Nếu ơn huệ thoái hóa thành món nợ, đó cũng là một hiện tượng hủ bại, sự hủ bại hai chiều của cả trạng thái tâm lý lẫn diện mạo tinh thần - mà ơn huệ lại rất dễ thoái hóa thành món nợ.
Ở Trung Quốc, tại vô vàn ngôi làng Tử Vi, cũng như những nơi tương tự như làng Tử Vi, đâu đâu cũng có thể thấy sự xấu xí và ghê tởm được tô son điểm phấn bởi cái gọi là "nhân nghĩa đạo đức", đâu đâu cũng có thể thấy những nhân vật kiểu Trác ca.
Cho nên xưa nay Trung Quốc mới có câu: "Một cái tốt che trăm cái xấu". Người Trung Quốc thực sự đã bị cái logic giả dối của câu nói này mê hoặc quá lâu rồi!... Những ngôi làng ở phương Nam, quả thực trông thanh tú hơn những ngôi làng ở phương Bắc.
Những ngôi làng phổ biến ở phương Nam, sao mà dễ khiến người ta liên tưởng đến phụ nữ, liên tưởng đến những người phụ nữ có vận mệnh gắn liền với đàn ông đến thế cơ chứ!
Kiểu liên tưởng này là cực kỳ tự nhiên.
Những ngôi làng miền Nam với phong tục tập quán đượm đà và năm tháng ngưng đọng thành men rượu, thường khiến người ta liên tưởng đến những người phụ nữ ở thế hệ bà. Còn một số ngôi làng miền Nam khác lại thường khiến người ta liên tưởng đến mẹ của chúng ta hoặc các bà thím, bà dì yêu thương chúng ta. Vẻ mặn mà từng trải của chúng cùng với sự điềm tĩnh thản nhiên mặc cho thời gian trôi qua ấy, khiến người ta cảm thấy đứng trước mặt chúng, bản thân dường như mãi mãi không lớn lên nổi. Còn những ngôi làng miền Nam luôn được ao hồ nước biếc nuôi dưỡng cho vóc dáng thướt tha kiều diễm, lại thường khiến chúng ta hoài niệm về một thiếu nữ thanh tú nào đó mà chúng ta từng thầm thương trộm nhớ...
Nếu một người đàn ông rời xa nó mười mấy thậm chí hai mươi mấy năm, mang theo phần râu cạo không sạch trên cằm và những nếp nhăn không cách nào vuốt phẳng trên trán, mang theo vợ và các con xuất hiện trước mặt nó lần nữa, anh ta sẽ vì một cái cây già nào đó khô héo ở đầu làng mà thầm đau buồn; anh ta sẽ vì con ngòi không còn gợn sóng lăn tăn, trong vắt và sạch sẽ như trong ký tự mà thở dài; anh ta sẽ vì hàng rào của mấy hộ gia đình nào đó không còn nở những loài hoa trong ký tự mà cảm thấy hụt hẫng bội phần... mặc dù có lẽ đang có những loài hoa khác nở rộ thắm tươi. Anh ta thậm chí sẽ vì chiếc cối xay vô cùng quen thuộc đã bỏ hoang không còn quay, trong mắt cối mọc lên cỏ dại, giữa các rãnh cối mọc đầy rêu xanh dày đặc và những cây nấm hình thù kỳ dị mà lòng chua xót, nước mắt tuôn rơi...
Làng Tử Vi, ngôi làng ở phương Nam này. Nó mang cái tên nghe hay như vậy là bởi trong làng từng mọc khắp những chùm hoa, từng thảm hoa tử vi. Hồi đó nhìn từ xa, ngôi làng này trông như ẩn hiện trong áng mây ánh tím. Nó từng là một ngôi làng phương Nam được ao hồ nước biếc nuôi dưỡng cho vóc dáng thướt tha kiều diễm.
Bây giờ, một người đàn ông đã rời xa nó tròn ba mươi năm đã trở về. Quả thực, anh ta mang theo phần râu cạo không sạch trên cằm và những nếp nhăn không cách nào vuốt phẳng trên trán, trong ánh mắt anh ta đọng lại sự hoang mang vì cuộc sống không có dự tính và nỗi sầu muộn vì số phận không có bến đỗ của một người đàn ông tuổi tứ tuần. Anh ta ngẩn ngơ đứng sững bên một gò đất đỏ lớn, như thể tất cả hy vọng của anh ta từng được chôn vùi trong gò đất đỏ lớn ấy, nhưng lại không biết có bị kẻ khác trộm đi mất sạch hay không. Anh ta không thể mang theo vợ và con cái cùng trở về. Không, không phải là không thể, mà là - vẫn chưa...
Không, cũng không phải là vẫn chưa.
Lúc này là một buổi chiều chạng vạng tháng 8 năm 1996.
Người đàn ông này tên là "Trác ca".
Ba mươi năm trước, mọi người đều quen gọi anh ta như vậy. Cứ như thể họ đã quên sạch họ tên thật của anh ta rồi.
Gò đất đỏ lớn ấy, chính là cối xay gió màu đỏ đã sụp đổ.
Ba mươi năm trước, anh ta bị liên lụy vào một vụ án mạng thảm khốc chết bốn người. Không, thực tế là chết năm người.
Ba mươi năm sau đó, anh ta đã phải mài mòn ý chí bên trong những bức tường cao vách dựng kiên cố của nhà tù.
Vốn dĩ anh ta đã bị kết án tử hình. Hồi đó, một vị thẩm phán của Tòa án nhân dân cấp tỉnh cảm thấy vụ án có quá nhiều điểm nghi vấn, đã đến huyện và trực tiếp thẩm vấn anh ta một lần, đại diện cho Tòa án cấp tỉnh đổi án tử hình thành "chung thân". Bằng không, anh ta sớm đã trở thành oan hồn dưới suối vàng rồi.
Anh ta được phóng thích trước thời hạn vì cải tạo tốt trong tù.
Anh ta vẫn chưa gặp được người cùng làng nào.
Anh ta nghe thấy tiếng thở dốc ở phía sau, chậm rãi quay người lại, thấy một con chó chân ngắn đang trợn mắt nhìn mình. Nhìn một cái là biết ngay một con chó già. Dù là một con chó già, nhưng đối với anh ta thì đó là một con chó xa lạ. Ba mươi năm trước, khi anh ta bị xe tù chở đi khỏi làng, nó chắc chắn còn chưa ra đời. Anh ta từng rất thích chó, ba mươi năm trước, anh ta quen thuộc từng con chó trong làng. Có một con chó đen nhỏ do nhà người khác nuôi có quan hệ thân thiết nhất với anh ta. Có những buổi tối, khi anh ta ngồi trên bậc cửa của cối xay gió thổi tiêu dài tự chế để giải khuây, con chó đen nhỏ đó sẽ từ nhà chủ trong làng chạy đến, nằm rạp bên cạnh anh ta, vênh tai lên lắng nghe anh ta.
Đôi mắt chó khi đó trông đặc biệt dịu dàng, thậm chí có thể nói là trông vô cùng đa tình. Dường như đang bày tỏ một sự cảm động đối với anh ta.
Còn những bậc trưởng bối trong làng, nghe thấy tiếng tiêu, thì bàn tán với nhau:
- Có danh đường đấy nhé, nghe ra được mấy phần ý vị rồi chứ?
- Nghe ra rồi, nghe ra rồi. Phải đấy, nên cưới cho nó một cô vợ thôi!
- Trai lớn dựng vợ, gái lớn gả chồng, thực sự nên cưới cho nó một cô vợ rồi.
---❊ ❖ ❊---
Con chó già trước mắt cúp đuôi, mang theo một chấp niệm trợn trừng nhìn anh ta, không tiến cũng không lùi. Trong ánh mắt của nó có một sự uy hiếp kiểu khinh người lạ. Nó muốn sủa anh ta, nhưng lại nhận ra anh ta hoàn toàn không sợ nó. Nó quay đầu nhìn ngôi làng, một bóng người cũng không nhìn thấy, khiến nó càng thêm chột dạ, không dám sủa.
Anh ta ngồi xổm xuống, ngoắc ngón tay về phía nó nói:
- Lại đây, lại gần chút nữa nào. Ta cũng là người làng Tử Vi đây, chúng ta làm quen đi...
Nó nhe nanh với anh ta, do dự chốc lát, vậy mà lại nhích tới trước. Nhưng khi anh ta vươn tay định vuốt ve nó một cái, nó vô cùng cảnh giác vụt né đi, tỏ vẻ cạn hứng rồi chạy mất tăm...
Anh ta nhìn theo bóng nó chạy xa dần, lại nhớ đến con chó đen nhỏ rất thân với mình năm xưa.
Anh ta thầm nói trong lòng: "Hắc Tử, Hắc Tử, mày bây giờ còn sống không? Nếu mày còn sống, chắc đã thành cụ ông, con cháu đầy đàn rồi chứ? Nếu gặp lại Trác ca tao, mày còn nhận ra tao không?"
Người đàn ông tuổi tứ tuần bỗng dâng trào nỗi bi thương, hốc mắt cay xè...
Phía sau làng Tử Vi, một ngọn núi sừng sững, bậc đá chồng cao, vươn thẳng đến Bát Lĩnh, trên lĩnh rừng thông xanh thẳm che khuất mái am cổ. Sông Tử Vi cắt ngang làng làm đôi, bên trái có hơn trăm hộ, bên phải cũng hơn trăm hộ. Cầu vòm đá bắc qua sông, đương nhiên gọi là cầu Tử Vi. Đông làng Tây làng, qua lại đều qua cầu.
Trác ca từ nhỏ đã là đứa trẻ mồ côi ở làng Tử Vi. Mẹ anh ta qua đời vì sơ sẩy sụt chân xuống ao chết đuối năm anh ta năm tuổi. Bố anh ta chết vì bệnh phù thũng năm anh ta sáu tuổi. Dân làng thương hại anh ta, bàn bạc với nhau rồi định ra một quy ước làng - Đông sông Tây sông, mỗi hộ luân phiên nuôi dưỡng anh ta một tháng, cho đến khi anh ta có thể tự lực cánh sinh thì thôi. Người nhà quê coi bệnh phù thũng như ôn dịch, sợ nhất là khí dịch lây lan, vạ lây cả làng, nên đã châm lửa thiêu rụi hai gian nhà của nhà anh ta. Đứa trẻ mồ côi mới sáu tuổi đầu ấy, từ đó liền thực sự rơi vào cảnh màn trời chiếu đất. Đến năm mười tuổi, anh ta bắt đầu tự lực cánh sinh. Trong suốt mười năm, Đông sông Tây sông, anh ta từng ở qua rất nhiều nhà. Dân làng đều nói anh ta lớn lên bằng "cơm trăm nhà". Chính anh ta cũng thừa nhận như vậy.
Trong làng có một cối xay gió vô cùng rách nát, gió lùa mưa dột. Nhà là nhà chung, cối là cối chung. Trác ca năm mười sáu tuổi cảm thấy hổ thẹn vì tiếp tục ăn "cơm trăm nhà", nên chủ động đề nghị, xin phép được chuyển đến cối xay gió đó ở. Ban ngày có thể xay gạo giã đậu cho bà con trong làng, để báo đáp ơn nghĩa của làng, ban đêm thì ở đó, coi như từ nay đã có nhà của riêng mình. Mấy vị cao niên trong làng bàn bạc với nhau, đều nói thiếu niên này biết ơn trả nghĩa, quả thực là một thiếu niên hiểu rõ đạo lý, thấu triệt nhân nghĩa, không những đồng loạt gật đầu ủng hộ, mà còn khen ngợi anh ta một trận ra trò.
Thế là thiếu niên mười sáu tuổi, từ đó trở thành chủ nhân của cối xay gió ấy.
Cối xay gió cách làng Tử Vi nửa dặm. Cửa sổ trước quay ra sông, cửa sổ sau quay vào núi. Ngọn núi đó không biết chứa khoáng chất gì, mỗi khi trời mưa là lại cuốn trôi đất nâu xuống, tích tụ dần thành một dải đất nâu lớn ở phía sau cối xay gió. Thứ đất đó nhào lên rất dính, dùng để trát tường, lúc khô thì cứng cáp vô cùng, không nứt không bong. Nhưng vào mùa thu khi dân làng trát tường, đều không động đến dải đất nâu đó. Điều họ kiêng kỵ là màu nâu sậm ấy rất dễ khiến người ta liên tưởng đến màu của quan tài. Nhưng họ lại quên mất việc ngăn cản thiếu niên kia dùng đất nâu để tu sửa trát bốn bức tường của cối xay gió.
Trong lòng anh ta cũng không có nhiều kiêng kỵ như người lớn, cởi trần, vung tay làm cật lực ba ngày, liền trát bốn bức tường của cối xay gió phẳng phiu và láng bóng. Anh ta lại dùng ba ngày để sửa sang mái nhà cùng cửa sổ, thế nên nhìn từ bên ngoài, cối xay gió trông rất giống một tổ ấm kha khá. Ít nhất là chính anh ta cảm thấy như vậy. Nhưng nói một cách khách quan, do thứ màu đỏ cũ kỹ đập vào mắt ấy, gạt sang một bên chuyện giống hay không giống màu quan tài, thì nói nó giống một ngôi nhà, chi bằng nói nó giống một ngôi miếu thì đúng hơn.
Đúng vào mùa thu, dân làng ai nấy đều bận rộn thu hoạch mùa màng. Mấy ngày đó chẳng ai rảnh rỗi nhớ đến anh ta, đợi khi bận rộn thu hoạch qua đi, mọi người tự nhiên đều lần lượt quan tâm đến anh ta, ra cối xay gió xem thử, chỉ thấy cối xay gió đã thay đổi hoàn toàn tình trạng rách nát trước kia. Dưới ánh chiều tà, bốn bức tường màu đỏ cũ dường như đang lấp lánh ánh đỏ.
Liền có các bậc cao niên trong làng vuốt chóp râu nói:
- Không ổn, không ổn. Thằng bé này, sao lại dùng thứ đất đỏ đó để trát tường chứ? Cứng cáp thì đúng là cứng cáp, nhưng màu sắc quá mức không cát lợi rồi!
Thế là có người tốt bụng hùa theo nói, nên khuyên thằng bé đó tự tay cạo đi, mọi người sẽ xúm vào giúp trát lại.
Có người lắc đầu phản đối, bảo rằng dẫu sao cũng là một đứa trẻ, trong lòng vốn chẳng có kiêng kỵ gì, chúng ta là người lớn, hà cớ gì phải đem những điều kiêng kỵ trong lòng mình ra làm phiền nó chứ? Kỵ là kiêng, người không kiêng kỵ thì chẳng có gì phải kiêng dè cả! Dù sao nó cũng đã tự mình vất vả một phen, vẫn là đừng để nó mang tâm trạng thất vọng chán nản! Cối xay gió màu đỏ thì cứ gọi là cối xay gió màu đỏ đi!...
Đa số mọi người cảm thấy lời này cũng có lý. Thế là cái tên "cối xay gió màu đỏ" cứ thế được gọi từ đó. Thêm chữ "đỏ" vào trước hai chữ "cối xay gió", ngược lại gọi thành ra thuận miệng hơn.
Chỉ trong vài ngày, dân làng đã dựng cho anh ta một chiếc giường, xây một cái bếp, đưa tới vạp nước cùng nồi niêu xoong chảo các thứ.
Lúc kê giường, anh ta cảm thấy chiếc giường đó lớn quá, bản thân không cần ngủ chiếc giường lớn như vậy, bớt đi một ít gỗ, đóng một chiếc giường nhỏ là được.
Người lớn liền cười.
Trong đó có người trêu chọc anh ta:
- Mày mới mười sáu tuổi? Không lớn thêm tuổi nào nữa chắc? Mười tám, mười chín, qua hai mươi tuổi rồi không cưới vợ nữa à? Đến lúc mày cưới vợ, chiếc giường này tuyệt đối không thấy lớn chút nào đâu!
Câu nói khiến thiếu niên đỏ bừng cả mặt, cúi gầm đầu, vội vã tránh đi...
Năm đầu tiên thiếu niên này "lên ngôi" chủ nhân "cối xay gió màu đỏ", người dân cả Đông thôn lẫn Tây thôn đều thích gọi vui anh ta là "em trai cối xay". Đặc biệt là mấy cô gái lớn nàng dâu nhỏ, thích cao giọng gọi anh ta bằng cái giọng thân mật "em trai cối xay" rồi sai bảo anh ta làm cái này cái nọ. Bản thân anh ta cũng vui vẻ khi bị họ sai bảo như vậy.
- Em trai cối xay ơi, mày xay xong thì chứa vào chậu hộ tao nhé, lát nữa tao đến lấy, được không?
- Được chứ. Chị có việc thì cứ đi trước đi, khỏi cần đợi.
Người nọ liếc anh ta một cái, cười nói:
- Mày dám bảo là không được! Quên những ngày ở nhờ nhà chị, chị đối xử tốt với mày thế nào rồi à?
Anh ta liền cúi gầm đầu, vừa đẩy cối vừa nhỏ giọng đáp:
- Không quên ạ.
- Nói to lên chút! Chị nghe không rõ!
Anh ta liền cất cao giọng hơn, nói rõ ràng hơn:
- Không quên đâu chị!
Thế là người ta đáp lại anh ta bằng một nụ cười thân mật.
Thế nhưng khi người ta đáp lại nụ cười, anh ta lại nhút nhát và e thẹn, hoàn toàn không dám ngẩng đầu nhìn người ta. Đợi nghe thấy tiếng bước chân của người ta ra khỏi cối xay gió, mới dám ngẩng đầu nhìn bóng lưng họ. Anh ta biết khi mình cúi đầu đẩy cối, người ta từng thân mật nhìn anh ta mà cười. Trong lòng anh ta vì thế mà ngọt ngào, không kìm được cũng mỉm cười. Mang theo sự biết ơn sâu sắc, anh ta đẩy cối xay quay tít hơn.
- Em trai, dạo này có nhớ chị dâu không?
---❊ ❖ ❊---
- Sao không lên tiếng? Hỏi mày đấy, nói đi chứ!
Không nói không được rồi.
Đành phải nhỏ giọng đáp:
- Không nhớ ạ.
- Không nhớ, cái đồ vô lương tâm này! Mày quên lúc mày bệnh ở nhà chị, là ai ngày ba bữa đút thuốc thang cho mày à? Sớm biết mày vô lương tâm thế này, lúc đầu tao đã chẳng thương yêu mày nữa!
- Quả thực là đồ vô lương tâm hết chỗ nói!
- Hồi ở nhà tao, còn từng ngủ chung chăn với tao đấy! Có lần còn tè dầm ướt sũng cái đệm tao vừa mới tháo ra giặt!
- Cả trong chăn tao nữa! Còn phải dùng một tay sờ ti tao thì mới ngủ ngon được cơ.
Thế là mấy người phụ nữ độ tuổi nửa trẻ nửa già cười rộ lên từng trận ngả nghiêng...
Thế là anh ta dồn sức đè lên đòn cối, mắt dán chặt vào mũi giày của mình, dù mệt cũng không giảm tốc độ, đẩy chiếc cối lớn quay tít như con quay. Anh ta là đang định dùng tiếng cối xay để lấn át tiếng cười của họ. Bọn họ nói đều là những chuyện có thật. Khoảnh khắc ấy anh ta rất ghét việc họ hùa nhau lấy anh ta ra làm trò đùa. Nếu như bất kỳ ai trong số họ, trong hoàn cảnh không có người phụ nữ thứ ba nào nghe thấy, mà đơn độc nhắc lại chuyện xưa với anh ta, đùa giỡn vài câu, thì anh ta cũng không bận tâm lắm. Đối với mỗi một ngôi nhà, mỗi một hộ gia đình mà anh ta từng ở qua, bất kể đối xử với anh ta thân thiết hay lạnh nhạt, trong lòng anh ta đều mang ơn sâu sắc. Đối với mỗi người từng quan tâm, sưởi ấm cho anh ta, dù là nam hay nữ, trong lòng anh ta đều chôn giấu ý nghĩ sớm muộn gì cũng sẽ báo đáp. Anh ta cho rằng đã họ có ơn với mình, thì họ có quyền đùa giỡn vài câu. Miễn là đừng hùa vào với nhau, miễn là đừng khiến anh ta quá mức khó xử.
Thế nhưng, những người phụ nữ nửa trẻ nửa già lại cứ thích hùa nhau ra lấy anh ta làm trò cười. Hơn nữa một khi đã bắt đầu, thì nếu không moi được từ miệng anh ta một câu nói khiến họ nghe thấy được vui lòng, họ nhất quyết không chịu buông tha cho anh ta.
- Cái thằng em trai này! Vừa rồi không nói lời thật trong lòng nhé! Chị đéo tin tao đối tốt với mày thế mà rời xa tao rồi mày lại thực sự không nhớ tao!
- Đúng đúng, mau nói lời thật đi, mau nói lời thật đi! Nói một câu thật lòng khiến bọn chị nghe xong vui vẻ, sau này bọn chị tìm cho mày một cô vợ thật xinh đẹp!
- Kiếm cho một cô Tây Thi đậu phụ! Em trai cối xay xứng đôi với Tây Thi đậu phụ, đúng là một cặp trời sinh! Mày xay đậu cho làng, nó làm đậu phụ cho làng, thế thì tốt biết mấy!
- Tốt thì tốt, nhưng cậu ta phải khiến mấy chị em bọn tao mát lòng mát dạ bây giờ đã chứ!
- Đúng đấy, hôm nay bắt buộc phải ép cậu ta nói mới thôi!
- Nói đi! Nói mau!
Bị ép đến đường cùng, anh ta đành phải dừng bước, dưới sự vây quanh của những người phụ nữ, cúi gầm đầu thấp đến mức không thể thấp hơn...
- Ngẩng đầu lên! Cúi gầm đầu làm gì chứ!
- Nói đi! Nói đi! Mở miệng nói chuyện mau!
Kết quả là anh ta đành phải nói:
- Nhớ ạ!
- Nhớ á? Nói cho rõ ràng xem nào, nhớ người hay nhớ vật? Rốt cuộc là nhớ cái gì nào?
- Không nhớ vật, là nhớ người. Nhớ mọi người đấy ạ!
Thế là những người phụ nữ tuổi sàn sàn nhau rốt cuộc cũng chịu buông tha, người nhìn tao, tao nhìn người, đều cười rộ lên.
Còn thiếu niên này, mặt đỏ bừng lên như sắp rỉ máu, cảm thấy bị nhục nhã đến mức sắp khóc tới nơi.
Nói một cách công bằng, những người phụ nữ lớn không lớn nhỏ không nhỏ ở làng Tử Vi, không phải ai cũng là những kẻ lẳng lơ. Ngược lại, thuần phong mỹ tục ở làng Tử Vi rất nghiêm ngặt, lời nói hành vi của phụ nữ, kể cả các thiếu nữ, thực ra rất bị kìm kẹp. Chính vì lời nói hành vi ngày thường bị kìm kẹp quá mức, tụ tập lại với nhau, lại tránh được tai mắt của đàn ông và các bậc trưởng bối, thì sao có thể không quên mình phóng túng chốc lát cho được? Phụ nữ làng Tử Vi ấy mà, có thể nói đều là những "kẻ hai mặt" giỏi ngụy trang. Không, dùng từ "ngụy trang" để hình dung họ, có phần hơi bất kính với họ, và cũng quá gần với sự chê bai. Có lẽ dùng từ "đóng gói" khá mốt ngày nay để bình phẩm về họ thì thích hợp hơn. Trước mặt đàn ông, đặc biệt là trước mặt những người đàn ông là chồng và những người đàn ông là trưởng bối, họ từng người một ôn hòa, lương thiện, cung kính, kiệm ước, nhường nhịn, ngồi ra dáng ngồi, đứng ra dáng đứng, cười không mất nét mặt, khóc không quên lễ tiết, nói không phạm lễ giáo, hành động không vượt khuôn phép. Một khi đã thoát khỏi sự kiềm kẹp của đàn ông, liền tự tại vui vẻ chẳng kiêng kỵ gì nữa. Giống như những con khỉ đã được chủ nhân huấn luyện và dạy dỗ nghiêm ngặt, trước mặt chủ nhân, dáng vẻ ngoan ngoãn làm chuẩn mực hơn ai hết, nhưng sau lưng chủ nhân, bản chất khỉ hoang liền lộ rõ hết. Thế nhưng bọn họ dù là "kẻ hai mặt", lại rất rạch ròi giới hạn. Chuyện bại hoại phong hóa thì tuyệt đối không dám làm. Chuyện cẩu thả nam nữ lại càng chưa từng xảy ra. Làng Tử Vi dẫu sao thuần phong mỹ tục nghiêm ngặt, hương quy thần thánh, trong vòng bán kính trăm dặm có thể coi là kiểu mẫu, không ai là không biết, không ai là không rõ, không ai là không nể phục. Cho nên, sự phóng túng của họ, dáng vẻ khỉ hoang của họ, suy cho cùng cũng chỉ là chuyện chốc lát, là trong điều kiện tránh được tai mắt của đàn ông, là lúc tụ tập lại với nhau, là ở cái nơi như cối xay gió màu đỏ ấy, là đối với một thiếu niên mà họ cảm thấy có quyền và có lý do để đùa giỡn vài câu. Ngoài việc hiếu hỉ, làng Tử Vi bốn mùa yên ắng tĩnh lặng. Mà việc kết hôn tang ma, lại không phải ai khơi mào lên là có thể rình rang tiến hành được. Cho nên mấy cô gái lớn nàng dâu nhỏ, mấy người phụ nữ tuổi độ nửa trẻ nửa già, kể cả mấy thiếu nữ hãy còn là nụ hoa, tận sâu trong nội tâm thường có thể tưởng tượng ra và đành bất lực chịu đựng sự cô đơn. Tiềm thức của họ, là đã coi cối xay gió màu đỏ thành "câu lạc bộ phụ nữ" của làng Tử Vi. Dùng một từ văn phong gọi là "salon" của họ cũng chẳng sao. Không phải đợi đến khi thiếu niên mười sáu tuổi "lên ngôi" cối xay gió màu đỏ thì nơi đó mới thành "câu lạc bộ" hay "salon" của họ, mà trước đó nó vốn đã sớm là như vậy rồi. Những việc như giã gạo xay bột, theo truyền thống vốn dĩ là công việc bổn phận của phụ nữ. Có ngày nào mà nơi đó không tụ tập ba năm người phụ nữ đâu? Lúc đông thì sáu bảy người mười mấy người. Đương nhiên là thế, nơi đó chẳng phải đã trở thành "câu lạc bộ" hoặc "salon" của họ rồi sao? Chỉ là đàn ông, đặc biệt là những người đàn ông ở vai vế trưởng bối, rất ít khi đặt chân đến đó. Thỉnh thoảng có đến, dáng vẻ của những người phụ nữ mà họ nhìn thấy, cũng là dáng vẻ quen thuộc từ trước tới nay không có gì đáng trách của họ. Cho nên chẳng có người đàn ông nào cảm thấy bản chất của nơi đó đang xảy ra sự thay đổi đáng để đàn ông nói chung phải chú ý theo dõi sát sao cả. Mà thiếu niên mười sáu tuổi sau khi "lên ngôi" chủ nhân cối xay gió màu đỏ, dường như có nghĩa là chủ nhiệm "câu lạc bộ" hoặc thủ lĩnh "salon" hợp pháp của họ vậy. Hơn nữa, cậu ta lại không có quyền yêu cầu họ cái gì, còn họ lại có quyền lấy cậu ta ra đùa giỡn. Phụ nữ làng Tử Vi, chưa từng có ai dám đem đàn ông ra đùa giỡn trực diện bao giờ. Nhưng họ từ lâu đã hằng mong mỏi có được thứ quyền lực ấy, có được thời cơ ấy. Đem một người đàn ông ra đùa giỡn, khỏi phải nói là có thể khiến họ thu được niềm vui cực lớn, họ đều hy vọng và cần có được niềm vui cảm xúc đặc biệt này. Đem một đứa con trai ra đùa giỡn sẽ khiến họ cảm thấy mất thân phận. Mà thiếu niên lớn mười bảy mười tám tuổi thì đã gần như là thanh niên rồi, đem thanh niên ra đùa giỡn sẽ bị cho là lẳng lơ, con trai làng Tử Vi, mười bảy tuổi là bắt đầu biết bảo vệ tôn nghiêm của mình rồi. Người không hiểu điểm này, sẽ bị hoài nghi tương lai có thể trở thành một người đàn ông tốt trong làng hay không. Cho nên ý thức bảo vệ tôn nghiêm của họ, cũng nhạy cảm y như bản năng bảo vệ trinh tiết của các thiếu nữ vậy. Đem tôn nghiêm của họ ra đùa giỡn chẳng khác nào chọc vào sừng bò tót nhỏ, là một việc rất mạo hiểm, họ tuyệt đối không dám thử. Đem một thiếu niên mười sáu tuổi lớn hơn tuổi con trai một chút mà nhỏ hơn tuổi đàn ông một chút ra đùa giỡn, vừa không mất thân phận, lại chẳng mạo hiểm chút nào, là một việc nằm giữa ranh giới được cho phép và bị quở trách. Mà đa số phụ nữ, thực ra luôn muốn làm những việc như thế. Niềm vui khi có cơ hội làm những việc như thế, là một niềm vui mà phụ nữ ngày thường khó lòng có được. Đối với phụ nữ làng Tử Vi, đặc biệt là như vậy. Huống chi thiếu niên mười sáu tuổi có lòng tự trọng nhiều hơn con trai một chút và ít hơn đàn ông một chút ấy, lại là thứ ít kiêu kỳ nhất trong số những người được đếm trong thôn. Đem cậu ta ra đùa giỡn vài câu, thu lại niềm vui chốc lát, cậu ta không đến mức nổi giận, không đến mức ôm hận, lại càng không đến mức đối mặt trực diện khiến các cô mất mặt rơi vào hoàn cảnh khó xử. Cậu ta tối đa cũng chỉ đỏ mặt thẹn thùng, ngượng ngùng mà thôi...
Bọn họ đem cậu ta ra đùa giỡn, còn vì trong thâm tâm ai nấy đều rất quý mến cậu ta. Khuôn mặt thiếu niên này không dài không ngắn, không mập không ốm, lông mày rậm mắt to ngũ quan đoan chính chính là kiểu ngoại hình mà họ thích; tính cách ít nói thật thà biết nhân biết nghĩa của cậu ta là điều mà họ thích. Bọn họ xem cậu ta là một đứa em trai nhỏ của chung công cộng. Sự quan tâm của họ dành cho cậu ta, nhiều hơn đàn ông trong làng, cũng chân thành hơn đàn ông trong làng...
Hết lần này đến lần khác, sau khi trêu chọc cậu ta một trận, bọn họ quay sang bắt đầu xót xa thông cảm cho cậu ta. Bọn họ sẽ tự mình đẩy cối, ép cậu ta rời khỏi cối xay gió đi chơi đi. Cậu ta hoàn toàn không muốn bị họ thay thế. Thiếu niên mười sáu tuổi này cho rằng đẩy cối là cách cậu ta báo đáp ơn nghĩa của toàn làng, cũng là cách duy nhất. Cậu ta vui vẻ dùng cái cách không mấy khó khăn này để báo đáp. Cậu ta tự an ủi rằng bản thân đã bắt đầu báo đáp rồi. Đợi đến lúc gạo đậu cậu ta xay ra nhiều, hết chậu này nối tiếp chậu khác, hết cáiần nia này nối tiếp cáiần nia khác xếp thành một hàng, trong lòng cậu ta ngược lại cảm thấy vui mừng. Khoảnh khắc ấy cậu ta càng có thể cảm nhận đầy đủ ý nghĩa lao động của bản thân, và giá trị tồn tại với tư cách là một người làng Tử Vi. Cậu ta sẽ trở nên giống như một chú lừa nhỏ, những bước chân thình thịch đẩy chiếc cối lớn phát ra tiếng kêu ầm ầm. Mồ hôi lộp bộp rơi xuống cũng chẳng màng dừng cối nghỉ ngơi, lau mồ hôi. Càng đẩy càng hăng...
Bị phụ nữ ép rời khỏi cối xay gió, thiếu niên mười sáu tuổi thực ra chẳng có nơi nào để đi chơi. Cậu ta cảm thấy mình lớn hơn rất nhiều tuổi so với những thiếu niên cùng trang lứa trong làng. Bọn họ cũng cảm thấy như vậy. Thân thế mồ côi và trải nghiệm đặc biệt lớn lên bằng "cơm trăm nhà" của cậu ta, tự nhiên sẽ khiến những suy nghĩ trong lòng cậu ta khác với bọn họ. Mà sau khi "lên ngôi" cối xay gió màu đỏ, cậu ta càng cảm thấy mình là một người lớn. Cậu ta không thể chơi chung một giuộc với bọn họ. Hơn nữa từ nhỏ cậu ta đã không thích chơi bời. Huống chi, ở nông thôn chẳng có thiếu niên nào thực sự rảnh rỗi cả. Có người phải làm việc, có người phải đi học ở thôn ngoài hoặc trong huyện. Cậu ta chưa từng đi học ngày nào. Chi phí đi học quá cao. Không nhà nào gánh nổi tiền cho cậu ta đi học. Nhưng cậu ta ngược lại đã nhận biết được một số chữ, biết viết một số chữ, là tự mình lén học theo con cái nhà người ta đi học, trình độ đại khái tương đương lớp hai tiểu học...
Thông thường, thiếu niên không thích chơi bời này, đôi tay vừa rời khỏi cán cối, đôi vai liền dính chặt với một gánh nặng. Cậu ta phải gánh từng gánh đất màu mỡ từ nơi xa về, phủ lên lớp đất sét đỏ phía sau cối xay gió, cải tạo nó thành vườn rau. Cậu ta muốn tự lực cánh sinh, không ăn những món rau mà phụ nữ mang cho nữa, mà ăn rau do chính mình trồng. Sau này còn phải ăn lương thực do chính mình trồng...
Khi phụ nữ kết bạn đi về cùng nhau, gặp lúc cậu ta gánh hai súng đất đầy đặn, một tay vịn đòn gánh cho vững, tay kia chống nệ vào hông, đầu nghiêng sang một bên, cái cổ bị đè đến mức gân guốc nổi lên, lảo đảo rảo bước vội vã đi tới, không ai là không dừng bước nhìn cậu ta. Khi cậu ta đi ngang qua trước mặt họ, cố gắng ngực ưỡn thẳng vóc, cố gắng bước đi vững vàng, cố gắng ra vẻ thản nhiên.
Nhìn bóng lưng cậu ta, bọn họ không kìm được lại thốt ra những lời khen ngợi cậu ta:
- Thằng bé này! Lẽ nào không biết mệt là gì sao?
- Khiến người ta liên tưởng đến Ngưu Lang! Nếu ta là Chức Nữ trên trời, thật sự sẵn lòng vì cậu ta mà phạm giới hạ phàm, ở bên cậu ta suốt đời đấy!
- Cậu đấy nhé! Đều coi như là vai thím vai dì của người ta rồi, mà lại thốt ra cái câu không biết xấu hổ thế này! Người ta vẫn còn là một đứa trẻ cơ mà!
- Người phụ nữ sau này gả cho cậu ta, coi như cũng có chút phúc khí.
Thiếu niên này đương nhiên cũng có lúc cảm thấy mệt mỏi rã rời. Những lúc ấy cậu ta liền ra bờ sông Tử Vi câu cá, chiếc cần câu được vót từ cành cây, lưỡi câu được uốn từ cây kim nung đỏ. Đoạn sông ấy rất yên tĩnh, người trong làng ít khi ra đó. Nơi đó dường như là "lãnh địa" thuộc về riêng một mình cậu ta. Những khóm cây bụi cao ngang người chia cắt mặt nước với bờ sông, những cụm hoa tử vi nở rộ giữa các lùm cây bụi, trong đoạn sông ấy có một tảng đá xanh phẳng lì, cậu ta thường bơi qua đó ngồi lên tảng đá xanh lớn ấy để câu cá. Dưới sông có cá, nhưng cực kỳ nhỏ, thỉnh thoảng câu được con lớn, cũng chỉ dài hơn hai đốt ngón tay một chút. Nói là cậu ta đi câu cá, chi bằng nói là cậu ta đi ngẩn ngơ thì đúng hơn.
Nơi đó quả thực là một chốn tuyệt vời để người ta thẫn thờ suy ngẫm tâm sự.
Thiếu niên mười sáu tuổi này ngược lại chẳng có tâm sự gì để suy ngẫm. Thường là ở đó tưởng nhớ đến bố mẹ. Khi ấy tâm trạng của cậu ta sẽ trở nên vô cùng đau buồn. Mười năm ăn "cơm trăm nhà", không hề khiến cậu ta quên đi cha mẹ ruột thịt. Ngược lại, hình ảnh của cha mẹ được lưu giữ rất rõ ràng trong ký ức của cậu ta. Lúc sinh thời cha mẹ là một đôi vợ chồng ân ái. Căn nhà cậu ta từng có hồi nhỏ rất ấm cúng. Trong tưởng tượng của cậu ta, cối xay gió màu đỏ đã biến thành ngôi nhà của cậu ta ngày trước, tựa hồ như tiếng mẹ gọi cậu ta về ăn cơm đang truyền đến từ cối xay gió, tựa hồ như chỉ cần chạy về là có thể nhìn thấy người bố thương yêu đang ngồi bên bàn nhâm nhi chén trà kiên nhẫn đợi cậu ta...
Thiếu niên mười sáu tuổi này đôi khi còn vô cớ nhớ đến Tiểu Cầm, năm chín tuổi cậu ta từng ở nhà Tiểu Cầm hai tháng. Năm đó Tiểu Cầm mười tuổi, cậu ta gọi cô ấy là chị. Tiểu Cầm họ Lưu, nhưng cô ấy không phải con ruột nhà họ Lưu, mà là được nhà họ Lưu ẵm từ nơi khác về làng Tử Vi. Đó là chuyện khi cô ấy hơn hai tuổi, cô ấy không biết nguyên quán mình ở đâu, bố mẹ là người thế nào, người khác lại càng không rõ. Vợ chồng nhà họ Lưu vô cùng kín tiếng về chuyện này, ngậm chặt miệng như hũ nút. Người phụ nữ nhà họ Lưu có bệnh, không sinh được con, từng trông mong dựa vào cô ấy sau này lớn lên sẽ chiêu mộ rể về nhà để nương nhờ tuổi già. Đến năm Tiểu Cầm ba tuổi, người phụ nữ đó không biết uống trúng thang thuốc nào mà bỗng nhiên mang thai, lại còn sinh được một đứa con trai. Thế là vợ chồng họ liền thay đổi ý định ban đầu, dự tính sau này để Tiểu Cầm làm con dâu của họ. Đối với họ, đây là một ý nghĩ thuận lý thành chương, không cần phải chuẩn bị của hồi môn cho cô ấy, cũng không cần chuẩn bị sính lễ để cưới vợ khác cho con trai. Không những thuận lý thành chương, mà lại còn tiết kiệm tiền, đương nhiên cũng không mất đi một ý nghĩ hay. Thế nên thân phận và địa vị của Tiểu Cầm ở nhà họ Lưu, trên thực tế từ con nuôi đã biến thành vợ nuôi từ bé, giống như một đứa con ở sai vặt trong nhà họ Lưu vậy. Ban ngày vừa phải phục vụ sinh hoạt của vợ chồng nhà họ Lưu, vừa phải chịu trách nhiệm trông nom "chồng" của mình, lại còn phải làm rất nhiều việc từ sáng đến tối. Việc nhà nông nhiều, Tiểu Cầm mỗi ngày rất khó có được lấy một chút khoảnh khắc thảnh thơi. "Chồng" của Tiểu Cầm tên là Bảo Thuận, là một đứa trẻ rất bệnh tật. Đứa trẻ vừa bệnh tật lại vừa được coi như ngọc ngà châu báu trên tay thì khó tránh khỏi tính khí tiểu thư công tử, đứa trẻ hay hờn dỗi thì rất thích khóc.
Thường là thế này - Tiểu Cầm đang cho lợn ăn, hoặc đang giặt quần áo, Bảo Thuận trong nhà bỗng khóc òa lên...
- Tiểu Cầm! Con nhỏ chết tiệt kia! Điếc tai rồi à? Không nghe thấy Bảo Thuận khóc đấy phỏng?
Thế là Tiểu Cầm hoảng hốt chạy bổ vào nhà...
Thế là người đàn ông nhà họ Lưu tức giận mắng chửi:
- Tiểu Cầm, sao mày không rửa tay? Mới vừa cho lợn ăn xong, đến tay cũng không thèm rửa mà đã có thể dỗ Bảo Thuận rồi à? Trong lòng mày còn có nó nữa không? Sau này nó là chồng mày đấy.
Bảo Thuận đang khóc, Tiểu Cầm cúi đầu nhìn đôi bàn tay hoàn toàn không bẩn của mình, thường thì sẽ ngẩn ngơ đứng đó, không biết rốt cuộc nên rửa tay trước, hay là dỗ "chồng" nín khóc mới là quan trọng hơn...
Có lúc Tiểu Cầm bị mắng mỏ cũng sẽ cãi lại một câu:
- Tay con không bẩn! Con không cho lợn ăn, con đang giặt quần áo cơ mà!
- Con khốn nhỏ! Lại còn học thói cãim mép à? Hèn chi mấy ngày nay mắt Bảo Thuận cứ đỏ quằn lên, chắc chắn là hôm qua lúc mày dỗ nó, nước xà phòng trên tay mày dính vào mắt nó rồi chứ gì!
- Hôm qua lúc con dỗ nó con có giặt quần áo đâu! Con quét sân cơ mà! Hơn nữa con cũng rửa tay rồi, rửa bằng nước sạch, không chà xà phòng.
- Phản rồi phản rồi! Con nhỏ chết tiệt này dạo này bị làm sao thế hả? Lớn thêm một tuổi lá gan to thêm một đoạn, không dạy dỗ thì sau này còn ra thể thống gì nữa?!
Người phụ nữ nhà họ Lưu liền lao đến trước mặt cô ấy, véo mạnh mấy cái liền. Không véo má cô ấy, cũng không véo cánh tay. Chuyên véo phần da thịt non mềm nhất ở mặt trong gốc đùi cô ấy. Véo chỗ đó, dù có véo đến xanh tím bầm dập thì người ngoài cũng không phát hiện ra được. Lúc bị véo, Tiểu Cầm cắn chặt môi dưới, nước mắt đảo quanh trong hốc mắt, cắn răng chịu đau không dám kêu một tiếng. Nếu kêu lên, sẽ phải chịu đói mấy bữa...
Những tình huống này, đều là những gì Trác ca tận mắt nhìn thấy khi mới chín tuổi. Cậu ta còn nhận ra, chị Tiểu Cầm năm mươi tuổi, à không, mười tuổi, hoàn toàn không thích người "chồng" bảy tuổi của cô ấy chút nào. Cậu ta thậm chí còn nhận ra, trong lòng cô ấy thực ra rất ghét đứa trẻ hay hờn dỗi hở ra là oe oe khóc nhè đó.
Nhà họ Lưu vốn không muốn thành tâm hoàn thành nghĩa vụ nhận nuôi cậu ta một tháng. Nhưng nghĩa vụ này là do làng luân phiên từng nhà từng nhà một, đến lượt nhà họ, nhà họ không có lý do chính đáng để từ chối cậu ta ra ngoài cửa, đành phải mang tâm trạng cực kỳ trái ý để làm tròn nghĩa vụ. Người đàn ông nhà họ Lưu là một người tư tưởng mê tín rất nặng, quen biết trong huyện một người đàn ông trước đây từng bày quầy đoán mệnh, hai người có ngôn ngữ chung, hận gặp nhau quá muộn, vừa gặp đã thân, kết giao thành bạn bè. Ông ta thường xuyên đến huyện để gặp người bạn có chung ngôn ngữ đó, vô cùng thành kính thỉnh giáo một số điều thắc mắc. Người bạn đó nói với ông ta, Bảo Thuận nhà ông ta sở dĩ sinh ra đã ốm yếu bệnh tật là vì giờ sinh không tốt, cho nên mệnh mỏng, nếu có thể có một cậu con trai mệnh vượng ngủ chung với Bảo Thuận vài bữa, hứng chí chừng đủ để Bảo Thuận vay mượn được chút vận mệnh. Mà điểm này, chính là nguyên nhân thực chất khiến nhà họ Lưu không những không từ chối Trác ca lúc chín tuổi ngoài cửa, mà còn coi như khách quý. Lúc chín tuổi, cậu ta đầu hổ mặt ngựa, ai nhìn cũng khen cậu ta sinh ra đã có bộ dạng tràn trề sinh khí, người đàn ông nhà họ Lưu thầm nghĩ cậu ta chắc chắn được tính là một cậu con trai mệnh vượng rồi. Chỉ là bản thân Trác ca không thể nào biết được tầng uẩn khúc này...
Vợ chồng nhà họ Lưu quả thực đối xử với cậu ta rất tốt. Không bắt cậu ta làm một chút việc gì, chỉ yêu cầu cậu ta ngủ cùng Bảo Thuận, hơn nữa còn phải ngủ chung một chăn với Bảo Thuận, và phải cởi trần mà ngủ. Bảo Thuận ngủ trưa, cậu ta cũng phải cởi trần ngủ cùng. Dù cậu ta không buồn chút nào. Cậu ta rất biết điều, mỗi khi đến lúc đó, liền ngoan ngoãn tự giác cởi trần nằm phịch xuống bên cạnh Bảo Thuận, nhắm mắt giả vờ ngủ. Kỳ thực trong lòng cậu ta thích đi giúp Tiểu Cầm làm việc hơn, nhưng lại không dám. Làm như vậy vợ chồng nhà họ Lưu sẽ tức giận. Người ta đối xử tốt với mình, mình sao có thể khiến người ta tức giận chứ? Cậu ta không phải chưa từng lén lút giúp Tiểu Cầm làm việc. Có lần bị người phụ nữ nhà họ Lưu nhìn thấy, mắng cho một trận. Sau đó người phụ nữ đó còn kể lại với chồng mình, chồng cô ta lại mắng cậu ta một trận nữa. Từ đó cậu ta tuyệt đối không dám giúp Tiểu Cầm làm việc nữa...
Tiểu Cầm biết cậu ta muốn giúp mình làm việc, chỉ là không dám, cho nên không hề ghen tị với địa vị ở nhà họ Lưu thậm chí còn ưu việt hơn cả cô ấy của cậu con trai ăn chực này, lại càng không thấy chướng mắt sự nhàn rỗi của cậu ta. Cậu con trai chín tuổi và cô bé mười tuổi, muốn bày tỏ thiện cảm với nhau thì mắt của người lớn có canh chừng thế nào cũng không giữ nổi. Có một hôm Bảo Thuận lại phát sốt, vợ chồng nhà họ Lưu cùng nhau đi huyện vì Bảo Thuận. Người đàn ông thì đi thỉnh giáo người bạn biết đoán mệnh của ông ta để lấy lời tiên tri an ủi. Người phụ nữ thì đi bốc thuốc cho con. Thế là cậu con trai chín tuổi và cô bé mười tuổi cuối cùng cũng chớp được cơ hội ở bên nhau nói chuyện. Tiểu Cầm chẳng làm việc gì nữa, cứ huyên thuyên nói mãi không dứt với cậu ta. Nói rằng lớn lên sau này, thể nào cũng có ngày cô ấy trốn khỏi nhà họ Lưu, tuyệt đối không thèm làm con dâu của nhà bọn họ đâu! Thiếu nữ mười tuổi nói đến đoạn đau thương, thút thít khóc. Cậu con trai chín tuổi liền lau nước mắt thay cô ấy, khuyên cô ấy đừng quá đau thương, thề sau này sẽ trốn cùng cô ấy...
- Cậu thề tôi cũng không tin!
- Vậy thế nào chị mới tin chứ?
Thiếu nữ mười tuổi cắn nhẹ môi dưới suy nghĩ một lúc, bỗng nhiên đôi mắt đảo một vòng, thần sắc vô cùng trang nghiêm nói:
- Chỉ có hai đứa mình kết bái làm chị em thì tôi mới tin!
Cậu con trai chín tuổi trợn mắt nhìn cô ấy, bối rối hỏi lại:
- Em chẳng phải đã gọi chị là chị rồi còn gì?
- Đó là hai chuyện khác nhau! Kết bái rồi, thì trong lòng cậu có tôi, trong lòng tôi có cậu! Không kết bái, cái gọi là chị này em nọ chỉ là gọi miệng mà thôi. Rất nhiều đàn ông phụ nữ trong thôn, chẳng phải đều gọi thế cả sao? Cậu tưởng họ thực sự để người ta vào lòng đấy à?
- Nhưng em không biết kết bái thế nào cả.
- Tôi biết! Tôi từng thấy người lớn kết bái thế nào rồi.
Thế là Tiểu Cầm mười tuổi liền kéo tay Trác ca chín tuổi cùng chạy vào kho tạp vật, cô ấy cắm ba nhánh củi nhỏ vào thùng đựng lương thực, kéo Trác ca cùng quỳ gối song song với mình, cùng nhau dập đầu hướng về thùng lương thực.
- Ông trời bà đất, đều làm chứng cho hai đứa con! Hôm nay hai đứa con kết bái làm chị em, sau này trong lòng tôi có cậu ấy, trong lòng cậu ấy có tôi. Hai đứa con ai mà thay lòng đổi dạ, ông trời giáng sấm sét đánh, bà đất lún hố chôn vùi!
Cô ấy nói một câu, Trác ca học theo một câu.
Kết bái xong, Trác ca hỏi Tiểu Cầm:
- Sau này, chị thực sự là một người chị của em rồi chứ?
- Tự nhiên rồi! Là một người chị thân hơn cả chị ruột của em!
- Thế sau này em có một người thân trên đời này rồi nhỉ?
- Đúng! Chị sau này trên đời này cũng có một người thân rồi!
Cô ấy bỗng ôm chầm lấy cậu ta, hôn lên má cậu ta một cái.
Từ khi mẹ mất, đây là lần đầu tiên Trác ca được người ta hôn. Cậu con trai chín tuổi này hoàn toàn không cảm thấy xấu hổ. Ngược lại, cậu ta cảm động đến mức muốn khóc...
Vợ chồng nhà họ Lưu trở về, không hiểu vì sao, thái độ đối với Tiểu Cầm tỏ ra vô cùng âm trầm lạnh lẽo. Điều này khiến trong lòng Tiểu Cầm cực kỳ hoảng sợ, làm gì cũng nơm nớp lo sợ, cũng khiến Trác ca thấp thỏm không yên thay cô ấy...
Năm đó Tết Đoan Ngọ, dân làng theo lệ tặng bánh ú cho nhau. Nhà họ Lưu theo lệ sai Tiểu Cầm đi đưa. Số nhà cần đưa thì nhiều, một mình Tiểu Cầm mang không xuể. Trác ca xung phong nhận việc, đòi đi cùng Tiểu Cầm. Vợ chồng nhà họ Lưu do dự một lát, rồi cũng đồng ý. Trước khi hai đứa trẻ ra khỏi nhà, người phụ nữ nhà họ Lưu tận tay chải lại đầu cho Tiểu Cầm, tết lại bím tóc. Lại lục ra một dải lụa hồng thắt một bông hoa lên đuôi bím tóc cho Tiểu Cầm. Hơn nữa, còn tìm ra bộ quần áo mới và một đôi giày mới bắt Tiểu Cầm thay vào. Đứng cách cô ấy vài bước ngắm nghía cô ấy một hồi, lại thoa một lớp phấn hồng nhạt lên gò má cô ấy; chấm một nốt son đỏ tròn xoe giữa ấn đường cô ấy. Thế nên trong mắt Trác ca, người chị gái nhỏ mà cậu ta giấu kín trong lòng này, xinh đẹp chẳng khác nào vị tiểu thần nữ trên tranh Tết cả...
Hai đứa trẻ cùng xách một giỏ bánh ú bước ra khỏi nhà họ Lưu, Trác ca nói với Tiểu Cầm:
- Bố mẹ chị...
Tiểu Cầm lập tức ngắt lời cậu:
- Không được phép nói thế nữa! Bọn họ không phải bố mẹ tôi.
Trác ca lập tức ngậm miệng, lủi thủi bước đi mấy bước, không nhịn được lại nói:
- Bố mẹ chồng chị...
Tiểu Cầm khựng lại, trợn mắt nhìn cậu, tức giận nói:
- Bọn họ lại càng không phải bố mẹ chồng tôi! Chị đã bảo với cậu rồi, lớn lên sớm muộn gì chị cũng sẽ trốn khỏi nhà họ Lưu, trốn khỏi làng Tử Vi các người!
Trác ca cũng hơi tức giận nói:
- Dù sao nhìn ngày hôm nay mà xem, nhà họ Lưu đối với chị cũng rất tốt mà!
Tiểu Cầm không muốn đôi co với cậu em trai kết bái này, hừ lạnh qua mũi một tiếng.
Hai đứa trẻ đều mang tâm trạng không vui...
Đưa bánh ú đến một nhà nọ, người phụ nữ nhà đó ngắm nghía Tiểu Cầm với vẻ tán thưởng rồi hỏi:
- Ồ, xinh xắn thế này cơ à? Ai chải chuốt cho cháu đấy?
Tiểu Cầm cúi đầu đáp:
- Bố mẹ Bảo Thuận ạ.
Người phụ nữ đó lại hỏi:
- Tiểu Cầm, rốt cuộc cháu muốn làm con gái của họ hơn? Hay là muốn bọn họ làm bố mẹ chồng của cháu hơn?
Tiểu Cầm không ngẩng đầu, không lên tiếng.
Người phụ nữ đó dường như cảm nhận được điều gì đó từ dáng vẻ của cô ấy, bèn cúi người hỏi:
- Tiểu Cầm, bọn họ đối xử với cháu rốt cuộc có tốt không? Cháu đừng có giữ trong lòng lo lắng gì cả, nói thật đi. Nếu bọn họ đối xử không tốt với cháu, toàn bộ người làng Tử Vi chúng ta có thể làm chủ cho cháu, phê bình giáo huấn bọn họ. Làng Tử Vi chúng ta là ngôi làng nhân nghĩa nổi tiếng trong vòng bán kính trăm dặm, tuyệt đối không dung thứ cho những chuyện bất nhân bất nghĩa tồn tại sau lưng đâu!
Tiểu Cầm nói bằng giọng nhỏ xíu:
- Thế cô đi mà hỏi Trác ca ấy, cậu ấy rõ nhất.
Người phụ nữ đó nghiêm túc hẳn lên, quay đầu hỏi Trác ca:
- Đã thế nó không chịu tự nói, Trác ca cháu nói thay nó đi! Cứ mạnh dạn nói sự thật cho cô! Nói sự thật rồi thì không ai dám làm gì cháu đâu, có cô che chở cho cháu!
Trác ca do dự một lát, nửa muốn nửa không đáp thay Tiểu Cầm:
- Nhà họ Lưu đối xử tốt với chị ấy.
- Thật không?
- Thật ạ. Nhà họ Lưu đối với cháu còn tốt chán, một chút việc cũng không bắt cháu làm, cô nghĩ đối với chị ấy có thể không tốt được sao?
Trác ca là đứa trẻ ngoan ngoãn được cả làng công nhận, người phụ nữ đó tin lời cậu, cuối cùng cười nói:
- Cô còn tưởng nhà họ Lưu đối xử không tốt với Tiểu Cầm chứ! Thế thì không được đâu. Làng nhân nghĩa nổi tiếng gần xa nhà chúng ta, bảo vệ đạo đức uy tín của làng, là việc mà mỗi người đều có trách nhiệm! Cứ cho là nhà họ Lưu đối với Tiểu Cầm không thể không tốt, không dám không tốt đi!
Trên đường về nhà họ Lưu, Tiểu Cầm chỉ cúi gầm đầu tự mình ấm ức rảo bước đi trước, không thèm đếm xỉa đến Trác ca.
Điều này khiến trong lòng Trác ca vô cùng khó chịu...
Hai đứa trẻ vừa bước chân vào cửa nhà họ Lưu, người phụ nữ nhà họ Lưu liền quát Tiểu Cầm mau đi thay quần áo giày mới ra.
Người phụ nữ nhà họ Lưu cầm đôi giày mới la lối với chồng:
- Anh xem anh xem, con nhỏ chết tiệt này, một đôi giày mới mang ra ngoài đi chưa được mấy bước, mà đã làm bẩn hết cả mặt giày rồi!
Trác ca nhìn, nghe thấy, trong lòng càng khó chịu hơn...
Tiểu Cầm dĩ nhiên sợ sệt đến mức nửa câu cũng không dám cãi lại.
Người phụ nữ nhà họ Lưu lại mắng mỏ cô ấy:
- Còn không mau đi rửa cái mặt dính son phấn kia đi! Cứ muốn lúc nào cũng ra vẻ yêu tinh chắc?
Tiểu Cầm liền cúi đầu vội vã quay người đi rửa mặt...
Còn người đàn ông nhà họ Lưu thì gọi Trác ca lại gần, hỏi cậu khi những nhà đó nhận bánh ú có trò chuyện gì không?
Đứa trẻ thành thật muốn học cách nói dối thì nhất định phải nếm trải vài vố đau đớn vì sự thành thật của mình. Trác ca từ trước đến nay toàn nhờ sự thành thật mà được người lớn khen ngợi, chưa từng hối hận vì sự thành thật bao giờ.
Cậu bèn thuật lại toàn bộ những lời người phụ nữ nhà nọ hỏi Tiểu Cầm trước rồi hỏi mình sau.
- Thế Tiểu Cầm nó trả lời thế nào?
- Chị ấy không tự nói, chị ấy bảo cháu nói thay.
- Thế cháu nói thế nào?
- Cháu bảo hai bác đối xử tốt với chị ấy. Cháu bảo hai bác đối với cháu còn tốt thế, một chút việc cũng không bắt cháu làm, đối với Tiểu Cầm sao mà không tốt cho được?
Vợ chồng nhà họ Lưu nghe xong, nhìn nhau cười.
Người đàn ông còn hài lòng xoa đầu Trác ca một cái.
Tiếp theo người đàn ông gọi Tiểu Cầm lại gần, mặt âm trầm hỏi cô ấy:
- Người ngoài hỏi cháu, sao cháu không trả lời?
Tiểu Cầm cúi đầu, không lên tiếng.
Người đàn ông cũng chẳng ép hỏi cô ấy, chỉ lạnh lùng nói:
- Ra góc tường kia quỳ đi, tối nay khỏi ăn cơm.
Thế là Tiểu Cầm lủi thủi đi ra góc tường, mặt quay vào góc tường quỳ xuống.
Cô ấy quỳ liền một mạch cho đến tận bữa tối, vợ chồng nhà họ Lưu cũng không cho phép cô ấy đứng dậy.
Còn đối với Trác ca thì họ tỏ ra càng thân thiết hơn. Hai vợ chồng hai đôi đũa trái phải, liên tục gắp thức ăn bỏ vào bát cậu.
Trác ca vừa ăn cơm, vừa thỉnh thoảng liếc trộm bóng lưng Tiểu Cầm đang quỳ ở góc tường. Khoảnh khắc ấy toàn bộ tâm can của cậu con trai này ngập tràn sự xót thương lớn lao dành cho người chị gái nhỏ mà mình từng thầm lén kết bái, thế nhưng hoàn toàn không dám thả lỏng sự xót thương đó trượt lên mặt, lại càng không dám để sự xót thương hóa thành nước mắt phơi bày trong mắt mình. Chỉ đành dùng từng miếng cơm miếng thức ăn để chặn sự xót thương đó trở lại trong tâm can, đè nén thật chặt bên trong tâm can. Cậu con trai từ năm sáu tuổi bắt đầu ăn "cơm trăm nhà" cho đến nay đã lên chín tuổi này, từ lâu đã ngộ ra rất nhiều mùi vị nhân sinh mà những đứa trẻ ở độ tuổi cậu khó lòng mà ngộ ra được. Cậu đã học được chút kinh nghiệm và kỹ năng nhân sinh sơ cấp từ chính những trải nghiệm xương máu của bản thân.
Cậu hy vọng mình có thể căm hận vợ chồng nhà họ Lưu, nhưng lại căm hận không nổi. Bởi vì họ đối xử tốt với mình, hơn nữa còn đang đối xử với mình ngày càng tốt hơn.
Cậu rốt cuộc cũng lấy hết dũng khí chưa từng có để cầu tình thay cho chị gái nhỏ của mình.
Cậu nói:
- Thím ơi, chú ơi, cháu ăn no rồi. Cũng để Tiểu Cầm ăn đi ạ. Cháu ra thay chị ấy quỳ, được không?
Giọng nói nhỏ như muỗi kêu.
Vợ chồng nhà họ Lưu không kìm được đều buông bát nhìn nhau.
Người phụ nữ sầm mặt xuống, vừa định thốt ra câu nói khó chịu nào đó, thì bị chồng dùng động tác tay ngăn lại.
Ông ta thản nhiên nói:
- Đã Triệu ca, à không, Trác ca đã thay Tiểu Cầm cầu tình rồi, thì nể mặt Trác ca vậy!
Người phụ nữ lập tức bật cười, đồng ý nói:
- Nể mặt ai chứ, tuyệt đối không thể nể mặt Trác ca em được chứ! Em là đứa con trai chung của cả làng Tử Vi chúng ta cơ mà! Trác ca này, tối nay đi ngủ, em nhớ phải nắm lấy một bàn tay của Bảo Thuận đấy nhé. Nó hay giật mình thức giấc. Em nắm lấy một tay nó, nó sẽ không giật mình nữa.
Trác ca nhìn người phụ nữ đó bằng ánh mắt vô cùng đáng tin cậy nói:
- Thím ơi, cháu vẫn luôn nắm một bàn tay của em Bảo Thuận để ngủ mà.
Đối với những người nam nữ trong làng cùng vai vế với bố mẹ mình, cậu con trai chín tuổi này đã quen gọi thêm chữ "mới", à không, chữ "má", "bố" sau chữ "thím", "dì", "bác", "chú", đây là "sáng tạo" của cậu, dùng để bày tỏ sự biết ơn không bao giờ quên và sự tôn trọng coi như bố mẹ đối với họ.
Thế là người phụ nữ liền gọi Tiểu Cầm lại ăn cơm.
Còn cậu thì lại càng không thể căm hận vợ chồng nhà họ Lưu được nữa...
Cậu đương nhiên không biết rằng, việc vợ chồng nhà họ Lưu yêu cầu cậu nắm một bàn tay của đứa con trai cưng của họ đi ngủ, là bí quyết mượn mệnh học hỏi từ chỗ ông thầy bói hành nghề ẩn dật trong dân gian ở huyện. Ông ta nói trên lòng bàn tay con người có một huyệt vị là "cửa" của mệnh mạch. Con người khi còn là trẻ con, cái "cửa" đó mở toang. Con người dần lớn lên, cái "cửa" đó dần khép lại. Trẻ con mượn lực mệnh thông qua việc nắm tay trẻ con, là cách trực tiếp nhất.
Tiểu Cầm đương nhiên cũng không biết rằng, ông thầy bói đó từng nói với vợ chồng nhà họ Lưu rằng cô ấy là tai tinh đầu thai chuyển thế, nói cách khác là cháu gái của Bạch Hổ tinh đầu thai chuyển thế. Sống ở nhà ai, nhà đó ắt có đại nạn. Cách hóa giải đại nạn, chỉ có thể dùng uy quyền và sự nghiêm khắc để trấn áp khí tà của cô ấy. Lời tiên tri này khiến vợ chồng nhà họ Lưu vô cùng phiền não. Họ vốn không định để cô ấy làm con dâu tương lai nữa, nhưng lại chẳng có lý do chính đáng nào để đuổi cô ấy ra khỏi nhà. Phiền não từ đó mà sinh ra. Đúng như người ta nói lúc rước thần dễ tiễn thần khó. Họ chỉ đành mong cô ấy chết bất đắc kỳ tử vì tai họa bất ngờ nào đó...
Có hôm Bảo Thuận bò lên bàn làm lật bình nước nóng, làm bỏng tay chân, vết thương không nặng, nhưng dẫu sao cũng là bị bỏng.
Vợ chồng nhà họ Lưu vậy mà lại trói Tiểu Cầm vào cột nhà, nhét giẻ vào miệng, lột áo trên ra, dùng roi nhúng nước quật cho một trận.
Hình phạt tàn khốc này cũng được tiến hành ngay trước mặt Trác ca. Lúc đó cậu suýt nữa muốn lao lên cắn mạnh vào tay người đàn ông nhà họ Lưu, nhưng cuối cùng vẫn không dám. Cậu không cho rằng đứa con cưng của họ bị bỏng là trách nhiệm của chị gái nhỏ. Bởi vì đứa trẻ bảy tuổi đó là bò lên bàn làm đổ bình nước nóng dưới sự yêu chiều của họ, trong khi Tiểu Cầm lúc đó đang giặt rau ở giếng nước ngoài sân...
Ngày hôm đó, đứa trẻ chín tuổi bắt đầu hoài nghi liệu trong làng Tử Vi có thực sự toàn là người tốt hay không, từ đó tiến tới hoài nghi cái danh tiếng tốt đẹp mà làng Tử Vi ban ơn sâu nặng cho mình, rốt có phải là danh thực kì thực hay không...
Đêm đến, sau khi vợ chồng nhà họ Lưu ngủ say, cậu lén lút trượt khỏi chiếc giường mình ngủ cùng Bảo Thuận, lẻn vào căn phòng nhỏ u tối ẩm ức mà chị gái nhỏ của mình ở, đến trước giường của cô ấy.
Cậu quỳ xuống, vùi đầu vào ngực cô ấy khóc.