Đầu tháng Sáu, Lily đến gặp bác mình tại Đại Trạch để xin cho Hopkins—xin trả lại cho ông mọi đặc quyền của một người làm vườn trưởng tại Đại Trạch. Chuyện này thoạt nghe có vẻ vô lý, bởi trên thực tế ông chưa từng từ bỏ những đặc quyền ấy; nhưng căn nguyên của cuộc tranh cãi lại diễn ra theo chiều hướng này.
Vào những ngày đó, và đã kéo dài nhiều năm trời, giữa Hopkins và Jolliffe, người quản gia, luôn tồn tại một vấn đề gai góc liên quan đến... phân chuồng. Hopkins tự cho mình quyền lấy bất cứ lượng phân nào ông cần từ khu chăn nuôi mà không phải xin phép bất kỳ ai. Ngược lại, Jolliffe ám chỉ rằng nếu mọi chuyện là vậy, Hopkins sẽ hốt sạch chẳng chừa một thứ gì. Hopkins bèn đáp: "Nhưng tôi có ăn được nó đâu." Jolliffe chỉ hừ một tiếng, theo ý nghĩ của Hopkins thì tiếng hừ ấy có nghĩa là, dù một người làm vườn không thể ăn nổi một ngọn núi phân cao năm mươi thước, rộng mười lăm thước — không thể ăn vào bụng được — thì hắn ta vẫn có thể biến nó thành những thứ dùng được cho riêng mình. Thế là một mối thù lớn đã bùng nổ.
Vị địa chủ bất đắc dĩ tất nhiên đã được thỉnh cầu làm trọng tài, và sau khi trì hoãn phán quyết bằng mọi mưu mẹo có thể, cuối cùng ông đã bị Jolliffe ép phải tuyên bố rằng Hopkins không được phép lấy bất cứ thứ gì nếu không được phân bổ rõ ràng. Khi chủ nhân thông báo cho biết phán quyết ấy, Hopkins mím chặt đôi môi già nua, quay ngoắt gót giày, không nói nửa lời. Địa chủ phân trần: "Anh sẽ thấy ở đâu cũng vậy thôi." Hopkins cười khẩy: "Ở đâu!" Tìm đâu ra những người làm vườn khác giống như ông cơ chứ? Hầu như chẳng cần phải nói cũng rõ, ngay từ phút ấy, ông đã hạ quyết tâm sẽ không đời nào tuân theo một mệnh lệnh như thế.
Sáng hôm sau, Jolliffe thông báo với địa chủ rằng mệnh lệnh đã bị phá vỡ, khiến vị địa chủ vô cùng bực bội và cáu kỉnh, chỉ ước gì Jolliffe bị chôn vùi thật kỹ dưới ngọn núi phân đang nhắc tới. Jolliffe nói: "Nếu ai nấy đều muốn làm gì thì làm, thì chẳng còn ai coi ai ra gì nữa." Địa chủ hiểu rằng một khi đã ban hành mệnh lệnh thì phải được tuân thủ, thế nên, với vô vàn tiếng thở dài não nề trong lòng, ông quyết định phải tuyên chiến với Hopkins.
Sáng hôm sau, ông bắt gặp chính tay lão già đang đẩy một chiếc xe cút kít đựng đầy phân từ sân ra vườn rau. Lẽ ra, vào những dịp bình thường, Hopkins không phải tự tay làm loại công việc đó. Dưới quyền ông có một kẻ chuyên đốn củi, gánh nước và đẩy xe — lúc nào cũng có một người, và thường là hai. Nhìn thấy vậy, địa chủ biết là ông ta đang làm trái phép, liền quát bảo ông dừng lại dọc đường.
Ông lên tiếng: "Hopkins, sao anh muốn lấy gì không xin phép trước?" Lão già đặt xe cút kít xuống đất, ngước nhìn thẳng vào mặt chủ nhân, nhổ nước bọt vào lòng bàn tay rồi lại tiếp tục đẩy xe. Địa chủ nói: "Hopkins, thế thì không được đâu. Đứng lại đó."
Hopkins đáp, tay vẫn giữ chiếc xe sát mặt đất nhưng chưa đi tiếp: "Cái gì không được?"
"Đặt nó xuống, Hopkins." Và Hopkins thực sự đã đặt xuống. "Anh không biết là mình đang chống lệnh tôi rành rành ra đấy à?"
"Thưa địa chủ, tôi ở cái chốn này tính ra cũng ngót nghét gần bảy mươi năm rồi."
"Dù anh có ở đây một trăm bảy mươi năm đi nữa thì cũng không thể có chuyện có nhiều hơn một chủ nhân. Tôi là chủ ở đây, và tôi có ý định làm chủ cho đến tận cùng. Mang đống phân đó quay lại sân đi."
Hopkins đáp, giọng vô cùng chậm rãi: "Quay lại sân á?"
"Đúng vậy; quay lại sân."
"Cái gì... trước mặt tất cả bọn họ á?"
"Đúng; anh đã dám cãi lệnh tôi trước mặt tất cả mọi người kia mà."
Hopkins khựng lại một lát, ngước mắt nhìn đi chỗ khác, lắc đầu như thể đang phải suy tính thật sâu xa, nhưng nhờ sự suy tính sâu xa ấy mà cuối cùng đã đi đến một kết luận đúng đắn. Rồi ông xóc lại chiếc xe, gần như chạy bước nhỏ, mang chiến lợi phẩm của mình thẳng ra vườn rau. Với tốc độ ấy, địa chủ hoàn toàn không có khả năng ngăn ông lại, và ngài Dale cũng chẳng dại gì mà lao vào một cuộc xô xát tay đôi với người đầy tớ của mình. Nhưng ông vẫn giận tím mặt, hét với theo rằng nếu không chịu tuân lệnh, kẻ chống đối sẽ phải gánh chịu hậu quả đời đời kiếp kiếp. Vừa chạy, Hopkins vừa lắc đầu ra điều ứng phó rất cừ, trút tải phân của mình ngay dưới chân mấy khung kính trồng dưa chuột, rồi lập tức quay lại tìm chủ nhân và chìa chiếc chìa khóa nhà kính ra.
Hopkins vừa thở hổn hển vừa nói: "Thưa ngài, nó đây ạ; — chìa khóa đây; dĩ nhiên là tôi chẳng cần ai báo trước và cũng chẳng màng tới tiền công tuần này. Tối nay tôi sẽ dọn khỏi căn nhà tranh, còn cái nhà tế thần ấy, chắc họ sẽ cho tôi vào ngay nếu ngài viết cho họ mấy chữ."
Vì địa chủ thừa biết Hopkins là chủ nhân của ba bốn trăm bảng Anh, nên lời bóng gió về cái nhà tế thần ấy quả thật mang màu sắc kịch tính quá đà.
Địa chủ gần như nghiến ngắn, quát lên: "Đừng có mà làm trò hề."
Hopkins đáp: "Tôi biết mình đã xử sự như một thằng hề rồi, tại chuyện đống phân quái quỷ đó; cảm xúc của tôi cứ dâng trào không kìm lại được. Khi lòng người ta đã quá xúc động, tốt nhất là nên xách gối ra đi và nằm lì trong nhà tế thần cho đến lúc chết." Rồi ông lại chìa chiếc chìa khóa ra một lần nữa. Nhưng địa chủ không nhận lấy, thế là Hopkins lại nói tiếp: "Chắc tôi cứ nên trông nom hệ thống sưởi và mấy thứ tương lai kiểu đó cho đến khi ngài tìm được người thay thế đi, thưa ngài Dale. Thật tiếc nếu đống nho đó bị hỏng, trong khi chúng đã chín muồi để đưa lên bàn ăn đến nơi rồi. Quả là vụ mùa tốt nhất mà tôi từng thấy từ trước đến nay. Tôi đã chăm chút chúng cẩn thận đến mức chẳng có nổi một giấc ngủ trọn vẹn từ hồi tháng Hai. Xung quanh đây chẳng có ma nào hiểu biết về nho cả, mà ở gần đây cũng chẳng tìm đâu ra ai. Tay làm vườn trưởng của Huân tước ta thì dốt đặc cán mai; nhưng dù hắn có biết rành rẽ đi chăng nữa thì dĩ nhiên cũng chẳng thể đến đây được. Chắc tôi cứ giữ chìa khóa cho đến khi ngài tìm được người vừa ý nhé, ngài Dale."
Thế là trong suốt hai tuần lễ, khu vườn rơi vào một thời kỳ vô chủ, đáng sợ bậc nhất trong biên niên sử của Allington. Hopkins quả thực vẫn sống trong ngôi nhà tranh của mình và chăm sóc giàn nho vô cùng tận tụy. Khi chăm sóc nho, ông đồng thời kiêm luôn việc quản lý các nhà kính; nhưng ông kiệt quyết không dính dáng gì đến khu vườn bên ngoài, không nhận tiền lương, đem trả lại toàn bộ số tiền gửi cho địa chủ, và khăng khăng với bất cứ ai rằng mình đã bị sa thải. Ông đi lại với một thứ dụng cụ làm vườn trông rất đáng sợ lúc nào cũng lăm lăm trên tay, mà người ta đồn rằng ông định dùng nó để tấn công Jolliffe; nhưng Jolliffe rất khôn hồn, lúc nào cũng cố tình lánh mặt ông.
Ngay sau khi bà Dale và Lily quyết định rằng việc dọn đi khỏi Tiểu Trạch ở Allington sẽ không diễn ra nữa, Lily liền báo tin đó cho Hopkins.
Ông thưa: "Thưa cô, khi tôi nói mấy lời ngắn ngủi ấy với cô và phu nhân, tôi biết là hai người sẽ nghe theo lẽ phải."
Chuyện này hoàn toàn nằm trong dự tính của Lily; việc Hopkins tự nhận vinh quang là đã thuyết phục được người khác bằng lý lẽ của mình là điều dĩ nhiên.
Lily đáp: "Vâng; chúng tôi đã quyết định ở lại rồi. Bác tôi cũng muốn thế."
"Muốn thế á! Ôi trời ơi, thưa cô; đâu chỉ là muốn không thôi. Tất cả chúng tôi đều muốn thế. Nào, cô thử nhìn vào lẽ phải của sự việc xem. Này cái nhà này..."
"Nhưng thưa Hopkins, chuyện đó đã quyết định rồi. Chúng tôi sẽ ở lại. Điều tôi muốn biết là thế này; ông có thể qua ngay bây giờ giúp tôi mở mấy thùng đồ ra được không?"
"Cái gì! Ngay trong chiều nay sao..."
"Đúng vậy, ngay bây giờ; chúng tôi muốn sắp xếp lại đồ đạc trước khi mọi người từ Guestwick quay về."
Hopkins gãi đầu lưỡng lự, không muốn tỏ ra nhượng bộ trước bất kỳ đề nghị nào có vẻ trẻ con; nhưng cuối cùng ông cũng xuôi lòng, cảm thấy bản thân công việc ấy là một việc tốt đẹp. Bà Dale cũng đồng ý, vừa cười cái tính dại dột của Lily vừa chấp thuận, nhờ thế mà mọi thứ được khui ra rất nhanh chóng, và mối quan hệ đồng minh giữa Lily với Hopkins có thời điểm trở nên vô cùng khăng khít. Công việc mở thùng và sắp xếp lại nhà cửa vẫn chưa hoàn tất thì cuộc chiến phân chuồng đã bùng nổ, và đó là lý do tại sao khi nỗi niềm cảm xúc trào dâng không thể kìm nén nổi "về vụ đống phân", Hopkins cuối cùng lại tìm đến Lily, trút bỏ toàn bộ gánh nặng cũng như vinh quang của sáu mươi mấy tuổi đời dưới chân cô, khẩn khoản xin cô dàn xếp ổn thỏa mọi chuyện giùm ông.
"Nó đang hành hạ chết tôi đây cô ơi, thực sự là vậy đấy; thấy cái cách bọn chúng cắt đọt măng tây kìa. Có phải cắt cành gì đâu. Chúng chỉ đang bổ nhào vào bới tung lên thôi; — cây nào được hay không được đều vơ quàng vơ quén cả lũ. Lại còn đem cắm mấy cây măng vào chỗ tôi không hề muốn, dù chúng thừa biết ý tôi không phải thế. Tôi đứng nhìn tận mắt mà chẳng thốt nổi một lời, thưa cô. Thà chết quách đi còn hơn. Nhưng thưa cô Lily, những nỗi thống khổ mà tôi phải gánh chịu vì tính nhạy cảm lấn át lý trí trong vụ đó — cô biết đấy, thưa cô — chẳng ai có thể thấu hiểu nổi đâu; — không một ai — không một ai — không một ai." Nói đoạn, Hopkins quay mặt đi và bật khóc.
Lily vừa rón rén đến sát chiếc ghế của bác vừa cất lời: "Bác ơi, cháu muốn xin bác một ân huệ lớn."
"Một ân huệ lớn ư. À, bác nghĩ hiện tại bác sẽ chẳng từ chối cháu bất cứ điều gì đâu. Không phải là mời thêm một ông bá tước nữa đến nhà đấy chứ?"
Lily ngạc nhiên: "Lại thêm bá tước nữa!"
"Đúng thế; cháu chưa nghe gì à? Sáng nay cô Bell đã đến đây, khăng khăng đòi bác phải mời bằng được Huân tước De Guest và em gái ngài ấy tới dự lễ cưới. Dường như có sự mưu tính nào đó giữa Bell và phu nhân Julia."
"Dĩ nhiên là bác phải mời họ rồi."
"Dĩ nhiên bác phải thế. Bác nào còn đường nào khác đâu. Mọi chuyện sẽ xuôi chèo mát mái với con bé Bell, vì nó sẽ vút sang xứ Wales cùng người tình; nhưng còn bác thì biết tính sao với ông bá tước và phu nhân Julia sau khi họ tàn tiệc đây? Cháu có sang giúp bác một tay không?"
Đáp lời, Lily tất nhiên hứa là cô sẽ sang giúp một tay. Cô nói: "Thật ra, cháu cứ tưởng tất cả chúng cháu đều được mời sang dự tiệc suốt cả ngày cơ. Và giờ là đến lượt xin ân huệ của cháu. Bác ơi, bác phải tha thứ cho tội nghiệp lão Hopkins đi chứ."
Địa chủ gắt gỏng: "Tha thứ cho một thứ vớ vẩn!"
"Không, bác phải tha cơ. Bác không thể tưởng tượng nổi ông ấy đang đau khổ thế nào đâu."
"Sao bác có thể tha thứ cho một kẻ không chịu tha thứ cho bác chứ. Lão cứ lang thang khắp nơi chẳng làm quái gì cả; rồi gửi trả lại tiền lương, mặt mày thì cứ như sắp đi đâm thuê chém mướn đến nơi; và tất cả chỉ vì lão không chịu làm theo lời sai bảo. Bác làm sao mà tha thứ cho một kẻ như thế được chứ?"
"Nhưng thưa bác, sao lại không?"
"Phải là lão tha thứ cho bác mới đúng. Lão thừa biết là mình muốn quay lại lúc nào cũng được; và thực ra thì xét cho cùng, lão có đi đâu hẳn đâu."
"Nhưng ông ấy khổ sở lắm."
"Bác phải làm gì để lão thấy hạnh phúc hơn đây?"
"Chỉ cần bác ra tận nhà tranh của ông ấy và nói rằng bác đã tha lỗi cho ông ấy."
"Thế thì lão sẽ lại đôi co với bác cho mà xem."
"Không; cháu không nghĩ vậy đâu. Bây giờ ông ấy đã quá quẫn trí để mà đôi co nữa rồi."
"Hừ! Cháu đâu có hiểu lão ta bằng bác. Mọi bất hạnh trên đời này cũng chẳng thể dập tắt nổi sự kiêu ngạo của con người ấy. Dĩ nhiên bác sẽ đi nếu cháu đã nài nỉ, nhưng bác thấy hình như mình cứ phải chịu lép vế trước tất cả mọi người thì phải. Bác nghe người ta bàn tán đủ điều về cảm xúc của thiên hạ, nhưng có thấy ai thèm bận tâm xem cảm xúc của bác ra sao đâu."
Tâm trạng của ông không hoàn toàn vui vẻ gì, và Lily suýt chút nữa đã hối hận vì sự kiên trì của mình; nhưng cuối cùng cô vẫn lôi được ông băng qua khu vườn để đến ngôi nhà tranh, và trên đường đi, cô hứa với ông rằng cô sẽ luôn luôn — luôn luôn nghĩ về ông. Cõi lòng của Hopkins lúc đó không thể tả xiết, vì nó sẽ chiếm mất quá nhiều trong số ít trang sách còn lại của chúng ta. Tôi e rằng mình phải thú nhận, kết quả chẳng mang lại chút vinh quang nào cho vị địa chủ ngoài một bản hiệp ước tha thứ lẫn nhau. Hopkins tự kiểm điểm sâu sắc và thừa nhận rằng cảm xúc đã lấn át lý trí của mình; nhưng ngặt nỗi, hãy nhìn xem ông đã bị khiêu khích đến mức nào! Ông không sao giữ được miệng né tránh đề tài đó, và chắc chắn ông đã tự biện hộ cho mình nhiều hệt như khi thú nhận lỗi lầm. Chiến thắng thực chất hoàn toàn thuộc về ông, bởi từ đó về sau chẳng ai dám bén mảng đến can thiệp vào công việc của ông trong khu chăn nuôi nữa. Ông thể hiện sự quy phục đối với chủ nhân chủ yếu bằng cách đồng ý nhận lại khoản lương cho hai tuần sống trong cảnh rảnh rỗi.
Nhờ tai nạn nhỏ này, Lily không bị Hopkins hành hạ nhiều như cô từng tưởng tượng trong vấn đề thay đổi kế hoạch của họ; nhưng sự cứu rỗi ấy lại không áp dụng với bà Hearn, bà Crump, và trên hết là bà Boyce. Tất cả bọn họ đều bày tỏ ít nhiều sự quan tâm đến cuộc tranh cãi của Hopkins; nhưng sự quan tâm của họ đến việc ai sẽ vào ở Tiểu Trạch mới là điều lớn lao hơn nhiều, và thật vô ích khi muốn gạt phắt bà Hearn bằng câu chuyện người làm vườn kiên quyết từ chối nhận lương, trong khi bà đang chực chờ hỏi xem ngôi nhà có được sơn lại cả trong lẫn ngoài hay không. Bà ta cất lời: "Chà, chắc tôi tự mình đi tìm phòng trọ ở Guestwick và gói ghém mấy chiếc giường của tôi đi quá." Lily không đáp lời, cảm nhận đó như một phần của hình phạt mà cô đã lường trước. Bà Crump kêu lên với hai cô gái: "Ấy chà chà; ôi dào, chắc chúng tôi sẽ buồn lắm khi vắng bóng mấy cô, và biết đâu chúng tôi còn gặp phải người tệ hơn mấy cô nữa là đằng khác; nhưng sao mấy cô lại đi đóng gói hết đồ đạc vào mấy cái thùng lớn thế, để rồi lại lôi ra tháo tung lên làm gì?"
Bell đáp với giọng hơi nghiêm khắc: "Chúng tôi đổi ý, bà Crump ạ."
"Ừ, tôi biết mấy cô đổi ý mà. À thì, bọn có điều kiện như mấy cô muốn sao chẳng được; chứ còn tụi này mà đổi ý thì thế nào cũng được nghe ăn chửi cho xem."
Lily tiếp lời: "Thế thì chúng tôi cũng vậy thôi! Nhưng thôi mặc kệ đi, bà Crump. Bà nhớ gửi thư cho chúng tôi sớm vào nhé, rồi chúng tôi sẽ chẳng cãi nhau với bà nữa."
“Hừ, thư từ á! Quỷ tha ma bắt mấy cái lá thư ấy đi. Ước gì chẳng có cái thứ quái quỷ đó. Hôm qua có một tên hách dịch đến đây. Chẳng biết hắn từ xó xỉnh nào chui xuống — chắc từ Luân Nôn xuống ấy chứ: cái này thì chê bai, cái kia thì chỉ trích, cái quái gì cũng sai bét nhè; rồi hắn còn bảo sẽ đuổi việc tôi nữa chứ.”
“Trời ạ, bà Crump; thế thì hỏng bét à.”
“Đuổi việc á! Có mỗi hai xu một ngày chứ báu bở gì. Thế nên tôi bảo hắn tự xách dép mà cuốn xéo, mang theo mấy cái bọc giẻ rách của hắn đi cho khuất mắt. Lại còn thư từ! Trả lương người ta chưa nổi hai xu một ngày thì còn bày đặt đòi hỏi trách nhiệm gì với mấy mụ phát thư hả giời?”
Và thế là, nhờ nấp dưới bóng cơn thịnh nộ của bà Crump nhắm vào tay thanh tra vừa ghé thăm, Lily và Bell đã né tránh được phần lớn những lời chì chiết lẽ ra phải trút lên đầu họ; nhưng bà Boyce thì vẫn còn đó. Ở đây tôi xin nói thêm, để câu chuyện về bà Crump được trọn vẹn đến mức tối đa, rằng bà ta không hề bị "đuổi việc", và cho đến nay bà vẫn đều đặn nhận mức lương hai xu một ngày từ Hoàng gia. Tay thanh tra nọ đã nói với người đánh xe chở hắn: “Đúng là một mụ già ghê gớm.” — “Vâng, thưa ngài; ai chẳng biết tính mụ ấy thế nào. Chẳng ai kiếm chác được gì từ mụ Crump đâu ạ.”
Bell và Lily cũng dắt tay nhau đến thăm nhà bà Boyce. Lily rào đón: “Nếu lát nữa mụ ấy giở thói khó chịu, cháu sẽ khăng khăng lái câu chuyện sang đám cưới của chị đấy nhé.”
Bell đáp: “Chị hoàn toàn chẳng có ý kiến gì phản đối cả; chỉ là chị chẳng biết còn gì để nói về nó nữa thôi. Lấy một ông bác sĩ quả là chuyện tầm thường hết chỗ nói.”
Lily cãi: “Chẳng tầm thường hơn việc lấy một ông mục sư là mấy.”
“Ồ, khác chứ em. Đám cưới của mấy ông mục sư thường là những sự kiện linh đình lắm. Họ được bước chân vào giới thượng lưu của hạt. Đó là may mắn cuộc đời họ. Mấy ông bác sĩ thì đời nào có cửa; luật sư cũng vậy thôi. Chị không nghĩ mấy vị luật sư lại kết hôn ngay ở vùng quê đâu. Người ta cứ mặc định họ làm đám cưới tít trên Luân Nôn cơ. Chẳng bù cho đám cưới của một ông bác sĩ nông thôn, có gì đáng để mà bàn tán cho nhiều.”
Có lẽ bà Boyce cũng đồng tình với quan điểm này, vì bà đã không chọn đám cưới sắp tới làm đề tài trò chuyện đầu tiên. Ngay khi hai cô gái vừa ngồi xuống, bà liền lập tức chuyển hướng sang chuyện ngôi nhà, bày tỏ sự ngạc nhiên tột độ — ngạc nhiên lẫn niềm vui sướng — trước sự thay đổi đột ngột trong kế hoạch của họ. Bà thốt lên: “Các cháu biết không, mọi thứ cư xử hòa thuận với họ hàng thân thích như vậy sẽ dễ chịu hơn biết bao.”
Bell đáp: “Ồ vâng; xưa nay chúng cháu vẫn luôn đối xử với nhau khá hòa thuận mà.”
“Ồ, chắc chắn rồi. Cô vẫn luôn miệng bảo rằng thật là một diễm phúc khi được nhìn thấy cháu và bác mình gắn bó bên nhau. Thế mà khi chúng ta nghe tin tất cả các cháu sẽ phải dọn đi...”
“Nhưng chúng cháu đâu có bắt buộc phải đi đâu, thưa bà Boyce. Chúng cháu định dọn đi vì nghĩ rằng mẹ cháu sẽ thấy thoải mái hơn ở Guestwick; và giờ thì chúng cháu không đi nữa, bởi tất cả chúng cháu đã ‘đổi ý’, như cách gọi của bà Crump vậy.”
Bà Boyce liền chớp lấy thời cơ hỏi dồn: “Thế chuyện ngôi nhà sắp được sơn sửa lại là thật à?”
Lily đáp: “Cháu tin là thật ạ.”
“Cả trong lẫn ngoài luôn sao?”
Bell đáp: “Đằng nào thì cũng phải làm một lần mà bà.”
“Đúng thế, quả thật vậy; nhưng cô phải công nhận vị địa chủ rất hào phóng đấy chứ. Nhà các cháu có biết bao nhiêu là đồ gỗ. Cô chỉ ước gì Ủy ban Giáo hội chịu sơn sửa nhà cho bên mình; nhưng chẳng có ai thề thốt làm gì cho tầng lớp giáo sĩ cả. Cô thực sự rất mừng vì các cháu ở lại. Như cô đã nói với chú Boyce nhà cô, tụi cô sẽ ra sao nếu thiếu các cháu cơ chứ? Cô tin là vị địa chủ đã hạ quyết tâm sẽ không cho ai thuê lại chỗ đó rồi.”
“Cháu không nghĩ là bác ấy từng có ý định cho thuê đâu.”
“Và nếu chẳng có ai ở thì có phải mọi thứ sẽ tàn lụi, đổ nát hết không đúng chứ? Thế mẹ các cháu có phải trả tiền cọc cho căn phòng trọ đã đặt ở Guestwick không?”
“Thật tình thì cháu chịu. Chị Bell rành chuyện đó hơn cháu, vì chính Tiến sĩ Crofts đã dàn xếp mọi việc mà. Chắc là Tiến sĩ Crofts kể cho chị ấy nghe mọi thứ rồi.” Thế là câu chuyện bị lái đi chỗ khác, và bà Boyce đành hiểu rằng dù đằng sau còn ẩn chứa điều kỳ lạ gì đi nữa, thì nó cũng không được hé lộ trong buổi gặp hôm nay.
Đám cưới của Tiến sĩ Crofts và Bell được ấn định diễn ra vào khoảng giữa tháng Sáu, và vị địa chủ quyết định gia tăng phần trang trọng cho buổi lễ bằng cách rộng mở cửa dinh thự của mình để đón khách. Huân tước De Guest và phu nhân Julia được mời theo sự sắp xếp đặc biệt giữa bà huân tước và Bell như đã giải thích trước đó. Viên đại tá cùng phu nhân Fanny cũng từ Torquay trở về dự lễ, đây là chuyến thăm đầu tiên của ông sau nhiều năm xa cách mái nhà xưa của phụ thân. Bernard không đi cùng cha. Anh vẫn chưa xuất ngoại, nhưng có những hoàn cảnh khiến anh cảm thấy bản thân sẽ không được thoải mái nếu có mặt tại đám cưới. Buổi lễ được cử hành bởi mục sư Boyce, với sự hỗ trợ — như tờ *County Chronicle* đã miêu tả rất chi tiết — của Reverend John Joseph Jones, M.A., cựu sinh viên Đại học Jesus, Cambridge, đồng thời là phụ tá mục sư tại nhà thờ St. Peter, Northgate, Guestwick; điểm bất hợp lý nho nhỏ của tờ quảng cáo này là — vì chẳng có độc giả nào đủ kiên nhẫn đọc lướt qua cái tên Reverend John Joseph Jones — sự kiện Bell kết hôn cùng Tiến sĩ Crofts đã không được lan truyền rộng rãi như mong đợi.
Đám cưới diễn ra vô cùng tốt đẹp. Vị địa chủ đã thể hiện phong thái lịch thiệp nhất của mình, nồng nhiệt chào đón các vị khách cứ như thể ông thực sự tận hưởng sự hiện diện của họ trong sảnh đường nhà mình. Hopkins, kẻ thừa biết mình đã chiến thắng hiển hách, cẩn thận trang hoàng những căn phòng cổ bằng sự kết hợp giữa hoa tươi và lá xanh với một sự tận tụy khiến hai cô gái vô cùng hài lòng. Và trong quá trình kết vòng hoa cùng trang hoàng ấy, có một khoảnh khắc cảm xúc bộc lộ mà ta nên kể lại trong những dòng cuối cùng này. Lily đang khích lệ lão già khi Bell rời đi chốc lát.
Ông cất lời, giọng ngậm ngùi: “Ước gì đó là chú rể dành cho con, cục cưng của ta ạ! Ước gì đó là dành cho con!”
Lily trang nghiêm đáp lại: “Mọi chuyện thế này là tốt lắm rồi, thưa Hopkins.”
Ông tiếp tục: “Nhưng không phải với hắn ta, không phải với gã đó. Ta đời nào thèm kết một cành cây cho hắn. Mà phải là người kia cơ.”
Lily không nói thêm lời nào nữa. Cô thừa biết người đàn ông ấy đang nói thay cho mong ước của tất cả mọi người xung quanh cô. Cô lặng thinh, và rồi Bell quay trở lại với họ.
Nhưng trong đám cưới, chẳng ai vui vẻ bằng Lily — vui vẻ rạng rỡ, tràn ngập sắc màu hân hoan của ngày cưới. Cô tán tỉnh ông bá tước già cho đến khi ông tuyên bố sẽ tự mình cưới cô làm vợ. Bất kỳ ai nhìn thấy cô vào buổi tối hôm đó, mà không hay biết gì về câu chuyện vừa qua của cô, chắc chắn sẽ không thể ngờ rằng chính cô đã từng bị phụ tình một cách tàn nhẫn chừng sáu hay tám tháng trước. Và những ai biết chuyện cũng không thể tưởng tượng nổi những tổn thương ngày ấy lại giáng vào cô nặng nề đến mức tưởng như chẳng thể nào gượng dậy nổi. Dù bản thân cô tin rằng chẳng có sự phục hồi nào dành cho mình — dù cô giống như một kẻ đã bị chém đứt cánh tay phải trong trận chiến — thì cả thế giới này đâu phải đã lụi tàn theo cánh tay phải ấy. Viên đạn giáng cho cô một vết thương chí mạng nhưng không cướp đi sinh mạng của cô, và cô khinh bỉ việc phải đi khắp thế gian để than van, dù bằng lời nói hay ánh mắt, về nỗi đau mà mình gánh chịu. “Vợ khi mất chồng người ta vẫn ăn và cười đấy thôi,” cô tự nhủ, “và anh ta đâu có chết như thế.” Thế là cô tự hạ quyết tâm sẽ phải sống hạnh phúc, và ở đây tôi xin khẳng định rằng không những cô dường như thực hiện được quyết tâm ấy, mà cô thực sự đã sống đúng như vậy. Ngay trước lúc Crofts chuẩn bị khởi hành cùng cô dâu, cô nói với anh: “Anh là một người đàn ông tốt và em biết anh sẽ đối xử tốt với chị ấy.”
Anh đáp: “Ít ra anh sẽ cố gắng.”
“Và em cũng mong anh phải đối xử tốt với cả em nữa đấy. Hãy nhớ rằng anh đã cưới cả một gia đình; và thưa anh, anh đừng có tin một chữ nào vào mấy cuốn tiểu thuyết của cái tên tồi tệ viết về các bà mẹ vợ nhé. Hắn ta đã gây ra biết bao tai hại, tống khứ một nửa số phụ nữ ở Anh ra khỏi nhà của con gái họ đấy.”
“Hắn sẽ không hòng tống khứ được bà Dale ra khỏi nhà anh đâu.”
“Nhớ lấy đấy nhé. Thôi, tạm biệt anh.” Thế là cô dâu chú rể lên đường, còn Lily ở lại để tiếp tục tán tỉnh Huân tước De Guest.
Trước khi để cây bút mỏi nhừ rơi khỏi tay mình, liệu còn ai khác cần phải nhắc đến vài lời nữa hay không? Sau bao dằn vặt nội tâm về vấn đề này, vị địa chủ cuối cùng cũng thừa nhận với chính bản thân rằng ông đã không đối xử với người em dâu đúng mực như những gì bà đáng được nhận. Ông nhận ra điều đó, tự nhủ sẽ cố gắng sửa chữa những sai lầm trong quá khứ; và tôi nghĩ mình có thể khẳng định rằng những nỗ lực theo hướng ấy sẽ không bị bà Dale từ chối một cách lạnh lùng. Do đó, tôi có xu hướng tin rằng cuộc sống tại Allington, cả ở Đại Trạch lẫn Tiểu Trạch, sẽ sớm trở nên êm đềm và dễ chịu hơn trước kia rất nhiều. Chẳng mấy chốc Lily đã có được đôi bốt Balmoral, hoặc ít ra, cô nhận ra quyền tự do mua sắm theo ý thích đã thuộc về mình nhờ món quà từ người bác; đến nỗi cô còn bàn chuyện mua cả chiếc lồng sóc; nhưng tôi không rõ sự phung phí ấy có đưa cô đi xa đến mức đó hay không.
Chúng ta để lại Huân tước De Courcy trong cơn đau đớn quằn quại vì bệnh gút và tính khí cáu kỉnh tại lâu đài Courcy. Phải vậy chứ! Về già, cuộc đời xem ra chẳng đem lại cho ông mấy điều dễ chịu. Vợ ông giờ đây đã bỏ đi, và khẳng định chắc nịch với người con rể rằng sẽ chẳng có lý do trần đời nào ép bà quay trở lại được nữa; — “ngay cả khi tôi có chết đói đi chăng nữa!” bà tuyên bố. Ý bà muốn nhấn mạnh rằng bà sẽ giữ vững lập trường dẫu cho có phải mất đi chiếc xe ngựa cùng bầy ngựa quý. Tội nghiệp ông Gazebee phải lặn lội đến Courcy, có một cuộc gặp gỡ vô cùng kinh hoàng với ông bá tước; nhưng cuối cùng mọi chuyện cũng được dàn xếp ổn thỏa, và phu nhân vẫn ở lại Baden-Baden trong tình trạng bán đói bán khang. Nói cách khác, bà chỉ còn giữ lại đúng một con ngựa cho chiếc xe của mình.
Còn về phần Crosbie, tôi có khuynh hướng tin rằng anh ta đã thực sự lấy lại được quyền lực tại cơ quan. Anh ta là cấp trên của ông Butterwell, đồng thời cũng là sếp của ông Optimist và viên thiếu tá. Anh ta nắm rõ công việc và có khả năng giải quyết nó, điều mà có lẽ chẳng ai trong số ba người kia sánh kịp. Trong hoàn cảnh ấy, anh ta sớm lấy lại thế chủ động và tiếp tục dẫn đầu. Nhưng ở những nơi khác, ngôi sao may mắn của anh ta đã chẳng thể phục hồi vị thế. Anh ta ăn tối tại câu lạc bộ hầu như mỗi ngày, và vẫn có những người quen tụ tập thành vòng tròn nhỏ xung quanh anh ta. Nhưng anh ta không còn là Crosbie của ngày xưa nữa — cái tên từng lẫy lừng ở Belgravia và phố St. James. Anh ta từng dũng cảm lái con tàu nhỏ của mình ra biển lớn, và điều khiển nó rất cừ chừng nào vận may còn bám lấy anh ta. Nhưng rồi anh ta đã quên mất những quy tắc hàng hải, và sự thành công đã khiến anh ta đâm ra chểnh mảng. Chiếc dây dọi đã không còn được sử dụng, và anh ta chẳng màng ngó ngàng đến chặng đường phía trước. Thế nên ngọn đá ngầm đầu tiên đụng phải đã xé nát con tàu của anh ta ra thành từng mảnh vụn. Vợ anh ta, phu nhân Alexandrina, hiện có thể được nhìn thấy trên chiếc xe ngựa một ngựa cùng mẹ ruột tại Baden-Baden.