Crosbie có hai cuộc hẹn trong ngày hôm đó; một là công việc thường lệ tại văn phòng, và cuộc hẹn thứ hai, vốn ngày càng trở thành một thói quen không kém phần tự nhiên, là đến dùng bữa tối tại St. John's Wood với phu nhân Amelia Gazebee. Khi soi gương, anh thấy rõ ràng rằng mình chẳng thể đến dự nổi cuộc hẹn nào trong hai cuộc hẹn ấy. "Ôi lạy Chúa, anh Crosbie," người chủ nhà thốt lên khi nhìn thấy anh.
"Vâng, tôi biết chứ," anh đáp. "Tôi vừa gặp một tai nạn và bị bầm một bên mắt. Có cách nào chữa nhanh không nhỉ?"
"Ôi trời! Tai nạn cơ à!" người phụ nữ thốt lên; bà thừa biết vết thương đó là do nện gấm đấm của một gã đàn ông khác gây ra. "Người ta vẫn bảo một miếng thịt bò sống là cách chữa tốt nhất đấy ạ. Nhưng ngặt một nỗi là phải áp nó liên tục suốt cả buổi sáng."
Bất kỳ phương pháp nào cũng tốt hơn việc dùng đỉa, bởi loài vật này thường để lại những dấu vết lâu lành, thế là suốt phần lớn buổi sáng, Crosbie đành ngồi áp miếng thịt bò sống lên mắt mình. Dù vậy, anh vẫn phải viết hai bức thư ngắn trong lúc đang giữ miếng thịt: một gửi cho ông Butterwell ở cơ quan, và bức kia gửi cho người chị vợ tương lai của mình. Anh cảm thấy việc cố gắng che giấu hoàn toàn bản chất của tai nạn này là không khôn ngoan cho lắm, bởi chắc chắn một vài chi tiết rồi sẽ bị lộ ra ngoài. Nếu anh bảo rằng mình vấp phải sọt đựng than hoặc ngã vào chắn lò sưởi khiến mặt bị rách, mọi người sẽ biết anh đang nói dối, và từ đó cũng hiểu rằng anh có động cơ để làm điều đó. Vì thế, anh đã chọn lọc câu chữ sao cho bức thư không bị bó buộc vào bất kỳ chi tiết cụ thể nào. Trong thư gửi Butterwell, anh thông báo rằng mình gặp tai nạn – hay đúng hơn là một cuộc xô xát – và hậu quả là mặt tiền bị tổn hại nặng nề. Anh dự định sẽ có mặt ở văn phòng vào ngày mai, dù có diện kiến được người ta hay không. Nhưng vì phép lịch sự tối thiểu, anh nghĩ cũng nên tự cho mình cơ hội nghỉ ngơi nửa ngày. Tiếp đó, anh cũng nhắn với phu nhân Amelia rằng mình gặp một tai nạn nhỏ và bị đau nhẹ. "Chẳng có gì nghiêm trọng cả, chỉ ảnh hưởng đến diện mạo bên ngoài thôi, nên tốt nhất tôi xin phép ở nhà một ngày. Tôi chắc chắn sẽ sang với em vào Chủ nhật. Đừng để anh Gazebee nhọc công đến thăm tôi, vì qua ngày hôm nay là tôi không còn ở nhà nữa." Gazebee thường hay lặn lội đến tận phố Mount, hơn nữa phố South Audley – nơi đặt văn phòng của ông ta – lại nằm quá gần phố Mount một cách bất tiện, nên Crosbie cố tình viết câu này để tự bảo vệ mình nếu có thể. Sau đó, anh dứt khoát ra lệnh rằng sẽ không tiếp bất kỳ vị khách nào, bởi anh sợ Gazebee sẽ ghé qua sau giờ làm việc để đón thốc anh đi bằng được đến St. John's Wood.
Miếng bít-tết, liều thuốc uống cùng lớp gạc đắp nước lạnh duy trì suốt cả đêm đã không mang lại hiệu quả trong việc xua tan cái màu xanh đen đáng sợ ấy khi đồng hồ điểm mười giờ sáng hôm sau.
"Nó có xẹp xuống đấy chứ, thưa anh Crosbie; có xẹp thật mà," bà chủ nhà vừa nói vừa dùng ngón tay chạm vào chỗ bị thương. "Nhưng cái màu đen thì không thể biến mất ngay trong một sớm một chiều được đâu ạ; thật đấy. Hay anh cứ ở nhà thêm một ngày nữa đi?"
"Nhưng liệu một ngày có đủ không, bà Phillips?"
Bà Phillips không dám chắc chắn điều đó. "Thường thì trước khi biến mất, chúng sẽ xuất hiện những lằn đỏ nhỏ đè lên vết thâm," bà Phillips nói, nghe qua có lẽ chồng bà là một võ sĩ quyền Anh, bởi bà tỏ ra quá rành rẽ về những cú đấm thâm tím mắt.
"Và chuyện đó thì phải đến ngày mai mới có," Crosbie nói, cố tỏ ra vui vẻ trong cơn đau đớn.
"Phải đến ngày thứ ba cơ;—rồi sau đó chúng mới mờ dần đi theo thời gian. Tôi chưa từng thấy con đỉa nào mang lại kết quả tốt cả."
Anh ở nhà suốt ngày thứ hai, rồi quyết định sẽ đến văn phòng vào ngày hôm sau, mặc cho con mắt thâm quìu quọ. Ngay trong tờ báo buổi sáng hôm đó, anh đọc được một bài viết tường thuật toàn bộ sự việc, kể rằng ông C—— thuộc Ủy ban Tổng hợp, người sắp sửa tiến bước lên lễ đường thành hôn với cô con gái xinh đẹp của Bá tước De C——, đã trở thành nạn nhân của một vụ hành hung dã man ngay trên sân ga xe lửa Great Western, và hiện đang phải giam mình trong phòng vì những thương tích vừa gác phải. Bài báo tiếp tục thuật lại rằng kẻ thủ ác, theo người ta tin là vậy, đã dám tơ tưởng đến cùng một vị tiểu thư ấy, và sự hỗn xược của y đã vấp phải sự khinh bỉ tột cùng từ mọi thành viên trong dòng dõi quý tộc kia. "Tuy nhiên, thật đáng mừng khi biết rằng," tờ báo viết tiếp, "ông C—— đã trả thù một cách thích đáng, và nện cho gã thanh niên kia một trận nhừ tử đến mức y không thể nhấc mình nổi khỏi giường kể từ sau vụ việc."
Đọc đến đây, Crosbie cảm thấy thà rằng mình cứ xuất hiện ngay lập tức và kể ra phần nào sự thật còn hơn để thiên hạ tự suy đoán những điều chẳng hay ho. Thế là vào sáng ngày thứ ba ấy, anh đội mũ, đeo găng tay và thuê xe đến sở, dẫu cho cái giai đoạn xuất hiện những lằn đỏ của vận rủi xem chừng vẫn chưa đến. Cảnh tượng phải lê bước dọc theo hành lang văn phòng, đi qua phòng chờ của các nhân viên đưa thư rồi bước vào phòng làm việc mới khó chịu làm sao. Dĩ nhiên là ai nấy đều dán mắt vào anh, và dĩ nhiên là anh đã thất bại trong nỗ lực ra vẻ như mình chẳng bận tâm điều đó. "Boggs," anh gọi một nhân viên khi đi ngang qua, "cậu xem thử ông Butterwell đã có mặt ở phòng làm việc chưa," và rồi, đúng như anh dự đoán, ông Butterwell đã bước sang phòng anh chỉ sau vài phút.
"Nói thật chứ, trông nghiêm trọng phết đấy," ông Butterwell vừa nói vừa nhìn vào gương mặt bầm dập của viên thư ký. "Nếu là tôi, chắc tôi chẳng dám ló mặt ra đường."
Crosbie đáp: "Dĩ nhiên là khó chịu rồi; nhưng thà chịu đựng còn hơn. Bọn họ cứ thêu dệt những câu chuyện gớm ghiếc nếu một người không ló mặt ra ngoài trong một hoặc hai ngày. Tôi nghĩ tốt nhất là cứ đường hoàng đối mặt với nó."
"Cậu làm thế được chắc, hở Crosbie?" Rồi ông Butterwell khúc khích cười. "Mà sao chuyện đó lại xảy ra được cơ chứ? Báo chí viết rằng cậu đã nện cho gã kia một trận nhừ tử cơ mà."
"Báo chí toàn nói láo, như mọi khi thôi. Tôi có chạm vào người hắn đâu."
"Thế à? Chứ tôi mà ăn một cú đấm trời giáng vào mặt thế chắc tôi phải cho hắn một đòn tạ ơn rồi."
"Cảnh sát đến, rồi bao nhiêu thứ khác nữa. Người ta đâu có cho phép giải quyết bằng ẩu đả trong kiểu tình huống đó như thể đang đánh nhau trên đồng hoang Salisbury. Không phải là tôi tự nhận mình có thể đánh gục được gã đó đâu nhé. Ai mà biết trước được mình có thắng nổi hay không cơ chứ?"
"Biết sao được cơ chứ, trừ khi nếm đòn—hoặc cho kẻ khác ăn đòn? Mà hắn ta là ai thế, còn chuyện hắn bị gia đình quý tộc khinh miệt là sao?"
"Toàn chuyện nhảm nhí và bị đặt cả thôi. Hắn thậm chí còn chưa từng gặp mặt ai trong gia đình nhà De Courcy nữa là."
"Tôi đoán sự tình là vì chuyện người kia—phải không, Crosbie? Tôi biết ngay là cậu thể nào cũng vướng vào rắc rối trước khi mọi chuyện ngã ngũ mà."
"Tôi chịu chẳng biết chuyện đó bắt nguồn từ đâu, hay tại sao hắn lại cư xử thô lỗ như một con thú hoang như thế. Cậu có nghe về những con người ở Allington đó chứ?"
"À, rồi; tôi có nghe nói về họ."
"Chúa biết là tôi không hề có ý định nói xấu gì họ đâu. Họ chẳng biết gì về chuyện này cả."
"Nhưng chàng thanh niên kia biết họ chứ? À, vâng, tôi hiểu đầu đuôi rồi. Hắn ta muốn nhảy vào thế chỗ của cậu đây mà. Không thể chê cách hắn ra tay được. Thế giờ cậu định tính sao?"
"Chẳng làm gì cả."
"Chẳng làm gì á! Trông có kỳ cục quá không? Nếu là tôi, thể nào tôi cũng lôi cổ hắn ra tòa án cho bằng được."
"Cậu thấy đấy, Butterwell, tôi buộc phải bảo vệ danh dự của cô ấy. Tôi thừa nhận mình đã hành xử tồi tệ."
"À, vâng; tôi e là cậu đã cư xử như thế thật."
Ông Butterwell thốt lên câu này với giọng điệu vô cùng quả quyết, như thể ông chẳng có ý định uốn lưỡi cúi đầu hay tìm cách che giấu quan điểm của mình. Crosbie vốn đã tự phán xét bản thân trong vụ hôn sự này, nhưng anh rất mong những người khác khi nghe anh tự trách mình như vậy thì hãy nói đôi lời vớt vát để giảm nhẹ lỗi lầm cho anh. Thật dễ dàng làm sao nếu một người bạn cất lời rằng những lỗi lầm nhỏ nhặt kiểu đó không phải là điều gì quá hiếm hoi, và trong cuộc sống đôi khi con người ta chẳng thể hiểu nổi chính mình. Anh từng hy vọng nhận được sự rộng lượng ấy từ Fowler Pratter, nhưng rồi chỉ hoài công vô ích. Butterwell là một người dễ tính, xởi lởi, luôn muốn giữ mối quan hệ tốt đẹp với tất cả mọi người xung quanh, chưa bao giờ giả vờ ra vẻ cao ngạo về mặt tình cảm hay đạo đức; thế mà giờ đây, ngay cả Butterwell cũng chẳng thốt nổi một lời an ủi dành cho anh. Anh chẳng thể tìm được ai đứng ra che đậy tội lỗi hộ mình, coi đó như thể chẳng phải tội lầm gì ghê gớm—mà chỉ là một sự nhầm lẫn bất hạnh; chẳng ai cả, ngoại trừ nhà De Courcy, những kẻ đã đường hoàng bước vào đời anh và nuốt chửng lấy anh sống để.
"Giờ thì chẳng cứu vãn gì được nữa rồi," Crosbie nói. "Nhưng còn cái tên đã vô cớ tấn công tôi một cách dã man vào sáng hôm ấy, hắn biết rõ rằng mình đang được che chở an toàn đằng sau lớp váy vóc của phụ nữ. Tôi chẳng thể làm gì mà không vô tình nhắc đến tên tuổi của cô ấy cả."
"À, vâng; tôi hiểu rồi," Butterwell nói. "Thật là một chuyện vô cùng bất hạnh; quá bất hạnh. Tôi không biết mình có thể giúp gì cho cậu không. Hôm nay cậu có dự phiên họp của Hội đồng không?"
"Có chứ; dĩ nhiên là tôi sẽ dự," Crosbie đáp, cảm thấy vô cùng nhức nhối. Thính giác nhạy bén đã mách bảo anh rằng toàn bộ sự tôn trọng và niềm nở của Butterwell đã biến mất—ít ra là trong lúc này. Dù giữ chức vụ cao hơn về mặt hành chính, Butterwell từ trước đến nay vẫn luôn quen cư xử như thể người cấp dưới là anh mới là kẻ cần được nịnh bợ. Bản thân anh từng sở hữu, và thừa biết mình sở hữu, cả trong nội bộ cơ quan lẫn ngoài xã hội, một thứ địa vị cao hơn rất nhiều so với những gì chiếc ghế chính thức mang lại. Thế nhưng giờ đây, anh đang bị phế truất. Chẳng có chiếc hàn lượng kế nào đo lường chuẩn xác hơn Butterwell trong một hoàn cảnh như thế này. Ông ta sẽ thuận theo chiều gió của thế gian, và bằng trực giác, ông ta có thể ngửi thấy hướng đi sắp tới của thời cuộc. "Khéo léo, khéo léo, khéo léo," ông vẫn thường tự nhẩm trong đầu khi đi dạo trong khuôn viên dinh thự ở Putney của mình. Crosbie giờ đây là thư ký, trong khi vài tháng trước anh chỉ là một nhân viên bình thường; thế nhưng, bản năng của ông Butterwell vẫn thì thầm rằng Crosbie đã thất thế. Vì thế, ông từ chối bày tỏ sự đồng cảm với anh trong cơn hoạn nạn, và tự hiểu rằng khi bước ra khỏi phòng làm việc của viên thư ký, có lẽ phải một thời gian dài nữa ông mới quay lại nơi này.
Trong niềm cay đắng, Crosbie tự nhủ rằng từ nay về sau anh sẽ trơ trẽn đối mặt với tất cả. Anh sẽ đến dự họp Hội đồng với vẻ dửng dưng hết mức có thể trước vết bầm trên mắt, và nếu bất kỳ ai dám hoạnh họe, anh sẽ sẵn sàng đáp trả. Anh sẽ đến câu lạc bộ của mình, và kẻ nào dám tỏ thái độ khinh suất với anh hãy cẩn thận cái bờm sư tử đang nổi giận này. Anh không thể trút giận lên John Eames, nhưng anh hoàn toàn có thể trút lên những kẻ khác nếu cần thiết. Anh đâu có đổ mồ hôi gây dựng chỗ đứng trước thiên hạ, rồi giữ vững nó suốt bao nhiêu năm trời, để rồi bị dồn vào chân tường chỉ vì một phút sảy chân. Nếu thế giới ngoài kia, cái thế giới của riêng anh, muốn gây chiến với anh, anh sẽ sẵn sàng nghênh chiến. Còn về Butterwell—một kẻ bất tài vô dụng, một gã nhạt nhẽo—một kẻ mà trong mọi rắc rối hành chính cỏn con suốt bao năm qua vẫn luôn phải chạy đến nhờ cậy anh, anh sẽ cho Butterwell biết tay khi dám phản bội một kẻ từng hạ mình kết giao làm bạn. Anh sẽ cho tất cả bọn chúng ở hội đồng thấy rằng anh khinh bỉ chúng biết nhường nào và hoàn toàn có thể trở thành chủ nhân của chúng. Rồi khi đang chìm trong những toan tính tiếp theo cho cách hành xử tương lai, anh lại nảy sinh một vài ý định đối với gia đình De Courcy. Anh sẽ cho họ biết rõ rằng anh không đời nào làm một kẻ nô bộc hèn mọn của họ. Anh sẽ nói lên suy nghĩ của mình một cách thật thẳng thắn; và nếu vì thế mà họ muốn cắt đứt cái "mối lương duyên" này, thì cứ việc; anh chẳng buồn vỡ tim đâu. Và khi ngả người ra chiếc ghế bành, miên man suy nghĩ về những điều đó, một ý tưởng chợt lóe lên trong đầu anh—một lâu đài mây bay bổng trên không trung, chân thực hơn là hình bóng của một sự việc có khả năng thành hiện thực; và trong lâu đài ảo ảnh ấy, anh nhìn thấy chính mình đang quỳ gối dưới chân Lily một lần nữa, cất lời xin lỗi và cầu xin được tha thứ, mong nàng ôm anh trở lại trái tim.
"Hôm nay anh Crosbie có đến cơ quan," ông Butterwell nói với ông Optimist.
"Ồ, thế à," ông Optimist đáp với vẻ mặt vô cùng nghiêm trọng; bởi ông đã nghe hết mọi chuyện về vụ ẩu đả ở nhà ga.
"Trông anh ta thảm hại ra phết đấy."
“Tôi lấy làm tiếc khi nghe điều đó. Thật là... thật là... thật là... Nếu đó là một trong những nhân viên trẻ tuổi, anh biết đấy, chúng ta sẽ bảo rằng điều đó làm tổn hại đến uy tín của cơ quan."
"Khi người ta bị đấm vào mắt thì đâu có đỡ được, thưa anh. Chẳng lẽ anh ấy lại tự đấm vào mắt mình chắc," Thiếu tá Fiasco lên tiếng.
"Tôi thừa biết là anh ta không tự hành hạ mình rồi," ông Optimist tiếp lời; "nhưng thực lòng tôi nghĩ rằng, với vị trí của mình, anh ta nên biết tránh xa những cuộc đụng độ như thế."
"Nếu tránh được thì anh ấy đã làm từ lâu rồi, với tất cả sự chân thành đấy," ngài thiếu tá đáp. "Tôi không nghĩ anh ta lại thích ăn đòn hơn tôi đâu."
"Chẳng ai dám đánh bầm mắt tôi cả," ông Optimist phàn nàn.
"Vẫn chưa có ai thôi," thiếu tá đáp.
"Tôi hy vọng sẽ chẳng bao giờ có," ông Butterwell nói. Sau đó, khi đến giờ họp, ngài Crosbie bước vào phòng họp của Hội đồng.
"Chúng tôi rất lấy làm tiếc khi nghe tin về tai nạn này," ông Optimist nói với giọng vô cùng nghiêm trọng.
"Chẳng thấm vào đâu so với sự tiếc nuối của tôi đâu," Crosbie cười nhạt đáp. "Thật là một sự phiền toái quái quỷ khi sở hữu một con mắt thâm quầng và đi lại trông giống hệt một võ sĩ quyền Anh."
"Lại còn giống một võ sĩ đánh thua trận nữa chứ," Fiasco chêm vào.
"Tôi chẳng thấy có gì khác biệt cả," Crosbie đáp. "Nhưng toàn bộ câu chuyện này đúng là một sự phiền nhiễu, và nếu các ngài không phiền, chúng ta đừng nhắc đến nó nữa."
Ông Optimist gần như cho rằng việc tiếp tục bàn về chuyện đó là bổn phận của mình. Chẳng lẽ ông không phải là Chủ tịch Ủy ban, và anh Crosbie không phải là thư ký của Hội đồng hay sao? Xét trên cương vị tương ứng của họ, lẽ nào ông lại có thể phớt lờ mà không nói một lời nào trước một sự việc thiếu chuẩn mực rõ mười mươi thế này ư? Liệu Sir Raffle Buffle có bỏ qua nếu trước đây ông Butterwell, khi còn làm thư ký, bước vào văn phòng với một con mắt bầm tím hay không? Ông muốn thực thi trọn vẹn mọi quyền hạn của một chủ tịch; thế nhưng, khi nhìn vào viên thư ký, ông lại cảm thấy lúng túng và chẳng thể tìm ra những từ ngữ thích hợp. "Hừm, a, chà; giờ chúng ta vào việc thôi nếu các ngài không phiền," ông nói, ngụ ý rằng mình vẫn giữ quyền quay trở lại vấn đề con mắt bầm của viên thư ký sau khi các công việc thường lệ của Hội đồng đã hoàn tất. Nhưng khi các công việc thường lệ ấy đã xong xuôi, viên thư ký lặng lẽ rời khỏi phòng mà không có thêm bất kỳ lời nhắc nhở nào về đôi mắt của mình nữa.
Khi trở về phòng làm việc riêng, Crosbie thấy Mortimer Gazebee đang đứng đợi sẵn ở đó.
"Anh bạn thân mến," Gazebee mở lời, "đây quả là một rắc rối tồi tệ."
"Cực kỳ tồi tệ," Crosbie đáp; "tồi tệ đến mức tôi chẳng muốn bàn về nó với bất kỳ ai nữa."
"Phu nhân Amelia đang vô cùng buồn phiền." Anh ta luôn gọi vợ mình là phu nhân Amelia, ngay cả khi nói chuyện với anh chị em ruột thịt của mình. Anh ta quá mức lịch thiệp nên không dám dùng tên thánh bình thường để gọi con gái của một vị bá tước, dẫu cho người con gái ấy chính là vợ mình. "Cô ấy lo lắng rằng anh bị thương khá nặng."
"Không hề bị thương chút nào; chỉ là bị biến dạng gương mặt như anh thấy đấy."
"Thế ra anh đã cho gã đánh anh một trận nên thân chứ?"
"Không, tôi không làm thế," Crosbie bực bội đáp. "Tôi chẳng nện hắn trận nào cả. Anh tin mọi thứ đọc được trên báo chí cơ à?"
"Không, tôi không tin tất cả đâu. Dĩ nhiên là tôi không tin chuyện gã đó dám tơ tưởng đến việc kết hôn với phu nhân Alexandrina rồi. Chuyện đó hoàn toàn nhảm nhí." Qua giọng điệu của Gazebee, có thể thấy sự liều lĩnh tột độ như vậy là điều hoàn toàn không thể tin nổi.
"Anh chẳng nên tin bất cứ điều gì sất; ngoại trừ một điều này thôi,—rằng tôi đang bị bầm một bên mắt."
"Chắc chắn là anh bị thế rồi. Phu nhân Amelia nghĩ rằng anh sẽ thoải mái hơn nếu tối nay ghé qua chỗ chúng tôi. Dĩ nhiên là anh không thể ra ngoài rồi; nhưng phu nhân Amelia đã nói với vẻ đầy rộng lượng rằng anh không cần phải câu nệ với cô ấy."
"Cảm ơn, không cần đâu; Chủ nhật tôi sẽ sang."
"Dĩ nhiên là phu nhân Alexandrina sẽ rất nóng lòng muốn nghe tin tức từ chị mình, và phu nhân Amelia đã khẩn khoản nhờ tôi giục anh sang cho bằng được."
"Cảm ơn, không; hôm nay thì không."
"Sao lại thế?"
"Ồ, đơn giản vì ở nhà tôi sẽ thấy khỏe hơn."
"Sao ở nhà lại khỏe hơn cơ chứ? Anh muốn gì mà chẳng được. Phu nhân Amelia sẽ không để tâm đâu mà lo."
Lại thêm một miếng bít-tết đắp lên mắt khi anh ngồi trong phòng khách, một băng gạc nước lạnh, hay bất kỳ phương pháp chữa trị lặt vặt kiểu đó;—đó chính là những thứ mà phu nhân Amelia, với bản tính rộng lượng trong gia đình, sẽ hạ cố để tâm đến!
"Tôi sẽ không làm phiền cô ấy tối nay đâu," Crosbie nói.
"Thật tình mà nói, tôi nghĩ anh đã sai rồi đấy. Đủ loại tin đồn sẽ bay đến lâu đài Courcy, lọt đến tai nữ bá tước cho mà xem, và anh chẳng thể lường trước được những hậu quả tai hại nào sẽ xảy ra đâu. Phu nhân Amelia nghĩ tốt hơn là cô ấy nên viết thư giải thích mọi chuyện, nhưng cô ấy không thể làm thế cho đến khi nghe được đôi điều từ chính miệng anh."
Crosbie nói: "Nghe này Gazebee. Tôi chẳng thèm quan tâm mảy may đến việc cái tin đồn quái quỷ nào sẽ lọt được về đến lâu đài Courcy."
"Nhưng nhỡ bá tước nghe được chuyện này và cảm thấy bị xúc phạm thì sao?"
"Ông ta muốn nguôi ngoai thế nào tùy ý."
"Anh bạn thân mến; anh đang nói những điều ngông cuồng đấy."
"Anh nghĩ bá tước có thể làm gì tôi cơ chứ? Anh nghĩ tôi sẽ phải sống trong sợ hãi dưới cái bóng của Lord De Courcy suốt quãng đời còn lại chỉ vì tôi sắp lấy con gái ông ta chắc? Hôm nay chính tay tôi sẽ viết thư cho Alexandrina, và anh cứ nhắn lại với chị cô ấy điều đó. Tôi sẽ sang ăn tối vào Chủ nhật, trừ khi cái mặt tôi trông đến mức không thể ra đường được nữa."
"Thế anh không đến kịp giờ đi lễ nhà thờ à?"
"Anh muốn tôi đến nhà thờ với cái mặt thế này chắc?"
Sau đó, ông Mortimer Gazebee ra về, và khi về đến nhà, ông thuật lại với vợ rằng Crosbie đang tỏ ra vô cùng kiêu ngạo. "Thực ra là thế này em ạ, anh ta đang xấu hổ về bản thân, nên mới cố tỏ ra cứng cỏi để che đậy."
"Việc anh ta tự lao đầu vào rắc rối với gã thanh niên đó thật là ngớ ngẩn—quá ngớ ngẩn; và Chủ nhật này em sẽ nói thẳng cho anh ta biết điều đó. Nếu anh ta còn dám giở cái thói hống hách ấy với em, em sẽ cho anh ta hiểu rằng anh ta đã phạm phải một sai lầm rất lớn. Giờ đây anh ta phải nhớ rằng cách hành xử của mình là một vấn đề hệ trọng đối với toàn thể gia đình chúng ta."
"Đương nhiên là anh ta phải nhớ rồi," ông Gazebee phụ họa.
Khi ngày Chủ nhật đến, những vệt đỏ đã xuất hiện trên vết bầm nhưng vẫn chưa hề mờ đi chút nào. Mọi người ở cơ quan đã gần như quen với diện mạo ấy của anh, nhưng Crosbie, bất chấp quyết tâm đến câu lạc bộ, vẫn chưa dám ló mặt đi đâu khác. Dĩ nhiên là anh không đến nhà thờ, nhưng đúng năm giờ chiều, anh có mặt tại ngôi nhà ở St. John's Wood. Họ luôn ăn tối vào lúc năm giờ vào các ngày Chủ nhật, với suy nghĩ rằng làm như vậy sẽ giữ gìn ngày Sa-bát tốt hơn là ăn vào lúc bảy giờ. Nếu việc giữ gìn ngày Sa-bát đồng nghĩa với việc đi ngủ sớm, hoặc được hỗ trợ bằng một thói quen tương tự nào đó, thì họ đã đúng. Đối với người đầu bếp, bữa tối sớm hơn một chút ấy có lẽ khá tiện lợi, bởi nó cho cô cái cớ để khỏi phải đến nhà thờ vào buổi chiều, giống như bữa trưa của lũ trẻ và đám gia nhân đã cho cô cái cớ tương tự vào buổi sáng. Những mưu cầu sự đức hạnh nhỏ nhoi như thế—chỉ tiến hành được một nửa chặng đường, hoặc có lẽ, như trong trường hợp này, chỉ mới được một phần tư chặng đường trên con đường chông gai dẫn đến sự thánh thiện—vẫn rất phổ biến ở những con người đáng kính như phu nhân Amelia. Nếu cô chịu ăn tối từ lúc một giờ và chỉ ăn thịt nguội, có lẽ người ta còn cảm thấy cô xứng đáng nhận được chút lời khen.
"Ôi, chao ôi, thật là đáng buồn, phải không anh Adolphus?" cô lên tiếng ngay khi nhìn thấy anh.
"Ừ, thật đáng buồn, Amelia ạ," anh đáp. Anh vẫn luôn gọi cô là Amelia, bởi cô gọi anh là Adolphus; nhưng bản thân Gazebee chưa bao giờ cảm thấy hoàn toàn thoải mái mỗi khi nghe thấy điều đó. Phu nhân Amelia lớn tuổi hơn Crosbie và có quyền gọi anh bất cứ cái tên gì cô thích; nhưng lẽ ra anh nên nhớ đến sự chênh lệch lớn về địa vị giữa hai người. "Thật đáng buồn, Amelia," anh nói tiếp. "Nhưng em có thể làm ơn vì anh một chuyện được không?"
"Chuyện gì vậy, Adolphus?"
"Đừng thốt thêm một lời nào về chuyện đó nữa. Vết bầm mắt này quả thật tồi tệ, và nó đã làm phiền tôi rất nhiều; nhưng sự đồng cảm từ những người bạn lại càng làm tôi phiền muộn hơn gấp bội. Tôi đã nhận được trọn vẹn sự xót xa của cả gia đình từ Gazebee vào hôm thứ Sáu rồi, và nếu chuyện đó còn lặp lại lần nữa, chắc tôi ngã ra chết quách cho rồi."
"Ủa chú Dolphus chết thật hả chú, tại chú bị đau mắt hả?" De Courcy Gazebee, niềm hy vọng lớn nhất của gia đình, ngước mặt lên hỏi.
"Không đâu chàng trai của ta," Crosbie nói, bế bổng cậu nhóc lên tay, "không phải vì chú bị bầm mắt đâu. Chẳng có gì quá nguy hiểm ở đó cả, và rồi cháu sẽ còn bị như thế nhiều lần trước khi rời ghế nhà trường đấy. Mà là vì mọi người cứ nhắc mãi về nó cơ."
"Nhưng thím Dina không thích chú đâu, nếu chú có cái mắt bầm xấu xí."
"Nhưng này anh Adolphus," phu nhân Amelia vừa nói vừa chỉnh đốn lại tư thế để chuẩn bị tranh luận, "nói thế thì dễ thôi—và em chắc chắn rằng mình rất tiếc nếu gây ra cho anh sự phiền toái nào,—nhưng thực sự người ta không biết phải cho qua một sự việc như thế bằng cách nào nếu không nhắc đến nó. Em vừa nhận được một lá thư từ mẹ."
"Tôi hy vọng phu nhân De Courcy vẫn hoàn toàn khỏe mạnh."
"Bà hoàn toàn khỏe, cảm ơn anh. Nhưng dĩ nhiên là bà đang vô cùng lo lắng về vụ việc này. Bà đã đọc những gì được đăng tải trên báo chí, và có lẽ Mortimer sẽ phải đứng ra giải quyết việc này với tư cách là luật sư của gia đình."
"Hoàn toàn không có chuyện đó," Adolphus gạt đi.
"Tôi không nghĩ mình sẽ khuyên làm theo cách ấy đâu," Gazebee tiếp lời.
"Có lẽ là không; rất có thể là không. Nhưng anh không thể ngạc nhiên được đâu, Mortimer, khi mẹ em trong hoàn cảnh này lại muốn biết tường tận các sự thật của vụ việc."
"Không ngạc nhiên chút nào," Gazebee đáp.
"Vậy thì một lần cho tất cả, tôi sẽ nói cho các vị biết sự thật. Khi tôi bước xuống tàu, một gã mà tôi mới gặp một lần trong đời đã lao vào tấn công tôi, và trước khi cảnh sát kịp can thiệp, tôi đã lĩnh trọn một cú đấm vào mặt. Giờ thì các người biết rõ mọi chuyện rồi đấy."
Ngay lúc đó, tiếng thông báo bữa tối vang lên. "Anh dìu phu nhân Amelia vào bàn nhé?" người chồng nói.
"Thật là một sự cố đáng buồn," phu nhân Amelia hất nhẹ cằm nói, "và tôi e rằng nó sẽ mang lại cho em gái tôi rất nhiều phiền muộn."
"Anh cũng đồng tình với De Courcy phải không, rằng thím Dina sẽ không thích tôi với một con mắt bầm xấu xí chứ?"
"Em thực sự không nghĩ đây là chuyện để đùa cợt," phu nhân Amelia lạnh lùng đáp. Và từ đó trở đi, không ai còn nhắc gì đến chuyện đó trong suốt bữa tối nữa.
Không một lời nào được nhắc đến nữa trong suốt bữa tối, nhưng nhìn nét mặt của phu nhân Amelia, ai cũng thấy rõ ràng rằng cô chẳng lấy gì làm hài lòng với cách cư xử của người em rể tương lai. Cô tỏ ra vô cùng hiếu khách, liên tục giục anh ăn; nhưng ngay cả trong việc đó, cô vẫn không quên lặp lại những câu nhắc nhở bóng gió về tình trạng khốn khổ hiện tại của anh. Cô bảo cô nghĩ món bánh pudding mận chiên sẽ không đến nỗi hại cho sức khỏe của anh, nhưng khuyên anh không nên uống rượu vang đỏ sau bữa tối. "Nhân tiện đây, Mortimer, anh bảo người mang ít vang đỏ claret lên nhé," cô lưu ý thêm. "Anh Adolphus không nên dùng bất cứ thứ gì có tính chất làm nóng người."
"Cảm ơn," Crosbie đáp. "Tôi sẽ uống chút brandy pha nước, nếu Gazebee chịu chuốc cho tôi."
"Brandy pha nước ư!" phu nhân Amelia thốt lên. Thực ra Crosbie vốn chẳng có thói quen uống brandy pha nước; nhưng anh đã sẵn sàng gọi cả rượu gin nguyên chất nếu còn bị sự quan tâm thái quá của phu nhân Amelia ép uổng thêm chút nữa.
Vào những bữa tối Chủ nhật như thế này, nữ chủ nhân của ngôi nhà không bao giờ lui vào phòng khách, và trà luôn được dọn ngay lên chiếc bàn mà họ vừa dùng bữa xong. Đó lại là một bước nhỏ nữa trong công cuộc giữ gìn ngày đầu tuần được thánh thiện. Những khi phu nhân Rosina có mặt, cô sẽ được đặc ân ngắm nhìn sáu hoặc bảy cuốn sách dày cộp, nghiêm túc được đặt lên mặt bàn gỗ gụ ngay khi những chai rượu được dọn đi. Trong chuyến thăm kéo dài đầu tiên của mình, cô đã tự giành lấy đặc quyền được đọc một bài giảng đạo; nhưng ngặt nỗi vào những dịp như thế, cả phu nhân Amelia lẫn ông Gazebee đều lăn ra ngủ gật—và nhân viên phục vụ cũng từng có biểu hiện tương tự—nên bài giảng đạo đành phải dẹp bỏ. Dẫu vậy, người chủ nhà trong những buổi tối có mặt người chị vợ vẫn phải ngậm ngùi ngồi chịu trận trong sự nhàn rỗi, hoặc nếu không thì phải tìm kiếm sự khuây khỏa trong một trong những cuốn sách đạo đức dày cộp kia. Nhưng ngặt nỗi phu nhân Rosina lúc này đang ở vùng quê, thế nên chiếc bàn đành phải để trống không có sách vở gì.
"Thế tôi phải nói gì với mẹ đây?" phu nhân Amelia hỏi khi chỉ còn lại mấy người trong phòng.
"Hãy gửi lời thăm hỏi chân thành nhất của tôi đến cụ," Crosbie đáp. Cả người chồng lẫn người vợ đều nhận ra rõ mồn một rằng anh đang chuẩn bị tinh thần để nổi loạn chống lại quyền lực gia đình.
Khoảng mười phút trôi qua trong bầu không khí im lặng. Crosbie tự khuây khỏa bằng cách đùa giỡn với đứa con trai mà anh gọi bằng cái tên cúng cơm châm biếm là Dicksey, phỏng theo tên De Courcy.
"Mẹ ơi, chú gọi con là Dicksey kìa. Con là Dicksey hả? Con sẽ gọi chú là Lão Cross cho xem, rồi thím Dina sẽ chẳng thèm thích chú nữa cho bõ ghét."
"Anh làm ơn đừng gán cho đứa nhỏ những biệt danh như thế nữa được không, Adolphus. Trông có vẻ như anh đang muốn ném một vết nhơ lên cái tên họ mà nó đang mang vậy."
"Tôi e là anh ấy chẳng có ý định làm thế đâu," ông Gazebee chêm vào.
"Chắc chắn là không rồi," Crosbie lạnh lùng đáp.
"Tên tuổi ấy chưa từng bị vấy bẩn trong biên niên sử nước nhà bằng việc bị đem ra làm biệt danh bao giờ cả," vị ái nữ kiêu hãnh của dòng tộc lên tiếng. Cô có lẽ không hề hay biết rằng trong mắt nhiều chiến hữu, cha cô vẫn thường bị gọi đùa là Lão Bá tước Rủa-xả (Lord De Curse'ye), xuất phát từ sự bộc phát thỉnh thoảng quá đà trong ngôn từ của ông. "Và bất kỳ nỗ lực nào như thế cũng khiến tôi cảm thấy gai người khó chịu. Tôi rất coi trọng gia tộc của mình, tôi dám chắc với anh điều đó, Adolphus, và chồng tôi cũng vậy."
"Vô cùng coi trọng ấy chứ," ông Gazebee tiếp lời.
"Tôi cũng coi trọng gia tộc của tôi thế thôi," Crosbie đáp. "Đó là điều hiển nhiên với tất cả chúng ta. Một trong những tổ tiên của tôi từng sang đây cùng William Kẻ chinh phạt. Tôi nghĩ ông ấy từng là một trong những phụ bếp trong lều của nhà vua."
"Đầu bếp á?" cậu bé De Courcy kinh ngạc hỏi.
"Đúng vậy, chàng trai của ta, một đầu bếp. Đó là cách mà hầu hết các gia đình lâu đời của chúng ta được phong tước quý tộc đấy. Họ làm đầu bếp, hoặc quản gia cho các vị vua—hoặc thỉnh thoảng là vài thứ tồi tệ hơn thế."
"Nhưng gia tộc của chú đâu phải quý tộc?"
"Không—để chú kể cho cháu nghe tại sao lại thế. Nhà vua muốn người đầu bếp này bỏ độc vào nửa tá sĩ quan dám có ý định lộng quyền; nhưng người đầu bếp đã tâu rằng: 'Không, muôn tâu bệ hạ; thần là đầu bếp, chứ không phải đao phủ.' Thế là họ đày ông xuống nhà rửa bát, và khi họ phong tất cả những người hầu khác làm nam tước với bá tước, họ chỉ gọi mỗi ông ấy là Đầu-bếp-còi (Cookey). Dần dà theo thời gian, họ đã đổi cái tên ấy thành Crosbie."
Ông Gazebee chết lặng cả người, trong khi nét mặt phu nhân Amelia tối sầm lại. Chẳng lẽ không rõ ràng rằng con rắn này, khi được đưa vào tận tâm can sưởi ấm, thực chất đang hóa thành một con độc xà và chuẩn bị quay lại cắn họ hay sao? Buổi tối hôm đó chẳng còn mấy lời trò chuyện nữa, và ngay sau câu chuyện về người đầu bếp, Crosbie đứng dậy cáo từ và ra về nhà mình.