Tôi phải cảm ơn cơ quan thuế vụ quốc gia đã dẫn chúng tôi đến nhà thờ tổ chức lễ cưới.
Chúng tôi — hai sinh viên đại học học qua thư — đã sống chung với nhau ba năm. Để kiên định với giấc mơ chung của chúng tôi: "tạo ra một sự khác biệt mang tính thực chất", chúng tôi đều đến làm việc trong lĩnh vực dịch vụ xã hội: Tây Mông là cố vấn của tổ chức "Xóa bỏ vi phạm" — một tổ chức giúp đỡ những thanh thiếu niên có tiền án và đang vướng vào rắc rối; còn tôi là nhân viên phát triển của một dự án khác — một chương trình dành cho những phụ nữ mang thai nghiện ma túy. Chúng tôi kiếm được không nhiều, nhưng sau khi thấy cơ quan thuế vụ quốc gia khấu trừ quá nhiều thuế từ những tờ séc chúng tôi trả hàng tháng, chúng tôi đã tính toán xem mình có thể tiết kiệm được bao nhiêu tiền nếu nộp thuế chung: tròn trịa ba trăm bốn mươi sáu đô la một năm!
Cùng với con số này lơ lửng trước đôi mắt nghèo túng của mình, chúng tôi tranh cãi xem việc chính phủ ưu ái những người kết hôn có đúng hay không. Cả hai chúng tôi đều đồng ý rằng thuế là một hình thức quyền lực cưỡng chế đầy nham hiểm và xảo quyệt, nhưng tại sao lại phải cúng ba trăm bốn mươi sáu đô la đó cho chính phủ để mua thêm vũ khí cơ chứ? Chúng tôi có thể dùng số tiền này để mua cặp loa âm thanh nổi mới. Tôi nhớ như đinh đóng cột rằng chính Tây Mông là người đề nghị chúng tôi kết hôn. "Em nghĩ sao?" anh ấy nói, "Hay chúng ta gộp lại để nộp thuế chung đi?"
Lễ cưới được tổ chức tại một không gian ngoài trời gần Vườn Rhododendron trong Công viên Cổng Vàng mà chúng tôi phỏng đoán là vừa tự do tự tại lại vừa mang bầu không khí lãng mạn. Nhưng vào ngày tháng Sáu đó, từng đợt gió lạnh lại thổi lồng lộng kèm theo màn sương mù trắng xóa phủ kín trời, quật vào quần áo và tóc tai của chúng tôi, thế nên trong những bức ảnh cưới, cả chúng tôi lẫn khách khứa trông đều lỉnh kỉnh và đầu tóc bù xù. Khi mục sư của Nhà thờ Vạn Vật đang ngâm nga lời chúc phúc cho đám cưới, một nhân viên công viên lại đến lớn tiếng thông báo rằng: "Xin lỗi mọi người, tổ chức một buổi tụ tập thế này cần phải có giấy phép." Thế là chúng tôi vội vã trao nhau lời thề nguyện hôn nhân, thu dọn đồ ăn dã ngoại và quà cưới, rồi lôi tất cả về căn hộ chật chội của chúng tôi trên phố Stanyan.
Giống như họa vô đơn chí, trong số quà cưới không có lấy một món nào thiết thực, trong khi đó lại là thứ mà chúng tôi rất rất cần để thay thế cho đống ga giường, khăn tắm và đồ dùng nhà bếp đã cũ nát chắp vá của mình. Hầu hết bạn bè của chúng tôi gửi tặng những món quà mang tính trò đùa vợ chồng đủ mọi thể loại; cha dượng cũ của tôi — Bob — gửi tặng chúng tôi một chiếc bình pha lê; cha mẹ Tây Mông thì tặng một chiếc đĩa bạc chạm khắc.
Phần còn lại trong gia đình tôi thì hết người này đến người khác cố gắng tìm kiếm "một thứ gì đó đặc biệt" — thứ mà những chắt tương lai của chúng tôi sẽ vượt trội hơn người khác khi thừa kế làm tài sản. Mẹ tôi gửi đến một tác phẩm điêu khắc bằng kim loại hình một người đàn ông và một người phụ nữ đang ôm nhau, một tác phẩm nghệ thuật do Bharat Singh — bạn trai hiện tại của bà — sáng tạo ra; em trai tôi Tommy thì mang đến một chiếc máy pinball cổ — món mà mỗi lần đến chơi nó đều phải chơi một trận; Kevin tặng chúng tôi một thùng rượu vang đỏ, bắt chúng tôi phải ủ chúng lên tận năm mươi năm. Nhưng sau vài buổi tụ tập cuối tuần ngẫu hứng với bạn bè, chúng tôi chỉ thu được một bộ sưu tập vỏ chai rượu trống khá đẹp mắt.
Món quà của Oa Lợi Duy Á thực ra khá đẹp, lại vô cùng đáng kinh ngạc. Đó là một chiếc hộp bằng gỗ mun đen Trung Quốc, nắp hộp được chạm trổ tinh xảo. Khi tôi mở nắp hộp, bản nhạc "Chúng ta là con đường" liền vang lên với một nhịp điệu thô kệch và ngớ ngẩn. Nằm trong ô đựng trang sức là một gói trà. "Hãy để cảm giác tốt đẹp kéo dài mãi." Oa Lợi Duy Á giải thích, đồng thời tặng tôi một cái nháy mắt đầy ẩn ý.
Trong bảy năm đầu tiên của cuộc hôn nhân, Tây Mông và tôi đã tìm mọi cách để đạt được tiếng nói chung trong hầu hết mọi việc. Nhưng trong bảy năm tiếp theo, những gì chúng tôi làm hình như lại hoàn toàn ngược lại. Chúng tôi không tranh cãi về những vấn đề lớn lao như quy trình thích hợp, hành vi khẳng định hay cải cách phúc lợi giống như anh ấy và Elsa, mà thay vào đó lại tranh luận không ngớt về những chuyện vụn vặt: Nếu bạn đun nóng chảo trước khi đổ dầu ô liu vào, hương vị thức ăn có ngon hơn không? Tây Mông nói có, tôi phủ nhận. Chúng tôi không hề cãi vã to tiếng, nhưng thường xuyên đấu khẩu, cứ như thể đó là do thói quen vậy. Và điều này khiến chúng tôi đối xử với nhau chẳng lấy gì làm nhã nhặn, chứ đừng nói đến tình yêu.
Còn về hy vọng của chúng tôi, ước mơ của chúng tôi, những khao khát thầm kín của chúng tôi, chúng tôi không thể thảo luận thêm được nữa. Chúng quá mơ hồ, quá đáng sợ, quá quan trọng, thế nên chúng cứ ở lì trong cơ thể chúng tôi, lớn lên giống như một khối u ác tính, trở thành một thực thể tự nuốt chửng chính mình.
Nhìn lại quá khứ, tôi cảm thấy kinh ngạc vì cuộc hôn nhân của chúng tôi lại có thể kéo dài lâu đến vậy. Tôi không biết cuộc hôn nhân của những người khác — bạn bè của chúng tôi — kéo dài là do thói quen, sự lạnh nhạt, hay do sự kết hợp kỳ lạ của một loại sợ hãi nào đó — phản hồi thành hy vọng, rồi hy vọng lại giải phóng ra sợ hãi. Tôi chưa từng cảm thấy cuộc hôn nhân của mình tệ hơn bất kỳ ai khác, xét về mặt nào đó, tôi cảm thấy cuộc hôn nhân của chúng tôi thậm chí còn tốt hơn đa số mọi người: trong các bữa tiệc tối, chúng tôi là một cặp đôi rất ra dáng; chúng tôi giữ vóc dáng cân đối, có đời sống tình dục tốt đẹp; hơn nữa chúng tôi vẫn đồng điệu trong một việc lớn: sự nghiệp của chính chúng tôi — chủ yếu là xử lý quan hệ công chúng cho các hội nhóm phúc lợi công cộng và y tế.
Trong những năm qua, chúng tôi đã phát triển được một lượng khách hàng ổn định — Quỹ Cấy ghép Thận Quốc gia, Quỹ Nghiên cứu U não, một vài bệnh viện và một tài khoản kiếm ra tiền: một phòng khám lếch thếch khăng khăng đòi dùng những bức ảnh mông phụ nữ trước và sau khi hút mỡ để in quảng cáo. Tây Mông và tôi làm việc trong một căn phòng thuộc căn hộ của chúng tôi, tôi là nhiếp ảnh gia, nhà thiết kế, thợ dàn trang máy tính, nghệ sĩ dán hình; còn Tây Mông là người viết quảng cáo, giám đốc tiếp khách, người liên hệ in ấn, tổng quản lý tài chính. Về mặt thẩm mỹ, chúng tôi đều tôn trọng đối phương; còn về bố cục sách mỏng, kích thước phông chữ và tiêu đề, chúng tôi tìm kiếm sự đồng thuận. Trong ngành này, chúng tôi là những chuyên gia không hổ thẹn chút nào.
Bạn bè chúng tôi thường nói: "Hai cậu thật là may mắn." Trong nhiều năm, tôi đã tự ép mình tin rằng chúng tôi may mắn y như sự ngưỡng mộ của họ. Tôi đoán rằng những trận cãi vã của chúng tôi chỉ là những chuyện bực mình nhỏ nhặt, giống như cái dằm dưới da, vết lõm trên xe hơi, một khi chúng tôi chịu khó bỏ chút công sức vào đó thì có thể dễ dàng loại bỏ.
Thế nhưng, đến nay đã gần ba năm trôi qua. Cha đỡ đầu của tôi là Dudley — một kế toán viên về hưu, người mà tôi chưa từng gặp lại kể từ thời thơ ấu — sau khi qua đời đã để lại cho tôi cổ phiếu của một công ty ghép nối gen nhỏ, chúng chẳng đáng giá là bao vào thời điểm ông qua đời, nhưng đến khi người thi hành di chúc chuyển nhượng những cổ phiếu này sang tên tôi, công ty gen này đã lên sàn chứng khoán, và cổ phiếu thì tăng lên gấp nhiều lần nhờ việc chia tách. Nhờ điều kỳ diệu do DNA tạo ra trong thương mại, Tây Mông và tôi đã có đủ tiền để mua — ngay cả ở một nơi có giá cả tăng vọt như San Francisco — một ngôi nhà đẹp ở một vị trí đắc địa. Chúng tôi đã định mua, nhưng sau đó mẹ tôi gợi ý rằng tôi nên chia sẻ sự may mắn này với các anh em trai và Oa Lợi Duy Á. Bà chỉ ra rằng, suy cho cùng, Dudley là bạn của bố, chứ không phải là người nào khác mà tôi từng đặc biệt thân thiết. Bà nói rất đúng, nhưng tôi vẫn hy vọng Kevin, Tommy và Oa Lợi Duy Á sẽ nói: "Cứ giữ lấy đi, cảm ơn vì đã nghĩ đến chúng tôi." Hy vọng của tôi quá lớn rồi. Người khiến tôi ngạc nhiên nhất chính là Oa Lợi Duy Á, cô ấy lại hét lên rồi nhảy múa tưng bừng giống như một thí sinh trong chương trình "Chiếc nón kỳ diệu". Sau khi chúng tôi chia chác chiếc bánh thừa kế này và đóng một khoản thuế khổng lồ, Tây Mông và tôi chỉ đủ tiền mua đứt bằng tiền mặt một ngôi nhà khiêm tốn ở một khu vực có vấn đề.
Kết quả là, chúng tôi đã mất hơn một năm trời để tìm kiếm một tổ ấm. Ngôi nhà mà Tây Mông đề nghị mua là một căn nhà được sửa sang lại từ những năm năm mươi ở khu vực Sunset chìm trong sương khói, anh ấy cho rằng vài năm nữa chúng tôi bán đi là có thể làm cho khoản đầu tư của mình tăng gấp đôi. Còn trong tâm trí tôi lại là một công trình kiến trúc thời Victoria cũ kỹ xuống cấp nằm ở Bernal Heights đầy hứa hẹn, một nơi có thể cải tạo thành một tổ ấm ngọt ngào, chứ không phải là một khoản đầu tư. "Em đang nói về túp lều của vụ án ngọt ngào thì có." Tây Mông nói sau khi đi xem một bất động sản.
Về cái mà chúng tôi gọi là "tiềm năng tương lai" này, cách nhìn nhận của chúng tôi hoàn toàn khác nhau. Tất nhiên, tiềm năng này có liên quan rất lớn đến chúng tôi. Cả hai chúng tôi đều biết rằng sống trong căn nhà tồi tàn chật hẹp đòi hỏi phải có tình yêu trong sáng và phong phú, thứ tình yêu sẽ khiến các cặp tình nhân chẳng màng đến bất cứ điều gì ngoài việc được hạnh phúc nép mình sưởi ấm bên chiếc giường đôi chật chội y như thế, thế nhưng Tây Mông và tôi đã tiến đến giai đoạn tận hưởng một chiếc giường cỡ King cùng tấm chăn điện có hai bộ điều khiển độc lập từ rất lâu rồi.
Vào một ngày Chủ nhật ngập tràn sương mù mùa hè, chúng tôi phát hiện ra một biển báo "chào mừng đến tham quan thương lượng mua căn hộ chung cư" tại một tòa nhà gồm sáu căn hộ nằm bên rìa khu vực Pacific Heights. Nói là bên rìa, ý tôi là nó bám víu vào khu phố thời thượng này bằng một số thành phần rách rưới. Phía sau tòa nhà này nằm giáp ranh với khu vực Western Addition, các cửa ra vào và cửa sổ hướng về phía đó đều được lắp lưới sắt chống cưa. Nó cách những con phố sầm uất và náo nhiệt nhất trong khu vực Pacific Heights đúng ba dãy phố và hai bậc thuế, nơi sinh sống của những hộ gia đình có đủ khả năng nuôi chó cưng, tình nhân và gia đình thứ hai.
Ở sảnh chung, Tây Mông nhặt được một tờ rơi bán nhà, trên đó đầy rẫy những tuyên bố khó hiểu được nối bằng dấu gạch ngang: "Một căn hộ chung cư cao cấp trung bình, tiêu chuẩn kép, thuộc khu vực hạ Pacific Heights." Anh ấy đọc lớn lên, "Tọa lạc tại một tòa nhà mang phong cách Victoria nổi bật và từng một thời tráng lệ được xây dựng vào năm 1893 bởi kiến trúc sư lừng danh Archibald May." Điều đáng kinh ngạc là tờ rơi này còn khoe khoang có mười phòng và một vị trí đỗ xe, trong khi mức giá chào bán toàn bộ chỉ chiếm một phần nhỏ trong ngân sách của chúng tôi. Thế nhưng tất cả những gì chúng tôi nhìn thấy có thể cung cấp không gian sử dụng tuyệt đối không có nhiều hơn năm phòng — nếu tính cả gara thì là sáu.
Tôi bấm chuông cửa căn hộ số 5, "Giá này so với khu vực này thì quả thực không tệ." Tôi nhận xét.
"Nhưng nó thậm chí còn không phải là căn hộ phân lô," Tây Mông nói, "Tôi nghe nói sống cùng với những người ở chung cư, ngay cả việc đổi oát (watt) cho bóng đèn của bạn cũng phải tuân theo cái quy định ngớ ngẩn đến tột cùng đó."
"Nhìn cái lan can cầu thang kìa, em nghi ngờ nó chính là sản phẩm gỗ ban đầu. Chẳng phải tuyệt vời lắm sao?"
"Đó là đồ giả, em có thể nhận ra từ những đường cong tinh xảo hơn kia kìa, chúng quá đều đặn."
Vì Tây Mông có vẻ chẳng có chút hứng thú nào với nơi này, tôi chuẩn bị đề nghị chúng tôi rời đi. Nhưng ngay sau đó chúng tôi nghe thấy tiếng bước chân vội vã vang lên từ cầu thang, một người đàn ông gọi lớn: "Tôi đến ngay đây." Tây Mông lơ đễnh đan mười ngón tay vào tay tôi, tôi đã quên mất lần cuối cùng anh ấy làm thế là từ ngày nào rồi. Dù anh ấy có chê bai thế nào đi nữa, chắc chắn anh ấy đã thích những khả năng tiềm tàng của tòa nhà này: dù sao đi nữa thì nó cũng đủ để chúng tôi có được vẻ ngoài của một cặp vợ chồng hạnh phúc, có thu nhập kinh tế vững chắc và có thể duy trì ổn định đầy đủ trong suốt thời gian chờ hoàn tất văn bản.
Hóa ra người môi giới bất động sản chính là tác giả của tờ rơi bán nhà đó, anh ta là một thanh niên hói đầu ăn mặc bảnh bao, tên là Lester Roland hoặc Roland Lester. Anh ta có một thói quen khó chịu: thường xuyên hắng giọng "hèm hèm", từ đó tạo cho người ta ấn tượng rằng anh ta hoặc là đang nói dối hoặc là đang chuẩn bị làm những điều đáng xấu hổ.
Anh ta đưa cho chúng tôi một tấm danh thiếp kinh doanh, "Hai vị đã từng mua nhà ở khu vực này chưa, — thưa ông bà?"
"Simon Bishop và Olivia." Tây Mông đáp, "Chúng tôi hiện đang sống ở khu Marina."
"Vậy thì hai vị thừa biết đây là khu dân cư tốt nhất thành phố này rồi."
Tây Mông với vẻ mặt thờ ơ, "Ý anh là Pacific Heights chứ không phải Western Addition phải không?"
"Hà! Anh quả là một tay sành sỏi trong chuyện này. Tôi nghĩ, chắc hai vị muốn đi xem tầng hầm trước nhỉ."
"Được, chúng ta đi xem đi."
Lester có trách nhiệm dẫn chúng tôi đi xem các loại đồng hồ đo lắp riêng biệt, tủ nước nóng, bình đun nước nóng thông thường và đường ống bằng đồng, trong khi đó chúng tôi thì vừa dày dặn kinh nghiệm vừa không đưa ra cam kết nào mà lẩm bẩm. — "Như các vị đã lưu ý," — Lester hắng giọng — "Móng của ngôi nhà này chính là cấu trúc gạch ban đầu."
"Được đấy." Tây Mông tán thưởng gật đầu.
Lester nhíu mày, bỏ mặc chúng tôi trong sự im lặng sâu thẳm suốt một thoáng. "Tôi đề cập đến điểm này là vì —" anh ta ho nhẹ một tiếng, — "như các vị có thể đã biết, phần lớn các ngân hàng sẽ không cấp vốn cho một tòa nhà có móng gạch. Các vị biết đấy, là vì lo ngại động đất. Nhưng chủ sở hữu lại muốn tiến hành thế chấp lần hai, hơn nữa lại với tỷ lệ thế chấp thị trường tương tự. Tất nhiên, với điều kiện là các vị có đủ tư cách."
Thế là rõ, tôi thầm nghĩ, lý do tại sao nơi này lại bán rẻ như vậy là ở đây chứ đâu. "Tòa nhà này từng xảy ra vấn đề gì à?"
"Ồ, không, tuyệt đối không. Đương nhiên là nó đã trải qua quá trình tu sửa thông thường — chẳng hạn như vết nứt trang trí và những lỗi lầm tương tự. Tất cả các kiến trúc cổ đều sẽ có vài nếp nhăn — đó là đặc quyền của năm tháng. Thật đấy, đối với một cụ bà đã qua tuổi bách niên, tất cả chúng ta trông đều phải rạng rỡ mới phải. Hơn nữa các vị cũng phải nhớ rằng, vị phu nhân được tô son điểm phấn này từ lâu đã trải qua trận động đất năm 1889 mà vẫn bình an vô sự, chưa cần nhắc đến trận động đất lớn năm 1946. Còn đối với những tòa nhà mới hơn, các vị không thể nói thế được, phải không nào?"
Lời nói của Lester nghe quá mức số sốt sắng, hơn nữa tôi bắt đầu ngửi thấy mùi mốc meo khó chịu của đống rác thải. Trong góc tối, tôi nhìn thấy từng chiếc thùng đã trải qua sương gió, vỏ thùng bị chuột gặm nhấm và nhựa nứt nẻ đều bám đầy bụi bặm. Ở một khu vực chứa đồ khác thì rải rác chất đống những món đồ cồng kềnh gỉ sét — phụ tùng ô tô, tạ đòn, một hộp dụng cụ bằng kim loại — vật kỷ niệm chứng tỏ lượng hormone nam dư thừa của một cư dân nào đó trước đây. Tây Mông buông tay tôi ra.
"Căn hộ này chỉ có một vị trí đỗ xe," Lester nói, "nhưng thật may mắn, người đàn ông ở căn số 2 là một người mù, hai vị có thể thuê vị trí của ông ấy để đỗ chiếc xe thứ hai."
"Bao nhiêu tiền?" Tây Mông hỏi, vừa lúc tôi cũng đồng thời tuyên bố rằng: "Chúng tôi không có chiếc xe thứ hai."
Giống như một chú mèo, Lester bình thản nhìn cả hai chúng tôi, rồi nói với tôi: "Ồ, thế thì sẽ tiết kiệm được rất nhiều rắc rối đấy nhỉ?" Chúng tôi bắt đầu bước lên một cầu thang hẹp và đi lên, — "Tôi dẫn các vị đi theo lối vào phía sau, đây ngày xưa từng là cầu thang của người hầu, dẫn thông đến các căn hộ chung. Ồ, nhân tiện nói luôn, cách đây vài dãy phố — khoảng cách đi bộ, các vị biết đấy? — ở đó có một trường tư thục cực kỳ tuyệt vời, thuộc hàng đỉnh cao tuyệt đối. Đến năm lớp ba, mấy con quái vật nhỏ đó đã biết cách tháo tung một chiếc máy tính 386 và nâng cấp nó lên thành 486. Thật khó mà tin nổi những đứa trẻ nhà các vị được dạy dỗ nhiều đến thế nào vào thời buổi này."
Lần này, Tây Mông và tôi đồng thanh thốt ra hai âm tiết giống hệt nhau: "Không có con." Chúng tôi nhìn nhau, có vẻ hơi kinh ngạc. Lester mỉm cười, rồi nói: "Đôi khi điều đó là vô cùng sáng suốt."
Vào giai đoạn đầu của cuộc hôn nhân, sinh con là giấc mơ lớn mà chúng tôi cùng sở hữu. Cả Tây Mông và tôi đều bị choáng ngợp bởi khả năng hợp nhất di truyền của chúng tôi. Anh ấy muốn có một đứa con gái trông giống tôi, còn tôi thì muốn có một đứa con trai trông giống anh ấy. Sau sáu năm ngày nào cũng đo thân nhiệt của tôi, kiêng rượu trong hai kỳ kinh nguyệt, dùng đồng hồ báo thức để kiểm soát chuyện quan hệ tình dục, chúng tôi đến gặp một chuyên gia sinh sản — bác sĩ Brady. Ông ấy nói với chúng tôi rằng Tây Mông vô sinh.
"Ý bác sĩ là Olivia vô sinh chứ." Tây Mông nói.
"Không, kết quả xét nghiệm chỉ ra là cậu." bác sĩ Brady đáp, "Hồ sơ y tế của cậu cũng cho thấy tinh hoàn của cậu cho đến năm ba tuổi mới hạ xuống đúng vị trí."
"Cái gì? Tôi không nhớ có chuyện này, hơn nữa, bây giờ chúng lúc nào chẳng hạ xuống đúng vị trí, điều đó thì vướng bận gì chứ?"
Ngày hôm đó, chúng tôi đã học được rất nhiều điều về sự mỏng manh của tinh trùng, tinh trùng phải được bảo quản ở nơi có nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ cơ thể như thế nào — đó là lý do tại sao tinh hoàn lại treo bên ngoài cơ thể: máy điều hòa tự nhiên. Bác sĩ Brady nói tình trạng vô sinh của Tây Mông không chỉ là số lượng tinh trùng quá ít hoặc hoạt tính không đủ, mà nói rằng có lẽ kể từ tuổi dậy thì, tức là kể từ lần xuất tinh đầu tiên trong đời, anh ấy đã mất đi khả năng sinh sản.
"Nhưng điều đó là không thể," Tây Mông nói, "Tôi sớm đã biết mình có thể — ồ, không thể nào, xét nghiệm nhầm rồi."
Bác sĩ Brady dùng một giọng điệu chuyên dùng để an ủi hàng vạn người đàn ông hoài nghi mà nói rằng: "Tôi đảm bảo với anh, việc không thể sinh sản không hề ảnh hưởng đến nam tính, sinh lực, ham muốn tình dục, khả năng cương cứng, xuất tinh hay khả năng làm thỏa mãn bạn tình của anh." Tôi để ý thấy bác sĩ dùng cụm từ "bạn tình" chứ không phải "vợ của anh", như thể muốn bao hàm nhiều khả năng: quá khứ, hiện tại, tương lai. Sau đó ông ấy tiếp tục thảo luận về nội dung xuất tinh, cơ chế vật lý của sự cương cứng cùng những chuyện vụn vặt khác, mà những chuyện vụn vặt đó hoàn toàn chẳng liên quan gì đến đôi giày đi mưa bé xíu nằm trong ngăn kéo của chúng tôi, những cuốn truyện tranh mà mẹ tôi sớm đã sưu tầm cho người cháu ngoại tương lai của bà và ký ức về một Elsa đang mang thai đang hét lên hướng về phía Tây Mông ở đỉnh của một sườn dốc sắp lở tuyết.
Tôi biết Tây Mông đang nghĩ đến Elsa, hoài nghi không biết cô ấy có nhầm lẫn chuyện mang thai hay không. Nếu như nhầm lẫn, điều đó lại càng làm cho cái chết của cô ấy — dựa trên hết sai lầm ngớ ngẩn này đến sai lầm ngớ ngẩn khác — trở nên bi kịch hơn. Tôi cũng biết Tây Mông buộc phải cân nhắc đến việc Elsa đã nói dối, nghĩa là cô ấy vốn dĩ chẳng hề mang thai. Nhưng mà tại sao lại như thế chứ? Và nếu cô ấy mang thai, thì ai là người tình khác của cô ấy? Hơn nữa, tại sao cô ấy phải mắng nhiếc Tây Mông chứ? Chẳng có câu trả lời nào là có ý nghĩa cả.
Kể từ khi chúng tôi trò chuyện với Oa Lợi Duy Á về âm phủ vài năm trước, Tây Mông và tôi đã tránh nhắc đến tên Elsa. Giờ đây chúng tôi phát hiện ra lưỡi của mình đã bị khóa thêm một lớp xích kép, không thể thảo luận về vấn đề vô sinh của Tây Mông: vấn đề này sẽ liên quan đến Elsa, hay rộng ra là cảm xúc của chúng tôi đối với việc thụ tinh nhân tạo và nhận nuôi con nuôi. Năm này qua năm khác, chúng tôi tránh nhắc đến trẻ sơ sinh — dù là thật, tưởng tượng hay hy vọng có được, cho đến khi chúng tôi đứng ở đây, trên chiếu nghỉ cầu thang tầng ba này, cả hai đều đang nói với người xa lạ đáng thương tên là Lester rằng: "Không có con." Giống như chúng tôi đã đưa ra quyết định từ nhiều năm trước, và vào lúc đó cũng giống như bây giờ, đó là quyết định cuối cùng.
Lester đang tìm kiếm trong số mười mấy chiếc chìa khóa được xâu bởi một sợi dây điện, — "Nó ở đâu quanh đây thôi," anh ta lẩm bẩm, — "có lẽ là chiếc cuối cùng, đúng rồi, sao anh chị lại không biết nó chứ — nhìn này, đây rồi." Anh ta mở cửa, dùng tay vỗ lên tường để tìm công tắc đèn. Căn phòng này thoạt đầu mang lại một cảm giác quen thuộc — như thể tôi đã từng bí mật đến thăm nơi này hàng trăm hàng nghìn lần trước đây, chốn hội tụ của những giấc mơ ban đêm. Chúng ở ngay kìa: những cánh cửa gỗ đôi nặng nề được lắp kính gợn sóng cổ xưa; sảnh lớn rộng rãi được trang trí bằng gỗ sồi đen; ô thoáng chiếu vào một luồng sáng lấp lánh những hạt bụi cổ xưa. Giống như trở về một ngôi nhà trước đây, tôi không thể chắc chắn cảm giác quen thuộc của mình là an ủi hay ngột ngạt. Sau đó Lester vui vẻ tuyên bố rằng chúng ta nên bắt đầu tham quan từ "phòng khách", thế là cảm giác đó liền tan thành mây khói.
"Đây là kiến trúc mà chúng tôi gọi là phong cách Đông Lạc (Eastlake) và Phục hưng Gothic." Lester giới thiệu. Anh ta tiếp tục giải thích nơi này vào thập niên hai mươi đã trở thành nhà trọ cho những người bán hàng rong và góa phụ chiến tranh như thế nào; vào thập niên bốn mươi, khi tòa nhà này được cải tạo thành hai mươi tư phòng căn hộ nhỏ — chốn trú ẩn thời chiến giá rẻ — thì "Phục hưng Gothic" tiến hóa thành "những người khéo tay đặc biệt"; vào thập niên sáu mươi, nó biến thành căn hộ sinh viên, còn trong cơn bùng nổ bất động sản đầu thập niên tám mươi, tòa nhà này lại một lần nữa được thổi bùng sức sống mới, lần này là trở thành sáu căn hộ chung cư "bán cao cấp".
Tôi phỏng đoán "bán cao cấp" liên quan đến chiếc đèn chùm bằng thủy tinh giá rẻ ở sảnh, thực ra "bán sành điệu" mới là con đường thực tế hơn để miêu tả căn hộ này, bởi vì căn ngôi nhà này thể hiện phong cách chắp vá kém điều hòa của giai đoạn trước đó; nhà bếp có gạch men đỏ Tây Ban Nha và tủ bếp ép gỗ đã mất đi tất cả dấu vết của dòng máu phong cách Victoria, ngược lại, các phòng khác vẫn được trang trí rất nhiều ở các góc trần nhà bằng những phần phào chỉ thạch cao và vòm nách vô dụng lại phô trương; các đường ống tản nhiệt không còn nối với lò sưởi; lò sưởi xây gạch cũng có thêm phần trang trí bằng gạch thừa thãi của chính mình; những cánh cửa rỗng chắc là được làm gần đây đã tạm bợ chắp vá thành tủ quần áo. Qua giọng điệu phóng đại của tay môi giới bất động sản như Lester, không gian kiểu Victoria vô dụng bỗng vươn lên thành một mục đích mới quan trọng: một chiếu nghỉ cầu thang trước đây được chiếu sáng ngược bởi một miếng thủy tinh màu hổ phách đã biến thành "phòng hòa nhạc" — tôi thỉnh nghĩ, điều này đối với một tứ tấu người lùn thì quả thực đủ hoàn hảo; một không gian ngột ngạt từng thuộc về người giặt là ở tầng thấp nhất, giờ đây dưới sự gợi ý của Lester, đã trở thành "thư viện của trẻ em" — đây không có nghĩa là còn có thư viện của người lớn; một nửa phòng trang điểm từng rất rộng rãi có âm tường — nửa còn lại ở căn hộ liền kề — giờ đã biến thành "phòng văn thư". Chúng tôi kiên nhẫn nghe Lester nói, những từ ngữ bay vút qua từ miệng anh ta, giống như một chú chó hoạt hình đang chạy trên tấm vải sơn vừa mới được đánh bóng, cuồng loạn lao về phía không biết nơi nào.
Anh ta chắc chắn đã nhận ra sự hứng thú của chúng tôi đang suy giảm, bèn hạ tốc độ nói, thay đổi chiến lược để hướng ánh mắt của chúng tôi vào "những đường nét cổ điển và món hời khiến người ta kinh ngạc chỉ với một chút công sức". Chúng tôi qua loa đại khái quan sát những căn phòng còn lại: một mê cung cấu trúc từ những căn phòng nhỏ xíu như lồng chim, cũng ngập tràn những thứ xa hoa giả tạo: phòng trẻ em, phòng ăn sáng, phòng vệ sinh nhỏ — thực chất chỉ là một không gian có kích thước vừa đủ chứa một chiếc bồn cầu và người ngồi trên đó, hơn nữa đầu gối còn phải ép chặt lấy cửa tủ. Trong một căn hộ hiện đại, toàn bộ diện tích này tối đa cũng chỉ có thể chia thành không quá bốn phòng có kích thước trung bình.
Chỉ còn lại một căn phòng trên tầng cao nhất là chưa xem, Lester mời chúng tôi trèo lên chiếc cầu thang hẹp để lên gác mái trước kia, nay là "phòng khuê nữ lớn". Ở đó, những khuôn mặt mỉa mai của chúng tôi há hốc không khép lại được, chúng tôi chậm rãi ngước nhìn xung quanh giống như những kẻ bị dọa cho sợ hãi bởi sự thay đổi tín ngưỡng tôn giáo đột ngột: trước mắt là một căn phòng khổng lồ, trần nhà của nó nghiêng hẳn đi thành vách tường. Diện tích sàn của nó lớn tương đương với diện tích của chín căn phòng ở phía dưới cộng lại. Ngược lại với tầng ba tối tăm nồng mùi mốc meo, tầng thượng này ngập tràn ánh sáng, không khí trong lành, hơn nữa còn được sơn một màu trắng tinh khiết. Tám ô cửa sổ mái nhô ra khỏi phần trần nghiêng, thu hút ánh mắt của chúng tôi hướng về bầu trời điểm xuyết những cụm mây. Dưới chân chúng tôi, sàn ván gỗ rộng lấp lánh như sân trượt băng. Tây Mông lại nắm lấy tay tôi siết chặt, tôi cũng siết chặt lại để đáp lời.
Nơi này có tiềm năng, tôi thầm nghĩ, tôi và Tây Mông có thể hình dung ra rất nhiều cách để lấp đầy không gian này.
Kể từ ngày chúng tôi chuyển đến, tôi đã bắt đầu cạy lớp vữa trát trên tường của phòng trẻ em cũ. Chẳng bao lâu sau căn phòng này được đặt cho một biệt danh: "Thánh địa gia nhân" của tôi. Lester từng nói, bức tường ban đầu ở đây là gỗ gụ khảm những lát bướu cây, thế nên tôi rất háo hức muốn vạch trần báu vật kiến trúc này. Dưới tác dụng của mùi dung môi sơn chóng mặt, tôi tưởng tượng mình là một nhà khảo cổ học, đang khai quật tầng lớp của những cư dân trước đây, lịch sử của họ có thể được tái thiết lập thông qua sự lựa chọn lớp phủ tường của họ. Lớp đầu tiên được hé lộ là một lớp da tường phong cách yuppie hình thành từ nhũ tương có màu tương tự như rượu Chardonnay, áp dụng kỹ thuật điểm họa, khiến cho nó trông giống như bức tường của một tu viện Florence. Theo sát ngay sau đó là những lớp vỏ cứng dễ bong tróc hình thành trong những thập niên trước — thập niên tám mươi là màu xanh lá giống đô la, thập niên thập niên bảy mươi là màu cam giống thuốc ảo giác, thập niên sáu mươi là màu đen giống hippie, thập niên năm mươi là màu sắc nhạt nhòa thích hợp cho trẻ nhỏ. Còn bên dưới những thứ này là những cuộn giấy dán tường bị xé rách cuộn lại, họa tiết trên giấy dán tường là từng đàn bướm vàng, rất nhiều thiếu niên mang theo những giỏ hoa anh đào. Những thế hệ nam nữ tình nhân nối tiếp nhau trong quá khứ từng trải qua những đêm không ngủ ngắm nhìn chính những bức tường quen thuộc này, vừa an ủi đứa trẻ đang đau bụng, thiếu niên đang sốt, người thím mắc bệnh lao.
Một tuần sau, cùng với những đầu ngón tay thô ráp nứt nẻ, tôi đã cạy đến lớp thạch cao cuối cùng, rồi đến phần gỗ thô. Đó không phải là gỗ gụ như Lester đã nói, mà là gỗ linh sam giá rẻ. Không chỉ bị cháy đen mà còn ngả sang màu đen do ẩm mốc — đây đại khái là hậu quả do một vòi rồng quá cuồng nhiệt gây ra vào thời điểm giao thế kỷ. Dù không phải là một kẻ có khuynh hướng bạo lực, lần này tôi cũng không nhịn được mà đá vào bức tường, hơn nữa dùng sức mạnh lớn đến mức đá thủng một lỗ trên ván gỗ, lộ ra một đống lông màu xám thô ráp. Tôi phát ra một tiếng thét chói tai đinh tai nhức óc — âm cao trong phim kinh điển hạng B, thế nên Tây Mông nhảy tót vào phòng, tay lăm lăm một chiếc bay trát vữa, cứ như thể con dao đó có thể trở thành vũ khí đắc lực để chống lại một đám đông kẻ sát nhân vậy. Tôi dùng một ngón tay chỉ trỏ thẳng vào đống lông mà tôi tin là di vật lông của một vụ án chưa phá nào đó từ nhiều mươi năm trước.
Một tiếng sau, Tây Mông và tôi đã cạy sạch hầu như toàn bộ phần gỗ mục nát, tạo thành một đống lớn lông trên sàn nhà giống như ổ của một con chuột khổng lồ. Cho đến khi chúng tôi gọi một nhà thầu xây dựng đến lắp đặt vách thạch cao, chúng tôi mới phát hiện ra thứ mà mình đã dọn đi chính là rất nhiều bơ-shel (bushel) lông bờm ngựa, một loại vật liệu cách nhiệt của người thời đại Victoria. Nhà thầu còn nói lông bờm ngựa có thể cách âm rất hiệu quả. Lúc đó chúng tôi mới hiểu ra: những người thời đại Victoria giàu có đã xây dựng ngôi nhà của họ như vậy, là để không phải nghe thấy những âm thanh kém sang trọng: chẳng hạn như tiếng rên rỉ đạt đến đỉnh điểm tình dục phát ra từ căn phòng bên cạnh hoặc tiếng chuông reo âm cao do khó tiêu gây ra.
Tôi nhắc đến điều này là vì Tây Mông và tôi không buồn nhét lông bờm ngựa trở lại nữa. Thoạt đầu, tôi tin rằng điều này có liên quan ít nhiều đến những hiệu ứng âm thanh kỳ lạ mà chúng tôi bắt đầu trải qua trong tháng đầu tiên. Không gian giữa những bức tường của chúng tôi và tường của căn hộ bên cạnh đã trở thành một chiếc giếng trời rỗng rộng khoảng một foot, chiếc giếng trời này, tôi cảm thấy đã trở thành cấu trúc truyền âm, có thể truyền tải âm thanh của toàn bộ tòa nhà đến, sau đó lại chuyển đổi thành tiếng nện thình thịch, tiếng xì xì và đôi khi nghe giống như các lớp học tiếng Hy Lạp được giảng dạy ở tầng trên phòng ngủ của chúng tôi.
Bất cứ lúc nào muốn miêu tả vấn đề tiếng ồn của chúng tôi, tôi đều sẽ bắt chước những âm thanh mà mình nghe thấy: Đinh — đinh — đinh, ô-ba — ô-ba — ô-ba, hu — hu — xì. Tây Mông thì sẽ đem những âm thanh này so sánh với các nguồn có thể: gõ vào một phím đàn piano lạc nhịp, một tiếng kêu bi thương của loài chim bồ câu hoang đang bay lượn qua lại, tiếng cạo trên băng. Nhận thức của chúng tôi về thế giới hoàn toàn khác biệt như vậy — có thể nói là lớn lên trong hai môi trường hoàn toàn khác nhau.
Trong tất cả những chuyện này còn có một khía cạnh kỳ lạ: khi những âm thanh rợn tóc gáy nhất truyền đến, Tây Mông dường như luôn không có nhà — giống như lần tôi đang tắm, nghe thấy có người đang thổi giai điệu chủ đề của "Nguy Hiểm". Vì tôi không thể xua tan giai điệu khó chịu này trong suốt thời gian còn lại của ngày hôm đó, tôi cảm thấy giai điệu này đặc biệt làm tâm thần bất an, có một cảm giác bị ai đó tiếp cận áp sát.
Một kỹ sư kết cấu đưa ra ý kiến rằng tiếng ồn ào này có thể xuất phát từ các đường ống sưởi ấm đã bị bỏ hoang; một chuyên gia an toàn động đất lại bảo tôi vấn đề này có lẽ chỉ là sự lún tự nhiên của một kiến trúc cấu trúc gỗ. Ông ấy giải thích rằng, chỉ cần có một chút trí tưởng tượng, bạn liền có thể nghĩ đến những tiếng cóót két và rên rỉ đó chẳng qua chỉ là do đủ mọi thể loại đóng cửa, mọi người chạy lên chạy xuống cầu thang gây ra — thế nhưng ông ấy hoàn toàn không hề biết còn có những người khác đang phàn nàn về tiếng thủy tinh vỡ cùng với những tiếng cười khúc khích chế giễu theo sau đó. Mẹ tôi nói đó là chuột, thậm chí có khả năng là gấu mèo. Chính bản thân bà cũng từng gặp phải chuyện này rồi. Chẩn đoán của một thợ quét ống khói là do chim bồ câu làm tổ trong ống khói đã bị bỏ hoang của chúng tôi. Kevin nói chất trám răng đôi khi có thể truyền sóng vô tuyến, thế nên tôi nên đến chỗ nha sĩ Tommy của mình để kiểm tra. Nhưng dù thế nào đi nữa, vấn đề vẫn cứ tồn tại.
Mà cũng thật lạ, hàng xóm của chúng tôi nói họ không hề bị làm phiền bởi bất kỳ âm thanh bất thường nào, mặc dù một người mù sống ở tầng dưới của chúng tôi đã chua chát đề cập rằng anh ta có thể nghe thấy dàn âm thanh mở quá to của chúng tôi, đặc biệt là vào buổi sáng. Anh ta nói, đó chính là lúc anh ta đang thực hiện thiền định hằng ngày.
Khi chị gái tôi nghe thấy tiếng đinh tai nhức óc và tiếng xì xì đó, chị ấy đưa ra góc nhìn độc đáo của riêng mình: "Vấn đề không phải là cái gì mà là người nào, hì hì." Trong lúc tôi tiếp tục lấy sách ra khỏi thùng đóng gói, Oa Lợi Duy Á đi đi lại lại trong phòng làm việc của tôi, chiếc mũi hếch lên, giống như một chú chó đang sục sạo ngửi ngóng khắp những bụi cây mà nó hứng thú vậy. "Đôi khi hồn ma, bọn chúng cũng sẽ đi lạc." Cô ấy nói, "Nếu cậu cần, để tớ thử bắt chúng hộ cho." Cô ấy vươn một tay ra, giống như chìa ra một cây đũa phép vậy.
Tôi nhớ đến Elsa. Từ rất lâu trước đây, cô ấy đã biến mất khỏi các chủ đề trò chuyện của chúng tôi, thế nhưng lại thành công ở lại phía sau đại não của tôi, bị đóng băng trong thời gian, giống như một vị khách thuê nhà thuộc quyền hạn hợp đồng thuê, bạn hoàn toàn không thể đuổi cô ấy đi được. Giờ đây, theo những hồn ma của Oa Lợi Duy Á, cô ấy lại bằng mọi cách giãy giụa thoát ra ngoài.
"Đó không phải là hồn ma," tôi kiên định nói, "Chúng ta đã lấy vật liệu cách nhiệt ra rồi, thế nên căn phòng này mới giống như một hộp cộng hưởng vậy."
Oa Lợi Duy Á độc đoán khịt mũi một cái, hoàn toàn phớt lờ lời giải thích của tôi. Cô ấy đặt bàn tay của mình lên một điểm trên sàn nhà, rồi lại đi vòng quanh trong phòng, bàn tay cô ấy đang run rẩy, giống như một chú chó săn đang truy lùng thứ gì đó vậy. Cô ấy phát ra một loạt tiếng "Hừ —", mỗi tiếng đều trở nên vô cùng chắc chắn: "Hừ —! Hừ — hừ hừ!" Cuối cùng cô ấy đứng ở cửa ra vào, bất động đứng im phăng phắc.
"Vô cùng kỳ lạ," cô ấy nói, "Có người ở đây. Tớ cảm nhận được. Nhưng không phải hồn ma, mà là người sống, tràn đầy điện, ở trong tường, cũng ở dưới sàn nhà."
"Hay thật," tôi nói đùa, "Có lẽ chúng ta nên thu tiền thuê nhà của người này rồi."
Oa Lợi Duy Á tiếp tục nói: "Người sống luôn phiền phức hơn hồn ma rất nhiều, người sống đến làm phiền cậu là vì tức giận. Ma gây rắc rối chỉ vì đau buồn, tuyệt vọng, hoang mang."
Tôi nhớ đến Elsa, cầu nguyện cho Tây Mông có thể nghe thấy những lời cô ấy nói.
"Tớ biết cách bắt ma," Oa Lợi Duy Á nói, "Tam thẩm của tớ đã dạy tớ. Tớ gọi ma: 'Nghe đây, ma!' — là một tâm hồn đang nói chuyện với một tâm hồn khác." Cô ấy ngước lên nhìn, vẻ mặt thành khẩn, "Nếu là phụ nữ lớn tuổi, hãy cho xem đôi dép cũ, đế da của chiếc dép sớm đã trở nên mềm mại, đi cực kỳ thoải mái; nếu là cô gái trẻ, hãy cho xem chiếc lược thuộc về mẹ cô ấy: các cô gái nhỏ luôn thích tóc của mẹ mình. Tớ bỏ những báu vật mà loài ma này cực kỳ yêu thích vào một chiếc thùng dầu lớn, khi cô ấy đi vào — mau lên! — tớ liền đậy chặt nắp thùng lại. Giờ đây cô ấy đã sẵn sàng lắng nghe tớ nói rồi, tớ bảo cô ấy. 'Ma! Ma! Đã đến lúc ngươi đi xuống âm phủ rồi.'"
Oa Lợi Duy Á nhìn gương mặt đang cau mày của tôi rồi bổ sung thêm: "Tớ biết — tớ biết! Ở Mỹ không có thùng dầu lớn, thậm chí mọi người còn không biết tớ đang nói ý gì. Đối với hồn ma kiểu Mỹ, bắt buộc phải dùng thứ gì đó khác — có lẽ dùng thùng nhựa gia dụng loại lớn là được. Hoặc va li du lịch, nhãn hiệu Samson; hoặc những chiếc hộp mua từ cửa hàng thời thượng chứ không phải cửa hàng giảm giá. Đúng rồi, tớ thấy đây là một ý hay. Libi — à, cái cửa hàng thời thượng tên là gì ấy nhỉ, nơi mà ai ai cũng biết mọi thứ đều có giá đắt cắt cổ ấy? Năm ngoái Tây Mông đã mua cho cậu một chiếc bút máy trị giá cả trăm đô la ở đó mà."
"Tiffany."
"Đúng đúng, Tiffany! Bọn họ đưa cho cậu những chiếc hộp màu xanh lam, màu sắc giống hệt bầu trời. Hồn ma Mỹ yêu thiên đường, những đám mây xinh đẹp... Ồ, tớ biết rồi. Cái hộp âm nhạc mà tớ tặng cậu hồi kết hôn đâu rồi? Hồn ma rất thích âm nhạc, tưởng là người tí hon đang hát ở bên trong, liền sẽ đi vào xem thử. Kiếp trước của tớ, tiểu thư Banner cũng có một chiếc hộp âm nhạc giống thế này —"
"Oa Lợi Duy Á, tớ phải đi làm việc đây —"
"Tớ biết — tớ biết! Dù sao đi nữa, chỗ cậu không có ma đâu, trong nhà cậu có người sống đang lén lút chạy tới chạy lui đấy. Có lẽ hắn đã làm chuyện xấu gì đó, giờ đang trốn tránh, không muốn bị bắt. Thật tồi tệ, tớ không biết cách bắt những kẻ không có sự ràng buộc. Tốt nhất là cậu nên gọi Cục Điều tra Liên bang đi. À — tớ biết rồi! Gọi cho người đàn ông trên chương trình truyền hình — Những kẻ truy n ấy — ấy. Cậu gọi đi. Nói cho cậu biết, tuần nào bọn họ chẳng tóm được một tên nào đó." Oa Lợi Duy Á khuyên nhủ tôi như vậy.
Rồi lại có một chuyện khác xảy ra, tôi cố gắng gạt phăng nó đi như một sự việc ngẫu nhiên: Elsa lại quay trở lại cuộc sống của chúng tôi theo một cách vô cùng kịch tính. Một bạn học đại học của cô ấy — sau này trở thành nhà giám sản của một công ty âm nhạc tân thời đại — đã chơi lại và sản xuất một bản nhạc do Elsa sáng tác có tên là "Tinh thần cao hơn", bản nhạc này sau đó được dùng làm nhạc phim cho một bộ phim truyền hình dài tập miêu tả về các thiên thần. Chuyện này, như Tây Mông đã chỉ ra, bởi vì Elsa không thích thần thoại truyền thuyết Cơ Đốc giáo, cho nên mang đầy tính châm biếm. Thế nhưng vào thời điểm đó, dường như chỉ qua một đêm, ai ai cũng phát cuồng vì bất cứ thứ gì liên quan đến thiên thần. Bộ phim truyền hình này đạt được lượng người xem rất cao, mà đĩa CD nhạc phim của nó cũng bán khá chạy, thế nên Tây Mông bắt đầu tìm thấy giá trị tự nhiên mới trong danh tiếng cỏn con của Elsa. Tôi chưa bao giờ nghĩ tới việc bản thân lại có thể căm ghét thiên thần đến thế. Mà Tây Mông — người từng khinh thường công ty âm nhạc tân thời đại — mỗi khi có bạn bè đến chơi, đều sẽ bật đĩa của cô ấy, hơn nữa còn sẽ thản nhiên nói rằng nhà soạn nhạc đã dành tặng bản nhạc này cho anh ấy. Đó là tại sao, bọn họ sẽ hỏi. Ồ, bọn họ từng là người tình, là bạn thân nhất. Dĩ nhiên, điều này khiến cho một số bạn bè mỉm cười an ủi nhìn tôi, thế nhưng tôi lại cảm thấy chuyện này phát điên lên được. Tiếp theo tôi sẽ nói rõ sự thật rằng Elsa đã qua đời trước khi tôi gặp Tây Mông, thế nhưng điều này không hiểu sao nghe lại càng giống như đang sám hối, cứ như thể tôi từng nói bản thân đã giết cô ấy vậy, rồi sự im lặng liền giáng xuống toàn bộ căn phòng.
Thế là, đi kèm với tất cả những hiệu ứng âm thanh trong ngôi nhà của chúng tôi, tôi cố gắng giả vờ như bản thân không hề bị âm nhạc của Elsa làm cho tâm thần bất an, cố gắng phớt lờ khoảng cách ngày càng tăng giữa tôi và Tây Mông. Tôi cố gắng tin rằng, trong chuyện hôn nhân, cũng giống như đối mặt với động đất, ung thư, hành động chiến tranh, người như tôi có khả năng miễn dịch với tai họa bất ngờ. Nhưng muốn giả vờ thế giới này mọi thứ đều bình thường, trước tiên tôi phải hiểu rõ rốt cuộc có điểm nào không ổn.