Tứ Bài Lâu

Lượt đọc: 7 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 4

❊ ❊ ❊

1

Dù so với các chị em gái ruột, chị em họ, hay so với bạn học nữ cùng khóa cùng ngành thời trung học và đại học, Điền Nguyệt Minh đều đẹp một cách vượt trội tuyệt đối.

Không cần bàn đến đôi mắt hàng mày, chẳng cần miêu tả vóc dáng đáy thắt lưng ong, nếu tách rời từng đường nét ấy ra để săm soi thì có lẽ chẳng có gì quá đỗi xuất chúng, thậm chí còn có đôi chỗ tì vết. Điểm mấu chốt nằm ở phong thái toát ra từ toàn bộ con người cô, đặc biệt là khí chất trí thức cao nhã và vẻ thanh tao mà không kiêu ngạo tỏa ra từ toàn thân.

Đầu thập niên 50, khi tốt nghiệp đại học về làm việc tại một viện thiết kế ở Bắc Kinh, cô thường để tóc ngắn, mặc chiếc áo sơ mi cộc tay cổ tròn bằng vải phin nõn trắng gần như không có họa tiết trang trí, bên dưới là chiếc váy ngắn may bằng vải hoa rẻ tiền, chân đi đôi xăng-đan bệt bình dị. Thế nhưng, mỗi khi cô rảo bước, cất lời trò chuyện, khẽ mỉm cười, hơi ngửa đầu hay nhẹ vỗ tay cùng đồng nghiệp, lòng ai nấy đều không khỏi dấy lên ý nghĩ: Đúng là mỹ nhân bước ra từ trong phim ảnh...

Điền Nguyệt Minh quả thực có mối duyên nợ lúc tỏ lúc mờ với điện ảnh — hiện tượng văn hóa đang nở rộ trong thế kỷ này. Nhưng khác với cô em họ Tưởng Doanh Ba, thứ in dấu sâu đậm nhất trong tâm hồn và quyết định những ngã rẽ trọng đại nhất của đời cô không phải là phim ảnh Liên Xô, mà là điện ảnh Hollywood của nước Mỹ.

Cha của Điền Nguyệt Minh là Điền Đắc Lũng, thời trẻ từng du học tại trường quân sự West Point của Mỹ, sau này trở thành tướng lĩnh cấp cao của Quốc dân đảng. Sau năm 1945, ông từng lần lượt đảm nhiệm chức tùy viên quân sự cấp tham tán tại đại sứ quán của chính phủ Quốc dân đảng ở Canada và Mỹ. Khi sang nhận nhiệm sở ở hai nước này, ông mang theo cả vợ và mấy đứa con. Lúc ấy Điền Nguyệt Minh đã ngoài mười tuổi. Hơn ba năm sống ở Canada và Mỹ, cô đã học được cách nói tiếng Anh lưu loát; ngày ngày có một di dân gốc Hungary dạy chị gái Điền Hà Minh và cô chơi dương cầm, một quá trình huấn luyện bài bản, tuần tự theo đúng chuẩn học viện. Bởi thế, dù sau này đường đời có khoảng thời gian rất dài đứt đoạn hoàn toàn với cây đàn dương cầm, nhưng khi có dịp ngồi lại bên phím đàn, cô chỉ cần ôn lại đôi chút là có thể tấu lên những bản sonata đầy độ khó chuyên nghiệp của Liszt hay Chopin một cách trôi chảy và tràn đầy sự thấu hiểu.

Văn hóa Mỹ, hay mở rộng ra là văn hóa phương Tây nói chung, ngấm sâu vào tâm hồn Điền Nguyệt Minh, nhào nặn nên nhân cách và phong thái của cô. Thế nhưng cô không hề bị trói buộc, càng không hòa tan hoàn toàn vào đó. Sau năm 1949, cô cũng đón nhận văn hóa Xô Viết, hay rộng hơn là văn hóa cánh tả, với một tâm thế đồng điệu đầy hoan hỉ. Cha cô, Điền Đắc Lũng, đã tuyên bố khởi nghĩa trước khi Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc tiến vào Tứ Xuyên, lại có công trong việc bảo vệ, bàn giao quân bị và tài sản quan trọng của địa phương từ quân đội Quốc dân đảng. Do đó, sau năm 1950, ông không bị đưa vào trại cải tạo chiến phạm như Đỗ Duật Minh, mà đến một học viện quân sự của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc ở Nam Kinh giữ chức giáo quan cao cấp. Điều này giúp Điền Nguyệt Minh sau này có thể duy trì một mối quan hệ thư thái, hòa hợp với các hoàn cảnh xã hội lớn nhỏ quanh mình.

Khi đến Bắc Kinh làm việc, Điền Nguyệt Minh ở trong ký túc xá người độc thân thuộc khu tập thể viện thiết kế. Thuở ấy, viện thiết kế nằm ở khu vực gọi là "Bắc Kinh mới" — tức dải đất gồm nhiều dãy nhà mới xây dọc hai bên trục đường kéo dài về phía tây của đại lộ Đông Tây Trường An, xuyên qua Phục Hưng Môn. Thời đó chưa có tàu điện ngầm, xe buýt chạy tuyến đó cũng thưa thớt, nên mỗi dịp lễ tết cô vào nội thành ghé nhà cậu mợ chơi, cậu mợ sợ trời tối cô quay về nơi xa xôi, vắng vẻ như thế sẽ không an toàn, bèn luôn dọn cơm tối sớm, trước sáu giờ nhất định giục cô ra về. Song có một lần trên đường về, khi đổi xe ở khu Đông Đơn, Điền Nguyệt Minh thấy rạp chiếu phim Đại Hoa đang chiếu bộ phim văn nghệ màu "Othello" của Liên Xô. Cô liếc đồng hồ đeo tay, nhẩm tính xem xong suất chiếu lúc bảy giờ mười lăm phút thì lúc tan rạp vẫn kịp bắt chuyến xe buýt cuối cùng về "Bắc Kinh mới", bèn chẳng ngần ngại mua vé vào rạp. Trước giờ chiếu, cô đi vệ sinh, lúc ngồi xổm rồi đứng lên, sơ ý làm rơi đôi găng tay xuống rãnh bệ xí sâu tới hai thước. Đôi găng tay ấy vốn được mang từ Mỹ về nước thuở trước, dùng ngần ấy năm chỉ hơi sờn cũ, còn kiểu dáng và màu sắc thì phụ nữ cùng trang lứa ai nhìn cũng phải mê. Hai chiếc găng tay nằm đối xứng dưới đáy rãnh, vừa xót ruột vừa bất lực. Ra khỏi nhà vệ sinh, Điền Nguyệt Minh dĩ nhiên vô cùng ảo não, nhưng cô mau chóng điều chỉnh lại tâm trạng. Cô nghĩ dù sao "Othello" cũng rất đáng xem, với cô, một bữa tiệc tinh thần thịnh soạn có giá trị hơn nhiều so với một đôi găng tay đã cũ. Cô móc ví đếm tiền, trừ đi tiền vé xe buýt lượt về, số còn lại vừa khéo mua được một phần kem vị hoa quả. Mua! Cô chẳng chút do dự mua kem ăn rồi bước vào phòng chiếu. Kiên nhẫn xem hết tập này qua tập khác của phim tài liệu "Bản tin thời sự" chiếu kèm ở đầu buổi, cuối cùng, bộ phim văn nghệ màu "Othello" do nam diễn viên Liên Xô đình đám nhất thời bấy giờ là Bondarchuk thủ vai chính cũng bắt đầu. Điền Nguyệt Minh không chỉ thưởng thức bộ phim một cách say sưa thông thường, mà bằng một con mắt thẩm mỹ ở tầm vóc cao, thấu hiểu sâu sắc và bình phẩm tỉ mỉ từ nguyên tác, kịch bản chuyển thể, thủ pháp đạo diễn, mỹ thuật, quay phim, cho đến diễn xuất của diễn viên, chuyển động của ống kính và cách xử lý chi tiết. Cô đợi đến cảnh quay cuối cùng khép lại, lắng nghe trọn vẹn nốt nhạc đệm cuối cùng của phần kết phim mới rời khỏi chỗ ngồi... Bước ra khỏi rạp, cô giơ tay nhìn đồng hồ, ôi thôi, dù có chạy thục mạng cũng chẳng thể nào đuổi kịp chuyến xe buýt cuối cùng về "Bắc Kinh mới" nữa rồi! Sau thoáng hoảng hốt ngắn ngủi, Điền Nguyệt Minh thản nhiên dựng cổ áo khoác ngắn lên, đôi bàn tay thiếu vắng găng đút vào túi áo, rảo bước men theo con phố vắng tanh tiến về phía ga Bắc Kinh — khi ấy ga Bắc Kinh vẫn còn nằm ở Tiền Môn. Suốt dọc đường, Điền Nguyệt Minh vừa đi vừa hồi tưởng lại bộ phim, cảm thấy vầng trăng khuyết trên bầu trời trong vắt như lưu ly tím sau trận gió bấc sao mà đẹp đến thế, những người đạp xe thảng hoặc lướt qua quầng sáng đèn đường trông cũng thật thú vị... Sau đó, cô vào phòng chờ nhà ga ngồi suốt một đêm, ngửa đầu tựa vào lưng ghế mà mơ một chuỗi giấc mộng muôn màu rực rỡ, tỉnh dậy chẳng thể nào nhớ hết. Trời còn chưa sáng hẳn, cô đã rời ga đón chuyến xe buýt đầu tiên chạy về "Bắc Kinh mới". Về tới cơ quan, cô vào phòng nước rửa mặt chải chuốt cẩn thận, đến giờ làm việc bước vào văn phòng vẫn rạng rỡ tươi tắn, dồi dào sinh lực như cũ...

Đó chính là Điền Nguyệt Minh. Về sau cô kể lại chuyện này cho cô em họ Tưởng Doanh Ba nghe, nhắc đến bộ phim "Othello", cô đúc kết: "Đắt giá nhất chính là phần âm nhạc do Khachaturian biên soạn... Sau này chị nhất định phải tìm mua cho bằng được đĩa than giao hưởng của ông ấy để nghe thật kỹ!"

Tưởng Doanh Ba không tìm thấy sự đồng điệu, chỉ buông một câu: "Tiếc là hôm đó Tây Nhân không xem cùng chị!"

2

Một bộ phim Liên Xô có tên "Cuộc sống hạnh phúc" đã định hình hướng đi nghề nghiệp của Tưởng Doanh Ba, kéo theo hàng loạt biến chuyển trong đời sống cá nhân của cô sau này.

Số phận của Điền Nguyệt Minh thực chất cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc từ điện ảnh, nhưng không phải do một bộ phim duy nhất, mà là từ chuỗi tài tử điện ảnh trong những giấc mộng tráng bạc do Hollywood nhào nặn nên. Trong số đó, người khiến cô say đắm nhất là Tyrone Power. Điều đó chưa hẳn vì những bộ phim Tyrone Power đóng xuất sắc đến nhường nào, hay cô khâm phục diễn xuất của ông đến đâu, mà bởi vì hình tượng màn bạc của Tyrone Power có thể hòa làm một với chàng bạn học cùng lớp cấp ba Trịnh Hi Hoa, khiến cô mê mẩn tâm thần!

Trịnh Hi Hoa chính là người được nhắc đến với cái tên Tây Nhân trong câu nói "Tiếc là hôm đó Tây Nhân không xem cùng chị" của Tưởng Doanh Ba.

Tây Nhân đương nhiên là biệt danh của Trịnh Hi Hoa. Vì biệt danh này được đặt bằng tiếng Tứ Xuyên, sau này người thân, bạn bè gọi nhau cũng đều dùng phát âm Tứ Xuyên, nên chẳng ai nghe nhầm thành "Tập Nhân" trong "Hồng Lâu Mộng", mấu chốt là chữ "nhân" trong tiếng Tứ Xuyên phải phát âm thành "nhẫn-ơ". Ở trường trung học Thục Hương thuở ấy, Tây Nhân đâu chỉ hớp hồn một mình Điền Nguyệt Minh. Cậu là con lai, cha mang dòng máu Trung Hoa, là tiến sĩ y khoa du học từ Đức trở về; mẹ cậu lại mang dòng máu Germanic thuần chủng, vốn là con gái của bà chủ nhà nơi cha cậu thuê trọ thời du học ở Đức. Bà từng học luật, sau khi đem lòng yêu cha cậu bèn chuyển sang học ngành xét nghiệm y khoa, song chưa kịp lấy bằng cử nhân đã dứt khoát kết hôn với ông rồi cùng sang Trung Quốc, sau khi sinh Tây Nhân thì an phận làm nội trợ. Cha của Tây Nhân làm bác sĩ tại một bệnh viện tư nhân có yếu tố giáo hội danh tiếng bậc nhất Trùng Khánh, thu nhập rất cao, nên mới đủ sức gửi Tây Nhân vào một ngôi trường như trung học Thục Hương. Rốt cuộc là Điền Nguyệt Minh đơn phương chủ động theo đuổi Tây Nhân hay Tây Nhân cũng chủ động theo đuổi cô, từng có dạo là đề tài bàn tán xôn xao trong đám nữ sinh Thục Hương. Nhưng dẫu sao đi nữa, đến thời điểm sắp sửa tốt nghiệp lớp mười hai, hai người họ đã dạn dĩ tay trong tay đến rạp chiếu phim Quốc Thái để xem những bộ phim Hollywood mới nhất vừa công chiếu.

Trong số những người thân, bạn bè cùng trang lứa còn giữ liên lạc về sau, Điền Nguyệt Minh là người phụ nữ duy nhất hái được quả ngọt hôn nhân từ đóa hoa mối tình đầu. Mối tình đầu của cô em họ Tưởng Doanh Ba kém cô một tuổi sau này trở thành vết thương vĩnh viễn không thể lành lặn trong tâm hồn. Người chị ruột hơn cô một tuổi là Điền Hà Minh từng trải qua mấy bận yêu đương tuổi trẻ vừa cay đắng vừa nực cười, từng bị người ta phụ bạc và cũng từng phụ bạc người ta, mãi đến khi em gái và Tây Nhân kết hôn rồi sinh con gái đầu lòng mới chịu yên bề gia thất, dựng xây tổ ấm nhỏ của mình. Cúc Cầm, cô bạn học cũ sau này vào đoàn văn công hát hợp xướng, cũng nếm trải ít nhất hai bận tình đầu mông lung rồi hụt hẫng không lời, cuối cùng mới kết duyên cùng diễn viên opera Thường Diên Mậu. Băng Long Trân, người bạn cùng lớp từng một thời bị quy là phần tử phái hữu, hồi mới về dạy ở trường đại học cũng từng đem lòng yêu một giảng viên khôi ngô, đầy triển vọng. Có một bận Điền Nguyệt Minh, Tưởng Doanh Ba và Cúc Cầm rủ nhau đến trường đại học tìm cô ấy chơi. Trong ký túc xá, Băng Long Trân vừa muốn giấu giếm mối tình còn non nớt lại vừa muốn khoe khoang niềm hạnh phúc vừa hé rạng. Cô rút bức ảnh của chàng giảng viên ra khỏi ngăn kéo rồi lập tức hối hận định cất lại, kết quả bị ba cô bạn kéo người này giật người kia giằng, bốn cô gái trẻ rực rỡ như hoa la hét cười đùa lăn lộn thành một đống. Tấm ảnh người tình của Băng Long Trân rốt cuộc vẫn bị ba người Điền Nguyệt Minh cướp lấy chuyền tay nhau ngắm nghía một lượt... Thế nhưng chẳng bao lâu sau, tấm ảnh ấy đã bị Băng Long Trân gạt nước mắt cắn chặt môi đốt thành tro bụi, khi ấy cô còn chưa bị con sóng đấu tranh chống phái hữu nuốt chửng... Mãi đến mấy năm sau khi nhóm Điền Nguyệt Minh đều đã kết hôn, cô mới lấy được chồng.

Điền Nguyệt Minh thì khác, mối tình xuân vừa hé đã có Tây Nhân đón lấy, hai người tâm đầu ý hợp. Dù sau năm 1950, họ học ở hai trường đại học cách trở đôi nơi, khi tốt nghiệp người được phân công về Bắc Kinh, người về Thiên Tân, nhưng tình yêu của họ qua thử thách của thời gian và thế sự đổi dời lại càng thêm nồng nàn, bền chặt.

Ôi chao, đó là những ngày tháng ngọt ngào và lãng mạn biết bao...

Một sáng chủ nhật nọ, Điền Nguyệt Minh ra ga Bắc Kinh từ rất sớm để đón Tây Nhân từ Thiên Tân đến hẹn hò cùng cô. Tây Nhân từ trên tàu nhảy xuống, mái tóc đen xoăn dày bồng bềnh, đôi mắt xanh xám sáng ngời trong hốc mắt sâu, bờ vai rộng, vòng eo thon, đôi chân dài miên man. Nhìn thấy Điền Nguyệt Minh, anh nở nụ cười rạng rỡ, hai lúm đồng tiền trên má tuyệt đối không thể dùng chữ "yêu kiều" để hình dung mà chỉ càng tôn thêm vẻ nam tính, chẳng khác nào một phiên bản phương Đông của Tyrone Power!

Điền Nguyệt Minh chẳng chút ngần ngại lao tới sà vào lòng anh. Tây Nhân hôn mạnh lên trán cô. Hành động ấy ở thời buổi đó quả là vô cùng kinh thế hãi tục. May sao những người Bắc Kinh liếc nhìn họ thì có đến quá nửa ngỡ Tây Nhân là "khách ngoại quốc", mà đã là "khách ngoại quốc" thì người ta cũng chẳng tiện chỉ trích quá lời...

Họ nép sát vào nhau bước ra khỏi nhà ga, cánh tay vạm vỡ của Tây Nhân ôm chặt lấy bờ vai đầy đặn của Điền Nguyệt Minh.

Điền Nguyệt Minh bảo: "Cậu mợ bảo chúng mình sang bên ấy, lại nấu bao nhiêu là món quê ngon đến chết đi được!"

Tây Nhân thừa biết tài nghệ nấu món Tứ Xuyên của mợ Điền Nguyệt Minh còn vượt xa bếp trưởng của nhiều nhà hàng cao cấp, chỉ riêng món đậu đũa muối và lưỡi heo kho của mợ thôi cũng đủ khiến người ta thèm nhỏ dãi, nhưng Tây Nhân bảo: "Không đi. Sang đó rồi thì anh làm sao mà 'ăn' em được nữa!"

Điền Nguyệt Minh cười vui sướng, khẽ hất mái tóc: "Cúc Cầm cho vé, mời chúng mình chiều nay đi xem đoàn họ biểu diễn. Đoàn họ có một giọng nam cao, trong tiết mục đơn ca hiếm hoi có bản 'Dạ khúc' của Schubert, lại có điệu 'Múa bình' của Hungary chắc cũng hay lắm..."

Tây Nhân không dừng bước, cứ ôm Điền Nguyệt Minh đi ra ngoài, bảo: "Không xem. Anh đến là để ngắm riêng mình em, chỉ ngắm em thôi."

Họ bước ra ngoài ga thì trời lất phất mưa. Điền Nguyệt Minh hỏi: "Làm sao bây giờ?"

Tây Nhân ngửa mặt cười lớn: "Làm sao cái gì, chẳng làm sao cả!" Dứt lời, anh tung chiếc áo khoác gió trên người ra, bọc kín Điền Nguyệt Minh từ đầu đến vai vào trong vạt áo, chân không ngừng bước đội mưa đi ra đại lộ, mặc cho những sợi mưa rơi rớt vào mái tóc đen dày xoăn tít của mình...

Đôi tình nhân cứ thế thản nhiên tản bộ dưới mưa. Họ không vào cửa hàng, chẳng đến công viên, cứ đội mưa đi một mạch đến bên bờ sông Hộ Thành ngoài Tử Cấm Thành. Mưa ngớt dần, hạt mưa hóa thành làn bụi nước mờ ảo khó phân định bằng mắt thường, Điền Nguyệt Minh bèn ló đầu ra khỏi áo khoác của Tây Nhân. Hai người ôm nhau, hôn nhau dưới bóng cây liễu lớn ven bờ sông, thủ thỉ bao điều bất chợt nảy ra trong đầu, khi thì tranh nhau nói, lúc lại cùng lặng im, chỉ đưa mắt trao nhau những niềm riêng...

Sau đó họ đến nhà hàng Tây Kiessling trong chợ Đông An dùng bữa. Đĩa sa-lát rau củ vừa bưng lên, Tây Nhân nâng ly rượu vang trắng sóng sánh: "Vì một thiên đường chúng ta sẽ cùng xây đắp ở Thiên Tân!" Điền Nguyệt Minh nâng ly chạm mạnh vào ly anh, cười đáp lời: "Vì sau này sẽ thường xuyên dùng bữa ở Kiessling!"

Nhà hàng Kiessling ở Bắc Kinh sau này đã mai một. Nhưng Kiessling ở Thiên Tân thì vẫn tồn tại cho đến tận ngày nay.

3

Nội thành Thiên Tân có nhiều ngôi nhà tây nhỏ vốn của người giàu ngày trước, sau thập niên 50 trở thành tài sản công, dùng làm ký túc xá cho cán bộ công nhân viên. Trong một căn nhà ba tầng như thế, Điền Nguyệt Minh và Tây Nhân sau khi kết hôn đã dựng xây tổ ấm. Tây Nhân đón cha mẹ từ Trùng Khánh ra, cha anh được một bệnh viện công lớn ở Thiên Tân mời về với tư cách chuyên gia. Bệnh viện đã chuẩn bị cho ông bà hai gian nhà ở thuộc diện cơ quan cấp, diện tích không nhỏ, điều kiện so với thời bấy giờ được coi là khá tốt. Nhưng là con một, Tây Nhân sợ cha mẹ ở nơi khác sẽ bất tiện bề chăm sóc, nên trong quá trình đơn vị mình phân phối nhà ở, anh đã đem căn nhà công của cha mẹ đổi lấy căn nhà thuộc quyền quản lý của đơn vị mình. Kết quả là trong căn nhà tây ba tầng ấy, anh được phân trọn vẹn hai gian lớn trên tầng ba, kèm thêm một lối hành lang có thể tận dụng làm bếp, lại có thêm một căn phòng áp mái nhỏ nằm giữa tầng hai và tầng ba. Thế là anh thu xếp ổn thỏa cho cả cha mẹ, bản thân và vợ: Cha mẹ ở gian phía trong của dãy phòng tầng ba, phòng ngủ của hai vợ chồng đặt ở căn phòng áp mái bên dưới; gian ngoài tầng ba làm phòng sinh hoạt chung, dùng để ăn cơm, tiếp khách, nghỉ ngơi, trò chuyện, nghe đài, nghe đĩa than (thời đó chưa có ti vi)... Bà mẹ chồng Tây của Điền Nguyệt Minh — cô theo Tây Nhân gọi bà là Ouma — bài trí phòng ngủ và phòng sinh hoạt trên lầu đậm đặc phong vị phương Tây. Chẳng hạn rèm cửa phòng sinh hoạt có viền xếp nếp bản to, ngoài hai cánh rèm mở sang hai bên, phía trên còn có tấm yếm rèm xếp nếp rủ xuống dài một thước; hai cánh rèm hai bên đều buông chấm sàn, có thể kéo ra hết cỡ hoặc buộc thắt ở giữa tạo thành hai chữ R đối xứng. Vải rèm may bằng chất liệu nền màu be điểm hoa bách hợp xanh lam khổ lớn, chứ không phải loại vải đơn sắc mà các gia đình bình thường hay dùng thời bấy giờ. Bộ sô-pha là kiểu dáng nước Bỉ cổ kính có viền và tay vịn bằng gỗ, dùng mấy chục năm nhưng được giữ gìn rất tốt, gồm một ghế dài, hai ghế đơn kèm một đôn vuông không tựa tạo thành một bộ hoàn chỉnh. Lớp nhung bọc đệm tuy có chỗ đã mòn trơ sợi dọc sợi ngang, nhưng nhờ mấy chiếc gối tựa bọc gấm hoa kiểu Trung Quốc che chắn nên không dễ nhận ra, sự kết hợp Đông Tây ấy lại toát lên vẻ trang nhã, cầu kỳ. Huống hồ trên tường còn treo tấm thảm lớn dệt cảnh săn bắn cổ điển phương Tây mang từ Đức về vẫn còn nguyên vẹn, dưới sàn trải vài tấm thảm len cũ có hoa văn và màu sắc hài hòa, điểm xuyết thêm khăn trải bàn thêu tay, gối dựa, vài món đồ cổ Trung Hoa chẳng rõ giá trị cùng đồ sứ nghệ thuật của Đức, lại thêm chậu hoa, chậu măng trúc đặt bên bậu cửa sổ và bàn trà, tạo nên một phong vị dị quốc vương giả. Thời buổi đó, bất kỳ người ngoài nào bước chân vào cũng không khỏi trầm trồ hoặc kinh ngạc. Ngay cả cô em họ Tưởng Doanh Ba của Điền Nguyệt Minh, một người từng trải sự đời, có lần đi công tác Thiên Tân ghé thăm cũng phải thốt lên: "Đúng là một chốn bồng lai tiên cảnh!"

Tưởng Doanh Ba từ Thiên Tân trở về, còn miêu tả với họ hàng bạn bè ở Bắc Kinh thế này: "Ouma của Tây Nhân thú vị lắm nhé, đừng nhìn bà tóc vàng ánh bạc xoăn tít, mắt to xanh xám, mặt mũi thuần chất Tây phương, thế nhưng hễ mở miệng ra là nói tiếng Trung rặt, lại chẳng phải tiếng phổ thông mà là tiếng địa phương Tứ Xuyên. Em nghe bà bảo: 'Ai mà ngờ được Thiên Tân cũng nóng 'âm đảo khởi' thế này chứ!' 'Âm đảo khởi' — ngay cả bọn mình xa Tứ Xuyên lâu ngày, muốn diễn đạt ý 'ngấm ngầm' hay 'chẳng ngờ' thì mở miệng ra cũng vị tất đã dùng được từ 'âm đảo khởi' đâu..." Những người nghe cô kể đều bật cười, thầm nghĩ, đúng là một bà Tây kỳ lạ, làm sao bà lại cam tâm tình nguyện lấy một du học sinh Trung Quốc, rồi không chút do dự theo ông sang Trung Quốc sống ròng rã suốt hai ba mươi năm trời như thế chứ!

Điền Nguyệt Minh yêu Tây Nhân thì ắt yêu lây cả người nhà anh, yêu đôi song thân kết hợp Đông Tây ấy. Huống chi thuở nhỏ cô từng sống ở Canada và Mỹ, Ouma đối với cô chẳng phải người xa lạ khó hiểu gì. Cô nghĩ trong chốn bồng lai này có một người mẹ chồng Tây như thế quả thực là chuyện may mắn, tao nhã và thú vị.

Ngày Điền Nguyệt Minh rời viện thiết kế Bắc Kinh, lãnh đạo, đồng nghiệp, cho đến ông lão gác cổng, anh cấp dưỡng nhà ăn đều bộc lộ niềm quyến luyến chân thành. Khác hẳn với Tưởng Doanh Ba khi nhớ về cơ quan đầu tiên sau khi tốt nghiệp đại học, đặc biệt là vị thủ trưởng cấp cao nhất chỉ toàn nỗi kinh hoàng và chán ghét, Điền Nguyệt Minh luôn hoài niệm những tháng ngày ở viện thiết kế Bắc Kinh. Người thủ trưởng cấp cao nhất của cô — Bí thư Đảng ủy viện thiết kế — cũng là một người gầy gò, dong dỏng cao, trên má cũng có vết sẹo, diện mạo bình thường, lại xuất thân từ công nông, chất phác mộc mạc hết mức. Đôi khi ngồi trong văn phòng nói chuyện với người ta, chẳng biết từ lúc nào ông đã co cả hai chân lên ghế, ngồi xổm hẳn trên đó. Nhưng mỗi khi nhớ về ông, Điền Nguyệt Minh vẫn tràn đầy thiện cảm, bởi ông tôn trọng trí thức, tôn trọng lao động sáng tạo, tôn trọng ý chí khai phá, và điều khiến Điền Nguyệt Minh thấy quý giá nhất là ông tôn trọng sự riêng tư của người khác. Dưới sự lãnh đạo của ông, công việc của viện thiết kế tiến triển vững vàng, khởi sắc, ngay cả cơm canh nhà ăn cũng ngày một ngon và rẻ hơn... Điền Nguyệt Minh nhớ lúc vị Bí thư đồng ý cho cô chuyển về Thiên Tân, ông vừa dùng mẩu giấy vụn xé ra để vê sợi thuốc lá, vừa bảo cô: "Biết làm sao được? Cậu người yêu của cô không chuyển vào Bắc Kinh được, chúng tôi đành phải thả cô đi thôi. Nhưng lứa sinh viên tốt nghiệp các cô là thế hệ nhân tài đầu tiên do Tân Trung Hoa đào tạo nên đấy. Viện thiết kế của chúng ta muốn phát triển qua từng thế hệ thì các cô chính là những nguyên lão khai sơn phá thạch. Một nguyên lão như cô rời đi, trong lòng tôi khó chịu lắm chứ..." Lời nói khiến Điền Nguyệt Minh, người vốn chẳng thích than khóc sụt sùi, cũng không kìm được phải rút khăn tay lau khóe mắt cay cay và sụt sịt sống mũi rưng rưng...

Vì Tây Nhân, Điền Nguyệt Minh từ bỏ sự nghiệp của một bậc nguyên lão. Lại thêm viện thiết kế tương ứng ở Thiên Tân đã đủ biên chế, cô đành tạm thời chuyển sang một cơ quan không mấy đúng chuyên ngành để làm bước "quá độ". Nhưng với cô, đó là sự cam tâm tình nguyện. Giấc mơ của cô đã thành hiện thực. Tyrone Power đã hoàn toàn thuộc về cô.

4

Bé Phỉ Phỉ chào đời.

Đứa con lai đời thứ hai này tuyệt đối là một thiên thần hoàn mỹ, con bé nặng ghê! Vừa lọt lòng đã được 3400 gram! Dẫu Điền Nguyệt Minh phải chịu muôn vàn đau đớn để sinh con, nhưng khi ôm sinh linh trắng trẻo như thiên thần ấy vào lòng, cô hạnh phúc đến mức ngỡ mình đang bay bổng trên mây. Lần đầu Ouma vào viện thăm cháu gái đã gọi con bé là Phỉ Phỉ. Điền Nguyệt Minh vốn tưởng chữ Hán sẽ viết là Phi Phi hay Phỉ Phỉ theo bộ phi hoặc thảo, nhưng sau đó ông nội nghiêm túc tuyên bố tên cháu gái phải viết là Trịnh Phỉ Phỉ. Mái tóc của Trịnh Phỉ Phỉ giống cha, thừa hưởng từ ông nội, lúc mới sinh không nhiều nhưng sợi nào sợi nấy đen nhánh. Mắt Trịnh Phỉ Phỉ không mang sắc thái của bà nội như cha, mà là đôi con ngươi đen láy. Điều này có lẽ cũng chẳng phải di truyền từ ông nội, mà là nhờ mang dòng máu họ Điền. Trịnh Phỉ Phỉ tóc đen mắt đen, nhưng bất cứ ai chỉ cần liếc nhìn một cái là nhận ra ngay nét Tây phương mười mươi: hốc mắt ấy, khuôn miệng nhỏ nhắn ấy, đôi má ấy, đường nét ấy, chẳng sao cắt nghĩa nổi vì sao lại khác biệt với những đứa trẻ do cha mẹ thuần Trung Quốc sinh ra đến thế...

Từ bệnh viện trở về nhà, cô ở cữ ngay trong phòng sinh hoạt chung ở tầng ba. Mà cũng chỉ có thể ở đó. Phòng ngủ áp mái của Điền Nguyệt Minh và Tây Nhân vỏn vẹn sáu mét vuông, kê xong chiếc giường đôi thì chỉ vừa khéo nhét thêm một chiếc tủ năm ngăn kéo, sách vở và vài món đồ lặt vặt đành phải tự thiết kế lắp một chiếc tủ treo trên mảng tường phía cuối giường. Bàn trang điểm thời ấy không câu nệ, Điền Nguyệt Minh hoàn toàn có thể bỏ qua, nhưng cô luôn ao ước có một chiếc bàn làm việc, ngặt nỗi căn phòng áp mái chẳng thể nào nhét nổi một cái bàn. Thế nên mỗi khi cần viết lách gì, cô đành phải lên lầu. Tây Nhân có thể vào phòng cha mẹ viết — ở đó có bàn làm việc rất bề thế kèm đèn bàn, còn Điền Nguyệt Minh thường tận dụng chiếc bàn tròn ăn cơm để viết. Phòng ngủ áp mái đã chật chội như thế, bế Phỉ Phỉ về ở cữ dĩ nhiên chỉ đành nằm ở phòng sinh hoạt chung tầng ba.

Hết cữ, Điền Nguyệt Minh phải đi làm lại, Phỉ Phỉ tính sao? Việc này ở những gia đình khác thì chẳng cần bàn cãi, bà nội mới ngoài năm mươi, sức khỏe dồi dào, lại không phải đi làm, chẳng phải trông cháu là tiện nhất sao? Nhưng Ouma không giống phụ nữ nội trợ Trung Quốc. Đúng là bà yêu quý Phỉ Phỉ hết mực, đối với con dâu cũng rất đỗi nhã nhặn, song sự chăm sóc của bà dành cho cháu gái chỉ dừng lại ở đầu môi chót lưỡi. Những ngày đầu Điền Nguyệt Minh ở cữ, tã lót của Phỉ Phỉ đều do Tây Nhân giặt, nhưng anh giặt được vài hôm đã thấy phiền toái và tẻ nhạt. May mà Điền Nguyệt Minh hồi phục rất nhanh, sau đó đều do cô tự giặt lấy, Tây Nhân chỉ giúp chuẩn bị nước ấm, thay nước, đổ nước, về sau thì cô ôm đồm toàn bộ. Mỗi khi cô làm những việc đó, Tây Nhân lại ngồi chơi cờ vua với cha hoặc trò chuyện bằng tiếng Đức với Ouma, trừ phi cần anh phụ một tay mà cất tiếng gọi thì anh mới chịu sang giúp.

Điền Nguyệt Minh mong muốn thuê một người giúp việc để trông nom Phỉ Phỉ ở nhà sau khi cô đi làm lại, như thế chẳng phải có thể đỡ đần gánh nặng nấu nướng và dọn dẹp nhà cửa cho Ouma hay sao? Tây Nhân lập tức đồng ý, nhưng anh chạy vào phòng trong bàn bạc bằng tiếng Đức với Ouma một hồi rồi bước ra bảo cô: "Không cần thuê người giúp việc đâu, người ta đến bất tiện lắm."

Điền Nguyệt Minh hỏi: "Có gì bất tiện cơ chứ?"

Tây Nhân bảo: "Người giúp việc đến thì ở đâu?"

Điền Nguyệt Minh nói: "Ở đâu ư? Đương nhiên ở đây rồi, ngủ cái giường em nằm ở cữ này này, Phỉ Phỉ ngủ giường cũi, em với anh xuống dưới kia ở."

Tây Nhân lắc đầu: "Ouma bảo, bà không thể chịu nổi việc phòng bên cạnh có một người xa lạ ngủ."

Điền Nguyệt Minh khó xử.

Tây Nhân bảo: "Cơ quan em chẳng phải có phòng cho con bú sao? Đi làm em bế đi, tan làm bế về, Ouma bảo cách nuôi con của người Trung Quốc vẫn tốt hơn — kiên trì bú sữa mẹ, vừa bổ dưỡng lại an toàn, ba cũng bảo điểm này người Trung Quốc hơn đứt người phương Tây."

Điền Nguyệt Minh chấp nhận phương án này.

Bế đi bế về, dọc đường lại chen chúc xe cộ, nếm đủ nỗi gian nan. Gặp hôm mưa gió, gió mùa tràn về, đôi khi cô đành ở nhà không đi làm, nhờ Tây Nhân gọi điện đến cơ quan, nếu không bảo cô ốm thì cũng nói con ốm. Nhưng thời buổi đó ai nấy đều không cam lòng tụt hậu, ít nhất cũng không muốn bị coi là tụt hậu, cứ thế mãi cũng chẳng phải cách, Điền Nguyệt Minh lắm phen dẫu thời tiết tồi tệ đến mấy cũng cắn răng bế con đi làm. May thay, thể chất và sức đề kháng của Phỉ Phỉ thực sự vượt trội hơn hẳn những đứa trẻ bình thường, con bé hầu như chẳng ốm đau gì, cứ thế lớn lên khỏe mạnh.

Cứ như thế được chừng hai ba tháng, một hôm sau bữa cơm, nhân lúc ông nội bế cháu gái trêu đùa, Tây Nhân gọi Điền Nguyệt Minh xuống căn phòng áp mái bên dưới. Cửa vừa đóng lại, anh đã ôm ghì lấy cô mà hôn ngấu nghiến, cởi áo cô ra để đòi ân ái.

Điền Nguyệt Minh giãy giụa. Tây Nhân nới lỏng tay, nét mặt đầy kinh ngạc.

Điền Nguyệt Minh bật cười: "Anh làm sao thế? Như sói đói ấy!"

Tây Nhân thừa nhận: "Em nghĩ cho anh xem, anh phải 'ở góa' bao lâu rồi!"

Quả thực, Điền Nguyệt Minh đã ở suốt trên phòng sinh hoạt tầng ba hơn nửa năm nay, ngủ đêm cùng Phỉ Phỉ. Vì tình mẫu tử được bộc lộ trọn vẹn đã bù đắp cho những thiếu hụt trong đời sống chăn gối. Cô cũng từng nảy ra ý nghĩ muốn cùng Tyrone Power chung hưởng đêm xuân, nhưng chưa đến mức cấp bách, bức bối nhường này.

Họ ân ái một hồi, nhưng vì trời chưa tối hẳn, vì trên cầu thang có tiếng bước chân, đặc biệt là vì nỗi nơm nớp lo sợ Ouma hoặc ba trên lầu đột nhiên chạy xuống gọi, cả hai đều không thấy thỏa mãn, đều có cảm giác như nuốt chửng cả viên kem lớn giữa trưa hè oi ả — thèm muốn mà chẳng được hưởng trọn vẹn.

Lúc chỉnh đốn lại xiêm y, Tây Nhân bảo: "Từ ngày mai em dọn xuống đây ở đi."

Điền Nguyệt Minh hỏi: "Thế còn Phỉ Phỉ? Ban đêm Ouma có chăm sóc con bé được không?"

Tây Nhân bảo: "Ouma nói rồi, bà đã nhân nhượng chúng mình nửa năm nay, lòng kiên nhẫn cạn kiệt rồi — bà muốn phòng sinh hoạt trở lại như cũ, bà muốn khôi phục lại sự yên tĩnh, ngăn nắp, và cả trật tự sinh hoạt vốn có..."

Đầu Điền Nguyệt Minh "ong" lên một tiếng, cô chau mày hỏi: "Trật tự sinh hoạt vốn có?! Nghĩa là sao? Thế Phỉ Phỉ tính thế nào?"

Tây Nhân đáp: "Ý của Ouma là bảo em mang cả Phỉ Phỉ xuống luôn. Dù sao giường của chúng mình cũng rộng, con bé có thể ngủ sát phía trong, hoặc là dọn cái giường sắt nhỏ xuống đây, anh đo rồi, vẫn miễn cưỡng nhét vừa..."

Điền Nguyệt Minh cảm thấy trong lòng có thứ gì đó đang rạn vỡ, tựa như bước đi trên mặt băng mỏng dần vào mùa xuân, rắc rắc từng hồi, khiến lòng người hoang mang sợ hãi.

Cô nghe thấy tiếng khóc của Phỉ Phỉ vọng xuống từ tầng ba.

Cài vội cúc áo trên cổ, cô lao ra khỏi phòng áp mái, vội vã chạy lên tầng ba.

Cô thấy Ouma đang ngồi trên sô-pha bế Phỉ Phỉ, nét mặt nở nụ cười hiền hậu, vừa đung đưa vừa trêu đùa con bé.

Bước lại gần, cô mới nhìn rõ Ouma đã lục tìm ra mấy dải ruy-băng, đăng-ten, khăn lụa, khăn voan các loại, trang điểm cho Phỉ Phỉ như nàng công chúa trong tranh minh họa truyện cổ tích, nào là nơ bướm, cổ áo xếp nếp, khăn choàng rồi váy dài...

Điền Nguyệt Minh không kìm được lập tức đón lấy Phỉ Phỉ từ vòng tay Ouma, thoăn thoắt tháo sạch những thứ trang trí kỳ quặc đắp lên người con bé. Chẳng đợi Ouma kịp mở lời, cô đã cất cao giọng, mặt đỏ bừng nói: "Trời đã ấm lên rồi, sao lại ủ con bé thế này? Hèn chi nó chẳng nóng đến phát khóc lên!"

Lần đầu tiên giữa mẹ chồng và nàng dâu không còn nụ cười, mà thay vào đó là bầu không khí khá căng thẳng. Ouma nhún vai, xòe hai tay, lắc đầu, méo môi rồi quay người đi vào phòng trong. Sau cánh cửa phòng trong có một bức bình phong sơn đen khảm ốc xà cừ chắn ngang tầm mắt người bên ngoài, Điền Nguyệt Minh nghe thấy sau bức bình phong vọng ra tràng cằn nhằn bằng tiếng Đức của Ouma với bố chồng...

Ngay tối hôm đó, Điền Nguyệt Minh cùng Phỉ Phỉ chuyển xuống căn phòng áp mái ở chung với Tây Nhân sau nửa năm anh phải chịu cảnh "ở góa".

5

Có tiếng gõ cửa phòng áp mái.

Tiếng gõ nhẹ, từ nhịp điệu có thể cảm nhận được vẻ dò xét, rất thận trọng, dè dặt.

Điền Nguyệt Minh đang tựa trên giường nghỉ ngơi, bụng bảo dạ không biết là ai. Cô nhảy xuống giường ra mở cửa, vừa mở cửa liền sững sờ, nhưng chỉ vài giây sau cô đã reo lên mừng rỡ: "Long Trân!"

Là Băng Long Trân. Sau khi bị quy thành phần tử phái hữu, cô trước tiên bị tập trung về nông thôn lao động, sau đó được sắp xếp về một nhà máy tập thể ở ngoại ô Thiên Tân, thoạt đầu làm công nhân xưởng, mãi gần đây mới được tuyên bố xóa mũ phái hữu, điều về phòng kỹ thuật làm nhân viên vẽ đồ bản. Vẻ học giả nữ trước kia ở cô đã tan biến không còn dấu vết, trên người là bộ đồng phục màu xanh công nhân đã cũ một nửa, chân đi đôi giày vải có quai, mái tóc ngắn ngang tai giản dị đến cùng cực, da mặt thô ráp, khóe mắt đã hằn nếp chân chim, còn biến đổi lớn nhất là trên gương mặt luôn phảng phất nét kinh sợ không sao xóa nhòa — ngay cả khi cười cũng vậy.

Băng Long Trân biết Điền Nguyệt Minh mọi sự thuận buồm xuôi gió, an cư lạc nghiệp, lại mới sinh con gái, đã sớm muốn đến thăm nhưng vẫn ngượng ngùng chẳng dám gõ cửa. Nay tình cảnh của mình đã khá hơn, ngày chủ nhật có nhã hứng dạo quanh trung tâm thành phố Thiên Tân, dạo xong ngẫm nghĩ một hồi, cô lấy hết can đảm tìm theo địa chỉ hỏi được để đến gặp Điền Nguyệt Minh. Dưới tầng một có người chỉ cho cô biết có thể gõ cửa căn phòng áp mái ấy.

Điền Nguyệt Minh vô cùng mừng rỡ trước sự xuất hiện bất ngờ của Băng Long Trân. Năm xưa khi Băng Long Trân bị quy là phái hữu, Điền Nguyệt Minh không có mấy lòng trắc ẩn, song cũng tuyệt đối chẳng hề phẫn nộ hay chán ghét. Băng Long Trân từ nhỏ đã không còn qua lại với nhà họ Tưởng, nhà họ Điền cùng các bạn học trường Thục Hương, nên nhóm Điền Nguyệt Minh cũng chẳng có chuyện vạch rõ ranh giới với cô. Sau đó Điền Nguyệt Minh có cuộc sống riêng, việc riêng của mình, từng có dạo cô quên bẵng Băng Long Trân đi. Song độ trước gặp Tưởng Doanh Ba đi công tác Thiên Tân và tình cờ gặp Cúc Cầm đến Thiên Tân biểu diễn, họ quả thực có nhắc tới Băng Long Trân, đều bảo không biết sau này cô ấy sống ra sao rồi, con bé số khổ ấy!

Băng Long Trân cảm thấy vô cùng an ủi trước phản ứng nhiệt tình của Điền Nguyệt Minh dành cho vị khách không mời mà đến như mình. Biết bao chuyện cũ thời thanh xuân ùa về trong tâm trí, phải rồi, lẽ ra cô phải nghĩ đến việc Điền Nguyệt Minh nhất định sẽ đối xử tốt với mình chứ, năm xưa họ từng thân thiết biết bao! Bên bờ sông Gia Lăng, thuở ấy họ còn chưa đầy mười tám tuổi, Điền Nguyệt Minh từng khoác vai cô, ghé vào tai cô thổ lộ nỗi niềm thầm kín thầm thương trộm nhớ Tây Nhân. Bức thư tình đầu tiên Điền Nguyệt Minh viết cho Tây Nhân, cô không chỉ là quân sư hậu trường mà còn là bà mối tiền tuyến — chính cô là người đã chuyển cuốn tiểu thuyết "Cuốn theo chiều gió" kẹp bức thư tình ấy vào tận tay Tây Nhân! Than ôi, đó là mùa hoa rực rỡ biết chừng nào...

Điền Nguyệt Minh và Băng Long Trân ngồi xuống giường, Điền Nguyệt Minh nắm lấy tay Băng Long Trân, hỏi han những năm qua cô sống ra sao, hiện tại thế nào.

Băng Long Trân vừa trả lời những câu hỏi của Điền Nguyệt Minh, vừa đưa mắt nhìn quanh căn phòng áp mái nhỏ hẹp. Căn phòng này thực sự quá đỗi bé nhỏ! Dẫu bài trí cũng khá thanh nhã, những chi tiết nhỏ như vật trang trí treo trên tường và bình cắm cành liễu bạc trên nóc tủ năm ngăn kéo thể hiện gu thẩm mỹ khác thói phàm của gia chủ, nhưng rốt cuộc vẫn khiến cô khó hiểu. Chẳng phải nghe đồn những năm qua Điền Nguyệt Minh sống một cuộc đời an nhàn như chốn bồng lai tiên cảnh sao? Cớ sao phòng ngủ của cô lại chật chội đến mức này? Sao bên cạnh giường lớn lại kê thêm một chiếc giường nhỏ? Băng Long Trân cảm thấy hết sức ngạc nhiên.

Băng Long Trân bèn hỏi: "Tây Nhân đâu? Bé cưng đâu rồi?"

Điền Nguyệt Minh bảo: "À, Tây Nhân với Phỉ Phỉ đều ở trên lầu, gian phòng này chỉ dùng để ngủ ban đêm thôi..."

Điền Nguyệt Minh đọc được vẻ kinh ngạc và hoài nghi trong ánh mắt của Băng Long Trân dành cho căn phòng nhỏ bé này. Điền Nguyệt Minh có nỗi niềm khó giãi bày, đành kể thêm với Băng Long Trân về những chuyện sau ngày xa cách.

Các gian phòng trên lầu quả thực rất rộng rãi. Năm xưa khi phân nhà, cơ quan của Tây Nhân gộp chung hai gia đình gồm vợ chồng anh và cha mẹ anh để tính tiêu chuẩn. Căn phòng cha mẹ Tây Nhân sử dụng trên lầu rộng hai mươi mét vuông, gian ngoài làm phòng sinh hoạt rộng mười tám mét vuông, cộng với căn phòng áp mái sáu mét vuông, diện tích sử dụng tổng cộng là bốn mươi tư mét vuông, chưa kể một lối hành lang bốn mét vuông có thể dùng làm bếp và một buồng vệ sinh nhỏ. Tính theo diện tích sử dụng bình quân đầu người thì đó là một sự ưu ái rất lớn. Lúc mới dọn đến ở, Điền Nguyệt Minh không chỉ mãn nguyện mà thậm chí còn khá tự hào. Nhưng gần hai năm chung sống đã dần khiến cô nhận ra rằng, mọi thứ ở đây đều lấy Tây Nhân và cha mẹ anh làm trung tâm, cụ thể hơn là lấy bố mẹ chồng làm trung tâm, và nếu đi sâu thêm một bước nữa, thì chỉ xoay quanh duy nhất một mình Ouma. Căn phòng của hai ông bà, trừ phi vạn bất đắc dĩ Điền Nguyệt Minh mới bước vào. Phòng sinh hoạt chung theo lý phải là không gian chung được san sẻ trọn vẹn, nhưng ngoại trừ lúc ăn cơm Điền Nguyệt Minh được tính là bình đẳng chia sẻ ra, kể từ khi cô và Phỉ Phỉ dọn xuống lầu ngủ cùng Tây Nhân, căn phòng sinh hoạt ấy đối với cô chẳng khác nào phòng khách nhà người ta — họa chăng là phòng khách của gia đình họ hàng, bạn bè thân thiết nhất. Cô có thể làm khách ở đó, thậm chí là vị khách được hoan nghênh nhất, thế nhưng, nơi ấy rõ ràng không phải là nhà của cô, không phải là một không gian sinh hoạt lấy người nữ chủ nhân như cô làm hạt nhân!

Tâm lý tế nhị này chỉ duy nhất mình cô có. Tây Nhân chắc chắn không hề có. Bởi lẽ Tây Nhân có thể tự do tung hoành trong toàn bộ không gian năm mươi mét vuông ấy. Hễ tan làm là anh thường vượt qua căn phòng áp mái chạy thẳng lên lầu, ngả lưng xuống chiếc sô-pha dài trong phòng sinh hoạt, hoặc sấn thẳng vào phòng cha mẹ, muốn lấy gì thì lấy, muốn lục gì thì lục; đôi khi anh tựa vào giường cha mẹ, lưng gối lên chiếc gối vuông lớn bằng lông vịt, hoặc cuộn tròn cả người trong chiếc sô-pha đơn to bự bằng da thật, ríu rít trò chuyện trên trời dưới biển với cha mẹ bằng tiếng Đức... Phỉ Phỉ cũng được hưởng đãi ngộ tương tự, chỉ có điều con bé còn nhỏ, chưa biết tự giác hưởng thụ. Ouma thường dắt díu, bế bồng con bé chơi đùa khắp tầng ba, mãi đến tối mới giao lại cho đôi vợ chồng trẻ mang xuống lầu đặt lên giường nhỏ đi ngủ...

Không gian duy nhất mà Điền Nguyệt Minh được tùy ý tự do sử dụng chỉ có vỏn vẹn sáu mét vuông của căn phòng áp mái ấy!

Mọi chuyện quả thực vô cùng tế nhị. Chẳng hạn như, ngày chủ nhật này, tại sao vào đúng lúc Băng Long Trân đến thăm, chỉ có một mình Điền Nguyệt Minh lủi thủi trong phòng áp mái? Ấy là vì vừa đúng tầm ba giờ chiều, Ouma lại bắt đầu bài sinh hoạt thường nhật của bà — uống trà chiều và ăn thịt nguội.

Ouma luôn giữ thói quen này, tầm ba bốn giờ chiều sẽ pha một ít cà phê hoặc hãm chút trà đen sữa trong phòng sinh hoạt, dùng bộ đồ trà tinh xảo mang từ Đức sang vẫn cẩn thận nâng niu chưa từng sứt mẻ để nhấp từng ngụm nhỏ. Cùng lúc đó, bà bày ra hai chiếc đĩa bạc, một đĩa đựng các loại bánh quy, bánh cookies, bánh nghìn lớp tinh xảo, đĩa kia là đồ nguội — tức các loại đồ ăn chín kiểu Tây cắt lát, như xúc xích đỏ, xúc xích đậu Hà Lan, giăm bông vuông, thỉnh thoảng có thêm chút cá hun khói, phô mai, trứng cá tầm. Thời ấy những thứ này trên thị trường vô cùng khan hiếm, nhưng vì bố chồng của Điền Nguyệt Minh mang thân phận kiều bào về nước, lại là trí thức cao cấp nên được hưởng chút đãi ngộ đặc biệt; còn Ouma lại mang sẵn diện mạo "khách ngoại quốc", thuở đó ở Thiên Tân có các chuyên gia đến từ Cộng hòa Dân chủ Đức, Ouma mau chóng bắt quen với họ, nhờ đó được cùng họ ra vào các cửa hàng nội bộ chuyên cung ứng đồ dùng cho chuyên gia nước ngoài. Ouma thực ra là người Frankfurt bên bờ sông Rhine thuộc Cộng hòa Liên bang Đức, nhưng ở Cộng hòa Dân chủ Đức bên bờ sông Elbe cũng có một thành phố Frankfurt, Ouma bèn tùy cơ ứng biến, hễ trò chuyện với người Trung Quốc biết tiếng Đức thì bà ngầm thuận để người ta coi mình là người đến từ thành phố Frankfurt phía Đông... Tóm lại, Ouma luôn có cách xoay xở kiếm được những món thực phẩm ngoài thị trường khó mua, thậm chí tuyệt tích, để duy trì thói quen tao nhã này của mình. Thường thì bố chồng sẽ cùng thưởng thức với bà, nhưng dạ dày ông không tốt, hay tự giác từ chối, thế là bà thưởng thức một mình. Nếu Tây Nhân gặp phải, thường chẳng đợi Ouma mời mọc, anh hễ muốn ăn là ngồi xuống ăn, từ nhỏ đã thế, thành quen rồi. Sau khi có Phỉ Phỉ, nếu Điền Nguyệt Minh bế con bé từ cơ quan về mà Ouma chưa ăn xong, hoặc gặp trúng ngày chủ nhật, Ouma sẽ cất giọng gọi âu yếm: "Phỉ... Phỉ...! Úi chao, Phỉ... Phỉ...!" rồi để con bé ngồi lên đùi mình ăn một chút, nhưng Ouma hầu như chưa từng mời mọc cô con dâu Điền Nguyệt Minh lấy một lời. Dĩ nhiên, bà cũng chưa từng tuyên bố, bộc lộ hay ngầm ám chỉ rằng không hoan nghênh Điền Nguyệt Minh tham gia vào buổi trà chiều; Tây Nhân dường như chẳng bao giờ bận tâm nghĩ ngợi về chuyện này, đôi khi chính anh ngồi ăn ở đó, thấy Điền Nguyệt Minh đi qua lấy đồ hay giặt xong quần áo băng qua đó để ra sân thượng phơi, anh cũng tiện tay đứng dậy kéo cô lại, dùng chiếc nĩa Tây sáng loáng đút một món ngon nào đó vào miệng cô, hoặc dứt khoát kéo cô lại ngồi xuống sô-pha để cô nếm thử nhiều hơn đôi chút... Điền Nguyệt Minh là người từng trải qua cuộc sống xa hoa ở Canada và Bắc Mỹ, thuở ở Trùng Khánh gia thế nhà cô cũng bề thế hơn chốn này nhiều, của ngon vật lạ nào mà cô chưa từng thấy, từng ăn, cô thực lòng chẳng hề thèm thuồng. Hơn nữa cô biết Ouma kiếm được những thứ đó cũng chẳng dễ dàng gì, bố chồng dẫu kiếm được nhiều, lại có tiền tích lũy và thi thoảng người thân bên Đức của Ouma có gửi cho ít đồng mác, nhưng cũng chưa đến mức giàu có để cả nhà có thể thoải mái ăn thịt nguội ê hề. Trong lòng cô sẵn sàng để Ouma một mình hưởng thụ, song việc mình bị lờ đi, sự có mặt của mình trở nên thừa thãi lại khiến lòng tự tôn của cô bị tổn thương sâu sắc. Do đó, về sau cô dần dần tự giác lánh mặt, cứ hễ đến giờ trà chiều của Ouma, cô chỉ ở lì trong phòng áp mái, ngay cả việc cần làm trên lầu, kể cả việc bếp núc, cô cũng tạm gác lại không làm...

Đã trò chuyện với Băng Long Trân một hồi lâu, theo lẽ nên đưa cô ấy lên lầu ngồi, nhưng Điền Nguyệt Minh thầm tính giờ trà chiều chắc vẫn chưa xong, đâm ra do dự, nét mặt thoáng vẻ gượng gạo. May mà Băng Long Trân không nhận ra.

Trên lầu vọng xuống tiếng bập bẹ tập nói của Phỉ Phỉ, cùng tiếng reo hò và vỗ tay của Ouma và Tây Nhân. Thực sự không thể không lên được nữa. Điền Nguyệt Minh bèn nắm tay Băng Long Trân bảo: "Sao chúng mình cứ ngồi mãi ở đây nói chuyện thế này? Đi, lên phòng khách thôi!"

Vừa bước vào phòng sinh hoạt chung trên tầng ba, mắt Băng Long Trân liền sáng rực lên. Đã bao nhiêu năm rồi cô chưa từng thấy một gian nhà thanh nhã đến nhường này, mọi thứ hiện ra trước mắt lập tức xóa tan mối hoài nghi của cô về căn phòng áp mái chật chội bên dưới.

Điền Nguyệt Minh bảo Tây Nhân: "Anh xem ai đến này?"

Tây Nhân từ trên sô-pha nhảy dựng lên, thoạt tiên "oa" lên một tiếng, rồi the thé giọng gọi: "Băng... Long... Trân!" bằng ngữ điệu rặt tiếng Trùng Khánh, Tứ Xuyên, chọc cho Băng Long Trân cười gập cả người.

Điền Nguyệt Minh giới thiệu với Ouma, Ouma ngồi trên sô-pha không đứng dậy, nhưng mỉm cười hiền từ. Điền Nguyệt Minh bảo bé Phỉ Phỉ mới một tuổi rưỡi ngồi bên cạnh Ouma gọi "dì", Phỉ Phỉ thế mà lại phát âm tròn vành rõ chữ hai tiếng "A di", khiến Băng Long Trân hâm mộ khôn xiết, đúng là kết tinh của trai tài gái sắc, lại có ưu thế con lai, xinh đẹp quá đỗi! Thông minh quá chừng!

Tiệc trà chiều của Ouma vẫn chưa tàn, nhưng Ouma đã dọn về phòng trong, dắt theo cả Phỉ Phỉ. Điền Nguyệt Minh bèn mời Băng Long Trân ngồi xuống sô-pha, Tây Nhân "mượn hoa cúng Phật", mời Băng Long Trân uống trà, ăn bánh quy và thịt nguội.

Băng Long Trân lúc này mới tin lời đồn về "chốn bồng lai tiên cảnh" quả thực chẳng sai chút nào.

Băng Long Trân vừa hỏi Tây Nhân một câu: "Cậu có bận không?", Tây Nhân liền ngả người vào lưng sô-pha, ôm một chiếc gối tựa trước bụng, vắt chân chữ ngũ, đắc ý kể lể: Lãnh đạo cơ quan tín nhiệm anh ra sao, trọng dụng anh thế nào, khen ngợi anh "yêu nước Trung Hoa xã hội chủ nghĩa còn hơn cả trăm phần trăm người Trung Quốc", rồi anh làm phiên dịch cho chuyên gia Cộng hòa Dân chủ Đức thế nào, tranh luận với đối phương ra sao, bảo vệ lợi ích của phe ta thế nào, vân vân và mây mây.

Điền Nguyệt Minh ngắt lời Tây Nhân: "Thôi đi thôi đi, người ta Băng Long Trân hiếm hoi lắm mới đến một lần, để thư giãn chút đã, nghe nhạc trước đi. Đúng rồi, bộ đĩa than giao hưởng Khachaturian em mua mãi vẫn chưa có lúc nào nghe, hôm nay cùng nghe nhé!"

Quả thực, Điền Nguyệt Minh vẫn luôn định tĩnh tâm nghe bộ đĩa đó, song căn phòng sinh hoạt này lúc nào cũng bị người khác chiếm trọn, tựa như một nhà hát đã kín chỗ, cô bước vào chỉ có thể đứng xem. Hôm nay coi như giành được một ghế ở hàng đầu tiên, có thể thong thả tận hưởng một chút rồi!

Điền Nguyệt Minh liền bước lại máy hát đĩa để bật đĩa than. Vẫn chưa phải máy quay đĩa chạy điện, mà là loại máy quay đĩa phải dùng tay quay để lên dây cót. Thời ấy lương tháng của Điền Nguyệt Minh vỏn vẹn bốn mươi bảy đồng rưỡi, lương của Tây Nhân nhỉnh hơn cô một chút cũng chỉ có năm mươi tư đồng, mà chiếc máy hát này do cô thuyết phục Tây Nhân dốc lòng mua về đã ngốn đứt trọn một tháng thu nhập của cả hai, bởi thế Điền Nguyệt Minh coi chiếc máy hát ấy là món đồ yêu quý bậc nhất trong nhà. Vừa vặn dây cót, Điền Nguyệt Minh vừa kể với Băng Long Trân: "Khó khăn lắm mới nhờ được Cúc Cầm đến hiệu sách Quốc tế Bắc Kinh mua giúp bộ đĩa than của Liên Xô này đấy, cậu ấy cũng chật vật lắm mới gửi người mang về Thiên Tân được..."

Băng Long Trân thở dài: "Nhạc giao hưởng cơ đấy! Chẳng biết đã bao lâu rồi mình không được nghe cái thứ này..."

Âm thanh từ đĩa than vang lên. Điền Nguyệt Minh ngồi lại xuống sô-pha, chẳng hiểu sao lòng lại xúc động lạ thường, tựa hồ như trong đời cô đang diễn ra một biến cố trọng đại nào đó. Cô chợt nhớ lại lần xem phim "Othello" ở rạp Đại Hoa năm ấy, chẳng hiểu sao trước mắt lại hiện lên hình ảnh đôi găng tay rơi dưới rãnh bệ xí, ngoan ngoãn nằm đối xứng dưới đáy sâu, vừa xót xa lại vừa bất lực...

Điền Nguyệt Minh thả viên đường phèn vào tách trà đen của Băng Long Trân và của mình, cô dùng chiếc thìa inox nhỏ khẽ khuấy đều, vừa thưởng thức bản giao hưởng vừa nhấp từng ngụm nhỏ tách trà đen nóng hổi bốc khói...

Chương thứ nhất còn chưa tấu xong, bỗng nhiên Ouma từ phòng trong bước ra, bảo Điền Nguyệt Minh: "Con yêu à, tắt nó đi, ồn ào quá mức rồi đấy!"

Tay Điền Nguyệt Minh run lên, chiếc thìa inox nhỏ rơi cạch xuống sàn nhà.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.