'Niên Nhi', nói tướng thanh của 'Thương Nhi' ở hội đền Hộ Quốc Tự năm xưa đâu! Ngay cả 'Trương lừa đen' của tiệm 'Thiên Nguyên Đường' năm xưa bán thuốc nhỏ mắt cũng chẳng rao to như hai người! Thôi thôi, thím Tiết có việc gì thì mau đi làm việc nấy đi! Tiểu Ngọc Lan, cái mồm cô cũng ghê gớm chẳng chịu nhường ai, chuyện to tát gì đâu mà đáng để mặt mũi đỏ gay đỏ gắt lên thế kia! Chẳng phải chỉ là muốn lấy nước thôi sao? Đi, tôi dắt cô sang nhà bác sĩ Vu, lấy tạm bên đó hai thùng... Ơ, khóa cửa rồi à, thế thì cũng chẳng cần phải lo, bảo thằng Phúc Dân sang chỗ tôi san bớt một thùng về mà dùng, thế là xong chứ gì!..."
Tiết Kỷ Huy và Mạnh Chiêu Anh nghe tiếng bước ra khỏi phòng, Tiết đại nương vừa quay người lại chạm mặt ngay Mạnh Chiêu Anh, bao nhiêu cơn thịnh nộ cùng uất ức lại trút hết lên đầu con dâu: "À, tôi ở giữa sân bị người ta giẫm đạp, còn chị thì trốn một xó hưởng thanh nhàn đấy à! Chị vặn cái vòi nước ra một cái là phủi tay bỏ đi, đến mí mắt cũng chẳng thèm liếc sang bên đó lấy một cái, giờ thì ống nước đông cứng lại rồi, chị vừa lòng hả dạ rồi chứ? Bao giờ gà trống đẻ trứng, đá nở hoa, họa may chị mới mọc ra được chút lương tâm!"
Tiết đại nương lúc nóng giận đã buông ra những lời nặng nề như thế, tim Tiết Kỷ Huy nhảy thót lên tận cổ họng, anh nghĩ phen này Mạnh Chiêu Anh chẳng phải sẽ cầm muôi chọi chảo mà ăn thua đủ với mẹ chồng hay sao. Ngay cả bà cụ Hải và Hác Ngọc Lan cũng sững sờ. Mấy người đều không kìm được mà dồn hết ánh mắt về phía Mạnh Chiêu Anh...
Mạnh Chiêu Anh ban đầu cũng bốc hỏa lên tận đỉnh đầu, nhưng khi nhìn thấy những nếp nhăn rung rung trên gương mặt mẹ chồng, nhìn thấy mấy sợi tóc bạc bên tai bà đang run rẩy trong gió lạnh, trong lòng cô bỗng lóe lên một ý nghĩ như tia chớp: Hai ba mươi năm nữa, chẳng phải mình cũng sẽ như thế này sao? Ai mà chẳng có nỗi vất vả riêng! Tội nghiệp mẹ chồng từ sáng sớm tinh mơ đã chạy ra chạy vào lo toan, thế mà toàn gặp phải những chuyện bực mình nghẹn họng!... Nghĩ đến đây, ngoài dự liệu của tất cả mọi người, cô không những không ăn miếng trả miếng, mà trái lại còn bước lên một bước, đỡ lấy Tiết đại nương rồi nói: "Mẹ, mẹ đừng giận nữa, là con không tốt, con đi đun nước làm thông ống nước ngay đây... Mẹ giữ gìn sức khỏe, mẹ ngàn vạn lần đừng giận quá mà sinh bệnh..."
Tiết đại nương bừng tỉnh khỏi cơn kinh ngạc, bà nhìn con dâu, chỉ thấy hai hốc mắt con dâu trũng sâu, thâm quầng xám xịt! Bàn tay của hai mẹ con chạm vào nhau, như hai cực âm dương bất chợt siết chặt lấy, sống mũi cả hai đều cay cay, tròng mắt già nua của Tiết đại nương trào ra ngấn lệ... Còn gì để nói nữa đâu! Trên cõi đời này, còn ai đáng để họ đặt mình vào vị trí của nhau hơn thế? Còn ai đáng để họ nương tựa vào nhau hơn thế?
Hác Ngọc Lan trước cảnh tượng của hai mẹ con nhà họ Tiết bỗng cảm thấy vô cùng khó xử và ngượng ngùng. Cô ta quay người đi về bếp nhà mình, chỉ thấy Lương Phúc Dân đang bưng một gói giấy ngẩn ngơ ở đó. Lương Phúc Dân thấy cô ta về liền nói: "Về đúng lúc lắm! Em cũng trách lầm người ta quá rồi đấy! Kìa, Tiểu Liên Bồng mang sang, con bé bảo là mẹ nó dặn, hễ thấy vợ chồng mình về là phải đem sang ngay... Lại còn bảo bà nội nó dặn, nhà mình có con trai nhỏ nên phải cho nhiều hơn một chút!" Hác Ngọc Lan nhận lấy gói giấy, mở ra trên thớt nhìn thì thấy là một bọc kẹo cưới, nhiều thật đấy, toàn là loại bọc giấy vàng giấy bạc, chỉ riêng "sô-cô-la nhân rượu" thôi đã có tới sáu bảy viên! Trong lòng cô ta từng đợt hối hận cứ thế dâng lên...
Tiết Kỷ Huy lập tức đi lấy củi chẻ để đốt cho thông ống nước bị đông, Lộ Hỉ Thuần nói với anh: "Anh cả, để tôi đi cho. Tôi có thể làm cho nó thông nhanh hơn." Tiết Kỷ Huy lúc này mới để ý đến anh ta. Anh cảm thấy ngạc nhiên, bởi vì người đến giúp việc bếp núc làm "thợ nấu thịt" thông thường sẽ không nhiệt tình đến mức này. Anh thấy Lộ Hỉ Thuần có một gương mặt hiền lành và chất phác, chẳng biết đôi mắt kia là bị khói bếp hun vào, hay là bị bụi than rơi trúng rồi ra sức dụi mà lại đỏ hoe và sưng lên một cách khác thường... Anh cảm động nói với Lộ Hỉ Thuần: "Hai chúng ta cùng đi, chú có cách gì hay thì chỉ cho tôi một chút, sau này có bị đông đá nữa thì tôi cũng biết đường mà làm theo."
Lộ Hỉ Thuần trèo xuống giếng nước thao tác, Tiết Kỷ Huy ngồi xổm bên miệng giếng phụ giúp anh ta, hai người phối hợp vô cùng suôn sẻ...
Đúng lúc Lương Phúc Dân và Hác Ngọc Lan trong gian bếp nhỏ càng lúc càng cảm thấy ngượng ngùng, Hải Tây Tân xách tới cho họ một thùng nước, nói với họ: "Bà nội em bảo em mang sang cho anh chị, dùng đi nhé!"