Tôi cứ thế nghe Quáng và đại nương trò chuyện suốt nửa đêm, cơn buồn ngủ trong tôi đã sớm mịt mờ, thế nhưng bà ấy hình như lại càng lúc càng hưng phấn hơn.
Loki lái một chiếc xe tải thùng đầy hỏng hóc đưa chúng tôi trở về Trường Minh, thi thể co quắp của đại nương được đặt trên chiếc băng ghế ở phía sau xe. Mỗi khi đến ngã tư, chiếc xe tải lại phát ra tiếng kêu như ho khi dừng lại, rồi chết máy. Lúc này Loki sẽ nhảy xuống xe, mở nắp capô lên, mò mẫm lục lọi một hồi ở bên trong, miệng không ngừng chửi rủa: "Mẹ kiếp nhà ngươi, cái đồ lười nhác này." Điều kỳ diệu là những lời nguyền rủa này của hắn lần nào cũng có hiệu quả, đặc biệt là khi chúng tôi tỏ ra sốt ruột hoặc những chiếc xe phía sau bấm còi giục giã. Trong xe lạnh ngắt như tủ lạnh, không biết có phải vì cân nhắc đến việc bảo quản thi thể đại nương hay không, mà Loki nhất quyết không chịu bật điều hòa sưởi ấm. Nhìn ra ngoài cửa sổ, sương mù đang từ từ bốc lên từ bờ sông đằng xa, những ngọn núi đã mờ mịt không còn phân biệt được trong làn sương khói. Trông có vẻ đây không phải là một điềm lành cho cả ngày hôm nay.
Quáng ngồi ở phía sau xe, lớn tiếng trò chuyện với đại nương, trông giống như hai cô gái đang trò chuyện trên đường đi học, tôi ngồi ở một chiếc băng ghế khác, còn Tây Mông thì ngồi ở ghế phía sau Loki, với vẻ mặt vô cùng tập trung, tôi nghĩ chắc là anh ấy sợ Loki lại có hành động nguy hiểm nào đó. Sáng nay, khi chúng tôi đang xếp hành lý lên xe ở khách sạn Sheraton, tôi từng nói với Tây Mông rằng: "Tạ ơn Chúa, đây sẽ là lần cuối cùng chúng ta đi xe của Loki." Quáng liếc tôi đầy khó chịu rồi nói: "Này! Đừng nhắc đến chữ 'cuối cùng', từ này không may mắn đâu." May mắn hay không thì tạm thời không bàn tới, ít nhất chúng tôi không phải ngày đêm đi lại trên con đường đến Trường Minh nữa. Chúng tôi sẽ sống ở trong thôn hai tuần, theo ý tốt của đại nương, chúng tôi không phải trả tiền thuê nhà. Theo lời của Quáng, "Là bà ấy mời chúng ta đến ở. Chuyện này đã được định sẵn trước khi bà ấy qua đời."
Kèm theo tiếng va chạm kim loại lách cách của chiếc xe, Quáng không ngừng lải nhải với đại nương: "Cái áo thun này chị xem này, có giống làm bằng len nguyên chất không? Nhưng nó là acrylic đấy, có thể giặt máy được." Cô ấy dùng phương ngôn của mình để dịch những từ tiếng Anh như "acrylic", "giặt máy", rồi lại giải thích chuyện máy giặt và máy sấy trong hệ thống tư pháp ở Mỹ. "Ở California, chị không được phơi quần áo ở ban công và ngoài cửa sổ, nếu không hàng xóm của chị sẽ gọi cảnh sát đến để làm chị bẽ mặt. Nước Mỹ không tự do như chị tưởng tượng đâu, rất nhiều việc bị cấm đoán, chị thậm chí còn không thể tin được. Đương nhiên, em thấy có vài quy tắc đặt ra rất tốt, chị không được hút thuốc trừ khi ở trong tù, chị không được vứt bừa bãi vỏ cam, chị không cho phép trẻ con tiểu tiện bên lề đường, nhưng có một số quy rắc thì quá nực cười, trong rạp chiếu phim không cho phép trò chuyện, không cho phép ăn quá nhiều thực phẩm chứa nhiều chất béo..."
Loki lái xe lên một con đường nhỏ gập ghềnh, điều này khiến tôi vừa lo lắng không thôi cho trạng thái tinh thần của Quáng, vừa phải đề phòng thi thể đại nương đừng lăn xuống sàn xe.
"Hơn nữa chị còn không cho phép con cái mình làm việc." Quáng vẫn đang tự lẩm bẩm một mình. "Những điều em nói đều là sự thật cả đấy, chị còn nhớ hồi bé bắt em đi nhặt củi không? Em đều nhớ rõ hết, trời lạnh cắt da cắt thịt mà em cứ phải tìm kiếm khắp nơi, đông tây nam bắc, trên dưới trái phải, mười đầu ngón tay đều cóng đơ cả lại, thế nhưng chị chỉ chăm chăm bán đống củi đó đi, tiền đều thuộc về một mình chị, không, em không hề nguyền rủa chị đâu, bây giờ cũng không. Thời đại đó ai cũng phải liều mạng làm việc, nhưng ở Mỹ, nếu chị đối xử với em như vậy, họ sẽ tống cổ chị vào tù. Còn nữa, chị đã tát em bao nhiêu cái bạt tai như vậy, lại còn dùng móng tay nhọn cấu véo mặt em, chị không nhớ nữa sao? Nhìn hai vết sẹo này xem, vẫn còn lưu lại ở đây giống như sứt môi vậy. Bây giờ em nhớ ra rồi, em phải nói cho chị biết thêm một lần nữa, em không dùng bánh gạo để cho heo ăn, bây giờ em không có lý do gì để nói dối nữa, giống như những gì em đã nói ban đầu, là em họ Tam của Ngô đã trộm mất, tận mắt em nhìn thấy cô ta làm, chị có thể đi hỏi chính cô ta ấy. Bây giờ cô ta chắc cũng chết rồi, đi mà hỏi cô ta tại sao lại nói dối và còn hãm hại em."
Mười phút tiếp theo, Quáng vô cùng bình tĩnh đến lạ thường, tôi nghĩ có lẽ cô ấy đang dùng cách thức của Trung Quốc để lặng lẽ giao tiếp với đại nương. Đột nhiên, Quáng lớn tiếng gọi tôi bằng tiếng Anh: "Libby-ah, đại nương hỏi tôi, cô có thể chụp ảnh cho bà ấy không, bà ấy nói sống đến chừng này tuổi mà vẫn chưa có nổi một bức ảnh ra hồn." Chưa đợi tôi trả lời, Quáng lại nói một tràng dài bằng tiếng Trung: "Chiều nay, bà ấy cho là thời điểm chụp ảnh tuyệt vời nhất, đợi bà ấy mặc bộ quần áo đẹp nhất, đi đôi giày đẹp nhất." Quáng nhìn đại nương cười lớn, rồi nói với tôi: "Đại nương nói, bà ấy cảm thấy tự hào vì trong nhà có một nhiếp ảnh gia nổi tiếng như vậy."
"Tôi chẳng nổi tiếng chút nào cả."
"Đừng cãi lại đại nương, đối với bà ấy, cô là người nổi tiếng, chuyện là thế đấy."
Tây Mông đứng dậy ngồi sang cạnh tôi, thì thầm: "Em sẽ không chụp ảnh cho người chết đấy chứ, ừm?"
"Anh bảo em phải nói gì đây? 'Xin lỗi nhé? Tôi không chụp ảnh cho người chết, nhưng tôi có thể giới thiệu cho anh một người' à?"
"Bà ấy không thích hợp để chụp ảnh cho lắm."
"Đừng trẻ con thế chứ."
"Em biết chụp ảnh là mong muốn của Quáng, chứ không phải của đại nương."
"Tại sao anh cứ phải nói những lời vô nghĩa này thế nhỉ?"
"Em phải nghĩ xem, chúng ta đang ở Trung Quốc, bao nhiêu chuyện khó tin cứ tiếp diễn xảy ra, mà chúng ta mới đến đây có ngày thứ hai thôi."
Đến Trường Minh xong, bốn người phụ nữ trung niên giúp chúng tôi khuân hành lý, chúng tôi bày tỏ để tự mình làm, nhưng bị họ mỉm cười từ chối, họ tuyên bố bất kỳ ai trong số họ cũng có sức lực hơn cả ba chúng tôi gộp lại. Chúng tôi tay không bước vào con đường nhỏ ngoằn ngoèo rải đá, xuyên qua hành lang chật hẹp rẽ trái rẽ phải để đến căn nhà của đại nương. Trong cả thôn, căn nhà này vô cùng đặc biệt, là một căn nhà trệt nhỏ được xây bằng gạch đất. Quáng đẩy cửa gỗ ra, Tây Mông và tôi bước qua ngưỡng cửa đi vào giữa sân, một phụ nữ lớn tuổi gầy gò đang dùng máy bơm tay để bơm nước vào một cái xô. Nhìn thấy chúng tôi, bà ấy ngẩn người kinh ngạc trước, sau đó mặt mày rạng rỡ chào hỏi Quáng. Bà ấy vừa mở miệng là từ miệng phả ra một luồng hơi sương. Một con mắt của bà ấy nheo lại thành một đường chỉ, trong khi con mắt kia lại lồi hẳn ra ngoài, trông rất giống mắt ếch đang rình mồi. Quáng và người phụ nữ này ôm nhau một cái, vỗ vỗ vào eo nhau, tiếp theo là một tràng phương ngôn Trường Minh dài dằng dặc. Người phụ nữ này khua tay múa chân về phía đoạn tường đổ nát, giống như đang trút giận một cách khó tả. Bà ấy cầu xin Quáng tha thứ cho hiện trạng ngôi nhà đổ nát và việc bà ấy không thể chuẩn bị một bữa tối cùng lễ đón chào bằng dàn nhạc giao hưởng cho sự đến nơi của chúng tôi.
"Đây là Đỗ Lệ Lệ, là bạn thâm giao của nhà tôi." Quáng nói bằng tiếng Anh với tôi và Tây Mông, hôm qua cô ấy lên núi hái nấm, lúc trở về mới biết tôi đã đến rồi lại đi.
Trên mặt Đỗ Lệ Lệ lộ ra vẻ mặt vô cùng đau khổ, hình như đã hiểu lời Quáng nói, chúng tôi gật đầu với bà ấy.
Quáng nói tiếp: "Lâu lắm rồi, chúng tôi sống chung một ngôi nhà, các anh chị có thể nói tiếng phổ thông, bà ấy nghe hiểu được." Quáng lại quay sang giới thiệu với bạn mình thay cho chúng tôi. "Em gái nhỏ của tôi, Libby-ah, con bé biết nói tiếng phổ thông kỳ cục lắm, mang hương vị Mỹ, tư duy và câu chữ của con bé hơi lỗi thời một chút, các chị sẽ phát hiện ra thôi. Vị này là chồng của nó Tây Mông, anh ta giống như người câm điếc, chỉ biết nói tiếng Anh. Đương nhiên, bọn họ chỉ có một nửa dòng máu Trung Quốc thôi."
"Ồ!" Ngữ điệu của Đỗ Lệ Lệ nghe vừa kinh ngạc vừa chán ghét. "Chỉ có một nửa! Vậy bọn họ nói chuyện với nhau bằng tiếng gì?"
"Nói tiếng Anh." Quáng nói.
"Ồ!" Lại là một tiếng kêu kinh ngạc kỳ lạ, Đỗ Lệ Lệ chằm chằm nhìn khuôn mặt tôi đánh giá, cứ như thể những nét Trung Quốc trên mặt tôi sẽ tan biến trong chớp mắt vậy.
"Cô có thể nghe hiểu một chút chứ?" Bà ấy chậm rãi hỏi tôi bằng tiếng phổ thông, tôi gật gật đầu, bà ấy liền ngay lập tức tăng tốc độ nói: "Cô gầy quá, sao lại gầy thế này chứ? Chậc! Chậc! Tôi vẫn luôn cho rằng người Mỹ rất biết ăn uống đấy. Thể chất cô không tốt đúng không? Quáng, sao cô lại không chăm sóc em gái nhỏ của mình cho tốt hả?"
"Em đương nhiên là có rồi." Quáng phản đối, "Nhưng con bé không chịu ăn nhiều! Con gái Mỹ lấy sự gầy gò làm đẹp mà."
Tiếp đó Đỗ Lệ Lệ lại đánh giá Tây Mông một lượt: "Ồ, người này trông giống ngôi sao điện ảnh quá." Bà ấy nhón chân lên để nhìn cho kỹ hơn chút.
Tây Mông nhún nhún lông mày với tôi: "Làm ơn nói cho anh biết cô ấy đang nói gì vậy?"
"Cô ấy nói anh có thể làm con rể ngoan của cô ấy đấy." Tôi chớp chớp mắt với Quáng, ra vẻ nghiêm túc nói.
Mắt Tây Mông trợn tròn lên. Đây là trò hề mà chúng tôi thường chơi khi mới sống chung trước đây, tôi dịch sai cho anh ấy một câu. Sau đó chúng tôi sẽ vì thế mà quậy phá lung tung cho đến khi một trong hai người chán nản mới thôi.
Đỗ Lệ Lệ kéo tay Tây Mông đi vào trong nhà, "Xin mời vào trong, tôi muốn cho các anh chị xem một thứ."
Quáng và tôi cũng đi theo vào, "Bà ấy muốn kiểm tra răng của anh trước đấy," tôi nói với Tây Mông, "Đây là lệ tục trước nghi thức đính hôn đó." Chúng tôi đi đến một căn đại sảnh rộng khoảng hai mươi thước vuông, Đỗ Lệ Lệ gọi đây là trung đường, trong nhà rất tối, trống hoác chỉ có hai chiếc băng ghế và một cái bàn gỗ, còn lác đác bày một số chum vại lớn nhỏ. Trên mái nhà không lắp trần, xà nhà treo thịt khô, ớt và giỏ, không lắp đèn treo. Sàn nhà được nện bằng đất sét. Đỗ Lệ Lệ chỉ vào bàn thờ bằng gỗ trắng đặt ở sát vách tường phía sau, vẫy gọi Tây Mông đứng sang bên cạnh bà ấy.
"Bà ấy muốn xem thần linh có chấp nhận anh không," tôi vừa nói thì Quáng vừa đưa tay che miệng lại, tôi vội vàng nhấp nháy mắt với cô ấy. Phía trên chiếc bàn dán một vài tờ giấy màu hồng, chữ bên trên đã phai màu. Ở giữa là di ảnh của Mao Trạch Đông, trên đầu treo một dải băng màu vàng. Bên trái là một khung ảnh mạ vàng cũ kỹ, bên trong đặt di ảnh Chúa Giê-su, tay giương cao một chùm ánh sáng vàng. Còn bên phải chính là thứ mà Đỗ Lệ Lệ muốn Tây Mông xem: Đây là một bức ảnh trên lịch treo tường cũ, bên trong là một người trông rất giống Lý Tiểu Long, mặc trang phục võ sĩ cổ đại, đang uống nước ngọt màu xanh lục. "Thấy ngôi sao này chưa?" Đỗ Lệ Lệ nói, "Anh rất giống cậu ta, tóc đen, ánh mắt sắc bén, đường nét môi rõ ràng, quả thực giống y đúc, quá hào hoa phong nhã rồi."
Tôi nhìn bức ảnh, lại nhìn Tây Mông, anh ấy đang chờ đợi bản dịch của tôi, "Cô ấy nói anh rất giống tên tội phạm bị truy nã toàn quốc này. Kết hôn là không thể nào đâu, cô ấy muốn bán anh cho cảnh sát để nhận được một ngàn đồng tiền thưởng đấy."
Tây Mông chỉ vào bức ảnh, lại chỉ vào chính mình, há hốc miệng nói: "Tôi?" Anh ấy liều mạng lắc đầu, dùng tiếng Anh phản kháng: "Không, không, nhận nhầm người rồi. Tôi là người Mỹ, người tốt việc tốt. Đây là người xấu, hoàn toàn khác nhau."
Tôi thực sự không nhịn được, phì cười một tiếng.
“Anh thắng rồi,” Tây Mông vô cùng đắc ý, Quáng giải thích với Đỗ Lệ Lệ về trò đùa của chúng tôi, còn tôi và Tây Mông thì nhìn nhau cười, đã rất lâu rồi đây là lần đầu tiên giữa chúng tôi lại vui vẻ như thế này, chẳng biết từ lúc nào, những lời trêu chọc tán tỉnh giữa chúng tôi đã biến thành những lời móc mỉa lẫn nhau.
“Thực ra, Đỗ Lệ Lệ nói anh cũng tuấn tú hệt như ngôi sao điện ảnh này vậy.”
Tây Mông chắp hai tay vái chào Đỗ Lệ Lệ để bày tỏ lòng biết ơn, bà ấy cũng đáp lễ anh, và cảm thấy vui vì cuối cùng anh cũng hiểu được lời nịnh nọt của mình.
“Anh biết không,” tôi nói, “vì một số nguyên nhân nào đó, ví dụ như ánh sáng thế này, trông anh quả thực có điểm khác biệt, rất đẹp trai.”
“Ừm, thật sao?” Lông mày của anh ấy giật giật.
Tôi cảm thấy hơi lúng túng, mặt cũng bắt đầu nóng bừng lên, “Ồ, có lẽ vậy, có lẽ là do trông anh càng giống người Trung Quốc hơn thì phải.” Tôi quay người lại giả vờ nhìn di ảnh của Mao Trạch Đông.
“Em biết mọi người bàn tán thế nào về những người đã kết hôn rồi đấy, chúng ta ở bên nhau càng lâu, thì lại càng giống nhau.”
Mắt tôi dán chặt vào tường, nhưng trong lòng lại không hiểu ý của Tây Mông là gì. “Anh xem, treo ảnh Chúa Giê-su bên cạnh Mao Trạch Đông thế này, ở Trung Quốc có phạm pháp không?”
“Đỗ Lệ Lệ có lẽ hoàn toàn không biết Chúa Giê-su là ai đâu, phỏng chừng bà ấy cũng treo ông ấy như một ngôi sao mà thôi.”
Tôi đang định hỏi Đỗ Lệ Lệ về bức ảnh Chúa Giê-su này thì Quáng đột nhiên quay người lại, hét lớn về phía bóng tối ở chỗ sáng của hành lang: “Vào đây! Vào đây!” Cô ấy bỗng chốc trở nên bận rộn túi bụi. “Tây Mông, Libby-ah, giúp họ khiêng hành lý đi.” Những người hầu lớn tuổi của chúng tôi đẩy chúng tôi sang một bên, bê vào một đống vali và túi xách của chúng tôi, đáy vali hình như đã dính một ít đất sét.
“Mở túi xách của cô ra đi.” Quáng nói với tôi, còn chưa đợi tôi làm, cô ấy đã nhanh tay thò tay vào trước. Tôi nghĩ cô ấy định lấy tiền để trả tiền boa, nào ngờ cô ấy lại lấy ra một bao thuốc lá Marlboro đưa cho mấy vị lớn tuổi này, mấy người phụ nữ vui mừng lần lượt cầm lấy bao thuốc lá, sau đó châm hút, một làn khói bay mịt mù xong xuôi, họ đều rời đi.
Quáng bê hành lý của cô ấy vào một căn phòng tối thui ở bên phải, ra hiệu cho tôi: “Chúng ta ở đây.” Tôi đoán phòng ngủ này nhất định rất đơn sơ, và chắc chắn chẳng có trang trí gì đâu. Thế nhưng khi Quáng mở cửa sổ ra, để ánh nắng buổi chiều chiếu vào phòng, tôi ngẩn ngơ cả người, một chiếc giường đôi chạm trổ hoa văn lộng lẫy, phía trên treo mùng có rèm che, thực sự tinh xảo tuyệt mỹ, thậm chí khiến tôi liên tưởng đến chiếc giường mà tôi hằng mong ước trong một cửa hàng ở đại lộ Union. Giường được dọn dẹp ngăn nắp giống như phong cách ngày thường của Quáng, ga giường trải trên nệm, gối đặt trên chiếc chăn đã được gấp gọn, đặt ngay ngắn ở cuối giường. “Đại nương kiếm đâu ra thế này?” Tôi thán phục nói.
Tây Mông vuốt ve chiếc bàn trang điểm khảm mặt đá cẩm thạch, bề mặt gương phản chiếu ánh bạc lấp lánh: “Anh nghĩ đây chắc chắn là một món di vật đế vương được họ giữ lại sau những lần kiếp nạn nhỉ?”
“Đều là đồ cũ cả thôi,” Quáng phất tay đầy khinh miễn, lộ ra vẻ đắc ý, “Để trong nhà chúng ta rất lâu rồi, hồi ‘Cách mạng văn hóa’, đại nương đã giấu chúng trong đống rơm, cho nên mới bảo quản được đến giờ.”
“Bảo quản?” Tôi khó hiểu nói, “Nhưng ban đầu nhà chúng ta sao lại có những thứ này chứ?”
“Ban đầu, là một nữ truyền giáo sĩ đưa cho ông nội của mẹ tôi, vì chuyện này mà còn nợ một khoản tiền lớn đấy.”
“Một khoản tiền lớn?”
“Chuyện dài lắm, chuyện này cũng phải có từ một trăm năm trước rồi…”
“Lát nữa chúng ta hãy bàn chuyện này đi,” Tây Mông chen lời, “Anh phải sang các phòng khác để sắp xếp chỗ ở đã.”
Quáng ném ra một biểu cảm chế nhạo.
“Cái gì?” Tây Mông dường như nhận ra điều gì đó, “Ý em là không còn phòng ngủ nào khác nữa sao?”
“Vẫn còn một phòng ngủ nữa là của Đỗ Lệ Lệ, là một căn phòng rất nhỏ.”
“Thế chúng ta ngủ ở đâu?” Tôi cố gắng tìm kiếm nệm và đệm khác trong phòng.
Quáng thờ ơ chúm môi về phía chiếc giường lớn này, Tây Mông nhìn tôi cười, làm ra vẻ mặt biểu thị sự thấu hiểu, nhưng điều này rõ ràng là không chân thành.
“Chiếc giường này ngủ hai người thì đủ rộng rồi,” tôi nói với Quáng, “Em và anh ngủ ở đây, nhưng chúng ta vẫn phải tìm cho Tây Mông một cái giường nữa.”
“Đi đâu tìm giường trống bây giờ?” Quáng nhìn trần nhà, hai tay không ngừng xoa xoa vào nhau, cứ như thể một chiếc giường sẽ từ trên trời biến ra vậy.
Tôi cảm thấy cổ họng hơi thắt lại: “Nhưng thế nào cũng phải có người có dư nệm chăn chứ nhỉ?”
Cô ấy đi hỏi Đỗ Lệ Lệ, người sau cũng đang xoa xoa tay ở đó, “Thấy chưa,” bà ấy nói, “Là không có.”
“Không sao, anh có thể ngủ dưới sàn nhà.” Tây Mông nói.
Khi Quáng dịch lại câu này cho Đỗ Lệ Lệ nghe, đã dẫn đến một trận khúc khích cười trộm, “Anh định ngủ chung giường với gián thật à?” Quáng nói, “Nhện độc? Kiến lớn? Ở đây có rất nhiều kiến đấy, sẽ cắn đứt ngón tay anh mất,” cô ấy vừa nói vừa làm ra tiếng nhai nuốt, “Anh thích thế này lắm à? Ồ, chỉ có một cách duy nhất, ba người chúng ta ngủ chung một giường, dù sao thì cũng chỉ có hai tuần thôi mà.”
“Không thể như thế được.” Tôi phản đối.
Đỗ Lệ Lệ trông có vẻ chăm chú, bà ấy thì thầm vài câu với Quáng, Quáng lại thì thầm với bà ấy, chỉ thấy bà ấy quay đầu nhìn tôi và Tây Mông, sau đó liền liều mạng lắc đầu, thốt ra một loạt chữ “Không”. Bà ấy kéo tay tôi, lại kéo cả Tây Mông, lôi chúng tôi lại gần nhau như lũ trẻ, nói: “Hai cái đồ tính khí nóng vội này, ở đây không có thiết bị xa hoa kiểu Mỹ chuẩn bị sẵn cho các anh chị đâu, nghe lời đại nương đi, ngủ chung một giường, đến sáng mai nhất định các anh chị sẽ cảm thấy vừa ấm áp vừa tươi mới cho mà xem.”
“Cô không hiểu đâu.” Tôi nói.
“Không——không——không.” Đỗ Lệ Lệ hoàn toàn phớt lờ ý kiến của tôi.
Tây Mông có hơi tức giận: “Anh nghĩ anh vẫn nên đi dạo một lát, để em giải quyết ổn thỏa mọi chuyện đi, ba người ngủ chung cũng được, cho gián ăn trên sàn cũng được, anh thế nào cũng xong hết, hai người tự quyết định đi.”
Có phải anh ấy tức giận vì sự kiên trì của tôi không? Tôi muốn nói ra, đây là lỗi của tôi. Tây Mông vừa bước ra ngoài, Đỗ Lệ Lệ cũng đuổi theo ra theo, dùng tiếng Trung mắng mỏ anh ấy: “Nếu có rắc rối, anh nên giải quyết nó đi. Anh là chồng, con bé phải nghe lời anh, nhưng anh phải làm cho ra dáng người chu đáo và khoan dung chứ. Một đôi vợ chồng mà không ngủ chung một giường, thế này thì ra thể thống gì nữa.”
Tôi nhìn Quáng, hỏi: “Đây đều là do cô sắp xếp từ trước phải không?”
Quáng có vẻ không vui nói: “Đây không phải là sắp xếp, đây là ở Trung Quốc.”
Chúng tôi trầm mặc mất vài phút, tôi bực dọc nói: “Phòng vệ sinh ở đâu, tôi muốn đi giải quyết chút.”
“Đi dọc theo hành lang, sau đó rẽ trái, cậu sẽ thấy một cái chòi nhỏ, …”
“Ý cô là trong phòng không có phòng vệ sinh á?”
“Tôi đã nói với cậu thế nào nào,” Quáng hơi đắc ý nói, “Đây là ở Trung Quốc.”
Chúng tôi ăn một bữa trưa đạm bạc, chỉ có cơm trắng và đậu nành ngâm muối, Quáng nài nỉ Đỗ Lệ Lệ hâm nóng lại mấy món thức ăn thừa ra ăn là được. Sau bữa trưa, Quáng đến nhà văn hóa thôn để bận rộn chuyện di ảnh của đại nương, tôi và Tây Mông chia làm hai ngả đi dạo quanh thôn. Con đường tôi chọn là một con đường nhỏ rải sỏi đá, đằng xa, một đàn vịt đang lắc la lắc lư bước đi, vịt ở Trung Quốc có ngoan ngoãn hơn vịt ở Mỹ không nhỉ? Chúng có điểm gì khác biệt, tôi chụp lại mấy bức ảnh để nhắc nhở bản thân về những suy nghĩ lúc này.
Khi quay trở lại phòng, Đỗ Lệ Lệ nói với tôi, di ảnh của đại nương ít nhất phải đợi thêm nửa tiếng nữa. Chúng tôi cùng nhau đi về phía chân núi, Đỗ Lệ Lệ khoác tay tôi, nói tiếng phổ thông: “Chị gái cô và tôi ngày trước rất hay chơi đùa dưới ruộng lúa ở đằng kia, kìa, chính là chỗ đó.”
Tôi nghĩ Đỗ Lệ Lệ nhất định đang hoài niệm về thời niên thiếu của Quáng.
“Chúng tôi thỉnh thoảng lại bắt nòng nọc,” bà ấy hớn hở ra mặt như một cô bé, “Dùng khăn tay làm vợt, giống như thế này nè,” bà ấy vừa nói vừa làm mẫu, “Những ngày tháng đó, cán bộ trong thôn chúng tôi đang tuyên truyền cho phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ rằng, ăn nòng nọc có lợi cho kế hoạch hóa gia đình. Kế hoạch hóa gia đình, lúc đó chúng tôi hoàn toàn chẳng hiểu nghĩa là gì, thế nhưng chị gái cô đã nói: ‘Đỗ Lệ Lệ, chúng ta phải làm người tiếp nối sự nghiệp cộng sản.’ Chị ấy bảo tôi nuốt những sinh linh nhỏ bé màu đen đó vào bụng.”
“Cị đã làm thế thật á?”
“Tôi sao dám cãi lệnh chứ, chị ấy lớn hơn tôi hai tháng cơ mà.”
Lớn hơn chị á? Tôi suýt thốt lên kêu lớn. Sao Quáng có thể lớn tuổi hơn Đỗ Lệ Lệ được chứ? Đỗ Lệ Lệ trông già quá, cứ như một người từ thời cổ đại vậy. Bàn tay bà ấy thô ráp không chịu nổi, trên mặt chằng chịt nếp nhăn, thậm chí có đến tám chiếc răng đã rụng sạch, tôi không đoán ra được những gian khổ cỡ nào mới tạo nên kết quả thế này.
Đỗ Lệ Lệ liếm liếm môi: “Tôi nuốt tổng cộng mười hai con nòng nọc, có lẽ còn nhiều hơn thế nữa. Tôi có thể cảm nhận được chúng chui tuột qua cổ họng, bơi lội trong dạ dày của tôi, rồi bắt đầu trượt vào mạch máu. Chúng bơi khắp cơ thể tôi. Cuối cùng có một hôm, tôi đổ bệnh vì phát sốt, một vị bác sĩ đến từ thành phố lớn nói: ‘Đồng chí Đỗ Lệ Lệ, cô từng ăn nòng nọc bao giờ chưa? Cô mắc bệnh sán máng rồi.’”
Bà ấy bật cười nhẹ nhõm, nhưng chớp mắt lại mây mù giăng kín mặt: “Tôi nghĩ đây có lẽ chính là lý do tôi mãi không kết hôn đấy. Chẳng ai muốn lấy tôi cả, nghe nói người từng ăn nòng nọc thì không thể sinh con.”
Tôi nhìn ánh mắt thẫn thờ và làn da ngả vàng của Đỗ Lệ Lệ, sâu sắc cảm thấy số phận thật bất công với bà ấy: “Cị đừng để tâm nhé,” bà ấy vỗ vỗ vai tôi nói, “Tôi không trách chị gái cô đâu. Thỉnh thoảng tôi còn thấy may mắn vì mình không kết hôn đấy, thật đấy, hầu hạ đàn ông thực sự quá phiền phức, không nghe người ta nói thế sao, não của đàn ông một nửa ở trên đầu, một nửa ở dưới lưng quần… Ha!” Bà ấy thắt lại vách áo, bước đi thong thả vài bước với dáng vẻ nửa say nửa tỉnh, tiếp theo bà ấy lại trở nên nghiêm túc, “Thế nhưng, tôi vẫn thường tự nhủ với bản thân, Đỗ Lệ Lệ à, mày sẽ trở thành một người mẹ tốt thôi, thật đấy, xét từ góc độ đạo đức học thì đây là một chuyện vô cùng nghiêm túc và cẩn trọng.”
“Thỉnh thoảng con cái cũng mang lại rất nhiều phiền phức đấy.” Tôi bình thản nói.
Bà ấy tỏ vẻ đồng tình: “Rất nhiều chuyện đau đầu ấy chứ.”
Tôi chỉ lững thững bước đi, hai người không nói gì nữa. Đỗ Lệ Lệ không giống Quáng, bà ấy tỏ ra ôn hòa và chất phác, rất dễ khiến người ta tin tưởng. Bà ấy chưa từng nhắc đến chuyện âm giới, không biết bà ấy nghĩ thế nào về điều này nhỉ?
“Đỗ Lệ Lệ,” tôi hỏi, “Cị có nhìn thấy hồn ma không?”
“Á, ý cô là giống như Quáng ấy á, không đâu, tôi làm gì có âm nhãn.”
“Ở Trường Minh còn có ai nhìn thấy hồn ma nữa không?”
Bà ấy lắc lắc đầu: “Trừ chị gái cô ra.”
“Khi Quáng nói cô ấy nhìn thấy người chết, có ai tin không?” Đỗ Lệ Lệ có vẻ không muốn trả lời câu hỏi này lắm, tôi đành phải bày tỏ quan điểm của mình để khơi gợi bà ấy mở lời: “Bản thân tôi là người không tin vào hồn ma, tôi cho rằng đó chỉ là ảo ảnh trong lòng mọi người mà thôi. Hồn ma bắt nguồn từ trí tưởng tượng và khao khát của con người, chị thấy thế nào?”
“Tôi nghĩ thế nào thì có liên quan gì chứ?” Bà ấy tránh né ánh mắt tôi, cúi người phủi đi bụi bẩn trên giày: “Nhiều năm như vậy rồi, luôn có người bảo chúng ta phải tin vào điều gì: Tin vào Thượng đế! Tin vào tổ tông! Tin vào Mao Trạch Đông, tin vào sự lãnh đạo của Đảng. Thế nhưng đối với tôi, tôi chỉ tin vào những thứ chân thực, những thứ không phiền phức, người ở đây đại đa số đều như vậy.”
“Nói như vậy là chị không thực sự cho rằng hồn ma của đại nương đang ở Trường Minh đâu nhỉ.” Tôi vẫn bám chặt lấy bà ấy không buông.
Đỗ Lệ Lệ vỗ vỗ tay tôi: “Đại nương là bạn của tôi, chị gái cô cũng là bạn của tôi. Tôi từ trước đến nay chưa từng phá hoại bất kỳ tình bạn nào cả. Hồn ma của đại nương có ở đây hay không, thì có sao đâu chứ? Bây giờ cô hiểu chưa?”
“Ừm.” Chúng tôi tiếp tục đi về phía trước, tôi không hiểu liệu có một kiểu tư duy mang phong cách Trung Quốc nào đã cắm rễ sâu trong đại não của mình hay không, Đỗ Lệ Lệ thầm cười nhạo vẻ luống cuống của tôi, tôi có thể hiểu ý của bà ấy. Tôi có lẽ cũng giống như những thanh niên trí thức đến Trường Minh rèn luyện, vừa sành điệu vừa tự tin, thế nhưng hễ bắt tay vào làm việc thì khó tránh khỏi việc chẳng làm nên tích sự gì.
Khi chúng tôi đi đến cổng lớn của nhà văn hóa thôn, một trận mưa rào trút xuống như thác đổ, mặt đất đều bị nện cho rung chuyển. Lòng tôi thắt lại một trận, cảm thấy ngực bức bối và hoảng loạn. Xuyên qua một bãi đất trống, đi qua hai lớp cửa, thì đến được nhà văn hóa, trong nhà có một cái lạnh thấu xương. Trong không khí có một mùi cũ kỹ và mốc meo, khiến người ta liên tưởng đến tàn tích hài cốt phơi thây qua trăm năm nay. Mùa thu ở Quế Lâm vốn nổi tiếng với hương quế ngào ngạt, khí hậu ôn hòa, lúc này cái se lạnh của mùa thu vừa mới rút đi, nhưng tôi vẫn cố gắng mặc thêm mấy lớp quần áo, thậm chí bao gồm cả chiếc áo khoác gió hàng hiệu đó, thế nhưng tôi vẫn không kìm được mà run lẩy bẩy đến mức ê hàm run tay, cứ tiếp thế này thì tôi không cách nào chụp ảnh được nữa.
Trong đại sảnh có hơn mười người, người thì đang vẽ bùa tang, người thì đang dùng phấp phới vải trắng và nến để trang trí tường và bàn thờ. Giọng nói của họ đã lấn át cả tiếng mưa vang vọng khắp trong nhà. Quáng đang đứng cạnh cỗ quan tài, khi tôi bước tới gần, tôi cảm thấy bản thân hoàn toàn không muốn chụp ảnh chút nào, tôi lo lắng cô ấy bị tổn thương rất nặng. Quáng nhìn thấy tôi, tôi gật đầu ra hiệu với cô ấy.
Khi tôi nhìn vào trong quan tài, tôi thấy trên mặt đại nương được đậy một tờ giấy trắng, tôi cố gắng hạ giọng thật trang trọng để hỏi: “Tai nạn đã hủy hoại dung mạo của bà ấy rồi sao?”
Quáng có vẻ rất nhạy cảm: “Ồ, ý cô là tờ giấy này á,” cô ấy nói bằng tiếng Trung, “Không, đây chỉ là theo thói quen nên đậy một tờ giấy lên thôi.”
“Tại sao?”
“Hả?” Cô ấy ngẩng cao đầu, cứ như câu trả lời sẽ từ trên trời rơi vào tai cô ấy vậy, “Nếu giấy chuyển động, điều đó chứng tỏ con người vẫn còn hô hấp, thế thì không thể vội vàng mai táng được. Nhưng đại nương là thực sự đi rồi, bà ấy vừa mới nói với tôi rồi.” Chưa đợi tôi phản ứng lại, Quáng đã tiến lên vén tờ giấy đó ra.
Trông đại nương quả thực hoàn toàn không có chút sinh khí nào, nhưng cũng không đến nỗi đáng sợ. Mi tâm của bà ấy nhíu lại, vẻ mặt đầy lo lắng, khóe miệng có chút méo mó, khiến tướng mạo trông có phần kỳ quái. Tôi vẫn luôn nghĩ rằng con người một khi đã chết đi, cơ bắp trên mặt sẽ thả lỏng, từ đó sẽ khiến họ trông vô cùng bình thản.
“Nhìn miệng của bà ấy kìa,” tôi nói bằng thứ tiếng Trung bập bẹ, “Sao lại lệch thế kia, điều này chứng tỏ lúc bà ấy chết rất đau đớn.”
Quáng và Đỗ Lệ Lệ xúm lại nhìn xem: “Có lẽ vậy,” Đỗ Lệ Lệ nói, “Nhưng bây giờ trông bà ấy cũng chẳng khác lúc sống là mấy, cô bảo miệng bà ấy hơi lệch, bình thường bà ấy vẫn thế mà.”
Quáng tỏ vẻ đồng tình: “Trước khi tôi rời khỏi Trung Quốc, bà ấy đã thế này rồi, lúc nào cũng lo lắng không yên, trông có vẻ không vui.”
“Bà ấy mặc nhiều quá đấy.” Tôi nói.
“Không, không,” Quáng nói, “Cô chỉ nhìn thấy hiện tại nên mới nghĩ thế thôi, bà ấy mặc thế này là chuẩn bị cho chuyến hành trình bước sang thế giới khác đấy. Phía trên có bảy lớp, phía dưới có năm lớp.”
Tôi chỉ vào chiếc áo khoác trượt tuyết mà Quáng dùng làm lớp thứ bảy. Đây là một chiếc áo màu tím cầu vồng, trên đó có rất nhiều đồ trang sức vùng Tây Nam, có một món là lúc cô ấy mua ở một buổi đấu giá tại một cửa hàng lớn, đại khái là muốn khiến đại nương bất ngờ, nhãn giá vẫn còn treo lủng lẳng ở trên kìa, có thể chứng minh chiếc áo khoác này không phải là đồ rẻ tiền. “Đẹp thật đấy, tôi rất hy vọng bây giờ mình cũng được mặc một chiếc.”
Quáng vô cùng đắc ý: “Hơn nữa lại còn rất thực dụng, toàn là đồ chống thấm nước cả đấy.”
“Ý cô là thế giới bên kia cũng đang mưa à?”
“Đương nhiên là không rồi, khí hậu ở đó chẳng có thay đổi gì mấy, không quá nóng, cũng chẳng quá lạnh.”
“Thế sao cô cứ nhấn mạnh chiếc áo khoác này chống thấm nước làm gì?”
Cô ấy khó hiểu nhìn tôi: “Bởi vì nó quả thực là thế mà.”
Tôi làm bộ mặt quỷ: “Nếu thời tiết ở thế giới bên kia rất tốt, việc gì phải mặc nhiều quần áo thế, bảy lớp với năm lớp cơ mà?”
Quáng lặp lại câu hỏi của tôi với đại nương bằng tiếng Trung, sau đó vừa nghe vừa gật đầu giống như đang gọi điện thoại vậy. “Ừm. Ừm…” Sau đó cô ấy truyền đạt lại câu trả lời vào tai tôi: “Đại nương nói bà ấy cũng không biết nữa, hồn ma và người cõi âm bị giam cầm quá lâu rồi, bây giờ bà ấy đã quên hết mọi thói quen và ý nghĩa của chúng rồi.”
“Vậy bây giờ chính phủ đã bãi bỏ lệnh cấm đối với các hoạt động này chưa?”
“Chưa, nhưng bây giờ những chuyện này không còn bị xử phạt nữa, mà là để thuận theo tự nhiên. Phong tục này thực ra rất hay, bảy và năm, phía trên nhiều hơn phía dưới hai lớp. Đại nương cho rằng bảy có lẽ biểu thị bảy ngày trong một tuần, mỗi lớp quần áo đại diện cho một ngày, trong quá khứ, mọi người cho rằng bảy là một con số may mắn, bảy bảy bốn mươi chín là số ngày làm tang sự, thế nhưng bây giờ chúng ta cũng giống như người nước ngoài, tang sự làm mấy ngày là đủ rồi.”
“Nhưng tại sao nửa thân dưới lại là năm lớp thế?”
Đỗ Lệ Lệ phì cười một tiếng: “Điều này có nghĩa là trong một tuần đại nương có hai ngày ở dưới âm gian đành phải không được mặc quần rồi.”
Tiếng cười của bà ấy và Quáng quá lớn, đã thu hút ánh mắt của cả phòng. “Đừng cười nữa!” Quáng kêu lên, “Đại nương đang nguyền rủa chúng ta kìa, bà ấy bảo bà ấy vừa mới đi được một lát, chúng ta không được đùa giỡn như thế.” Quáng kìm nén lại tinh thần, nghiêm túc nói: “Đại nương vẫn chưa thể chắc chắn, nhưng bà ấy cho rằng con số năm này có liên quan đến rất nhiều sự vật quan trọng trong cuộc sống hiện thực — ngũ sắc, ngũ hương, ngũ quan, âm dương ngũ hành, năm loại cảm xúc…”
Quáng đột nhiên dừng lại: “Đại nương, phải là bảy loại cảm xúc chứ, không phải năm loại cảm xúc.” Cô ấy vừa nói vừa dùng ngón tay đếm: Vui vẻ, tức giận, sợ hãi, yêu thương, căm hận, dục vọng… Còn một cái nữa, là cái gì nhỉ? Ồ, đúng rồi, là đau thương! Đại nương, cháu sẽ không quên đâu, sao có thể thế được chứ? Giờ phút này khi người rời khỏi thế giới này, cháu đang cảm nhận nỗi đau thương đây. Sao người có thể nói thế chứ, tối qua chẳng phải cháu đã khóc rồi sao, đó đâu phải khóc cho người ta xem, rõ ràng là người nhìn thấy mà, nỗi đau thương của cháu là thật lòng, chứ không phải làm ra vẻ đâu. Sao người cứ nhớ mãi những khuyết điểm của cháu vậy?”
“Ấy chà,” Đỗ Lệ Lệ khóc lớn với thi thể đại nương, “Chị chết rồi thì đừng nguyền rủa ai nữa chứ.” Bà ấy nhìn tôi, chớp chớp mắt.
“Không, tôi sẽ không quên đâu.” Quáng lại đang nói chuyện với đại nương, “Một con gà trống, con gà trống biết nhảy múa chứ không phải gà mái hay vịt, tôi vẫn luôn nhớ kỹ mà.”
“Cô ấy đang nói gì thế?” Tôi hỏi.
“Cô ấy muốn buộc một con gà trống lên nắp quan tài.”
“Tại sao?”
“Libby-ah, muốn biết tại sao á,” Quáng dừng lại một lát, rồi giải thích tiếp, “Đại nương cũng nói không rõ lắm, nhưng bà ấy cho rằng linh hồn của mình sẽ nhập vào một con gà trống và đi theo nó.”
“Cô tin à?”
Quáng làm bộ mặt quỷ: “Đương nhiên là không tin rồi! Ngay cả đại nương cũng không tin, đây chỉ là mê tín thôi.”
“Vậy tốt thôi, đã không tin thì tại sao còn phải làm thế chứ?”
“Hầy, đây là phong tục! Hơn nữa còn có thể dùng để dọa trẻ con. Người Mỹ chẳng phải cũng làm thế sao?”
“Bây giờ chúng tôi không làm thế nữa rồi.”
Quáng nhìn tôi bằng ánh mắt của người chị cả: “Cậu không nhớ à? Hồi tôi mới đến Mỹ lần đầu, cậu nói với tôi rằng, thỏ mỗi năm đẻ một quả trứng, người chết lúc đó sẽ từ trong mộ chui ra để xem chúng.”
“Tôi không có.”
“Cậu có, cậu còn nói nếu tôi không nghe lời cậu, ông già Noel sẽ từ trong ống khói chui vào bỏ tôi vào trong bao tải, mang đến một nơi rất lạnh, còn lạnh hơn cả sương giá.”
“Tôi chưa từng nói thế bao giờ,” tôi vừa chối đây đẩy, vừa hồi tưởng lại trò đùa giáng sinh mà tôi từng giỡn với Quáng hồi đó, “Có lẽ là cậu hiểu lầm ý tôi rồi.”
Quáng liếm liếm môi: “Này, tôi dẫu sao cũng là đại tỷ của cậu, cậu cho là tôi không hiểu ý cậu chắc? Ừm, được rồi, tạm thời không nhắc nữa, đại nương bảo chúng ta đừng lải nhải nữa, bây giờ đến giờ chụp ảnh rồi.”
Tôi muốn chỉnh ánh sáng để dọn dẹp lại suy nghĩ, còn phải dùng chân máy ảnh nữa, đảo mắt nhìn quanh, bên cạnh bài vị có ánh nến của mấy ngọn nến, từ cửa sổ bẩn thỉu ở phía bắc chiếu vào một chùm ánh sáng tự nhiên xám ngắt. Trên trần nhà không lắp vách ngăn, cũng không treo đèn chùm, không có bức tường nào thích hợp để phản chiếu đèn flash, nếu muốn dùng đèn flash, tôi sẽ không thể kiểm soát được lượng ánh sáng mình cần, điều đó sẽ khiến bức ảnh của đại nương trông rất đáng sợ. Độ tương phản thích hợp luôn là thứ tôi cố tình theo đuổi, phải mang theo một chút cảm giác mờ ảo. Khẩu độ để tám, tốc độ một giây, như vậy có thể chụp rõ một nửa khuôn mặt của đại nương, còn nửa kia thì nằm trong bóng tối.
Tôi lấy chân máy ảnh ra, chống đỡ cho cẩn thận, lắp máy ảnh lấy liền Polaroid vào, “Được rồi, đại nương, đừng nhúc nhích,” có phải tôi bị u mê rồi không, sao tôi lại cứ thế nói chuyện với đại nương cơ chứ, điều này có nghĩa là tôi cũng tin bà ấy có thể nghe thấy tôi nói sao. Tại sao tôi lại phải tốn nhiều công sức như vậy để chụp ảnh cho người phụ nữ đã khuất này? Trong bài viết của tôi sẽ không dùng những bức ảnh này đâu, hơn nữa, tất cả những chuyện này cứ thuận theo tự nhiên là được, chụp ảnh thế nào vốn dĩ cũng chẳng sao cả. Có lẽ đây cũng là một thứ huyền bí trong cuộc sống ở đây, chỉ có cao nhân mới có thể ngộ ra, còn những người khác thì vĩnh viễn cũng sẽ không hiểu nổi.
Tôi đang vẩn vơ suy nghĩ lung tung thì một đám người xúm lại, muốn xem trong máy ảnh sẽ chui ra thứ gì. Rất nhiều người trong số họ đã từng nhìn thấy khách du lịch chụp ảnh, loại ảnh lấy liền như thế này đòi giá rất đắt.
“Đừng chen lấn, đừng chen lấn.” Tôi kêu lên, tiện tay kéo máy in vào trước ngực. Dân làng im lặng trở lại, đại khái họ cho rằng tiếng ồn sẽ ảnh hưởng đến việc chụp ảnh. Tôi cắm cúi nhìn qua kính ngắm một lát, độ tương phản mạnh hơn so với thói quen của tôi, nhưng cho họ xem là đủ dùng rồi.
“Giống ghê ta!” Có người kêu lên.
“Rõ lắm, chị nhìn đại nương kìa, trông như cái dáng vẻ vừa mới ngủ dậy đi cho lợn ăn ấy.”
Có người đùa cợt: “Bà ấy sẽ kỳ lạ hỏi rằng: ‘Sao mấy người lại vây quanh giường tôi thế này?’”
Đỗ Lệ Lệ bước tới: “Libby-ah, bây giờ đến lượt chụp cho tôi một bức đi.” Bà ấy dùng lòng bàn tay ấn phẳng đám tóc đang chỏng ngược lên, lại kéo kéo quần áo để chỉnh cho ngăn nắp hơn, xuyên qua kính ngắm, tôi nhìn thấy tư thế cứng đờ như lính gác của bà ấy, mặt bà ấy hướng về phía tôi, hai mắt cứ như đang nhìn ngược lên trên. Tôi ấn nút chụp, vừa mới lấy bức ảnh ra thì bà ấy đã cầm lấy từ tay tôi nhét vào trong ngực, vừa cười buồn bã vừa bước đi.
“Lần trước tôi nhìn thấy ảnh của mình là chuyện của rất nhiều năm về trước rồi đấy,” bà ấy xúc động nói, “Lúc đó tôi hãy còn nhỏ lắm,” khi tôi bảo bà ấy đã có thể xem ảnh được rồi, bà ấy vội vàng xé màng cảm quang trên giấy ảnh Polaroid ra, đưa bức ảnh sát vào mặt mình. Bà ấy cố gắng trợn to mắt, còn không ngừng chớp chớp: “Tôi trông thế này cơ à?” Giọng nói của bà ấy và vẻ mặt kỳ diệu tôn sùng bức ảnh đó, ngay cả tôi cũng bị cảm động lây.
Đỗ Lệ Lệ cẩn thận từng li từng tí đưa bức ảnh cho Quáng, giống như đang đưa một chú chim non vừa mới nở vậy. “Chụp đẹp đấy chứ,” Quáng nói, “Tôi đã bảo với chị rồi mà, em gái tôi rất chuyên nghiệp.” Vừa nói cô ấy vừa chuyền bức ảnh cho người khác xem.
“Giống hệt người thật luôn.” Một người đàn ông nói.
“Quả thực rõ quá cơ.”
“Còn thật hơn cả người thật nữa.”
Bức ảnh đi một vòng lại quay về tay Đỗ Lệ Lệ. Bà ấy đặt bức ảnh trên lòng bàn tay: “Trông tôi thế này ư?” Giọng nói của bà ấy lộ vẻ già nua, “Tôi già thế này cơ à, tôi chưa từng nghĩ bản thân mình lại già nua, lại xấu xí thế này. Tôi thực sự già và ngốc nghếch thế sao?”
Mấy người bật cười, họ tưởng Đỗ Lệ Lệ đang nói đùa. Nhưng Quáng và tôi đều nhận ra bà ấy thực sự bị kích thích rồi. Bà ấy cảm thấy phát bực với những kẻ cười cợt mình, còn tôi lại chính là kẻ tổn thương bà ấy trực tiếp. Gần đây chắc là bà ấy có soi gương rồi, thế nhưng hình ảnh nhìn thấy trong gương cũng chưa chắc đã là thứ mà chúng ta thích, máy ảnh là một đôi mắt khác biệt, nó chỉ ghi chép lại hiện thực một cách chân thực chứ không phải là một ký ức tốt đẹp trong lòng con người.
Đỗ Lệ Lệ bỏ đi rồi, tôi muốn nói gì đó để an ủi, nói với bà ấy rằng tôi là một nhiếp ảnh gia tồi tề, một vài nét quyến rũ của bà ấy tôi không thể bắt trọn được. Tôi vừa định đuổi theo thì Quáng kéo tay tôi lại, lắc đầu với tôi. “Lát nữa tôi sẽ nói chuyện với bà ấy.” Chưa đợi cô ấy nói gì thêm, tôi lại bị hơn chục người vây kín lấy, ai nấy đều yêu cầu tôi chụp ảnh cho họ, “Tôi trước.” “Chụp cho cháu tôi một bức đi.”
“Oa,” Quáng hét lên, “Em gái tôi không phải chuyên đến đây để chụp ảnh cho mấy người đâu.” Mọi người vẫn cố chấp: “Chụp một tấm thôi mà,” “Tôi cũng chụp một tấm nữa.” Quáng giơ tay lên nói: “Trật tự nào, đại nương nói rồi, tất cả mọi người phải rời khỏi đây ngay lập tức, bà ấy cần phải nghỉ ngơi thật tốt trước khi bước vào âm gian, nếu không bà ấy sẽ bị tiếng ồn của mấy người làm cho phát điên và ở lại Trường Minh luôn đấy.” Dân làng vô cùng răm rắp nghe theo lời này, họ nối đuôi nhau rời khỏi đại sảnh.
Khi chỉ còn lại hai chúng tôi, tôi bày tỏ sự cảm ơn với Quáng: “Đại nương thực sự nói thế á?” Quáng ném cho tôi một ánh mắt buồn cười, không nhịn được mà bật cười, tôi cũng cười theo, cười vì sự lanh lợi của cô ấy.
“Thực ra, đại nương yêu cầu chụp thêm cho bà ấy mấy bức ảnh nữa, nhưng phải đổi góc độ, bà ấy nói bức ảnh cuối cùng mà cô chụp cho bà ấy trông già nua y như Đỗ Lệ Lệ vậy.”
Tôi giật mình thon thót: “Cậu đang nói cái gì thế?”
Quáng khó hiểu hỏi: “Sao thế?”
“Cậu nói Đỗ Lệ Lệ trông già hơn cả đại nương á?”
“Bà ấy lớn tuổi hơn chứ bộ, ít nhất cũng phải hơn năm sáu tuổi ấy chứ.”
“Cậu nói gì cơ? Bà ấy nói bà ấy còn trẻ hơn cả cậu cơ mà.”
Quáng lắc lắc đầu, ân cần hỏi: “Sao cậu lại nghĩ thế?”
“Đỗ Lệ Lệ nói với tôi thế mà.”
Quáng chằm chằm nhìn khuôn mặt vô tri giác của đại nương rồi nói: “Tôi hiểu rồi, tôi hiểu rồi, đã là chuyện Đỗ Lệ Lệ nhắc đến thì chúng ta bắt buộc phải nói cho cô ấy biết sự thật.” Quáng bước đến trước mặt tôi, nói: “Libby-ah, bây giờ tôi bắt buộc phải nói cho cô một bí mật.”
Hòn đá lớn trong lòng tôi cuối cùng cũng hạ xuống.
“Khoảng năm mươi năm trước, lúc vẫn còn đang đánh chiến tranh nội chiến, Đỗ Lệ Lệ nhận nuôi một cô bé nhặt được trên đường, sau đó, cô bé không may qua đời, Đỗ Lệ Lệ vì quá đau buồn nên tinh thần có hơi bất ổn, cô ấy cho rằng bản thân chính là cô bé đó, tôi có thể biết những chuyện này là vì tôi và cô bé đó là bạn bè, nếu con bé ấy vẫn còn sống, quả thực nhỏ hơn tôi hai tháng, nhưng Đỗ Lệ Lệ năm nay đã bảy mươi tám tuổi rồi. Bây giờ tôi nói cho cô…” Quáng cứ như đang tranh luận điều gì đó với đại nương vậy, “Không, không, tôi không kể nữa, nói nhiều quá rồi.”
Tôi nhìn Quáng, nhìn đại nương, nghĩ đến những lời Đỗ Lệ Lệ nói, rốt cuộc tôi nên tin ai đây? Đủ mọi khả năng xẹt qua trong đầu tôi, tôi cứ như rơi vào một tấm lưới quấn quýt không gỡ ra được giữa logic và trí tưởng tượng. Có lẽ Đỗ Lệ Lệ trẻ hơn Quáng, có lẽ bà ấy đã bảy mươi tám tuổi, có lẽ linh hồn của đại nương ở đây. Có lẽ không. Tất cả những điều này thật giả khó phân, âm dương khó dò, rốt cuộc là thế nào đây?
Thực tế một chút đi, tôi tự nhủ với bản thân, nếu ếch đang ăn côn trùng, vịt đang ăn ếch, lúa thu hoạch hai vụ một năm, thì tại sao lại phải hoài nghi không thôi đối với thế giới này chứ?