Ngôi Nhà Nhỏ Ở Allington

Lượt đọc: 417 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 55

❊ ❊ ❊

Có lẽ người ta còn nhớ những lời tiên tri đầy sợ hãi về những biến cố sắp sửa xảy ra giữa gia tộc Hartletop và gia tộc Omnium. Phu nhân Dumbello đã mỉm cười mỗi khi ông Plantagenet Palliser trò chuyện với nàng. Bản thân ông Palliser cũng thầm thừa nhận rằng chính trị thôi thì chưa đủ đối với ông, và tình yêu mới là mảnh ghép còn thiếu để trọn vẹn hạnh phúc. Gần đây, lãnh chúa Dumbello thường cau mày mỗi khi bắt gặp bóng dáng cao ngòng của người thừa kế công tước; và chính vị công tước ấy — một quyền lực vốn nổi tiếng trầm lặng — chính ngài công tước ấy cũng đã cất lời. Cả phu nhân De Courcy lẫn phu nhân Clandidlem đều đinh ninh rằng mọi chuyện đã được sắp xếp ổn thỏa. Do đó, tôi hoàn toàn có cơ sở khi khẳng định rằng thiên hạ đang bàn tán về chuyện tình — một mối tình bất chính — giữa ông Palliser và phu nhân Dumbello.

Những lời đồn đại ấy cuối cùng cũng lan đến ngôi giáo sở yên bình ở vùng quê nơi phu nhân Dumbello cất tiếng khóc chào đời, và từ nơi đó, nàng đã bước chân vào những dinh thự quý phái mà giờ đây nàng đang lấy sự hiện diện của mình để tô điểm. Người ta bàn tán về chuyện này tại Plumstead Episcopi, nơi Tổng phó tế Grantly, thân phụ của phu nhân, vẫn đang sinh sống; và chuyện ấy cũng râm ran tại giáo khu Barchester, nơi ở của người cô và ông ngoại nàng. Chẳng cần phải bận tâm xem chiếc lưỡi kém duyên nào đã phát tán lời đồn ấy đến những vùng đất đạo này. Chỉ biết rằng lâu đài Courcy nằm không xa Barchester, và phu nhân De Courcy lại chẳng có thói quen giấu tài dưới đáy giùng.

Đó là một lời đồn khủng khiếp. Đối với bất kỳ người mẹ nào, việc nghe được tiếng thị phi nhắm vào con gái mình há chẳng phải là điều vô cùng kinh hoàng sao? Và chẳng có tai người mẹ nào lại phải nghe những lời cay đắng ấy một cách đầy rợn ngợp hơn phu nhân Grantly. Phu nhân Dumbello, người con gái, có lẽ đã dấn thân hoàn toàn vào chốn hồng trần; nhưng phu nhân Grantly thì chưa bao giờ bị cuốn đi quá nửa. Trong một góc tâm hồn, thói quen và khát vọng của mình, bà vẫn gắn bó với những giá trị tốt đẹp tự thân — với tín ngưỡng, lòng bác ái và sự thẳng thắn, lương thiện. Quả thật, những xoay vần của cuộc đời đã sai khiến bà phải phụng sự cả Chúa lẫn thần Tiền, và nhờ đó, cuộc hôn nhân giữa con gái bà với người thừa kế của một hầu tước đã đem lại cho bà niềm kiêu hãnh lớn lao. Bà từng ngây ngất trước vị thế vương giả của đứa con gái, dẫu cho bà vẫn tự tay phát những cuốn sách đạo và sách giáo lý cho con cháu những người lao động tại Plumstead Episcopi. Khi Griselda lần đầu trở thành phu nhân Dumbello, người mẹ từng có chút e dè, sợ rằng con mình sẽ không kham nổi những đòi hỏi khắt khe của địa vị mới. Thế nhưng, đứa con gái đã chứng tỏ nó dư sức vượt qua mọi thử thách, vươn lên đỉnh cao danh vọng chóng mặt — điều mang lại cho người mẹ niềm vinh quang to lớn nhưng cũng đầy nỗi hoảng sợ. Bà khôn nguôi hãnh diện khi nghĩ rằng Griselda của mình thật quyền quý ngay cả giữa những tiểu thư dòng dõi hầu tước; nhưng bà lại run rẩy khi ngẫm xem cú ngã từ độ cao ấy sẽ chết chóc biết bao — nếu lỡ có một ngày sụp đổ!

Nhưng bà chưa bao giờ mộng tưởng đến một cú ngã thế này! Bà từng khẳng định — vâng, bà đã nhiều lần nói với ngài tổng phó tế rằng những nguyên tắc tôn giáo của Griselda đã cắm rễ quá sâu để có thể bị lay chuyển bởi những tạp niệm trần gian; ý bà muốn nói rằng nền giáo dục ở Plumstead Episcopi đã định hình con gái bà vào một khuôn khổ vững chắc đến mức mọi bài học sau này ở Hartlebury cũng chẳng thể làm phai mờ. Khi cất lời khoác lác ấy, chưa từng có ý nghĩ nào về việc con gái bỏ trốn khỏi nhà chồng lướt qua tâm trí bà; bà chỉ ám chỉ những thói hư tật xấu có họ hàng với tội lỗi ấy — những vết trượt mà các phu nhân quý tộc khác, những người kém phần vững chãi hơn, đôi khi vấp phải; và sự kiêu hãnh của bà quy về một mối: rằng bản thân bà đã khéo léo phụng sự cả Chúa lẫn Mammon đến mức con gái bà có thể bước ra ngoài và tận hưởng mọi xa hoa trần thế mà chẳng mảy may nguy hại đến phần hồn. Thế rồi, lời đồn thổi này ập xuống đầu bà. Tổng phó tế thì thầm bằng giọng khản đặc rằng ông đã được nhắc nhở phải để mắt tới sự việc, rằng thiên hạ đang đồn ầm lên chuyện Griselda sắp bỏ chồng.

"Không một thế lực nào trên đời có thể khiến tôi tin điều đó," phu nhân Grantly nói. Nhưng rồi bà ngồi thẫn thờ một mình trong phòng khách và run lên bần bật. Ít lâu sau, em gái bà là phu nhân Arabin, vợ viên giám quản, ghé qua giáo sở và dùng những lời nửa kín nửa hở để kể lại câu chuyện tương tự. Bà ấy nghe được từ phu nhân Proudie, vợ ngài giám mục. "Người phụ nữ đó xảo trá chẳng khác nào cha đẻ của mọi lời dối trá," phu nhân Grantly thốt lên. Thế nhưng bà càng run rẩy dữ dội hơn; và khi chuẩn bị công việc cho giáo xứ, tâm trí bà chẳng thể nghĩ đến điều gì khác ngoài đứa con gái. Cuộc đời phía trước của bà sẽ ra sao, và những năm tháng đã qua sẽ nghĩa lý gì, nếu chuyện này thực sự xảy ra? Bà không chịu tin; nhưng nghĩ đến sự đài các của con gái, bà lại càng thêm run rẩy khi sực nhớ rằng những chuyện tày trời như thế vẫn từng xảy ra trong thế giới mà Griselda đang thuộc về. Ah! Há chẳng phải sẽ tốt hơn biết mấy nếu họ đừng vươn chiếc cổ quá cao như thế! Rồi bà thầm lặng bước đi giữa những ngôi mộ ở nghĩa trang bên cạnh, đứng lặng trước nấm mồ đã vùi chôn đứa con gái đoản mệnh của mình. Liệu có phải số phận của đứa trẻ ấy mới là hạnh phúc hơn chăng?

Rất ít lời được trao đổi giữa bà và ngài tổng phó tế về vấn đề này, nhưng dường như cả hai đều ngầm hiểu rằng cần phải hành động điều gì đó. Ông lên Luân Đôn và gặp con gái mình — tuy nhiên, ông không dám đả động đến chủ đề ấy. Lãnh chúa Dumbello tỏ ra cáu kỉnh và vô cùng kiệm lời với ông. Thật vậy, cả tổng phó tế lẫn phu nhân Grantly đều nhận thấy dinh cơ của con gái không hề mang lại cho họ cảm giác thoải mái, và vì lòng kiêu hãnh đặc trưng trong giới của mình, họ chẳng mặn mà gì việc ép uổng bản thân vào lòng hiếu khách của con rể. Dẫu vậy, ông vẫn nhận ra rằng mọi thứ ở căn nhà trên phố Carlton Gardens đang có vấn đề. Lãnh chúa Dumbello không hề niềm nở với vợ, và sự im lặng — chứ không phải lời nói — của những kẻ xung quanh dường như càng minh chứng cho lời đồn đã đến tai ông.

"Hắn ta lui tới đó thường xuyên hơn mức cần thiết," tổng phó tế nói. "Và ít nhất, tôi dám chắc rằng Dumbello không thích điều đó."

"Tôi sẽ viết thư cho con bé," cuối cùng phu nhân Grantly cất lời. "Tôi vẫn là mẹ nó; — tôi sẽ viết thư cho nó. Biết đâu nó không hề hay biết người ta đang đàm tiếu những gì về mình."

Và phu nhân Grantly đã viết thư thật.

Plumstead, tháng Tư, 186—.

Griselda yêu dấu của mẹ,

Có những lúc mẹ cảm giác như con đã bị đẩy ra xa đến mức mẹ hầu như chẳng còn chút quyền hạn nào để quan tâm đến nhịp sống thường ngày của con, và mẹ thừa nhận rằng con không thể tìm đến mẹ để xin lời khuyên hay sự đồng cảm như lẽ ra con đã làm nếu kết hôn với một người môn đăng hộ đối với chúng ta. Nhưng mẹ chắc chắn một điều rằng đứa con của mẹ không hề quên người mẹ này, cũng chẳng quên ngoảnh lại nhìn tình mẫu tử; và con sẽ mở lòng để mẹ trò chuyện nếu con đang gặp hoạn nạn, giống như bất kỳ đứa con nào khác mà mẹ từng yêu thương và nâng niu. Mẹ cầu xin Chúa rằng mình đã lầm khi phỏng đoán tai họa ấy đang cận kề bên con. Nếu mẹ sai, xin con hãy lượng thứ cho nỗi lòng quạnh quẽ này.

Những lời đồn đại đã đến tai chúng ta từ nhiều nguồn khác nhau rằng — Ồ! Griselda, mẹ khó lòng biết phải dùng con chữ nào để vừa che đậy vừa phơi bày điều mà mẹ sắp viết ra đây. Người ta đồn rằng con đang có quan hệ thân thiết với ông Palliser, người cháu của ngài công tước, và chồng con đang vô cùng phật lòng. Có lẽ tốt hơn hết là mẹ hãy nói hết sự thật, đồng thời cảnh báo con rằng đừng vội nghĩ là mẹ đã tin vào những điều đó. Người ta xì xào rằng có kẻ đang nghĩ con sắp sửa tìm kiếm sự che chở dưới bóng ông Palliser. Đứa con gái quý giá của mẹ ơi, mẹ tin rằng con có thể hình dung ra nỗi đau đớn xé lòng khi mẹ gõ xuống những dòng này — với biết bao nỗi sầu thảm kinh hoàng đè nặng trước khi mẹ dám cho phép mình chứa chấp những ý nghĩ sinh ra chúng. Những điều ấy đang được bàn tán rôm rả ở Barchester, và cha con, người vừa từ thủ đô trở về sau khi gặp con, cũng ngậm ngùi không thể trấn an tâm trí mẹ được nữa.

Mẹ sẽ không thốt lấy một lời về tổn hại danh phận trần thế mà con sẽ gánh chịu nếu rạn nứt với chồng. Mẹ tin rằng con có thể nhìn thấu hệ lụy của một bước đi kinh hoàng đến nhường ấy rõ ràng chẳng kém gì mẹ. Con sẽ bóp nát trái tim người cha và đưa người mẹ tội nghiệp xuống mồ; — nhưng thậm chí đó chưa phải là điều mẹ muốn nhấn mạnh nhất. Chính là điều này: — con sẽ đắc tội với Chúa tể bằng tội lỗi tồi tệ nhất mà một người phụ nữ có thể phạm phải, tự đẩy bản thân xuống vực thẳm ô nhục nơi sự ăn năn trước mặt Chúa gần như là bất khả, và chốn trần gian cũng chẳng dung tha cho lối thoát nào.

Mẹ không tin đâu, đứa con gái quý giá nhất, đứa con duy nhất còn lại của mẹ ơi; mẹ không tin những gì người ta đã rót vào tai mẹ. Nhưng với tư cách là một người mẹ, mẹ không thể làm ngơ trước những lời vu khống ấy. Nếu con viết thư cho mẹ và nói rằng sự thật không phải vậy, con sẽ mang lại niềm hạnh phúc cho mẹ thêm lần nữa, dẫu cho con có quở trách sự hoài nghi của mẹ đi chăng nữa.

Hãy tin rằng trong mọi thời điểm và dưới mọi hoàn cảnh, mẹ vẫn mãi là người mẹ yêu thương con như những ngày tháng cũ.

Susan Grantly.

Bây giờ chúng ta hãy quay lại với ông Palliser khi ông đang ngồi trong căn hộ của mình tại Albany, chìm đắm trong những suy tư về tình yêu. Ngài công tước đã cảnh cáo ông, viên quản lý của công tước cũng đã cảnh cáo ông; và bất chấp tinh thần độc lập cao ngút trời, ông suýt chút nữa đã phải run rẩy. Hàng ngàn bảng thu nhập mỗi năm của ông đang đứng trước bờ vực, và có lẽ cả vị thế của ông trước thế gian cũng vậy. Tuy nhiên, dẫu có run rẩy đi chăng nữa, ông vẫn quyết tâm kiên trì đến cùng. Những con số thống kê bỗng trở nên khô khan trong mắt ông, và tình yêu thì vô cùng ngọt ngào. Ông nghĩ rằng thống kê cũng có thể trở nên mê hoặc như xưa, miễn là chúng được hòa quyện cùng tình yêu. Chỉ riêng ý nghĩ được yêu phu nhân Dumbello dường như đã ban cho cuộc đời ông một thứ gia vị mà giờ đây ông không tài nào dứt bỏ nổi. Quả thực, ông vẫn chưa nếm trải nhiều phước lành đích thực của tình yêu, bởi những cuộc trò chuyện giữa ông và phu nhân Dumbello chưa bao giờ vượt quá mức nồng nhiệt như đã thuật lại trong những trang sách này; nhưng trí tưởng tượng của ông thì vẫn đang vùng vẫy; và giờ đây, khi phu nhân Dumbello đã ổn định trong dinh thự của nàng ở Carlton Gardens, ông quyết tâm bày tỏ niềm đam mê của mình ngay cơ hội thuận tiện đầu tiên. Ông thừa hiểu rằng thiên hạ đang mong đợi điều đó ở ông, và thế gian cũng đã bắt đầu tỏ vẻ hơi phật lòng trước sự chần chừ trong hành động của ông.

Ông mới chỉ đến Carlton Gardens một lần kể từ khi mùa xã giao bắt đầu, và phu nhân đã ban cho ông nụ cười ngọt ngào nhất của nàng. Nhưng ông chỉ được ở một mình với nàng vỏn vẹn nửa phút, và trong khoảng thời gian ngắn ngủi ấy, ông chỉ kịp bày tỏ rằng mình đoán nàng sẽ ở lại Luân Đôn suốt mùa này.

"Ồ vâng," nàng đã đáp lời, "chúng tôi sẽ không rời đi cho đến tháng Bảy." Và ông cũng chẳng thể rời đi trước tháng Bảy vì những ràng buộc của công việc thống kê. Do đó, trước mặt ông là khoảng thời gian trọn vẹn hai, nếu không muốn nói là ba tháng, để xoay sở, tuyên bố mục đích của mình và chuẩn bị cho những sự kiện tương lai trong đời. Khi ông quyết định vào một buổi sáng nọ rằng ông sẽ thốt ra lời dịu dàng đầu tiên với phu nhân Dumbello ngay trong đêm ấy, tại phòng khách của phu nhân De Courcy — nơi ông biết chắc sẽ gặp nàng — một bức thư đã được gửi đến qua đường bưu điện. Ông quá rành nét chữ ấy và thừa biết nó mang theo thông điệp gì. Đó là thư từ viên quản lý của công tước, ông Fothergill, thông báo rằng một khoản tiền nhất định đã được chuyển vào tài khoản của ông ở ngân hàng. Nhưng bức thư còn tiến xa hơn thế, nó đồng thời báo cho ông biết rằng ngài công tước đã ngầm ra hiệu rằng sẽ cần có những chỉ thị đặc biệt trước khi khoản thanh toán theo quý tiếp theo được thực hiện. Ông Fothergill không nói gì thêm, nhưng ông Palliser đã hiểu tất cả. Ông cảm thấy máu trong người đông đặc lại quanh lồng ngực; dẫu vậy, ông vẫn hạ quyết tâm sẽ không nuốt lời với phu nhân De Courcy vào đêm hôm đó.

Và phu nhân Dumbello cũng nhận được bức thư của mình vào sáng hôm ấy. Nàng đang được chải chuốt y phục khi đọc nó, và những cô hầu gái túc trực bên cạnh chẳng hề tìm thấy dấu hiệu nào cho thấy có điều gì trong bức thư khiến phu nhân quý phái của họ chấn động. Phu nhân hiếm khi bị kích động, dẫu nàng luôn vô cùng cảnh giác trong việc bắt họ phải chăm sóc mình chu đáo nhất. Dù vậy, nàng vẫn đọc rất kỹ bức thư, và khi ngồi bên những dụng cụ trang điểm của đám hầu gái, nàng trầm ngâm suy nghĩ về tin tức vừa mang đến. Nàng chẳng giận một ai; — cũng chẳng biết ơn ai. Nàng không hề dành tình cảm đặc biệt cho bất kỳ nhân vật nào liên quan đến câu chuyện này. Trái tim nàng không hề thốt lên, "Ôi, chúa tể và phu quân của em!" hay "Ôi, người tình của em!" hoặc "Ôi, mẹ yêu, người bạn của thuở ấu thơ!" Nhưng nàng nhận thức rõ rằng vấn đề đáng suy ngẫm đã được đặt trước mặt, và nàng thực sự suy ngẫm. "Hãy gửi lời thăm hỏi của ta đến lãnh chúa Dumbello," nàng cất lời khi công việc gần như hoàn tất, "và nhắn với ngài ấy rằng ta sẽ rất vui nếu ngài ghé thăm khi ta đang dùng bữa sáng."

"Vâng, thưa phu nhân." Và rồi lời nhắn được chuyển về: "Lãnh chúa chắc chắn sẽ đến chỗ phu nhân."

"Gustavus," nàng cất lời ngay khi đã an vị đầy kín đáo trên chiếc ghế của mình, "em vừa nhận được bức thư từ mẹ, tốt hơn hết là anh nên đọc nó;" rồi nàng chìa văn bản ấy về phía chàng. "Em chẳng hiểu mình đã làm gì để phải hứng chịu những nghi kỵ như thế từ mẹ; nhưng bà ở tận miền quê, có lẽ đã bị những kẻ ác ý dối lừa. Dù sao thì anh cũng phải đọc nó, và bảo em phải xử trí ra sao."

Từ đây chúng ta có thể tiên lượng rằng cơ hội để ông Palliser tự đâm đầu vào tảng đá ngầm ấy là vô cùng mong manh, và bất chấp ý muốn của bản thân, ông sẽ được cứu vớt khỏi cơn thịnh nộ của người chú. Lãnh chúa Dumbello đón lấy bức thư và đọc nó rất chậm rãi, lưng quay về phía lò sưởi. Chàng đọc vô cùng chậm, và người vợ — dẫu chưa từng quay hẳn mặt về phía chồng — vẫn có thể nhận ra rằng sắc mặt chàng đỏ bừng lên, rằng chàng đang bấn loạn, mất kiềm chế và chẳng sẵn sàng đưa ra câu trả lời. Nàng thừa biết cách đối xử của chàng trong ba tháng qua đã thay đổi rất nhiều so với trước kia; rằng chàng trở nên cộc cằn hơn trong lời ăn tiếng nói khi chỉ có hai người, và kém phần lịch thiệp khi ở chốn đông người; nhưng nàng chưa từng phàn nàn hay thốt một lời để cho chàng thấy nàng đã nhận ra sự đổi thay ấy. Hơn nữa, nàng thừa biết nguyên nhân đằng sau thái độ khác thường của chồng, và sau khi suy tính kỹ càng, nàng đã tự nhủ sẽ vượt qua tất cả bằng hành động thực tế. Nàng đã tuyên bố với chính mình rằng nàng chưa từng làm việc gì hay thốt lời nào đủ để biện minh cho sự nghi kỵ, thế nên nàng sẽ chẳng thay đổi đường đi nước bước, cũng chẳng tỏ ra bản thân đang hay biết về việc bị hoài nghi. Nhưng giờ đây — khi lá thư của mẹ đang nằm trong tay — nàng có thể ép chàng phải đưa ra lời giải thích mà không cần để chàng nhận ra rằng nàng từng nghĩ chồng mình ghen tuông. Đối với nàng, bức thư của mẹ là một sự trợ giúp đắc lực. Nó đường đường chính chính mở ra một màn kịch như thế này và trao cho nàng cơ hội tự chiến đấu theo cách của riêng mình. Còn chuyện bỏ trốn cùng bất kỳ ông Palliser nào để rồi đánh mất chiếc ghế mà nàng đã nhọc công giành giật ư; — không đời nào! Nàng đã được gò vào khuôn khổ quá vững chắc để làm điều đó! Người mẹ, khi ôm ấp nỗi sợ hãi về một chủ đề ngớ ngẩn như thế, đã tự biến mình thành kẻ vô tri trước sự kiên cố trong tính cách của con gái.

"Nào, Gustavus," cuối cùng nàng cất tiếng. "Anh phải cho biết em nên đáp lại thế nào, hoặc có cần đáp lại hay không." Nhưng chàng vẫn chưa sẵn sàng để chỉ dẫn cho nàng. Thế là chàng mở bức thư ra và đọc lại một lần nữa, còn nàng thì tự rót cho mình một tách trà.

"Đó là một vấn đề vô cùng nghiêm trọng," chàng nói.

"Vâng, nó nghiêm trọng chứ; em không thể không nghĩ rằng một bức thư như thế từ mẹ mình là nghiêm trọng. Nếu nó xuất phát từ bất kỳ ai khác, em nghi ngờ liệu mình có làm phiền đến anh hay không; trừ phi, quả thật, đó là người có quan hệ cận kề với anh như mẹ đối với em. Đã vậy thì anh không thể không cảm thấy em hành động đúng."

"Đúng chứ! Ồ vâng, em đúng — hoàn toàn đúng khi nói cho anh biết; em nên kể cho anh mọi chuyện. Chết tiệt bọn chúng!" Nhưng hắn định nguyền rủa ai thì lại không giải thích rõ.

"Trên hết thảy, em vô cùng ái ngại khi gây rắc rối cho anh," nàng nói. "Gần đây em có để ý thấy một vài chuyện nhỏ..."

"Hắn ta từng nói gì với em chưa?"

"Ai cơ,—ông Palliser ấy á? Chưa từng nửa lời."

"Hắn chưa từng ám chỉ điều gì đại loại thế này sao?"

"Chưa từng nửa lời. Nếu hắn dám làm thế, em đã phải khiến anh hiểu rằng hắn không đời nào được phép đặt chân vào phòng khách nhà chúng ta một lần nữa." Rồi chàng lại đọc bức thư thêm lần nữa, hoặc ít ra là làm bộ như thế.

"Mẹ em có thiện ý," chàng nói.

"Ồ vâng, bà có thiện ý. Bà đã quá dại dột khi tin vào những lời ong tiếng ve đến tai mình — thật quá dại dột khi ép em phải mang lại phiền toái này cho anh."

"À, về chuyện đó thì anh không phiền đâu. Thề có Chúa, không hề. Nào, Griselda, chúng ta hãy phơi bày tất cả đi; thiên hạ đã xì xào và anh từng rất bất hạnh. Giờ thì em biết tất cả rồi đấy."

"Em đã làm anh bất hạnh sao?"

"À, không; không phải em. Đừng cay nghiệt với anh khi anh nói ra toàn bộ sự thật. Những kẻ ngốc nghếch và đần độn đã thì thầm những điều khiến anh chướng tai. Chúng có thể thì thầm cho đến khi quỷ tha ma bắt, nhưng đừng hòng chúng làm anh bực mình thêm lần nữa. Lại đây hôn anh nào, cô bé." Và chàng thực sự dang tay ôm lấy nàng. "Hãy viết một bức thư nhã nhặn cho mẹ em, mời bà lên chơi một tuần vào tháng Năm. Thế là tốt nhất; rồi bà sẽ hiểu ra mọi chuyện. Thật tình, mười hai giờ rồi. Tạm biệt em."

Phu nhân Dumbello thừa hiểu rằng nàng đã chiến thắng, và bức thư của mẹ quả là vô giá đối với nàng. Nhưng nó đã hoàn thành sứ mệnh nên nàng không thèm đọc lại lần nữa. Nàng thong thả thưởng thức bữa sáng trong sự thoải mái tĩnh lặng, lướt qua một tờ quảng cáo thời trang bằng tiếng Pháp của thợ may; và rồi, khi thời điểm cho công việc ấy đã chín muồi, nàng tiến tới bàn viết để đáp thư mẹ.

Mẹ yêu dấu,

Con nghĩ tốt nhất là nên đem bức thư của mẹ cho lãnh chúa Dumbello xem ngay lập tức. Chàng bảo rằng thiên hạ vốn hay ác ý, và dường như cho rằng việc những lời đồn đại kiểu đó xuất hiện là điều không thể tránh khỏi. Về phần mẹ, chàng chẳng giận chút nào, ngược lại còn bảo rằng hay là bố và mẹ qua chỗ chúng con chơi một tuần vào khoảng cuối tháng sau nhé. Nhất định phải đến đấy mẹ nhé. Chúng con sắp có một buổi tiệc tối khá đông khách vào ngày 23. Hoàng tử điện hạ sẽ quang lâm, và con nghĩ bố sẽ rất thích được diện kiến ngài. Mẹ có để ý thấy những chiếc mũ chóp thật cao ấy đã lỗi mốt hết rồi không? Con chưa từng thích chúng; và vì nhận được một gợi ý từ Paris, con đang cố hết sức để dẹp bỏ chúng đây. Con rất hy vọng không có điều gì ngăn cản chuyến đi của mẹ.

Đứa con gái yêu của mẹ,

G. Dumbello.

Carlton Gardens, Thứ Tư.

Phu nhân Grantly nhận ra ngay từ khoảnh khắc cầm bức thư trên tay rằng bà đã trách oan con gái bằng những mối hoài nghi của mình. Bà không hề mảy may nghĩ đến chuyện hoài nghi bất kỳ câu chữ nào được viết trong thư, hay bất kỳ ẩn ý nào đằng sau đó. Bà đã sai, và bà vui mừng vì điều đó. Thế nhưng, trong bức thư vẫn có những điều khiến bà chướng tai gai mắt và bực bội, dẫu bà chẳng tài nào cắt nghĩa được nguyên nhân sâu xa của sự khó chịu ấy. Bà đã trút hết tâm can vào những dòng chữ mình viết, nhưng trong những con chữ do chính con gái bà cất bút lại chẳng tìm thấy lấy một vệt hình bóng của trái tim. Trong nỗ lực dung hòa giữa Chúa và Mammon mà phu nhân Grantly từng thực hiện vô cùng suôn sẻ trong việc nuôi dạy con gái, cơ quan cảm xúc ấy đã không còn được trọng dụng, và dần trở nên khô cạn, nếu không muốn nói là lụi tàn vì thiếu đi sự tôi luyện.

"Tôi nghĩ chúng ta sẽ không đến đó đâu," phu nhân Grantly cất lời nói với chồng.

"Ồ chắc chắn rồi, dĩ nhiên là không. Nếu bà thực sự muốn đến thủ đô, tôi sẽ thuê phòng cho bà. Còn về phần Hoàng tử điện hạ —! Tôi vô cùng kính trọng Hoàng tử điện hạ, nhưng tôi hoàn toàn chẳng có lấy một chút ham muốn nào được diện kiến ngài tại bàn ăn nhà Dumbello cả."

Và thế là vấn đề đã được định đoạt, ít nhất là đối với các cư dân của Plumstead Episcopi.

Còn lãnh chúa Dumbello đã phóng đi đâu khi rời khỏi phòng vợ trong một vẻ vội vã đến thế vào lúc mười hai giờ? Không phải Công viên, không phải trường đua Tattersall, chẳng phải phòng họp của Hạ Viện, cũng không phải chiếc cửa sổ lồi tại câu lạc bộ của ngài. Mà ngài tiến thẳng đến một tiệm kim hoàn lớn trên phố Ludgate-hill, và tậu về một chiếc vòng cổ bằng ngọc lục bảo tuyệt đẹp, vô cùng hiếm có và lạ mắt, nặng trĩu những hạt ngọc xanh lấp lánh, với ba hàng đá quý xanh ngời khảm trong lớp vàng nguyên chất — một chiếc vòng nặng nề và bề thế chẳng khác gì một chiếc áo giáp đính ngọc. Nó từng góp mặt trong tất cả các cuộc triển lãm, vô cùng đắt đỏ và tráng lệ. Khi phu nhân Dumbello vẫn đang chải chuốt y phục vào buổi tối, món quà này đã được dâng lên cùng với tình cảm của đức lang quân, như một minh chứng cho niềm tin đã được vãn hồi; và phu nhân Dumbello, trong lúc đếm từng tia sáng lấp lánh, đã thầm đắc thắng trong lòng, tự nhủ rằng nàng đã chơi những quân bài của mình quá ư xuất sắc.

Nhưng trong lúc nàng đếm những tia sáng phát ra từ cuộc hòa giải trọn vẹn với đức lang quân, tội nghiệp Plantagenet Palliser vẫn đang run rẩy trong sự u muội. Giá như ông được phép đọc bức thư của phu nhân Grantly, cùng bức hồi âm của nàng, và món quà của ngài nam tước! Nhưng chẳng có sự ân chuẩn nào dành cho ông, và ông bị tống lên chiếc xe brougham để chở thẳng đến dinh thự của phu nhân De Courcy, tâm trí thấp thỏm vì thứ tình yêu đang chờ đón, và run rẩy trước viễn cảnh lụi tàn cận kề. Dù sao đi nữa, ông đã đi đến kết luận này: nếu có chuyện gì cần làm, thì phải làm ngay bây giờ. Ông sẽ cất lên một lời tình ái, và định đoạt tương lai tùy theo sự đón nhận của nàng.

Các phòng khách của phu nhân De Courcy vô cùng đông đúc khi ông đặt chân tới. Đó là buổi tiệc chen chúc lớn đầu tiên trong mùa, và toàn bộ giới thượng lưu đã tề tựu tại quảng trường Portman. Phu nhân De Courcy đang mỉm cười tựa hồ như chúa tể của bà chẳng hề rụng chiếc răng nào, tựa hồ như tình trạng của đứa con trai trưởng vẫn vô cùng hạnh phúc, và mọi thứ dưới chướng nhà De Courcy đều đang xuôi chèo mát mái. Phu nhân Margaretta đứng ngay phía sau bà, mặt mày nhã nhặn bề ngoài nhưng cay đắng trong dạ; và phu nhân Rosina cũng đứng ở một góc xa hơn, đã hòa giải với những thói phù phiếm và trang sức phù hoa của cõi trần này đơn giản vì bữa tiệc sẽ chẳng có màn khiêu vũ nào. Những người con gái đã có chồng của gia tộc cũng có mặt ở đó, chật vật duy trì vị thế dựa trên dòng dõi danh giá không thể chối cãi của họ, nhưng vẫn phải chịu đựng đôi chút rẻ rúng bởi hoàn cảnh kinh tế eo hẹp thực tế. Gazebee có mặt ở đây, ngập tràn hạnh phúc trong thực tế rành rành về mối quan hệ thông gia với một vị bá tước, đồng thời tận hưởng niềm vinh hạnh được đối xử như một người con rể của bá tước. Và Crosbie cũng hiện diện trong những gian phòng ấy — ngài có mặt ở đó, dẫu từng tự thề với lòng sẽ không bao giờ chầu chực bám gót nữ bá tước nữa, và sẽ dứt áo ra đi khỏi vũng lầy khốn khổ của gia đình này. Nhưng nếu từ bỏ họ cùng lối sống của họ, ông sẽ còn lại gì? Thế nên ông vẫn đến, giờ đây đứng thui thủi một góc với vẻ mặt cau có, tự nhủ rằng vạn vật trên đời chỉ là phù vân. Phải; đối với những kẻ phù phiếm, mọi thứ sẽ hóa hư không; và đối với những trái tim nghèo nàn, mọi thứ sẽ trở nên nghèo nàn.

Phu nhân Dumbello có mặt trong một gian phòng nhỏ phía trong, an vị trên chiếc ghế dài được đưa đến từ khi nàng mới đặt chân tới dinh thự, và nàng sẽ ngồi đó cho đến lúc ra đi. Thỉnh thoảng, một nhân vật vô cùng quý tộc hoặc có địa vị cao sang sẽ bước đến trao đổi vài lời, và nàng sẽ đáp lại nhân vật cao quý ấy bằng một câu ngắn gọn; nhưng chẳng một ai dám bén mảng thực hiện nhiệm vụ trò chuyện với nàng. Người ta ngầm hiểu rằng phu nhân Dumbello không bao giờ trò chuyện — ngoại trừ thỉnh thoảng với ông Palliser.

Nàng thừa biết ông Palliser sẽ gặp mình ở đây. Ông từng nói thẳng với nàng điều đó sau khi cất công dò hỏi với vẻ đầy quan tâm xem nàng có định tuân theo lời mời của nữ bá tước hay không. "Có lẽ tôi sẽ có mặt," nàng đã đáp thế, và giờ đây đã quyết định rằng bức thư của mẹ cùng cách cư xử của chồng sẽ không khiến nàng nuốt lời. Nếu ông Palliser dám "quên mình", nàng sẽ biết cách dạy cho ông ta một bài học giống như cách nàng từng làm với chồng mình. Quên mình! Nàng hoàn toàn chắc chắn rằng ông Palliser đã nung nấu ý định quên mình từ vài tháng qua rồi.

Ông đã đến bên nàng, đứng sững ở đó và nhìn nàng bằng ánh mắt chất chứa biết bao điều không thể diễn tả bằng lời. Tuy nhiên, những điều không thể diễn tả ấy lại được truyền tải theo cách không buộc vị phu nhân phải lên tiếng chú ý. Ông không hề thở dài hắt ra như lò luyện than, chẳng trợn tròn mắt nhìn nàng cứ như thể trên vòm trời kia có đến hai vầng thái dương, cũng chẳng đấm ngực hay dứt tóc bứt tai. Ông Palliser được nuôi dưỡng trong một nền giáo dục tôn sùng sự điềm đạm, chưa từng cho phép bản thân rơi vào trạng thái cao cả hay lố bịch. Quả thật ông có ném ra một hai ánh nhìn không thốt thành lời; nhưng ông thực hiện nó với một đôi mắt đúng mực đến mức vị phu nhân — kẻ đang dùng thước đo tỉ mỉ từng chút một — vẫn chưa thể tuyên bố rằng ông Palliser đã "quên mình".

Vẫn còn chỗ trống cạnh nàng trên chiếc ghế dài, và đôi ba lần ở Hartlebury, ông từng đánh bạo ngồi xuống đó. Tuy nhiên, trong dịp này, ông không thể làm thế mà không giẫm lên tà váy của nàng một cách rành rành. Nàng thừa biết cách chiếm trọn một chiếc ghế dài còn lớn hơn thế — cũng như thừa biết cách nhường chỗ — nếu đó là ý muốn của nàng. Thế là ông đành đứng chết trân ở đó, còn nàng thì mỉm cười với ông. Một nụ cười như thế! Nó lạnh lẽo tựa tử thi, chẳng nịnh nót ai, chẳng nói lên điều gì, gớm ghiếc trong thứ vẻ duyên dáng vô hồn và giả tạo. Hả! Sao mà tôi căm ghét nụ cười của một người phụ nữ cười theo phản xạ đến thế! Nó khiến ông Palliser cảm thấy vô cùng bức bối — nhưng ông chẳng thèm phân tích nó mà vẫn tiếp tục kiên trì.

"Phu nhân Dumbello," ông cất giọng vô cùng trầm khàn, "tôi đã rất mong mỏi được gặp lại cô ở đây."

"Vậy sao, thưa ông Palliser? Vâng; tôi nhớ ông từng hỏi liệu tôi có đến hay không."

"Tôi có hỏi. Hừm — phu nhân Dumbello!" và ông suýt chút nữa đã vượt qua lằn ranh của nền giáo dục từng dạy ông phải né tránh cả sự cao cả lẫn lố bịch. Nhưng ông vẫn chưa quên mình, thế nên nàng lại mỉm cười.

"Phu nhân Dumbello, trong cái thế giới mà chúng ta đang sống này, thật khó lòng kiếm nổi một khoảnh khắc để có thể trò chuyện." Ông từng đinh ninh rằng nàng sẽ dịch chuyển tà váy, nhưng nàng không hề làm thế.

"Ồ, tôi không biết nữa," nàng đáp; "tôi nghĩ người ta hiếm khi muốn nói điều gì quá dài dòng."

"À, vâng; có lẽ là hiếm khi. Nhưng khi người ta thực sự muốn! Sao mà tôi căm ghét những căn phòng đông đúc thế này!" Thế nhưng, khi ở Hartlebury, ông từng tự nhủ rằng mảnh đất duy nhất dành cho ông chính là phòng khách đông nghịt của một dinh thự đồ sộ nào đó ở Luân Đôn. "Tôi tự hỏi liệu cô có bao giờ khao khát điều gì vượt qua khỏi chúng không?"

"Ồ, có chứ," nàng đáp; "nhưng tôi thú nhận rằng mình rất thích những buổi tiệc tùng."

Ông Palliser đảo mắt nhìn quanh và nghĩ rằng mình không bị ai chú ý. Ông đã hạ quyết tâm về việc phải làm và quyết định sẽ hành động đến cùng. Trong người ông không hề có thứ bản lĩnh giúp đàn ông tán tỉnh và cưa đổ người trong mộng chỉ trong tích tắc, nhưng ông lại có sự gan lợn đủ để tự biến mình thành kẻ đáng khinh trong mắt chính mình nếu bỏ dở mục tiêu mà ông đã tuyên thệ thực hiện. Ông thà ngồi xuống để bày tỏ hơn, nhưng faute de mieux — ngặt nỗi không có lấy một chỗ ngồi — ông đành chọn cách đứng vậy.

"Griselda," ông cất lời — và phải thừa nhận rằng giọng điệu của ông không tệ chút nào. Từ ấy nhẹ nhàng lướt vào tai nàng, tựa như làn mưa phùn rơi trên thảm rêu, và chẳng lọt vào bất kỳ đôi tai nào khác. "Griselda!"

"Thưa ông Palliser!" nàng đáp lại; — và dẫu nàng không hề làm lớn chuyện, dẫu nàng chỉ khẽ liếc về phía ông một bận, ông vẫn nhận ra mình đã sai.

"Tôi không được phép gọi cô như thế sao?"

"Hoàn toàn không. Phiền ông xem hộ xe của tôi đã tới chưa?" Khi thốt ra mệnh lệnh đó, nàng lại liếc nhìn ông một lần nữa, và rồi ông buộc phải tuân lệnh.

Lúc ông quay lại, nàng đã rời khỏi chỗ ngồi; nhưng ông nghe thấy tên nàng được xướng lên trên cầu thang và kịp bắt lấy bóng lưng duyên dáng của nàng đang uyển chuyển rẽ qua đám đông. Ông chẳng bao giờ dám tơ tưởng đến chuyện tán tỉnh nàng thêm một lần nào nữa, qua đó phũ phàng dập tắt mọi hy vọng của phu nhân De Courcy, phu nhân Proudie và phu nhân Clandidlem.

Bởi tôi muốn những ai quan tâm đến vận mệnh của ông Palliser được tường tận kết cục của cuộc phiêu lưu này, và vì chúng ta không có đủ không gian để quay lại với các rắc rối của ông trong tiểu thuyết ngắn ngủi này, có lẽ tôi xin phép được tiến nhanh về phía trước để thuật lại những gì Vận Mệnh đã ban phước cho ông trước khi mùa xã giao ở Luân Đôn hạ màn. Ai cũng biết rằng vào mùa xuân ấy, tiểu thư Glencora MacCluskie đã chính thức bước ra xã hội, và hiển nhiên ai cũng rõ với tư cách là đứa con duy nhất của cố Lãnh chúa xứ Isles, nàng chính là tiểu thư thừa kế giàu có bậc nhất thời đại. Quả thật, quyền sở hữu thế tập các vùng Skye, Staffa, Mull, Arran và Bute cùng tước hiệu đã thuộc về Hầu tước xứ Auldreekie, đi kèm các hạt Caithness và Ross-shire. Nhưng tài sản ở Fife, Aberdeen, Perth và Kincardine-shire — bao gồm phần lớn diện tích các hạt ấy — cùng các mỏ than ở Lanark, cùng sản nghiệp khổng lồ nằm bên trong thành phố Glasgow đều là tài sản không bị ràng buộc thế tập, và chúng thuộc về tiểu thư Glencora. Nàng là một thiếu nữ có nước da trắng ngần, đôi mắt xanh sáng rực cùng mái tóc vàng hoe gợn sóng ngắn, nhìn vô cùng dịu mắt. Tiểu thư Glencora có vóc dáng nhỏ nhắn, và gương mặt tròn trịa phúc hậu của nàng có lẽ thiếu đi chút nét kiêu sa bậc nhất của người phụ nữ. Nhưng trên môi nàng luôn trực sẵn một nụ cười ngắm nhìn vô cùng dễ chịu; và sự nhiệt tình mãnh liệt mà nàng dành cho việc khiêu vũ, trò chuyện cùng mọi trò giải trí được bày ra trước mắt thực sự vô cùng cuốn hút. Con ngựa nàng cưỡi mới đáng yêu làm sao — ôi, nàng yêu nó biết nhường nào! Và nàng còn nuôi một chú chó nhỏ cũng đáng yêu chẳng kém gì con ngựa. Người bạn thuở thanh xuân của nàng, Sabrina Scott — ôi, một cô gái tuyệt vời làm sao! Và người anh họ của nàng, vị tiểu lãnh chúa xứ Isles trẻ tuổi, người thừa kế của hầu tước, khôi ngô đến mức nàng cứ chực lao vào ôm hôn mãi không thôi. Đáng tiếc là cậu nhóc mới chỉ lên sáu, thế nên gần như chẳng có chút hy vọng nào để gộp chung các khối tài sản lại với nhau cả.

Nhưng tiểu thư Glencora, dẫu vô cùng duyên dáng, ngay trong những bước chân đầu tiên bước ra thế giới này cũng đã mang lại nỗi bất an tột độ cho bạn bè, đồng thời khiến Hầu tước xứ Auldreekie suýt phát cuồng vì hoảng loạn. Có một gã đàn ông đẹp trai khủng khiếp thường lang thang khắp chốn thượng lưu, kẻ đã nướng sạch từng xu mà bất kỳ ai chịu cho hắn vay mượn, một kẻ nghiện rượu nặng, kẻ được biết tiếng nhưng chẳng ai dám tin tưởng tại Newmarket, kẻ đồn đại là nhúng chàm vào mọi thói hư tật xấu, kẻ mà ngay cả cha ruột cũng từ mặt — và tiểu thư Glencora chưa bao giờ chán nhảy nhót với gã đó. Có buổi sáng, nàng từng trừng mắt tuyên bố với người bác họ là ngầu hầu tước — vì đôi mắt xanh tròn xoe ấy có lúc sắc lẹm đến lạ kỳ — rằng Burgo Fitzgerald là kẻ đáng thương hơn là đáng trách. Ôi chao, một vị bá tước giám hộ đang lo lắng cho số phận tài sản gia tộc thì phải làm sao trước hoàn cảnh thế này đây?

Nhưng trước khi mùa xã giao kết thúc, cả hầu tước lẫn ngài công tước đều đã trở thành những người hạnh phúc, và chúng ta hãy hy vọng rằng tiểu thư Glencora cũng cảm thấy mãn nguyện. Ông Plantagenet Palliser đã khiêu vũ với nàng hai lần và thổ lộ tâm tư của mình. Ông có một buổi diện kiến với ngài hầu tước, mang lại kết quả vô cùng mĩ mãn, và mọi thứ đã được định đoạt. Không còn nghi ngờ gì nữa, Glencora đã kể cho ông nghe cách nàng từng nhận chiếc nhẫn vàng trơn từ tay Burgo Fitzgerald rồi trả lại thế nào; nhưng tôi hoài nghi liệu nàng có bao giờ tiết lộ về lọn tóc vàng gợn sóng mà Burgo vẫn cất giữ trong chiếc tráp chứa đầy những kỷ vật tương tự hay không.

"Plantagenet," ngài công tước cất lời với sự nồng hậu chưa từng có, "trong chuyện này, cũng như trong mọi việc khác, cháu đã chứng tỏ bản thân là hiện thân của tất cả những gì ta hằng mong ước. Ta đã nói với ngài hầu tước rằng Tu viện Matching, cùng toàn bộ điền trang, sẽ được bàn giao ngay lập tức cho cháu. Đó là dinh thự đồng quê thoải mái nhất mà ta từng biết. Glencora sẽ nhận được The Horns làm quà cưới."

Nhưng niềm vui sướng chân thành và bộc trực của ông Fothergill mới là điều khiến ông Palliser hài lòng nhất. Người thừa kế của gia tộc Palliser đã hoàn thành trọn vẹn bổn phận, và ông Fothergill chính là một người đàn ông hạnh phúc thật lòng.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Anthony Trollope

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.