Cảm Giác Nhật Bản

Cảm Giác Nhật Bản

Lượt đọc: 57 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
1. Lần Đầu Biết Người Nhật

❊ ❊ ❊

Hiện tại, tôi đã áp sát Nhật Bản. Nó đã ở ngay phía dưới tôi...

Ý tôi dĩ nhiên là──nó đã ở ngay dưới tầm mắt tôi.

Từ trên máy bay nhìn xuống Nhật Bản, nói chính xác hơn là──nhìn xuống Tokyo, cũng chẳng khác gì nhìn xuống bất kỳ thành phố nào từ trên cao. Theo tôi thấy, đó chẳng qua chỉ là một vết "loét" trên Trái Đất mà thôi. Ban ngày đáp máy bay đến bất kỳ thành phố nào, dù là trong nước hay ngoài nước, nếu bạn có hứng ghé mắt vào ô cửa sổ nhỏ nhìn xuống, ngoài việc liên tưởng chúng là một vết "loét" trên Trái Đất, bạn còn có thể liên tưởng thành thứ gì khác được chăng?

Ban đêm, chắc chắn lại là một tình cảnh khác. Năm ngoái tôi đi thăm Malaysia, máy bay hạ cánh xuống thủ đô Kuala Lumpur. Thứ đầu tiên nhìn thấy là một "dòng sông" ánh sáng. Đó rõ ràng là một xa lộ có lưu lượng xe cộ đông đúc cả trong đêm. Đèn xe tựa như từng đôi đèn lồng. Xếp cách đều nhau, đôi này nối tiếp đôi kia. Chuyển động đều tăm tắp, dường như đang chầm chậm dẫn đường cho máy bay. Đêm xuống, một vùng ánh sáng rực rỡ! Chẳng còn bóng dáng hay đường nét nào khác tồn tại, chỉ có một vùng rực rỡ ánh đèn. Tựa như bạn căn bản không phải đang tiếp cận một thành phố, mà là đang đến gần một bữa tiệc cuồng hoan thắp nến với quy mô vô cùng thịnh đại. Dẫu không nghe thấy tiếng huyên náo của cuộc vui, nhưng khi ấy, không tiếng động còn hơn có tiếng động...

Tokyo là một trong những đại đô thị đếm trên đầu ngón tay của Trái Đất, độ rộng lớn và phồn hoa của nó dĩ nhiên Kuala Lumpur không thể sánh bằng. Nhưng đáng tiếc là chuyến bay tôi đi lại hạ cánh vào hơn ba giờ chiều. Dưới ánh mặt trời soi rọi, những quần thể kiến trúc ken dày chi chít trông như một vạt cờ domino mà Thượng đế bày ra trên mặt đất. Một vạt domino cao thấp không đều. Một vạt domino chưa được quét lên những sắc màu tươi tắn. Một vạt domino làm từ chất xương đã phong hóa. Dĩ nhiên tôi biết cờ domino thông thường đều làm bằng gỗ. Ý tôi là, nhìn từ trên cao xuống, dưới ánh nắng chan hòa, những công trình bê tông của đô thị nhân loại chúng ta, đặc biệt là những kiến trúc bê tông "trần trụi" không được trang trí bằng vật liệu phản quang, khiến người ta có cảm giác chúng được mài giũa từ những khúc xương đã mục...

Dù cảm thấy mình đang từ trên trời cao hạ xuống một vết "loét" của Trái Đất, tôi vẫn hy vọng có thể lập tức đáp xuống vết "loét" ấy. Con người không phải là chim, chẳng có cánh. Bay lơ lửng trên không trung quá lâu, tâm lý khó mà yên ổn, dẫu là một sa mạc tôi cũng muốn hạ cánh xuống trước cho định thần lại. Huống hồ tôi biết rõ, thứ thực sự đón chào mình sẽ là sự phồn hoa và văn minh của một đại đô thị do một bộ phận nhân loại kiến tạo nên...

Ngay từ tháng Bảy tôi đã đứng trước một sự lựa chọn──hoặc là theo đoàn đại biểu nhà văn Trung Quốc đến Hồng Kông tham gia hoạt động giao lưu văn học, hoặc là theo đoàn đại biểu nhà điện ảnh Trung Quốc đi thăm Nhật Bản. Thời gian đều ấn định vào tháng Chín. Hồng Kông và Nhật Bản, đều là những nơi tôi chưa từng đặt chân đến. Đều muốn đi. Do xung đột về thời gian, cuối cùng tôi quyết định từ bỏ cơ hội đi Hồng Kông. Trong lòng tôi bỗng nảy sinh một ý thức mạnh mẽ và rõ rệt──tìm hiểu Nhật Bản. Tìm hiểu cái dân tộc từng xâm lược và chiếm đóng gần như toàn bộ Trung Quốc vào nửa thế kỷ trước. Trong tâm trí tôi, đó luôn là một quốc gia đầy dã tâm, hung bạo đến mức khó lòng thuần phục triệt để, sau khi "Thế chiến thứ hai" kết thúc buộc phải trở nên ôn hòa, nhẫn nhục cầu toàn, nhưng từng giây từng phút đều mưu toan bật dậy để một lần nữa nhảy lên trung tâm vũ đài thế giới. Tôi ví nó như loài sói đỏ──một giống dị chủng của loài sói, tính công kích cực mạnh, đôi khi dám cả gan vây săn sư tử, chưa cắn chết và ăn thịt sư tử thì thề không bỏ qua...

Thế nhưng những người Nhật Bản mà tôi tiếp xúc trước khi sang Nhật, lại là những người đàn ông và phụ nữ cực kỳ "ôn hòa, cung kính, kiệm ước, nhún nhường". Ít nhất cũng là những người đàn ông và phụ nữ nhã nhặn, lịch sự. Thậm chí có những người đàn ông và phụ nữ xứng đáng gọi là trọng tình trọng nghĩa. Dưới đây, tôi xin lần lượt giới thiệu những cuộc tiếp xúc của tôi với họ cho bạn đọc:

Ông Ikeda Toshikame và tôi quen biết nhau vào năm 86 hoặc 87. Năm đó ông là chuyên gia biên dịch tiếng Nhật do Cục Ngoại văn Trung Quốc thuê. Tôi là biên kịch của Xưởng phim truyện Bắc Kinh. Năm đó ông tầm sáu mươi sáu, sáu mươi bảy tuổi, vậy thì bây giờ chắc khoảng bảy mươi tư, bảy mươi lăm tuổi rồi. Đối với tôi, quả thực là một cụ già người Nhật.

Mối duyên quen biết giữa tôi và ông phải cảm ơn "một người" đồng bào Trung Quốc của chúng ta. Nhưng đến nay tôi vẫn chưa có duyên tương ngộ với "người" đồng bào Trung Quốc ấy. Và sau này chắc chắn cũng chẳng còn cơ hội nào nữa...

Một ngày nọ trong tháng Mười, tôi nhận được một cuộc điện thoại. Đầu dây bên kia là phụ nữ.

"Anh là Lương Hiểu Thanh?"

Tôi bảo đúng vậy.

"Sao tôi nghe không giống giọng của anh nhỉ?"

Tôi hỏi vậy cô là ai?

Cô ta bảo tôi giả vờ không nhận ra cô ta.

Tôi nói tôi thật sự không nhận ra cô là ai.

Thế là cô ta xưng một tên gọi thân mật phụ nữ. Dĩ nhiên là cái tên âu yếm của chính cô ta chuyên để đàn ông gọi.

Tôi ngẫm nghĩ một hồi, rốt cuộc vẫn không nhớ nổi cô ta là ai.

"Sao anh có thể như thế chứ?"

Tôi ngơ ngác hỏi tôi làm sao cơ?

Cô ta bảo: "Sao anh có thể phớt lờ tôi như thế? Anh định biến mất khỏi cuộc đời tôi như vậy sao?"

Tôi bảo tôi căn bản không quen biết cô! Thấy nhảm nhí quá, tôi cúp máy.

Hồi ấy tôi sống ở tòa nhà số 19 trong khu tập thể Bắc Ảnh. Đó là tòa nhà tập thể kiểu cũ dơ dáy bẩn thỉu nhất. Chỉ có tầng hai là có một chiếc điện thoại công cộng. Ai thấy chuông réo chói tai thì nghe máy, rồi kiêm luôn chân liên lạc viên tình nguyện. Một khi đã làm chân này thì chỉ có nước gào toáng lên. Tôi vừa đặt ống nghe xuống chưa kịp về đến nhà thì chuông điện thoại lại reo, lại bị liên lạc viên tình nguyện gào réo gọi giật lại...

"Anh thực sự là Lương Hiểu Thanh sao?"

Vẫn là người phụ nữ đó.

Tôi bảo tôi đúng là Lương Hiểu Thanh. Nhưng Lương Hiểu Thanh mà cô quen chắc chắn không phải tôi.

Cô ta bảo chuẩn rồi, chính là anh. Nhà văn Lương Hiểu Thanh chẳng phải cả Bắc Kinh thậm chí cả Trung Quốc chỉ có một người thôi sao? Cô ta bảo Lương Hiểu Thanh anh đừng hòng chối cãi! Giả giọng cũng vô ích thôi, phủ nhận quan hệ giữa chúng ta cũng không xong đâu!...

Cô ta đã bắt đầu đe dọa tôi rồi.

Tôi cúp máy lần thứ hai, dặn dò người hàng xóm làm chân liên lạc viên tình nguyện kia rằng, nếu chuông điện thoại có reo nữa, nhấc lên vẫn là phụ nữ tìm tôi thì cứ đặt xuống đừng bận tâm làm gì...

Hôm sau, Chủ nhiệm Ban Văn học Bắc Ảnh của chúng tôi gặp tôi. Bà gọi giật lại hỏi: "Hiểu Thanh, cậu quen một cô bạn gái ở khách sạn Hữu Nghị đấy à?"

Tôi bảo nhảm nhí! Đó là kẻ mạo danh tôi đấy.

Bà liền bật cười. Lại nói: "Nghe chừng là một người đàn bà rắc rối. Tôi đoán ngay là mạo danh rồi. Cậu tự xử lý cho ổn thỏa nhé. Cô ta còn gọi điện đến văn phòng xưởng nữa đấy, đừng để cô ta tiếp tục quấy rầy là được..."

Chủ nhiệm Ban Văn học đã giải thích với văn phòng xưởng giúp tôi, nên văn phòng xưởng cũng không coi chuyện này là chuyện to tát gì.

Buổi chiều khi tôi đang ngồi viết ở nhà, một người phụ nữ lạ mặt đến thăm, chừng hơn ba mươi tuổi, vóc dáng cao ráo, ăn mặc khá thời thượng, dung mạo cũng vào diện ưa nhìn. Trên sống mũi cao thanh tú đeo một cặp kính gọng bạc, dáng vẻ có phần tri thức và kiêu kỳ.

Cô ta chẳng đợi ngồi xuống đã vội vã và hoài nghi hỏi dồn: "Anh thực sự là nhà văn Lương Hiểu Thanh?"

Tôi hỏi ngược lại: "Vậy quý cô đây chính là người đã kết bạn với một nhà văn Lương Hiểu Thanh khác sao?"

Cô ta không trả lời câu hỏi của tôi, hai mắt nhìn trừng trừng vào tôi, miệng lẩm bẩm: "Không giống! Không giống chút nào! Anh ấy người cao ráo, đẹp trai lắm." Đưa mắt đảo quanh căn phòng duy nhất chưa đầy mười hai mét vuông của tôi, cô ta lại nói: "Anh ấy ở khách sạn Triệu Long cơ mà! Sao anh ấy có thể ở cái nơi như thế này được?"

Nghe giọng điệu của cô ta, cứ như thể tôi mới là kẻ mạo danh vậy.

Tôi chẳng buồn nói gì thêm, cúi đầu lẳng lặng viết tiếp. Chỉ mong cô ta biết điều một chút, đừng tiếp tục chiếm dụng thời gian của tôi.

"Vậy anh không phải con trai của Thượng tướng?"

Tôi đáp: "Tôi là con trai của công nhân xây dựng."

"Vậy trong nhà anh cũng không để lại cho anh bất động sản trị giá ba trăm nghìn đô la Mỹ cùng thư pháp, tranh vẽ của danh nhân trị giá bốn, năm trăm nghìn đô la sao?"

Tôi nói: "Đúng."

"Anh cũng không có hộ chiếu Nhật Bản? Không có tư cách cư trú dài hạn ở Nhật Bản?"

Tôi bảo: "Không có."──Vẫn không ngẩng đầu nhìn cô ta, chỉ vừa viết vừa cộc lốc trả lời.

"Nhưng anh ấy bảo, anh ấy làm giáo sư thực thụ giảng dạy tại Đại học Waseda ở Nhật Bản, chuyên giới thiệu văn học cận hiện đại Trung Quốc. Lần này anh ấy về nước là vì có người Mỹ muốn mua lại bất động sản và tranh chữ của nhà anh ấy... Giao dịch đã xong xuôi rồi, anh ấy ở khách sạn Triệu Long chỉ để chờ nhận chi phiếu gửi từ Mỹ về thôi..."

Tôi nói: "Thưa cô, chí ít cô cũng nên tin vào mắt mình chứ. Tôi không phải là vị nhà văn Lương Hiểu Thanh kia, đây đã là một sự thật không thể chối cãi. Hơn nữa tôi cũng chẳng có hứng thú gì với vị nhà văn Lương Hiểu Thanh đó đâu. Xin đừng nhắc về anh ta với tôi nữa!"──Tôi vẫn không thèm ngẩng đầu. Lười ngước mắt lên nhìn cô ta.

"Anh ấy nói chuyện với phụ nữ dịu dàng hơn anh nhiều. Giọng điệu rất đa tình. Ánh mắt lại càng tình tứ hơn nữa. Lúc tôi mua quần áo ở cửa hàng Hữu Nghị, anh ấy cứ đứng bên cạnh ngắm nhìn tôi suốt. Sau đó anh ấy bước tới bên tôi, khuyên tôi nên mua một bộ khác. Bảo rằng màu sắc và kiểu dáng của bộ kia hợp với tôi hơn. Ban đầu tôi chỉ định xem thôi chứ không muốn mua, nghe anh ấy nói vậy lại đâm ra ngại không nỡ không mua, tiền mang không đủ, anh ấy còn trả hộ tôi hơn hai mươi đồng, sau đó còn mời tôi đi ăn cơm nữa... Lẽ nào..."

Cuối cùng tôi cũng ngẩng đầu lên, nhìn cô ta và lạnh lùng bảo: "Không còn nghi ngờ gì nữa, thưa cô, cô đã gặp phải kẻ lừa đảo rồi."

"Sao có thể như thế được? Sao lại như thế được chứ? Một chuyện tốt đẹp nhường ấy, sao bỗng nhiên lại thành ra thế này?..."

Cô ta hụt hẫng đến cùng cực! Ý tứ thể hiện rõ mồn một là──tôi đâu phải hạng đàn bà dễ bị mắc lừa cơ chứ! Thế nhưng tôi lại nhớ đến câu thoại lan truyền rộng rãi trong vở kịch mẫu "Rừng biển tuyết nguyên"──Cáo già có gian xảo đến đâu cũng chẳng thể đấu lại thợ săn tài ba!

Tôi chẳng hề coi cô ta là loại phụ nữ tinh ranh giảo quyệt như hồ ly. Trái lại, tôi thấy cô ta hệt như một mụ đàn bà ngốc nghếch! Một mụ ngốc có cảm giác tự tin đến khó hiểu về bản thân! Lừa một người phụ nữ như cô ta, tên nhà văn Lương Hiểu Thanh mạo danh kia thậm chí còn dùng đến "chiến lược chiến thuật" quá ư "chính quy" rồi. Có lẽ chỉ cần đùa cợt vài chiêu vớ vẩn là đã đủ đưa cô ta vào tròng.

"Lương Hiểu Thanh còn vay của tôi sáu nghìn đồng nữa..."

Nghe đến đây, bụng tôi lại thầm cười trên nỗi đau của người khác. Tôi chẳng mảy may thương cảm cho cô ta. Hoàn toàn không thể động lòng trắc ẩn nổi. Cũng giống như không tài nào ngăn nổi ý nghĩ cười trên nỗi đau của kẻ khác. Rõ ràng, tổn thất của cô ta đâu chỉ dừng lại ở tiền bạc.

"Đó là số tiền sáu nghìn đồng tôi chắt chiu mãi mới dành dụm được đấy..."

Một người phụ nữ, nếu có thể đem sáu nghìn đồng mình "chắt chiu mãi mới dành dụm được" đưa cho một người đàn ông mới quen chưa được mấy ngày, căn bản chẳng hiểu biết gì về nhau, thì việc anh ta thuận đà đưa cô ta lên giường cũng là chuyện hiển nhiên và quá đỗi tiện tay.

Tôi thầm nghĩ──đáng đời! Cô có phải thiếu nữ ngây thơ chưa trải sự đời đâu, một mánh khóe giản đơn mang tính "khuôn mẫu" đến thế mà đã lừa sạch của cô cả tiền tài lẫn thể xác, chỉ có thể tự trách bản thân mình mà thôi. Trong lòng tôi vẫn chẳng có lấy nửa phần thương hại cô ta. Chỉ cảm thấy cô ta khiến tôi khinh bỉ và ghê tởm.

Tôi hỏi: "Tên Lương Hiểu Thanh đó hứa sẽ đưa cô sang Nhật Bản chứ gì?"

Cô ta khẽ gật đầu.

"Lại còn hứa sẽ cưới cô nữa?"

Cô ta lại khẽ gật đầu một cái nữa.

Tôi đứng dậy, lạnh lùng nói: "Vậy thì cô đừng ở đây làm mất thời gian nữa! Mau chạy khắp Bắc Kinh mà tìm anh ta đi chứ! Đúng như cô vừa nói đấy──một chuyện tốt đẹp nhường ấy. Không tìm được anh ta, chẳng phải tan tành một giấc mộng đẹp hay sao?"

Tôi vừa nói vừa bước ra ngoài, đứng trước cửa nhà, một tay giữ chặt cửa để khỏi khép lại, một tay làm động tác cung kính mời cô ta ra ngoài...

Cô ta dĩ nhiên hiểu rằng tôi đang ra lệnh đuổi khách.

Cô ta vừa cúi đầu bước ra ngoài, vừa lẩm bẩm: "Sao lại thành ra thế này, sao lại thành ra thế này chứ, một chuyện tốt đẹp như vậy mà..."

Tôi thấy khóe mắt cô ta đã lưng tròng ngấn lệ.

Sau khi cô ta đi rồi, tôi tĩnh tâm nghĩ lại, cái thân nhà văn Lương Hiểu Thanh này biết rõ có "một kẻ" rất bảnh bao, khéo nịnh nọt chiều chuộng tâm lý phụ nữ, mang danh con trai độc nhất của Thượng tướng, làm giáo sư chính thức ở Đại học Waseda Nhật Bản, sắp sửa có tấm chi phiếu gần triệu đô la Mỹ trao tay, có khi đang ở xó xỉnh nào đó dùng mánh khóe tương tự để đi lừa gạt những phụ nữ khác. Tôi ở đây theo kiểu "việc không liên quan, treo cao gác lại", dường như cũng quá thiếu trách nhiệm xã hội tối thiểu rồi...

Thế là tôi vắn tắt viết lại câu chuyện này chừng bảy tám trăm chữ, xin ý kiến và được Chủ nhiệm Ban Văn học đồng ý một cách nghiêm túc, đóng con dấu đỏ của Ban Văn học lên, rồi gửi tới tòa soạn tờ "Bắc Kinh vãn báo".

Đó chính là bài viết "Lương Hiểu Thanh cảnh báo 'hãy cảnh giác với Lương Hiểu Thanh'!" được đăng trên tờ "Bắc Kinh vãn báo" năm đó.

Tiêu đề không phải do tôi đặt. Là do tòa soạn thêm vào. Năm ấy mấy người bạn trong giới văn học còn bàn tán xôn xao, tưởng tôi không chịu nổi cảnh quạnh quẽ, muốn làm trò câu khách, tự nghĩ ra một "chiêu trò" hòng tạo ra một vụ "tin tức xã hội giật gân" cho bản thân để đánh bóng tên tuổi...

Kỳ thực lúc đó tôi làm gì có động cơ phức tạp đến thế. Huống hồ một chuyện con con như vậy, tính là loại "tin tức giật gân" gì được chứ?

Có điều, đó là lần đầu tiên trong đời tôi nếm trải sự phiền toái về mặt tâm lý khi tên tuổi của mình bị gắn liền với những "mẩu tin phiếm đàm bên lề".

Nhưng năm đó tôi cũng chẳng hề trách cứ biên tập viên tòa soạn cớ sao lại gắn một cái tiêu đề quái gở như vậy. Cứ nghĩ mà xem, biên tập viên chắc cũng giàu tinh thần trách nhiệm với xã hội giống như tôi mà thôi! Dù sao thì sau đó cũng không còn người phụ nữ nào bị gã "Lương Hiểu Thanh" kia lừa đến tìm tôi nữa, như vậy đối với biên tập viên tòa soạn, mục đích coi như đã đạt được rồi.

Thế nhưng mẩu "tin tức giật gân" mang tên "Lương Hiểu Thanh cảnh báo 'hãy cảnh giác với Lương Hiểu Thanh'" ấy lại khiến cụ ông Ikeda Toshikame nhất định phải đến "bái phỏng" tôi cho bằng được.

Ông gọi điện liên hệ với tôi trước, nói rằng ông nhận nhiệm vụ do Nhà xuất bản Ngoại văn giao phó, đang dịch hai thiên hồi ký tự thuật của tôi là "Từ Phục Đán đến Bắc Ảnh" và "Kinh hoa kiến văn lục". Vốn định bụng dịch xong bản thảo sơ bộ rồi mới đến "bái phỏng" tôi. Nhưng đọc được bài viết trên báo chiều, ông không kìm được mong muốn lập tức được diện kiến tôi...

Mấy ngày sau, tôi tiếp đón ông tại nhà. Đó là một cụ già người Nhật dáng người rất thấp bé, nước da ngăm đen, mái tóc hoa râm. Nếp nhăn trên mặt nhiều và sâu. Trông già hơn so với tuổi thực tế của mình. Tôi nhớ lúc đó ông mặc một chiếc áo khoác gió cũ kỹ. Một chiếc khăn quàng cổ bằng sợi dệt rất đỗi bình thường quấn qua loa quanh cổ. Một bộ dạng xuề xòa, không màng đến cách ăn mặc, thậm chí còn có vài phần lếch thếch. Ngày hôm đó ngoài trời gió thổi rất to. Ông vừa tới cổng Bắc Ảnh đã xuống xe taxi. Khu tập thể Bắc Ảnh lúc bấy giờ đang ngổn ngang xây dựng ở khắp nơi. Ông vừa đi vừa hỏi thăm, đi mất mười lăm mười sáu phút mới tới được tòa nhà số 19 nơi tôi ở. Đến khi tôi nhìn thấy ông, người ông đã lấm lem đầy bụi cát. Bụi bẩn bám chặt vào những nếp nhăn nhiều và sâu trên mặt ông, trông phong trần, nhếch nhác khôn cùng.

Bước vào cửa, ông vừa xoa xoa hai bàn tay không ngừng vừa nói: "Lạnh quá, lạnh quá, lạnh 'ác chiến' thật!..."

Tiếng Trung của ông nói rất trôi chảy.

Hôm đó trời quả thực rất rét. Ông lại ăn mặc quá phong phanh.

Tôi bảo ông đứng lại ở hành lang trước, giúp ông phủi bụi trên dưới trước sau một lượt. Phủi sạch lớp bụi đất bám trên người ông, tôi lại pha một chậu nước nóng, mang theo khăn mặt và xà phòng, mời ông ra bồn rửa mặt công cộng của khu nhà tập thể để rửa mặt bằng nước ấm. Bụi bám trên mặt ông quá nhiều. Vừa vỗ vài lượt nước lên mặt, nước trong chậu đã đục ngầu. Ánh mắt ông liền hướng về chiếc phích nước nóng tôi đang cầm trên tay. Trong lòng muốn ngỏ lời nhờ vả nhưng lại ngại ngùng không tiện mở miệng. Tôi đoán được ý ông, liền pha thêm cho ông một chậu nước nóng lớn. Nhờ thế ông mới có thể rửa mặt thật sạch sẽ, đoạn rút từ trong túi áo trong ra một chiếc lược nhỏ để chải lại mái tóc hoa râm bù xù bị gió thổi rối tung, mắt vừa đảo nhìn quanh bồn rửa mặt công cộng. Chẳng cần phải nói, đó là nơi chướng mắt nhất trong cả tòa nhà tập thể của chúng tôi. Rác rưởi đập vào mắt ở khắp nơi. Trong bồn nước đọng lại một lớp cặn bẩn nhờn dính, nhơm nhớp.

Ông hỏi: "Cả tầng nhà các anh ngày nào cũng rửa mặt ở đây sao?"

Tôi đáp: "Chỉ có những người sống ở tầng hai rửa mặt ở đây thôi. Mà đâu chỉ rửa mặt ở đây đâu! Đánh răng súc miệng, giặt quần áo, rửa rau vo gạo. Tóm lại tất cả những việc liên quan đến nước đều phải thực hiện ở chỗ này cả..."

Ông bảo: "Thế thì..."

Trong lúc ngập ngừng, ông kéo dài chữ "thế thì" ra thật dài.

Tôi nhận ra điều ông muốn nói là──"Thế thì tại sao không dọn dẹp nơi này cho sạch sẽ hơn, vệ sinh hơn một chút?"

Nhưng sau chữ "thế thì" được kéo dài thườn thượt ấy, câu ông thốt ra lại là: "Ở đây lạnh quá, chúng ta vào nhà anh đi thôi!"

Nơi đó quả thực chẳng ấm áp hơn ngoài trời là bao. Cơn gió lớn bên ngoài cuốn theo bụi cát, cứ từng cơn từng cơn thốc qua ô cửa sổ đã vỡ mất kính...

Tôi vội vàng đỡ lấy ông bước về nhà. Một tay ông cầm chậu, một tay tôi xách phích nước nóng. Không đỡ lấy ông, tôi sợ ông vấp ngã mất.

Nhà tôi cũng chẳng ấm hơn bên ngoài bao nhiêu. Tôi ở phòng hướng bắc khuất nắng. Lò sưởi trung tâm vẫn chưa cấp nhiệt, cửa sổ lại lùa gió.

Thấy ông vẫn co ro người lại, biết ông vẫn cảm thấy lạnh, tôi liền mở tủ quần áo, lấy chiếc áo khoác dạ của mình khoác lên người ông. Kế đó tôi pha cho ông một tách trà nóng, rồi cắm điện máy sưởi đặt ngay gần chỗ ông ngồi...

Thế rồi, cuộc trò chuyện giữa chúng tôi dần dà bắt đầu.

Cụ Ikeda đưa ra vài câu hỏi kỹ thuật về mặt dịch thuật liên quan đến một số từ ngữ, câu văn và bối cảnh thời đại trong nguyên tác của tôi. Sau khi tôi đã lần lượt giải đáp, ông gập cuốn sổ tay ghi chép lại, mỉm cười hài lòng, rồi ướm hỏi: "Tôi có thể hỏi thêm vài câu về bài báo trên tờ báo chiều được không?"

Tôi hơi sững sờ, nhất thời không hiểu cớ sao ông lại có hứng thú với một bài "văn phiếm đàm" như thế.

Tôi cũng mỉm cười...

Chẳng đợi tôi mở lời, ông liền nói thêm: "Tôi có hơi mạo muội quá không? Dùng cách nói của người Trung Quốc các anh thì là 'nồi nào không sôi lại mở vung nồi ấy'? Nếu anh không muốn trả lời thì cứ việc từ chối nhé. Dù sao cũng đã vượt ra ngoài chủ đề chính trong cuộc trò chuyện của chúng ta rồi mà! Tôi sẽ không vì anh không trả lời mà phật ý đâu."

Tôi nói: "Ông cứ hỏi đi, thưa ông Ikeda. Bất kể câu hỏi nào của ông tôi cũng sẵn lòng trả lời."

Tôi cảm thấy ông là một cụ già người Nhật vừa hiền hậu dễ mến, lại vừa bình dị gần gũi. Hệt như một cụ già người Trung Quốc mà tôi đã thân quen từ lâu, vừa nhân hậu lại hòa nhã. Trong lòng tôi đã bắt đầu có thiện cảm với ông rồi.

"Vậy tôi hỏi nhé, được không?"

"Vâng, xin mời ông cứ hỏi."

"Anh cho rằng, đối với người phụ nữ bị lừa kia, thì thân phận con trai duy nhất của Thượng tướng, thân phận nhà văn Trung Quốc, hay việc có thể sang Nhật Bản định cư sinh sống, kết hôn với một vị giáo sư thực thụ của Đại học Waseda, phương diện nào có sức cám dỗ lớn hơn?"

Câu hỏi của ông khiến tôi không khỏi giật mình. Nhưng đó cũng chỉ là cảm giác thoáng qua trong chốc lát. Tôi lập tức trả lời: "Có lẽ là phương diện sau có sức cám dỗ lớn hơn chăng!"

"Tôi cũng nghĩ như vậy. Nhưng tôi không hiểu tại sao? Con trai độc nhất của một Thượng tướng, thân phận lại là nhà văn, chẳng lẽ chỉ riêng hai điểm này thôi, ở Trung Quốc hiện nay đã không còn đủ sức khiến những người phụ nữ ham hư vinh mắc bẫy lừa gạt nữa rồi sao? Tôi từng nghe một số người Trung Quốc nói, mấy năm trước, chỉ cần một kẻ lừa đảo tự xưng là con em cán bộ cấp cao, lại thêm mánh khóe cao tay một chút, là gần như có thể đi lừa khắp nửa non sông Trung Quốc rồi cơ mà!"

Ông hỏi rất chân thành, tôi nhận ra sự bối rối của ông là nỗi băn khoăn hoàn toàn thật lòng.

Tôi không cần nghĩ ngợi liền đáp: "Đối với một số kẻ lừa đảo ở Trung Quốc, 'thời thế tươi đẹp' để đi lừa gạt của mấy năm trước đã qua rồi. Nếu một người đàn ông chỉ đơn thuần là con trai độc nhất của Thượng tướng nào đó, đối với một số phụ nữ ham hư vinh thì vẫn chưa đủ. Mấu chốt còn nằm ở chỗ bố anh ta còn sống hay không, có còn nắm thực quyền trong tay hay không. Nếu đã qua đời, hoặc không còn thực quyền nắm giữ, thì con trai Thượng tướng còn xa mới sánh bằng một người đàn ông có khả năng đưa phụ nữ ra nước ngoài. Ví như ông đấy, thưa ông Ikeda, trong mắt một số phụ nữ Trung Quốc, ông còn có sức hấp dẫn hơn nhiều so với một đứa con trai Thượng tướng chẳng thể nào mang họ ra nước ngoài. Ông có thể đưa một số phụ nữ Trung Quốc xuất ngoại, đúng không nào?"

Cụ Ikeda ngượng ngùng cười: "Đúng vậy, đúng vậy. Nhưng tôi chẳng có ý nghĩ đó đâu, tôi cảnh giác cao độ với những người phụ nữ Trung Quốc chuộng hư vinh đấy. Anh khuyên can họ đừng mắc lừa, đồng thời cũng là cảnh tỉnh tôi đừng để bị họ xỏ mũi dắt đi. Nói theo lời của Mao Chủ tịch các anh──tôi phải đề phòng 'viên đạn bọc đường' đấy chứ!"

Tôi cũng bật cười theo.

Tôi nói: "Đúng vậy. Ông quả thực phải đề phòng họ một chút. Mánh khóe lừa đảo của gã kia tuy chẳng cao minh gì, nhưng lại đánh vào 'toàn diện mọi mặt'. Con trai Thượng tướng là xuất thân cao quý. Nhà văn là nghề nghiệp vẫn tương đối được kính trọng ở Trung Quốc. Gần một triệu đô la Mỹ là sự bảo đảm cho một cuộc sống vật chất dư dả. Giáo sư chính thức của Đại học Waseda Nhật Bản là điều mà bao người đàn ông Trung Quốc khao khát khôn cùng nhưng không với tới được. Ra nước ngoài định cư là một trào lưu thời thượng. Đó là con đường rũ bùn đứng dậy, như thể được hóa thân thành tầng lớp Hoa kiều thượng đẳng. Mấy phương diện này kết hợp lại với nhau, đối với một số phụ nữ phù phiếm, thực lực lừa đảo của gã đàn ông kia đã trở nên vô cùng hùng mạnh. Đó đâu phải là 'đạn bọc đường', mà quả thực là 'bom nguyên tử bọc đường' rồi! Mà một số phụ nữ Trung Quốc thì lại hảo ngọt vô cùng."

Cụ Ikeda lại cười. Ông nhấp một ngụm trà nhỏ, rồi lại hỏi: "Nhưng anh có thể giải thích rõ cho tôi hay không, rốt cuộc tại sao kẻ lừa đảo đó nhất định phải nhận mình là giáo sư của Đại học Waseda Nhật Bản, có người Mỹ muốn tới mua bất động sản và tranh chữ nhà anh ta, chứ không làm ngược lại, bảo mình là giáo sư của một trường đại học danh tiếng nào đó bên Mỹ, có người Nhật muốn tới mua bất động sản và tranh chữ nhà anh ta? Hai cách nói này, đối với một người phụ nữ Trung Quốc ham chuộng hư vinh, có ý nghĩa gì khác biệt hay sao?"

Tôi nhìn chăm chú vào gương mặt ông, ngẫm nghĩ lời ông nói, chợt hiểu ra──hiểu được cớ sao cụ già người Nhật này lại đội gió lớn đến gặp tôi, cớ sao lại thấy hứng thú với một mẩu "tin tức giật gân" chẳng lớn hơn miếng đậu phụ là bao...

Trong tâm thức của người Trung Quốc, trong lòng người Trung Quốc sau thời kỳ "cải cách mở cửa", rốt cuộc giữa Mỹ và Nhật Bản, quốc gia nào có ảnh hưởng mang tính then chốt hơn đối với Trung Quốc? Người Mỹ và người Nhật Bản, rốt cuộc người nước nào có sự gần gũi về mặt tâm lý hơn đối với người Trung Quốc?

Thứ mà ông muốn có được từ tôi, chính là câu trả lời cho "câu hỏi cốt lõi" cuối cùng này chăng?

Thế nhưng tôi chưa từng suy nghĩ về nỗi thắc mắc này của ông.

Tôi đành phải nói: "Có lẽ là do đồng đô la Mỹ xưa nay vẫn vững giá hơn đồng yên Nhật chăng!"...

Về sau cụ Ikeda lại ghé thăm nhà tôi một lần nữa. Ban đầu tôi định thiết đãi ông món ba ba. Ba ba hồi ấy hơn bốn mươi đồng một cân. Tôi dự định sẽ lấy món ba ba hầm làm "món đinh" trong bữa cơm gia đình chiêu đãi ông. Ông vừa nghe xong liền xua tay lia lịa bảo: "Thôi thôi, miễn cho tôi." Tôi nói: "Một con ba ba nặng mấy cân, một nhà văn Trung Quốc thành tâm đãi khách thì vẫn hoàn toàn đủ sức mua nổi mà."

Ông bảo: "Nhưng anh đừng quên tên tôi là Thọ Quy nhé! Sao tôi có thể tự ăn thịt chính mình được? Theo cách nói của người Trung Quốc các anh, việc này phạm vào điều kiêng kỵ đúng không?"

Thế là tôi giải thích với ông: "Ba ba là ba ba. Rùa là rùa. Người Trung Quốc chỉ ăn ba ba, rất hiếm khi ăn rùa. Nhưng nếu ông đã thấy kiêng kỵ, vậy thì 'món đinh' đành phải đãi ông thịt gà vậy? Nhớ năm xưa, quân đội Thiên hoàng Nhật Bản vĩ đại của các ông, cứ đến mỗi thôn làng của chúng tôi là lại cướp gà của dân làng. Người Nhật các ông thích ăn gà đến thế cơ à?"

Người nói vô tình, người nghe bối rối.

Ông bỗng chốc im bặt, ánh mắt dán chặt vào chiếc ti vi xem những tiết mục ca múa nhạc Trung Quốc mà chưa chắc ông đã thích thú gì cho cam, dáng vẻ đầy vẻ chăm chú, không mở miệng thêm câu nào nữa.

Mãi đến tận lúc ăn cơm, ông mới buột miệng thốt ra một câu chẳng đầu chẳng đuôi: "Giá như chuyện đó chưa từng xảy ra thì tốt biết mấy."

Tôi hỏi: "Chuyện gì cơ ạ?"──cứ ngỡ ông lại nhắc đến mẩu "tin tức giật gân" kia.

Ông cúi gằm mặt xuống nói: "Cuộc chiến tranh xâm lược Trung Quốc của Nhật Bản."

Hồi lâu ông vẫn không ngẩng đầu lên. ...

Cụ Ikeda Toshikame là người Nhật đầu tiên mà tôi quen biết. Qua ông, tôi cảm nhận được rằng, có một số người Nhật quan tâm đến mối quan hệ giữa Nhật Bản và Trung Quốc thời kỳ "cải cách mở cửa" hơn hẳn những người Trung Quốc bình thường. Một số người Nhật hiểu rất rõ ràng, Nhật Bản nếu muốn nhận được thiện cảm trong các mối quan hệ quốc tế với thế giới phương Tây, gây dựng hình ảnh quốc gia ưu tú, thì hiện tại vẫn còn vô cùng gian nan. Nhật Bản nếu muốn nhận được thiện cảm trong các mối quan hệ quốc tế ở châu Á, thì trước hết phải giành được thiện cảm của Trung Quốc. Mà điều này lại buộc phải bắt đầu từ việc người Nhật Bản có thể chiếm được thiện cảm của người Trung Quốc. Nếu không có điều này, Nhật Bản không thể xây dựng được hình ảnh quốc gia tốt đẹp tại châu Á. Vậy thì cũng đồng nghĩa với việc nó không thể tạo dựng được hình tượng ấy trên toàn thế giới. Tôi không rõ rốt cuộc có bao nhiêu người Nhật thấu hiểu được điều này. Nhưng cụ Ikeda Toshikame chắc chắn là một trong số đó. Ông và họ, không nghi ngờ gì nữa, chính là những "kẻ sĩ lo cho nước nhà" của Nhật Bản. Ít nhất cũng là những "kẻ sĩ lo việc nước" trong thế hệ của họ. Tôi chưa từng thẳng thắn mở rộng thảo luận với ông về những đề tài này. Tôi chỉ dựa vào trực giác nhạy bén của mình để cảm nhận được rằng, những mối quan tâm về quan hệ Trung - Nhật kể trên, nói sâu xa hơn là nỗi ưu hoạn mang tính bản năng của người Nhật đối với tương lai nước Nhật, chắc chắn luôn tồn tại trong tâm trí ông...

Tôi từng đến thăm ông một lần tại khu căn hộ dành cho chuyên gia nước ngoài ở khách sạn Hữu Nghị──bởi vì nhận được hai lần lời mời chân thành và tha thiết từ ông. Vợ ông đích thân làm bánh ngọt truyền thống Nhật Bản để thết đãi tôi. Đó là những chiếc bánh nhỏ vừa đẹp mắt lại vừa ngon miệng...

Trước Tết Nguyên đán, ông để lại bản dịch, đưa vợ trở về Nhật Bản. Ông từ chối lễ tiễn đưa của Nhà xuất bản Ngoại văn, nhưng lại gọi điện bày tỏ mong muốn được "làm phiền" tôi một lần.

Thế là tôi cũng "không nề hà nhận lời".

Dù sao cũng là hai cụ già ngoại quốc, không quen đường sá ở sân bay Bắc Kinh, đồ đạc mang theo lại nhiều, cả hai hoàn toàn bối rối, ngơ ngác. Tại cửa xuất cảnh họ còn bị yêu cầu mở hành lý để kiểm tra, tuy chẳng phát hiện bất kỳ đồ vật cấm nào, nhưng hai vợ chồng già đã toát mồ hôi hột ròng ròng. Bởi vì máy bay đã bắt đầu cho hành khách lên tàu, mà bên này chúng tôi vẫn còn phải thu dọn lại vali da.

Lúc chia tay, ông rút từ túi áo khoác gió ra một phong bì được cuộn tròn lại, nhét vào tay tôi. Tôi ngỡ là tiền nên kiên quyết từ chối không nhận. Ông sốt ruột giậm chân bình bịch, liên tục bảo: "Chút lòng thành thôi, chút lòng thành thôi mà..." Vợ ông cũng đứng bên cạnh không ngừng cúi đầu khom lưng nói: "Cảm ơn anh! Cảm ơn anh!..."

Tôi đành phải miễn cưỡng nhận lấy. Dưới bao con mắt nhìn chằm chằm, tôi cảm thấy ngượng ngùng vô cùng. Cảm thấy ánh mắt từ bốn phương tám hướng đổ dồn về đều đầy vẻ ẩn ý và kỳ quặc làm sao. Chắc hẳn mọi người đều tưởng chiếc phong bì kia đựng đầy đô la Mỹ hoặc yên Nhật. Lúc ấy chính tôi cũng nghĩ như vậy. Giống như đang đứng trước bàn dân thiên hạ nhận tiền boa vậy. Trong lòng cảm thấy gượng gạo, bứt rứt không thôi. Thầm nghĩ mình đi tiễn khách, chứ có phải làm chân sai vặt đâu!

Ngồi trên chiếc taxi về nhà, tôi xé chiếc phong bì dán kín miệng kia ra──nhưng bên trong chẳng phải đô la Mỹ cũng không phải yên Nhật. Mà là một đôi tất nam màu xám.

Tôi bất giác bật cười một mình...

Đến nay, cứ mỗi độ sang thu, tôi vẫn thường mang đôi tất ấy.

Tất của Nhật Bản đúng là đi rất bền. Điểm này không thừa nhận thì không được.

Cụ Ikeda về đến Nhật Bản không lâu liền viết thư gửi cho tôi với tình cảm sâu đậm thiết tha. Chữ Hán của ông viết rất có nét riêng, vuông vức ngay ngắn, theo lối chữ lệ. Về sau, cứ mỗi độ trước năm mới vài ngày, tôi đều nhận được thiệp chúc mừng do cụ Ikeda gửi tới. Trên tấm thiệp luôn viết kín những con chữ lối lệ thư vuông vức của ông. Hai ông bà nhớ rõ tên của con trai và vợ tôi. Trên thiệp chúc mừng không bao giờ quên gửi lời chúc phúc đến vợ con tôi, và cũng luôn không thể thiếu một câu như thế này──"Tôi tuy lại già thêm một tuổi, nhưng vẫn đang làm những việc trong khả năng của mình để tăng cường tình hữu nghị Nhật - Trung."

Thế nhưng tôi chưa một lần hồi âm cho ông, chưa một lần gửi thiệp chúc mừng cho ông. Năm đầu tiên rồi năm thứ hai nhận được thiệp của ông, tôi cứ ngỡ đó chẳng qua chỉ là phép lịch sự của người Nhật. Nhưng sang năm thứ ba, năm thứ tư cho tới tận năm ngoái, năm nào tôi cũng nhận được, đã có đến bảy tám tấm thiệp rồi. Chúng dần dà trở nên nặng trĩu trong lòng tôi. Dẫu hoàn toàn chỉ là một phép xã giao, thì thái độ chu toàn giữ gìn lễ nghi ấy, ngay giữa những người Trung Quốc chúng ta cũng là điều hiếm thấy. Huống hồ tôi đã không còn xem những cánh thiệp đó đơn thuần là phép lịch sự nữa, mà bắt đầu coi đó là tình bạn chân thành. Trái nghĩa với chân thành chính là giả tạo. Con người ta không thể nào duy trì sự giả tạo kéo dài suốt bảy tám năm trời như thế. Tôi là một công dân bình thường của Trung Quốc, ông là một công dân bình thường của Nhật Bản, cũng giống như tôi chẳng mong cầu gì ở ông, ông đối với tôi cũng hoàn toàn không có chút vụ lợi. Hai người đàn ông sống ở hai quốc gia không vụ lợi cầu cạnh lẫn nhau, tình bạn này quả thực đáng trân trọng biết bao. Cụ Ikeda đã vô cùng trân quý nó, tôi cũng phải biết nâng niu trân trọng như ông. Năm nay tôi nhất định sẽ mua tấm thiệp đẹp nhất để gửi tặng ông. Và viết lên đó những lời chúc phúc chân thành nhất gửi tới ông cùng phu nhân của ông...

Người Nhật thứ hai mà tôi quen biết là Giáo sư Sugimoto Tatsuo của Đại học Waseda, một vị giáo sư thực thụ danh xứng với thực, chứ không phải vị giáo sư dỏm nào đó mà gã "Lương Hiểu Thanh" mạo danh kia tự bốc phét. Ông Sugimoto Tatsuo còn là Viện trưởng Viện nghiên cứu Văn học Cận Hiện đại Trung Quốc của Đại học Waseda, ông từng dịch các tác phẩm "Đây là một mảnh đất thần kỳ", "Cha", "Mẹ", "Chiếc cúc áo đen" của tôi, đều được đăng trên "Tạp chí Văn học Trung Quốc Đương đại". Mối giao hảo của chúng tôi đương nhiên bắt đầu từ việc ông dịch tiểu thuyết của tôi. Còn lần đầu tiên tôi gặp mặt ông là vào năm 1992 hoặc 1993. Ông đến Bắc Kinh tham dự "Hội thảo quốc tế về tác phẩm của Lão Xá". "Tôi là đại biểu Nhật Bản duy nhất được phía Trung Quốc chính thức mời đấy"──ông nói với tôi qua điện thoại như vậy, trong giọng điệu ngập tràn niềm tự hào. Tôi mời ông đến nhà chơi, ông vui vẻ nhận lời ngay.

Hôm ông đến, tôi đứng đón ông ở cổng Xưởng phim Thiếu nhi Trung Quốc, nhưng không ngờ ông lại đi xe buýt đến. Hôm ấy trời nắng gắt vô cùng, mặt trời chói chang gay gắt. Thế là ông tự rước khổ vào thân rồi. Lại còn xuống xe trước một trạm, đi bộ dưới cái nắng chang chang hơn hai mươi phút đồng hồ.

Trước mắt tôi là một người đàn ông Nhật Bản nho nhã, lịch thiệp. Trông chẳng giống một người năm mươi lăm năm mươi sáu tuổi chút nào, trẻ hơn tuổi thực đến năm sáu tuổi, chỉ trạc chừng bốn mươi tám bốn mươi chín. Ông mặc một chiếc áo khoác kéo khóa bằng lụa màu trắng. Vạt áo phanh ra, bên trong là áo may ô cổ tròn, trên vai đeo một chiếc túi du lịch. Chính là loại túi mà người Trung Quốc chúng ta hay gọi giễu là "túi phân ngựa". Trong tay nắm chặt chiếc khăn mùi xoa, vừa bước vội vừa liên tục lau mồ hôi. Ông làm tôi liên tưởng đến một thầy giáo dạy văn từ nơi khác, từ vùng miền nam nào đó lên Bắc Kinh họp, trang phục của ông cũng xuề xòa đến mức không thể xuề xòa hơn.

Hoàn toàn dựa vào trực giác, tôi khẳng định người đang vội vã rảo bước từ đằng xa kia chính là ông Sugimoto Tatsuo, thế là liền bước tới đón...

"Sao anh có thể nhìn một cái là nhận ra tôi ngay thế? Anh cũng đâu đã thấy ảnh của tôi bao giờ đâu? Lẽ nào dáng vẻ này của tôi trông lại không giống một người đàn ông Trung Quốc bình thường sao?"

Ông tròn mắt kinh ngạc như thấy "chuyện lạ phương xa".

Tôi cười bảo: "Người khác bảo tôi rằng, người Nhật Bản đi đường ai nấy đều vội vã như thể đang chạy đua với thời gian vậy."

Ông cũng bật cười, liên tục nói: "Đúng đúng."──Cúi đầu nhìn đồng hồ đeo tay một cái: "May quá, đến sớm hơn giờ hẹn của chúng ta ba phút." Nghe giọng điệu của ông, cứ như thể nếu đến trễ ba phút thì chắc chắn sẽ gây ra sai lầm tày đình nào đó vậy.

Tôi lấy làm lạ hỏi sao ông không bắt taxi?

Ông bảo: "Ở Trung Quốc, tôi đương nhiên thích chen chúc trên xe buýt như những người Trung Quốc bình thường hơn. Cảm giác đó đối với tôi rất quan trọng, cơ hội hiếm có không thể bỏ lỡ."

Cùng đi với tôi, ông cũng bước rất nhanh. Nhanh đến mức tôi có phần theo không kịp bước chân ông.

Tôi bảo: "Nhà tôi không xa đâu."

Ông áy náy nói: "Vậy thì tôi nên đi chậm lại một chút mới phải."

Thế nhưng tôi phát hiện dường như ông không biết đi chậm. Hoặc là quá không quen với việc đi chậm rãi. Nửa thân trên hơi ngả về phía sau, tựa như đang cố ghìm giữ một con chó lớn vô hình nào đó, trong khi nó lại mang một sức mạnh man dại cứ chực giật đứt dây để lao thẳng về phía trước.

Khi ấy chị Thẩm Dung đang ngồi chơi ở nhà tôi. Hôm đó chị có việc gì đó đến Bắc Ảnh, tiện thể ghé qua nhà tôi ngồi một lát.

Bước vào khoảng sân khu tập thể Đồng Ảnh của chúng tôi, tôi mới nói cho ông Sugimoto biết trong nhà còn có một vị khách khác.

"Thế sao?"──Bước chân ông khựng lại, trầm ngâm giây lát rồi dứt khoát bảo: "Nếu anh cảm thấy tiếp đón hai vị khách cùng một lúc không tiện lắm, tôi có thể tạm lánh đi trước. Gò đất đối diện bên kia đường chính là di chỉ tường thành Nguyên Đại Đô phải không? Vậy thì tôi qua đó viếng cảnh xưa trước vậy. Để cảm nhận được tấm lòng 'Lục triều văn vật thảo liên không, thiên đạm vân nhàn kim cổ đồng' trong thơ cổ Trung Quốc thì chuyến đi này cũng không uổng phí rồi..."

Tôi nói: "Chẳng có gì bất tiện cả đâu. Vị khách kia của tôi là một nữ nhà văn nổi tiếng của Trung Quốc, với sự am hiểu của ông về văn học đương đại Trung Quốc, đoán nhiều nhất ba lần chắc chắn sẽ trúng."

Quả nhiên, ông chỉ đoán ba lần là đã đoán trúng chị Thẩm Dung.

"Được gặp bà ấy tôi mừng quá! Tôi đã đọc rất nhiều tác phẩm của bà ấy rồi!"

Tôi bảo: "Chị ấy cũng rất vui khi được gặp ông đấy, nếu không thì đã về từ lâu rồi, làm sao còn đợi ở nhà tôi làm gì."

Tôi cùng ông Sugimoto và chị Thẩm Dung trò chuyện qua lại hơn một tiếng đồng hồ. Ông Sugimoto liên tục chụp ảnh cho chúng tôi, tôi cũng liên tục chụp ảnh cho ông và chị Thẩm Dung.

Vì còn có việc bận nên ông xin phép cáo từ trước. Tôi lại ngồi hàn huyên với chị Thẩm Dung thêm hơn nửa tiếng nữa. Tiễn chị ra đến đầu đường, lại tình cờ chạm mặt ông Sugimoto đang đi tới. Tôi ngỡ ông để quên máy ảnh ở nhà tôi. Nào ngờ ông có vẻ bối rối nói với chị Thẩm Dung: "Thành thật xin lỗi, tôi lại cầm nhầm chiếc quạt của bà đi mất rồi. Lên xe taxi rồi mới phát hiện ra chiếc quạt trên tay..."

Chị Thẩm Dung ngẩn người ra bảo: "Không phải quạt của tôi đâu, là quạt nhà Hiểu Thanh đấy chứ..." Đó là một chiếc quạt giấy cũ. Đã rách nhiều chỗ. Là đồ tặng cho hành khách trên máy bay. Nhìn dáng vẻ mồ hôi nhễ nhại của ông, tôi nhất thời chẳng biết phải nói gì.

"Trời đất, vì một cái quạt rách thế này, vứt ngoài đường cũng chẳng ai buồn nhặt ấy chứ!..."

Chị Thẩm Dung rảo bước nhanh ra mép đường, vẫy tay gọi giúp ông Sugimoto một chiếc taxi.

Nhìn chiếc taxi chở ông Sugimoto đi xa dần, chị Thẩm Dung tự lẩm bẩm: "Đây mới gọi là 'chi tiết đời sống' này! Sugimoto Tatsuo, sau này tôi sẽ nhớ kỹ tên của văn nhân người Nhật này."──Trầm ngâm nhìn tôi, chị lại nói, "Chúng ta đều có thể kết bạn với người Nhật này đấy. Lần sau ông ấy đến Bắc Kinh cậu nhất định phải báo cho tôi biết nhé, tôi sẽ mời ông ấy đến nhà tôi làm khách!"

Tôi biết nguyên tắc kết giao của chị Thẩm Dung xưa nay vốn vô cùng cẩn trọng. Ông Sugimoto rõ ràng đã để lại cho chị một ấn tượng cực kỳ tốt đẹp.

Thế là tôi bảo: "Những người tôi giao thiệp mà lị, bất kể là người Trung Quốc hay người nước ngoài, chất lượng chắc chắn không phải bàn cãi rồi."

Ông Sugimoto không sang Trung Quốc thêm lần nào nữa.

Nhưng cũng giống như cụ Ikeda, năm nào ông cũng gửi thiệp chúc mừng cho tôi. Tháng Năm năm nay, ngoài giờ giảng dạy, ông đã dịch xong cuốn tiểu thuyết "Chiếc cúc áo đen" của tôi, vẫn đăng trên tờ "Tạp chí Tiểu thuyết Đương đại Trung Quốc". Đó là tạp chí do ông và mấy vị đồng nghiệp yêu thích văn học Trung Quốc tự bỏ tiền túi ra sáng lập, chẳng màng đến lợi ích kinh tế gì. Họ hoàn toàn không có nhuận bút. Đôi khi còn phải tự móc tiền túi ra bù tiền in ấn. Cho nên, dù ông đã dịch hơn mười vạn chữ tác phẩm của tôi, tôi chưa bao giờ đòi một đồng tiền bản quyền nguyên tác nào. Đến nay tôi mới chỉ nhận được mười lăm đô la Mỹ, mà lại là do ông chủ động gửi sang...

Người Nhật thứ ba tôi từng gặp là một phụ nữ trẻ, con gái của một gia đình nghèo ở Nhật. Hồi đó là lưu học sinh của Học viện Ngoại ngữ. Tên cô ấy tôi đã quên mất rồi. Cô ấy cũng không để lại danh thiếp cho tôi. Giữa chúng tôi chẳng có nền tảng tình bạn gì, nên chỉ có thể coi là từng gặp mặt mà thôi.

Thế nhưng ấn tượng mà cô ấy khắc sâu trong ký ức tôi lại tương đối rõ nét.

Cô ấy thuộc tuýp phụ nữ không xinh đẹp. Nói một cách thực tế, là kiểu phụ nữ có diện mạo chẳng có gì nổi bật. Dáng người thấp bé, chân ngắn, mái tóc dài thưa thớt. Tôi gặp cô ấy vào một ngày trong tháng Giêng. Một ngày trời lạnh căm căm và ảm đạm. Ngay trong văn phòng làm việc của tôi.

Nghe tiếng gõ cửa khe khẽ, tôi đặt bút xuống, đứng dậy ra mở cửa, cứ ngỡ đó là một cô thôn nữ đến từ vùng núi xa xôi hẻo lánh nào đó của Trung Quốc. Mặt cô ấy lạnh buốt đỏ ửng lên, đôi môi nứt nẻ, mũi lại hơi sưng như thể bị phù. Khiến tôi liên tưởng đến khuôn mặt của một số phụ nữ bị dị ứng phấn hoa vào mùa xuân. Hồi ấy Bắc Kinh vẫn chưa có "thị trường lao động". Rất nhiều cô gái nhà nghèo từ nông thôn hay miền núi các tỉnh khác thường đến Bắc Ảnh tìm vận may. Nếu may mắn, họ sẽ được gia đình nào đó thuê về làm "người giúp việc", tôi từng tiếp đón họ không dưới ba đến năm lần. Dù nhà tôi hồi đó chẳng hề có ý định thuê "người giúp việc", tôi vẫn thầm nghĩ──thôi được rồi, lại phải ngồi trò chuyện một lát, chí ít cũng phải mời người ta vào nhà uống hớp nước nóng cho ấm người đã!

Cô ấy có vẻ hơi bối rối, sợ sệt rút giấy tờ ra, dùng cả hai tay kính cẩn đưa cho tôi xem, vừa lí nhí vẻ rụt rè: "Em là lưu học sinh người Nhật... Đây là thẻ sinh viên của em..."

Lưu học sinh Nhật Bản ư?

Cô ấy mặc một chiếc áo khoác dạ cũ kỹ màu nâu, dáng rất ôm, rõ ràng là loại áo mặc mùa thu chứ không phải loại dạ dày mặc giữ ấm mùa đông. Mà bên trong áo khoác dạ lại mặc một chiếc áo bông kiểu Trung Quốc. Vì thế chiếc áo khoác dạ ấy chỉ có thể cài được hai chiếc cúc trên cùng. Chiếc cúc ngang eo không cài nổi, tà áo xòe ra hai bên hông như vạt áo đuôi tôm, quần thì dài, chùng thành mấy nếp gấp ở cổ chân. Dưới chân là một đôi giày vải bông rõ ràng lớn hơn chân cô ấy rất nhiều.

Tôi ngập ngừng một lát, không kìm được cầm lấy thẻ sinh viên xem thử, dĩ nhiên chẳng thấy có sơ hở gì.

"Làm phiền anh quá, xin lỗi anh! Xin được giúp đỡ nhiều ạ. Xin được giúp đỡ nhiều ạ..."

Cô ấy đứng ngoài cửa liên tục cúi đầu chào tôi.

Tôi trả lại thẻ sinh viên, lập tức mời cô ấy vào phòng. Lò sưởi cấp nhiệt không đủ nên văn phòng của tôi chẳng ấm áp chút nào. Tôi dời một chiếc ghế sô pha lại gần lò sưởi, lại đặt bếp điện lò xo cắm điện ngay trước mặt cô ấy, đoạn pha cho cô một tách cà phê. Sau đó tôi ngồi lại về ghế của mình, nhìn cô ấy hỏi xem có cần tôi giúp đỡ việc gì không?

Cô ấy ủ hai bàn tay vào nhau, cúi gằm mắt nhìn mũi giày của mình, vẻ đầy lúng túng bất an nói──cô ấy từng đọc vài truyện ngắn của tôi ở Học viện Ngoại ngữ. Bây giờ trường học nghỉ lễ rồi, trong ký túc xá chỉ còn lại trơ trọi một mình cô ấy. Cô ấy cảm thấy rất cô đơn. Cô ấy muốn tìm chút công việc dịch thuật chữ nghĩa từ "Trung sang Nhật". Vừa có thể giết thời gian trong những ngày nghỉ đông dài dằng dặc, lại vừa có thể rèn luyện thực tế. Bảo rằng các bạn học người Trung Quốc khuyên cô ấy đến tìm tôi. Nói bọn họ bảo với cô rằng tôi là người rất nhiệt tình lại thích giúp đỡ người khác, gần như ai xin giúp đỡ cũng không từ chối... Tôi thấy cô ấy bối rối đến mức sắp khóc ra nơi rồi. Tôi thầm giận mấy người bạn học Trung Quốc đã xúi giục cô ấy đến tìm tôi. Thế nhưng bộ dạng bồn chồn lo lắng ấy của cô lại lập tức khiến lòng trắc ẩn và sự bao dung trong tôi trỗi dậy đến tột cùng. Tôi kéo ghế lại gần cô ấy, ngồi đối diện nhau, giục cô uống cạn tách cà phê kia trước đã. Cà phê đã không còn nóng lắm. Sau khi cô uống hết, tôi lại pha thêm cho cô một tách nữa.

Tôi hỏi cô ấy sao nghỉ đông rồi mà không về Nhật Bản?

Cô ấy bảo tiếc tiền vé đi lại đắt đỏ. Nói rằng việc cô sang Trung Quốc du học hoàn toàn dựa vào số tiền mấy năm tự mình đi làm thuê kiếm được.

Tôi hỏi lẽ nào gia đình không thể hỗ trợ kinh tế cho cô được chút nào sao?

Cô ấy lắc đầu bảo không thể. Trầm mặc một lát, dường như cảm thấy trả lời như vậy e là tôi vẫn chưa hiểu hết, cô lại khẽ nói: "Nhà em là gia đình nghèo ở Nhật Bản ạ."

Đây là lần đầu tiên tôi nghe một người Nhật Bản thừa nhận trước mặt tôi, một người Trung Quốc, rằng bản thân mình thuộc "gia đình nghèo" ở Nhật Bản. Cụ Ikeda đương nhiên không phải người nghèo Nhật Bản rồi. Cụ từng cho tôi xem ảnh ngôi nhà của cụ ở Yokohama. Một căn nhà lầu hai tầng xinh xắn. Có sân vườn. Trong sân có hoa đỏ cây xanh. Trước cổng đỗ xe hơi. Con cái cụ đều đã thành gia lập thất cả. Cụ và bà vợ sống một tuổi già êm ấm không vướng bận âu lo. Cụ là một ông lão người Nhật tương đối hạnh phúc, chẳng còn điều gì phải bận lòng nữa. Ông Sugimoto dĩ nhiên cũng chẳng phải người nghèo. Giáo sư thực thụ của Đại học Waseda, Viện trưởng "Viện nghiên cứu Văn học Cận Hiện đại Trung Quốc", hai điều này bảo đảm dẫu sau này có về hưu, ông vẫn có thể sống một cuộc sống trung lưu đàng hoàng theo mức sống của Nhật Bản.

"Vậy bố cô làm nghề gì?"

"Bố em từ nhỏ chân đã có tật. Bị di chứng bại liệt để lại. Chẳng được đi học mấy năm, cho nên cả đời toàn làm việc tạp vụ chân tay. Giờ ông cũng sắp già rồi, chẳng biết chừng ngày nào đó sẽ không thể làm việc tạp vụ được nữa. Đến lúc ấy, tiền trợ cấp tàn tật của ông cũng chỉ vừa đủ để duy trì miếng ăn manh áo cho chính bản thân ông mà thôi..."

Giọng cô ấy vẫn rất nhỏ. Nhưng không còn quá câu nệ, bồn chồn nữa. Có lẽ nhờ người đã ấm hơn đôi chút. Trong phòng cũng ấm lên, cánh tay đang bưng tách của cô không còn run rẩy nữa.

"Thế còn mẹ cô? Bà ấy có việc làm không?"

"Mẹ em hồi trẻ cũng làm việc tạp vụ. Sau khi sinh em ra thì không đi làm nữa, toàn tâm toàn ý nuôi nấng em. Chi phí gửi trẻ ở Nhật rất cao. Đó là một trong những lý do khiến nhiều phụ nữ hễ có con là nghỉ việc luôn. Rất ít phụ nữ sau khi con lớn có thể tìm lại được việc làm, mà mẹ em thì lại càng khó."

"Tại sao vậy?"

"Bà ấy cũng chỉ học có vài năm thôi. Không có sở trường gì, tướng mạo cũng chẳng đẹp đẽ..."

Thế là đến lượt tôi nhìn cô ấy đầy vẻ cảm thông, trầm ngâm hồi lâu.

"Bố mẹ em đều là người nông thôn ở Hokkaido. Sau này mới chuyển đến một thị trấn nhỏ. Em sinh ra ở thị trấn nhỏ đó, lớn lên ở thị trấn nhỏ đó, em nói ra có lẽ anh không tin đâu, vì sang Trung Quốc du học phải ra Tokyo đi máy bay quốc tế, nên em mới được đến Tokyo lần đầu tiên đấy. Người Hokkaido bọn em thường có cảm giác như thể bị cả nước Nhật bỏ quên vậy. Mà em cảm thấy Tokyo nhất định sẽ bài xích những đứa con gái như em, dẫu cho trên thực tế nó không hẳn giống như em nghĩ. Nhưng em vẫn không sao tránh khỏi việc cứ suy nghĩ như thế..."

Tôi nói: "Nhà tôi cũng là gia đình nghèo ở Trung Quốc. Chỉ dựa vào việc viết tiểu thuyết thì không thể khiến một người Trung Quốc từ nghèo hóa giàu được đâu. Chí ít, nhìn từ bản thân tôi thì hiện tại vẫn chứng minh điều đó (năm đó là năm 86 hoặc 87, quy định nhuận bút cao nhất của nhà nước là hơn hai mươi đồng cho mỗi nghìn chữ). Cô xem này, đây tuy là văn phòng của tôi, nhưng vẫn buộc phải kê hai chiếc giường. Ban đêm tôi và người cha già của tôi phải ngủ ở đây. Chỗ này ban đêm lạnh lắm. Tôi là người phương Bắc. Người phương Bắc Trung Quốc chúng tôi cũng thường có cảm giác dường như bị cả Trung Quốc lãng quên vậy. Dù rằng trên thực tế cũng chẳng phải như thế. Trung Quốc quá rộng lớn, chỉ là công cuộc 'cải cách mở cửa' đã khiến sự phát triển giữa miền nam và miền bắc Trung Quốc bộc lộ khoảng cách rất lớn. Hơn nữa tôi dám khẳng định, khoảng cách này sẽ còn tiếp tục nới rộng ra nữa..."

Cuối cùng cô ấy cũng từ từ ngẩng đầu lên nhìn tôi.

Thấy trong mắt cô không còn ngấn lệ lấp lánh nữa, tôi khẽ mỉm cười. Tôi hy vọng cô có thể hiểu được tôi đồng cảm và thấu hiểu cô đến nhường nào. Tôi nghĩ cô ấy đã hiểu. Một con người, nhất là một cô gái trẻ, nếu cảm thấy lúng túng trước mặt tôi, cũng sẽ khiến tôi trở nên ngượng ngùng theo, trong lòng cảm thấy vô cùng gượng gạo, khó chịu. Không chỉ hai tách cà phê kia đã xua tan đi nỗi bối rối của cô, mà rõ ràng còn nhờ vào những lời tôi vừa tâm sự, và tôi chính là vì thế mới nói ra những điều ấy...

Tôi ngồi trò chuyện cùng cô ấy hơn một tiếng đồng hồ.

Lúc cô ấy ra về, tôi gom hết tất cả những cuốn sách của chính mình mà tôi có thể tìm được, ký tên, đóng dấu rồi tặng cho cô ấy. Lại còn tặng cô một chiếc bình hoa pháp lam Cảnh Thái Lam tuyệt đẹp. Đó là phần thưởng từ một truyện ngắn đoạt giải của tôi.

Hơn nữa, tôi còn viết một lá thư gửi cho người bạn ở "Viện nghiên cứu Văn học Nhật Bản" năm đó, khuyến khích cô ấy đến tự giới thiệu bản thân. Một nửa là thật lòng muốn giúp, một nửa là xã giao chiếu lệ. Nhưng tôi nghĩ, dẫu chỉ có thể khiến cô ấy cảm nhận được vài phần ấm áp giữa con người với con người tại Trung Quốc này thì cũng tốt lắm rồi!

Khoảng nửa năm sau, tôi nhận được một bức thư của cô ấy. Gửi từ Nhật Bản sang. Trong thư cô nói rất nhiều lời cảm kích. Bảo rằng tự lượng thấy hy vọng mong manh, nên cô không cầm lá thư của tôi đến tìm người bạn kia. Nói rằng cô đã không còn đủ điều kiện kinh tế để tiếp tục du học ở Trung Quốc nữa. Nói rằng cô đã nghiêm túc suy nghĩ lại, dẫu bản thân có học tiếng Trung giỏi đến mức xuất sắc cừ khôi đi chăng nữa, thì liệu có thể giúp ích được mấy phần cho việc tìm kiếm một công việc lý tưởng? Có khi hoàn toàn ngược lại, càng khiến phạm vi tìm việc của mình bị thu hẹp lại hơn. Cô bảo mình đã quay về Hokkaido, đang làm thuê kiếm tiền ở một quán ăn nhỏ. Có điều không phải làm bồi bàn ở gian ngoài, mà là làm tạp vụ quét dọn rửa bát ở dưới bếp sau...

Giữa các dòng chữ, có vài chỗ xuất hiện cụm từ "một cô gái Nhật Bản như em"──nỗi niềm tự thương xót xen lẫn bất lực ngậm ngùi, còn sâu sắc hơn cả vẻ u sầu lộ ra ngoài mặt lúc đối diện chuyện trò.

Cô ấy viết lại địa chỉ nhà. Viết lại cả số điện thoại. Gửi kèm theo một tấm bản đồ giao thông Hokkaido. Lấy bút đỏ khoanh tròn thị trấn nhỏ của cô ấy trên bản đồ. Và trên nửa tờ giấy trắng, cô cẩn thận đánh dấu vị trí chỗ ở của mình, cùng quán ăn nhỏ nơi cô đang làm thuê tại thị trấn ấy...

Thế nhưng, tôi đã không hồi âm.

Cô ấy cũng không gửi thiệp mừng năm mới tới nữa.

Nhưng ký ức của tôi về bà sâu đậm đến mức, thậm chí có thể nói là vượt qua cả ký ức của tôi về cụ ông Ikeda và tiên sinh Sugimoto Tatsuo.

Tiên sinh Horie và tiên sinh Arai là hai người Nhật cuối cùng mà tôi từng tiếp xúc, đều là những người đàn ông trung niên. Một người là Trưởng văn phòng đại diện báo Asahi Shimbun tại Bắc Kinh - Horie Yoshito, một người là Trưởng văn phòng đại diện báo Yomiuri Shimbun tại Bắc Kinh - Arai Toshiaki. Cả hai đều thông qua "Hội Nhà báo" toàn quốc để liên hệ với tôi và yêu cầu phỏng vấn, thế nên quan hệ giữa tôi và họ chỉ có thể gọi là từng "tiếp xúc". Hơn nữa, cũng chỉ bị phỏng vấn đúng lần đó. Chủ yếu là họ hy vọng thông qua tôi để tìm hiểu về Bắc Kinh, tìm hiểu về Trung Quốc, tìm hiểu về văn học đương đại, nghệ thuật điện ảnh, truyền hình và công cuộc "cải cách mở cửa" của Trung Quốc; mặc dù tôi cũng hy vọng thông qua việc nhận phỏng vấn để nhờ họ tìm hiểu mọi ngóc ngách của xã hội Nhật Bản mà tôi chưa từng đặt chân tới, nhưng trong thời gian hữu hạn, trả lời mười câu rồi mới có cơ hội hỏi ngược lại một câu, tất nhiên là thu hoạch của họ lớn hơn thu hoạch của tôi. Thu hoạch của họ thì "to đùng", còn thu hoạch của tôi thì "bé xíu". Tôi không biết họ rốt cuộc có biết nói tiếng Trung hay không, dù sao thì cả hai đều dẫn theo phiên dịch. Hơn nữa lại là phiên dịch phía Trung Quốc,

Nếu chúng ta cho rằng các trưởng văn phòng đại diện tại Bắc Kinh của hai tờ báo lớn Nhật Bản là "Yomiuri" và "Asahi" cũng có thể được coi là "quan chức báo chí" của Nhật Bản, thì tôi cảm thấy, họ là những người cực kỳ "tuân thủ kỷ luật và pháp luật", tôn trọng "kỷ luật" của Trung Quốc, tuân thủ "pháp luật" của Trung Quốc. Điều này hoàn toàn có thể chứng minh qua việc họ không tự ý liên hệ với cá nhân tôi, mà phải thông через "Hội Nhà báo" và "Hội Nhà văn" để liên hệ với tôi. Tôi nhấn mạnh phiên dịch đi kèm với họ là "phía Trung Quốc", ý không phải chỉ đơn thuần là nói phiên dịch là người Trung Quốc, mà là nói phiên dịch là người chuyên trách, trực thuộc trực tiếp một số cơ quan báo chí Trung Quốc. Điều này lại càng chứng minh, họ rất coi trọng "tình hình thực tế" của Trung Quốc, rất bận tâm đến tính "hợp pháp" trong các cuộc phỏng vấn của họ. Khác hẳn với các phóng viên đến từ Hồng Kông, Đài Loan, các quốc gia phương Tây khác, đặc biệt là một số phóng viên Mỹ. Những kẻ sau có vẻ nhiệt tình hơn với việc "vi hành tư gia", nhấn mạnh hơn vào sự "tự do" của phóng viên. Hoàn toàn phớt lờ việc ở Trung Quốc, sự hiểu biết của chính phủ chúng ta đối với hai chữ "tự do" như tự do báo chí, tự do xuất bản, tự do ngôn luận, có sự khác biệt rất lớn so với sự hiểu biết và diễn giải của họ.

Các cuộc phỏng vấn của tiên sinh Horie và tiên sinh Arai dành cho tôi, không tránh khỏi có chút vẻ câu nệ. Cả hai trước tiên đều lịch sự tuyên bố rằng── nếu họ hỏi câu hỏi gì mà tôi cảm thấy không tiện trả lời, thì đó tuyệt đối không phải họ cố ý làm khó tôi, mà là họ vô ý vượt quá "vùng cấm phỏng vấn", hy vọng trước tiên nhận được sự thông cảm ở mức độ lớn nhất.

Ngay từ đầu, tôi đều nói với họ những lời thế này: "Tôi không mang bất kỳ ác ý nào đối với đất nước mình. Tôi yêu nhân dân chúng ta. Dù đất nước chúng ta nghèo hay lạc hậu, tôi vẫn yêu cô ấy. Cho nên, dù đối mặt với phóng viên của bất kỳ quốc gia nào, tôi cũng sẽ không cho rằng những lời lẽ chống lại đất nước mình là thứ phải dè dặt bóp méo đi một chút nào. Họ muốn tìm hiểu điều gì cứ việc quang minh chính đại mà hỏi. Tôi cũng sẽ quang minh chính đại mà trả lời. Tôi không biết bất kỳ bí mật quốc gia nào. Tôi không có khả năng làm lộ bí mật. Cho nên các cuộc phỏng vấn của họ đối với tôi sẽ không có cái gọi là 'vùng cấm'. Câu trả lời của tôi cũng sẽ không có cái gọi là 'vùng cấm'. Nếu tôi chỉ trích một mặt nào đó của đất nước mình, thì điều đó chỉ có thể chứng minh những mặt đó quá tồi tệ, sớm đã khơi mào sự bất mãn phổ biến của đông đảo quần chúng Trung Quốc! Thưa các ngài, xin hãy mở lời hỏi đi!"

Những lời lúc đó của tôi đều khiến họ cảm thấy bất ngờ.

Mà thực tế thì, những gì họ hỏi từ đầu đến cuối, không có nửa phần khiến tôi cảm thấy không tiện trả lời hay thấy khó xử cả.

Họ rất quan tâm việc Trung Quốc liệu có "trị an lâu dài" hay không.

Còn tôi cảm thấy, điều họ quan tâm hơn chính là, sự "ổn định" hay "bất ổn" của Trung Quốc, rốt cuộc sẽ gây ra mức độ ảnh hưởng lớn thế nào đối với quan hệ Nhật - Trung, chủ yếu là quan hệ kinh tế Nhật - Trung. Và ảnh hưởng đó lại sẽ dẫn đến những thay đổi gì, ở mức độ nào đối với triển vọng kinh tế của Nhật Bản.

Không cần bàn cãi, tiên sinh Horie và tiên sinh Arai cũng là hai vị tiên sinh người Nhật vô cùng yêu nước. Cũng là hai "sĩ phu lo nước" đáng kính của Nhật Bản. Trong lòng họ dường như tràn ngập những mối lo xa và nghĩ gần đối với đất nước mình.

"Quan hệ Trung - Nhật", đối với nhiều người Nhật từ trung niên trở lên, thực chất là "quan hệ kinh tế Trung - Nhật". Xa hơn nữa là một loại "quan hệ quốc tế" đủ sức ảnh hưởng sâu sắc đến địa vị kinh tế của Nhật Bản ở châu Á, thậm chí trên thế giới.

Còn "quan hệ Mỹ - Trung", đối với nhiều người Mỹ từ trung niên trở lên, thì rất có thể chủ yếu lại là "quan hệ chính trị Mỹ - Trung" rồi. Xa hơn nữa là một loại "quan hệ quốc tế" đủ sức ảnh hưởng sâu sắc đến địa vị chính trị của Mỹ ở châu Á, thậm chí trên toàn thế giới.

Gã nhà giàu Mỹ dựa vào thực lực chính trị quốc tế trên toàn thế giới, mà chứng minh bản thân là một cường quốc thế giới. Cánh chính trị quốc tế và cánh kinh tế quốc gia của nó đều đầy đủ lông vũ, cùng tung cánh bay lượn.

Nhật Bản thì dựa vào thực lực kinh tế trên toàn thế giới, mà chứng minh bản thân là một cường quốc thế giới. Cánh kinh tế quốc gia của nó tuy đủ sức sánh ngang với Mỹ, nhưng cánh chính trị quốc tế lại thoái hóa vô cùng ngắn ngủi. Con chim quái dị này phải dựa vào việc đập liên hồi chiếc cánh đơn độc, mới có thể bay lượn trên bầu trời thế giới.

Nhật Bản lại quan tâm đến thế cơ chứ, tỷ lệ chiếm lĩnh của họ đối với một "thị trường" khổng lồ có tiềm năng vô tận mang tên Trung Quốc này.

Còn gã nhà giàu Mỹ thì có vẻ vô cùng thờ ơ. Dù trong lòng rất coi trọng, bề ngoài vẫn cứ phải ra vẻ khinh miệt.

Tôi từng tiếp nhận phỏng vấn của phóng viên Mỹ. Họ luôn xoay quanh "dân chủ và nhân quyền" để nói chuyện với bạn. Họ không hề che giấu sự chán ngấy của mình đối với các vấn đề khác.

Còn phóng viên Nhật Bản hầu như chưa bao giờ nói chuyện gì về "dân chủ và nhân quyền" với người được phỏng vấn ở Trung Quốc.

Người Nhật Bản xấp xỉ đều là những người kiên định ủng hộ công cuộc "cải cách mở cửa" của Trung Quốc phải không?── Tôi thường nghĩ như vậy.

"Nếu Trung Quốc xảy ra hỗn loạn, sẽ thế nào?"

Cả hai vị tiên sinh Horie và Arai đều từng hỏi tôi như vậy.

Và tôi đều phản vấn lại thế này: "Nếu tôi không hiểu lầm, có phải ngài đang hỏi── nếu Trung Quốc hỗn loạn, số phận của hàng hóa Nhật Bản trên thị trường Trung Quốc sẽ ra sao?"

"Trung Quốc tuyệt đối không được hỗn loạn!"

Tiên sinh Horie từng nói thế.

Tiên sinh Arai cũng từng nói thế.

Khi họ nói câu này, đều thể hiện ý thức lo âu xuất phát từ đáy lòng, y hệt như ý thức lo âu mà chính bản thân tôi thường thể hiện về mặt này, điểm khác biệt có lẽ chỉ nằm ở chỗ, tôi không đồng thời lo âu thay cho Nhật Bản điều gì. Còn điểm xuất phát trong mối lo âu của họ, trước tiên là sự được mất của đất nước họ. Tiếp theo mới là... Tôi cảm thấy hình như chẳng có "tiếp theo" nào cả.

Cách đặt câu hỏi của gã nhà giàu Mỹ đối với vấn đề này đặc biệt đáng để nghiền ngẫm.

Họ không hỏi như người Nhật.

Họ hỏi thế này: "Là một người Trung Quốc, anh cảm thấy trạng thái ổn định hiện tại của Trung Quốc còn có thể duy trì được bao lâu?"

Cứ như thể họ đã sớm tiên đoán hộ Trung Quốc rồi── sự ổn định hiện tại chẳng qua chỉ là tạm thời.

Từ lời nói của họ, ít nhiều bạn luôn có thể nghiền ngẫm ra một chút ý vị kiểu cười trên nỗi đau của người khác. Có lẽ họ không thực sự cười trên nỗi đau của người khác, chỉ là quá tự tin vào sự đánh giá và phán đoán của mình, cảm thấy họ đang đặt câu hỏi theo một cách thức thẳng thắn hơn, gần với "sự thật" hơn. Người Mỹ nhìn quanh khắp thế giới, dường như luôn ngẫm nghĩ── hiện tại quốc gia nào vẫn là kẻ thù lớn nhất của Mỹ?

Người Nhật nhìn quanh khắp thế giới, dường như luôn cân nhắc── hiện tại quốc gia nào còn có thể khai phá thành thị trường kinh tế cho Nhật Bản?

Còn tôi, với tư cách là một người Trung Quốc, lại thường nghĩ── mẹ kiếp, dù là gã nhà giàu Mỹ hay là người Nhật Bản, Trung Quốc tương lai sẽ ra sao, hoàn toàn nằm ở cảm nhận của một tỷ hai người dân Trung Quốc đối với Trung Quốc! Phớt lờ đi cảm nhận này, thì cũng bằng như phớt lờ các mùa mà bàn chuyện thời tiết!...

Máy bay chở tôi, cùng với thứ suy nghĩ thuần túy của một người Trung Quốc ấy, hạ cánh êm đềm xuống sân bay Tokyo...

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 7 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.