John Eames đã xoay sở đạt được thỏa thuận với Sir Raffle Buffle. Cậu chấp nhận chiếc ghế thư ký riêng với điều kiện được nêu rõ rành mạch là sẽ có kỳ nghỉ phép hai tuần vào khoảng cuối tháng Tư. Sau khi sắp xếp ổn thỏa, cậu đến từ biệt ông Love trong bầu không khí đầy lưu luyến, bởi ông thực sự rất buồn khi phải chia tay cậu; cả bọn cùng nhau nâng những vạc bia porter chia tay tại phòng lớn, nơi mọi người gửi gắm biết bao lời chúc rằng cậu có thể đủ sức chịu đựng được cái tính hống hách của lão Huffle già; cậu còn kịp ném một câu nói đùa sắc cay vào mặt ông Kissing khi bắt gặp vị này đang hớt hải chạy qua các hành lang với một cuốn sổ cái khổng lồ trên tay, rồi cuối cùng tiến vào chiếm lấy chiếc ghế bành thoải mái mà FitzHoward buộc phải nhường lại.
"Đừng nói với mấy tay khác nhé," Fitz nói, "nhưng tôi sắp bỏừ hẳn chỗ này rồi. Bố tôi đời nào chịu cho tôi ở lại đây dưới bất kỳ chức vụ nào khác ngoài thư ký riêng."
"À, bố cậu là nhân vật tai to mặt lớn mà," Eames nói.
"Tôi cũng không rõ nữa," FitzHoward đáp. "Tất nhiên ông cụ có rất nhiều mối quan hệ gia đình. Anh họ tôi sắp tranh cử chiếc ghế đại biểu cho St. Bungay trong cuộc bầu cử tới, và khi đó tôi có thể tiến xa hơn là ở lại đây."
"Đương nhiên rồi," Eames nói. "Nếu anh họ tôi mà là Nghị sĩ vùng St. Bungay, tôi sẽ chẳng thèm bén mảng tới bất cứ xó xỉnh nào phía đông Whitehall."
"Và tôi cũng chẳng có ý định ở lại," FitzHoward tiếp lời. "Căn phòng này, cậu biết đấy, thì cũng rất đẹp; nhưng cứ phải vào Thành phố mỗi ngày quả là phát chán. Rồi lại còn cái cảnh bị gọi réo như sai phái người hầu nữa chứ. Không phải là tôi muốn làm cậuụt hứng với nó đâu nhé."
"Thế này là quá ổn đối với tôi rồi," Eames nói. "Tôi xưa nay vốn chẳng mấy khi đòi hỏi." Và thế là họ chia tay nhau, Eames bước lên ngự trị chiếc ghế bành đẹp đẽ cùng nỗi lo sợ sẽ bị sai đi xách giày cho Sir Raffle, trong khi FitzHoward nhận lấy chiếc bàn làm việc còn trống trong căn phòng lớn cho đến khi nào có thành viên trong gia đình vào được Nghị viện đại diện cho khu bầu cử St. Bungay.
Nhưng Eames, dẫu có uống bia porter, dẫu có trêu chọc FitzHoward hay chế giễu Kissing, vẫn không thể an tọa trên chiếc ghế bành mới của mình mà không mang trong lòng ít nhiều nỗi niềm trăn trở. Cậu thừa thức nhận ra rằng quãng đời sự nghiệp của mình ở London cho đến nay chẳng có gì để mà tự hào hay ngẩng cao đầu nhìn lại. Cậu đã giao du với những kẻ mà bản thân chẳng mảy may kính trọng; cậu từng sống lười biếng, thậm chí còn tệ hại hơn cả sự lười biếng; và cậu đã để bản thân vướng bận vào thứ tình yêu giả tạo của một người phụ nữ mà cậu chưa từng dành tình cảm thực sự, để rồi bị mụ ta lừa gạt hứa hẹn đủ điều ngớ ngẩn mà cho đến nay vẫn còn treo lơ lửng trên đầu. Khi ngồi trước xấp tài liệu của Sir Raffle, cậu bỗng cảm thấy sợ hãi khi nghĩ đến những con người ở Burton Crescent. Tính ra đã khoảng ba năm kể từ khi cậu quen biết Cradell, và cậu không khỏi rùng mình khi nhớ lại cái sinh linh nghèo nàn đến thảm hại mà cậu lại chọn làm bạn tri kỷ. Cậu không thể tự biện hộ cho mình những lời mà người ngoài có thể dành cho cậu. Cậu chẳng thể tự nhủ rằng mình bị hoàn cảnh xô đẩy nên mới phải kết bạn trước khi kịp hiểu thế nào là những phẩm chất đáng quý ở một người bạn. Cậu đã sống thân thiết gắn bó với con người này suốt ba năm trời, và giờ đây, đôi mắt cậu mới bừng tỉnh để nhận ra bản chất thực sự trong con người bạn mình. Cradell lớn hơn cậu ba tuổi. "Mình sẽ không tuyệt giao với hắn," cậu tự nhủ; "nhưng quả thật hắn là một kẻ nghèo nàn về nhân cách." Cậu cũng nghĩ đến vợ chồng Lupex, cô Spruce, và bà Roper, rồi thưa thớt tưởng tượng xem Lily Dale sẽ làm thế nào nếu cô lâm vào cảnh sống chung với những con người ấy. Chuyện cô rơi vào hoàn cảnh đó là điều hoàn toàn bất khả thi. Thà cậu bảo cô ra đứng uống nước ở quầy hàng rượu gin còn hơn là bắt cô ngồi trong phòng khách nhà bà Roper. Nếu định mệnh ban cho cậu niềm hạnh phúc được gọi Lily là của riêng mình, thì buộc cậu phải thay đổi hoàn toàn lối sống của bản thân.
Thực chất, vẻ ngờ nghệch ngơ ngác của tuổi thiếu niên đang bong tróc khỏi con người cậu, giống như lớp da cũ tróc khỏi mình loài rắn. Rất nhiều sự từng trải và đôi chút hiểu biết của tuổi trưởng thành đang ngấm dần vào cậu, và cậu bắt đầu nhận thức sâu sắc rằng phương hướng tương lai của cuộc đời mình là một vấn đề vô cùng hệ trọng. Chẳng có lấy một suy nghĩ như vậy lởn vởn trong đầu cậu khi mới chân ướt chân ráo đến London. Thiết tưởng trong chuyện này, các bậc cha mẹ của thế hệ đương thời hiểu quá ít về thế giới nội tâm của những chàng trai trẻ mà họ vô cùng lo lắng. Họ cả tin trao cho con cái những phẩm chất vượt quá khả năng chúng có, để rồi lại phủ nhận những năng lực thực sự mà chúng đang sở hữu! Họ cứ ngóng chờ ở những cậu thiếu niên sự chín chắn của bậc đàn ông — thứ sự chín chắn được tôi luyện qua tư duy; nhưng lại chẳng thèm đếm xới đến sức mạnh tư duy nào có thể mang lại tác phong tốt đẹp về lâu về dài. Thanh niên thường rất hay suy ngẫm — thậm chí còn suy ngẫm nhiều hơn cả người lớn tuổi; chỉ là hoa trái của những suy nghĩ ấy chưa kịp đơm bông kết trái mà thôi. Thế mà người ta lại quá đỗi keo kiệt trong việc tạo ra các trò giải trí cho những chàng trai bị thả nổi giữa lòng London khi mới tròn mười chín hay đôi mươi. Lẽ nào có người mẹ nào lại thực sự trông đợi con trai mình cứ tối tối ngồi thui thủi một mình trong căn phòng tối tăm ẩm mốc, vừa uống thứ trà dở tệ vừa đọc những cuốn sách thánh thiện? Thế nhưng dường như các bà mẹ lại đang mong mỏi đúng như thế — chính những bà mẹ suốt ngày mở miệng kêu ca về sự thiếu suy nghĩ của tuổi trẻ! Ơi những người mẹ năm này qua tháng khác đưa con cái mình lao ra giữa những hiểm nguy của thế gian, những người chu đáo đủ đường từ lời khuyên bảo, áo lót nỉ mùa đông, sách kinh cầu cho đến bột đánh răng, các vị chưa từng mảy may nghĩ rằng cần phải chuẩn bị cho chúng những chốn vui chơi, khiêu vũ, tiệc tùng, hay sự kích thích và thoải mái từ bầu bạn với phụ nữ sao? Những sự kích thích ấy thể nào con trai các vị cũng sẽ tìm đến, và nếu chúng không được các vị định hướng theo loại này, thì chắc chắn chúng sẽ tự tìm lấy một loại khác theo cách riêng của mình. Nếu tôi là một người mẹ có con trai bước chân vào đời, điều duy nhất canh cánh trong lòng tôi sẽ là — làm thế nào để đưa chúng vào ra những ngôi nhà có đầy những cô gái đáng yêu nhất, để chúng có thể thỏa sức hẹn hò trong những chốn cao sang lành mạnh.
Cậu thanh niên tội nghiệp John Eames đã bị đẩy vào hoàn cảnh buộc phải hẹn hò trong những chốn vô cùng bát nháo, và giờ đây cậu đã nhận thức rõ điều đó. Chỉ còn đúng hai ngày nữa là đến chuyến đi Guestwick Manor, và trong lúc ngồi nghỉ mệt sau khi hoàn thành một loạt ghi chú dài cho Sir Raffle, cậu đã quyết định rằng trước khi lên đường, cậu sẽ báo trước với bà Roper rằng khi trở lại London, cậu sẽ không bao giờ xuất hiện ở Burton Crescent thêm lần nào nữa. Cậu sẽ cắt đứt hoàn toàn những xiềng xích ấy, và nếu việc dứt áo ra đi này có phải trả giá bằng bất kỳ hệ lụy nào, cậu cũng sẽ gánh chịu bằng tất cả khả năng có thể. Cậu thầm thừa nhận rằng mình đã cư xử tệ bạc với Amelia, thậm chí còn tự nhận nhiều lỗi lầm về phần đó hơn cả thực tế; nhưng có một điều rành rành trước mắt, là cậu phải thiết lập lại một thái độ đúng đắn với cô nàng trước khi dám mở lời với Lily Dale.
Khi cậu vừa đi đến kết luận dứt khoát ấy, chiếc chuông tay nhỏ vẫn thường đặt trên bàn làm việc của Sir Raffle liền vang lên, và Eames được gọi vào hầu cận vị đại nhân. "Ồ," Sir Raffle vừa ngả người ra sau chiếc ghế bành, vừa vươn vai thư giãn sau những giờ làm việc căng thẳng — "Ồ, để xem nào! Anh sắp rời khỏi thị trấn vào ngày kia phải không."
"Vâng, thưa Sir Raffle, ngày kia ạ."
"Ồ! Quả là một sự phiền toái lớn — một sự phiền toái rất lớn. Nhưng trong những hoàn cảnh như thế, tôi chẳng bao giờ nghĩ đến bản thân mình. Tôi chưa từng làm thế, và cũng chẳng nghĩ là mình sẽ làm thế. Thế ra anh sắp xuống thăm người bạn cũ De Guest của tôi đấy à?"
Eames luôn cảm thấy bực mình mỗi khi vị sếp mới Sir Raffle huênh hoang về tình bạn thấu triệt giữa ông ta với vị bá tước, và chẳng bao giờ mảy may hưởng ứng vị Ủy viên. "Tôi chuẩn bị về Guestwick," cậu đáp gọn lỏn.
"Ồ! Vâng; đến Guestwick Manor ư? Tôi không nhớ là mình đã từng ở đó bao giờ chưa. Chắc là tôi đã đến rồi, nhưng ngặt nỗi người ta hay quên mấy chuyện ấy lắm."
"Tôi chưa từng nghe Bá tước De Guest nhắc đến chuyện đó."
Ò, trơi ạ, không. Sao trí nhớ của ông ấy lại có thể tốt hơn trí nhớ của tôi được cơ chứ? Anh nhắn lại với ông ấy giùm tôi nhé, rằng tôi rất đỗi vui mừng được nối lại mối thâm giao xưa cũ. Tôi chẳng ngại gì việc ghé xuống thăm ông ấy dăm ba ngày vào những khoảng thời gian vắng khách trong năm — giả dụ như tháng Chín hay tháng Mười chẳng hạn. Quả là một sự trùng hợp thú vị khi cả hai chúng ta đều cùng quan tâm đến anh — phải không nào?"
"Tôi nhất định sẽ chuyển lời."
Nhớ đấy nhé. Ông ấy là một trong những vị quý tộc độc lập chân chính nhất, và tôi vô cùng kính trọng ông ấy. Để xem nào; lúc nãy tôi có bấm chuông không nhỉ? Tôi gọi chuông vì việc gì ấy nhỉ? Tôi nghĩ là mình có bấm chuông."
"Thưa ngài, ngài có bấm chuông."
"À, vâng; tôi nhớ rồi. Tôi sắp đi vắng, và tôi muốn lấy — anh bảo Rafferty mang cho tôi — đôi bốt nhé?" Ngay lập tức Johnny liền với tay giật chuông — không phải chiếc chuông tay nhỏ, mà là chiếc chuông điện bên kia. "Và ngày mai tôi sẽ không đến văn phòng," Sir Raffle nói tiếp. "Tôi nhờ anh chuyển mấy bức thư của tôi lên quảng trường nhé; và nếu có công văn gửi xuống từ Bộ Tài chính; — nhưng chắc Ngài Bộ trưởng sẽ tự viết thư, và trong trường hợp đó anh cứ cho người mang thẳng thư của ngài ấy lên bằng một giao liên đặc biệt nhé."
"Rafferty đến kìa," Eames lên tiếng, quyết tâm không để đôi môi mình phải thốt ra bất cứ từ nào liên quan đến đôi bốt của Sir Raffle.
"Ồ, à, vâng; Rafferty, mang bốt lại đây cho tôi."
"Còn chuyện gì nữa không ạ?" Eames hỏi.
"Không, chẳng còn gì nữa. Dĩ nhiên là anh phải cẩn thận sắp xếp mọi việc đàng hoàng trước khi đi đấy."
"Vâng, thưa ngài; tôi sẽ thu xếp ổn thỏa." Thế rồi Eames lui ra ngoài để tránh phải chứng kiến màn hội ngộ giữa Sir Raffle và đôi bốt của ông ta. "Cậu ta không được việc đâu," Sir Raffle tự lẩm bẩm một mình. "Cậu ta chẳng bao giờ khá lên được. Không đủ nhanh nhạy — chẳng có chút nhiệt huyết nào trong người. Bản lĩnh không đủ tầm cho chiếc vị trí này. Không hiểu sao vị bá tước lại nâng đỡ cậu ta theo cái kiểu ấy cơ chứ."
Chẳng bao lâu sau màn kịch nhỏ về đôi bốt, Eames rời khỏi cơ quan và thầm lặng một mình đi bộ về nhà ở Burton Crescent. Cậu cảm thấy mình vừa giành được một chiến thắng trong phòng làm việc của Sir Raffle, nhưng chiến thắng đó quá ư dễ dàng. Giờ đây, cậu còn một trận chiến khác đang chờ trước mặt, mà theo cậu nghĩ, việc giành phần thắng ở đó sẽ cam go hơn rất nhiều. Amelia Roper là một nhân vật đáng sợ hơn nhiều so với vị Ủy viên Trưởng. Cậu đang nắm giữ một mũi tên sắc bén trong ống đựng mà cậu có thể cậy nhờ vào đó, nếu như bắt buộc phải giáng cho kẻ thù một đòn chí mạng. Suốt tuần qua, mụ ta đã tỏ ra săn đón Cradell hết mực, cốt để tạo cái cớ chính đáng cho việc trừng phạt kẻ ruồng bỏ người tình cũ. Cậu sẽ không lôi chuyện của Cradell ra để chì chiết ả nếu có thể tránh được; nhưng ngặt nỗi cậu bắt buộc phải giành chiến thắng, và nếu tình thế rơi vào bước đường cùng, cậu sẽ phải dùng đến những thứ vũ khí mà định mệnh và trò đùa của chiến tranh đã ban cho.
Bước chân vào nhà, cậu bắt gặp bà Roper đang ngồi ở phòng ăn và lập tức bắt tay vào việc. "Thưa bà Roper," cậu cất lời, "ngày kia con sẽ đi vắng một thời gian."
"À vâng, thưa anh Eames, chúng tôi biết chuyện đó rồi. Anh chuẩn bị đến khách quý tại tư dinh bề thế của Bá tước De Guest cơ mà."
"Con cũng chẳng rõ cơ ngơi ấy có bề thế lắm không, nhưng con sẽ về vùng quê chơi hai tuần. Khi nào con trở về —"
"Khi anh trở về, thưa anh Eames, tôi hy vọng anh sẽ thấy căn phòng của mình thoải mái hơn nhiều. Tôi thừa nhận nó chưa được ngăn nắp tươm tất cho lắm đối với một quý ông như anh, và thời gian qua tôi vẫn luôn trăn trở —"
"Nhưng thưa bà Roper, con không định quay lại đây nữa. Đó chính là điều con muốn nói với bà."
"Không quay lại khu nhà này nữa ư!"
"Vâng, thưa bà Roper. Đàn ông đôi khi cũng phải thay đổi chỗ ở chứ ạ; và con tin chắc mình đã rất chung thủy với nhà mình suốt một thời gian dài rồi."
"Nhưng anh định chuyển đi đâu, thưa anh Eames?"
"Chà; con vẫn chưa quyết định hẳn. Tức là, còn tùy thuộc vào việc con làm — vào những người quen của con dưới quê nói thế nào nữa. Bà đừng nghĩ là con đang kiếm chuyện giận hờn gì bà nhé, thưa bà Roper."
"Chính tại mấy kẻ nhà Lupex đã gây ra cơ sự này," bà Roper đau khổ thốt lên.
"Không đâu, thưa bà Roper, chẳng có ai gây ra cả."
"Có chứ, chính bọn chúng; và tôi không hề trách cứ gì anh đâu, anh Epex ạ. Bọn chúng đã làm cho cái nhà này trở nên không còn phù hợp với bất kỳ một thanh niên đàng hoàng nào như anh nữa. Tôi vẫn luôn cảm nhận được điều đó từ lâu; nhưng ngặt nỗi một người phụ nữ đơn độc như tôi thì biết làm sao hỡi anh Eames?"
"Nhưng thưa bà Roper, nhà Lupex chẳng dính dáng gì đến việc con đi hay ở cả."
"Ồ có chứ, tôi hiểu hết chứ lị. Nhưng mà tôi biết làm sao được đây, hỡi anh Eames? Tôi đã dọa đuổi cổ chúng mỗi tuần một lần suốt sáu tháng nay rồi, nhưng ngặt nỗi càng dọa chúng lại càng lỳ mặt ra đấy không chịu đi. Trừ phi tôi phải gọi cảnh sát đến để làm một trận lôi đình ầm ĩ trong nhà —"
"Nhưng con có phàn nàn gì về nhà Lupex đâu, thưa bà Roper."
"Chẳng có lý do gì mà anh lại đột ngột dọn đi như thế. Chẳng lẽ anh sắp thực sự kết hôn rồi hay sao, hỡi anh Eames?"
"Chuyện đó thì con chịu."
"Anh cứ nói thật với tôi đi; nói thật đi nào. Tôi sẽ giữ kín miệng — chẳng hé lộ với ai đâu. Chuyện của con bé Amelia hoàn toàn không phải do lỗi tại tôi đâu. Thật đấy."
"Ai bảo là có lỗi lầm gì đâu chứ?"
"Tôi thừa sức nhận ra chứ, anh Eames. Đương nhiên phận làm mẹ như tôi thì không tiện nhúng tay vào rồi. Và nếu anh đã có cảm tình với nó, tôi dám khẳng định nó sẽ trở thành một người vợ tuyệt vời chẳng kém gì bất cứ cô gái nào mà một chàng trai từng cưới hỏi; con bé lại cực kỳ tháo vát, biết chi tiêu tằn tiện khéo léo hơn khối cô khác. Anh thừa hiểu tấm lòng của một người mẹ mà; nếu đã có chuyện gì xảy ra giữa hai đứa, tôi sao đành lòng phá đám cơ chứ; phải không nào?"
"Nhưng ngặt nỗi chẳng có chuyện gì xảy ra cả."
"Tôi đã nói với nó điều đó suốt mấy tháng nay rồi. Tôi không hề có ý trách móc gì anh đâu; nhưng đàn ông trai tráng phải hết sức cẩn trọng trong chuyện tình cảm; thực sự là thế đấy." Johnny không nỡ hé lộ với người mẹ bất hạnh rằng phụ nữ cũng cần phải cẩn trọng không kém, nhưng trong lòng cậu đang thầm nghĩ thế. "Đã bao nhiêu lần tôi ước gì con bé đừng bao giờ bén mảng đến đây, thưa anh Eames; thực lòng tôi ước thế. Nhưng người mẹ như tôi thì biết làm sao? Chẳng nhẽ lại đuổi nó ra ngoài đường." Nói rồi bà Roper đưa chiếc tạp dũ lên che mắt và bắt đầu sụt sùi khóc nức nở.
"Con rất tiếc nếu mình đã gây ra bất kỳ rắc rối nào," Johnny nói.
"Đó không phải là lỗi của anh," người phụ nữ tội nghiệp tiếp lời, khi những giọt nước mắt không thể kìm nén được nữa đã trào ra cùng với những cảm xúc chân thật nhất và tiếng lòng thổn thức của một người phụ nữ. "Cũng chẳng phải lỗi của tôi. Nhưng tôi đã sớm biết cục diện sẽ đi đến đâu khi chứng kiến cách con bé hành xử; và tôi đã cảnh cáo nó rồi. Tôi biết thừa là anh sẽ chẳng đời nào chịu đựng nổi một kẻ như nó."
"Thưa bà Roper, thực lòng con vẫn luôn dành sự quý trọng lớn cho cô ấy, và cho cả bà nữa."
"Nhưng anh đâu có định cưới nó. Tôi đã nói với con bé điều đó suốt từ đầu đến cuối, và tôi đã van xin nó đừng dấn tới nữa — suýt chút nữa tôi đã quỳ lạy nó rồi ấy chứ; nhưng nó có chịu nghe lời tôi đâu. Chưa bao giờ nó nghe lời ai. Con bé vốn bướng bỉnh đến mức thà cứ để nó đi khuất mắt tôi còn hơn là giữ bên mình. Dù rằng ở nhà nó là một đứa con gái ngoan ngoãn — thực sự là thế đấy, thưa anh Eames; chẳng có đôi tay nào trong cái nhà này lại chăm chỉ làm lụng bằng nó; nhưng tôi có khuyên can gì cũng bằng thừa."
"Con nghĩ chẳng có thiệt hại gì lớn đâu ạ."
"Có chứ, thiệt hại lớn đằng khác! Nó làm cho chốn này mất đi vẻ đàng hoàng vốn có. Bọn nhà Lupex mới là đám tệ hại nhất. Cả cô Spruce nữa, người đã ở với tôi suốt chín năm trời — từ ngày tôi mới bắt đầu mở cái nhà trọ này — sáng nay cô ấy cũng vừa thông báo với tôi là sẽ dọn về quê sống. Mọi chuyện đều suy từ một gốc mà ra cả. Tôi hiểu hết. Tôi nhìn thấu hết. Cõi nhà này không còn giữ được sự đoan chính đáng ra phải có; và nếu mẹ anh mà biết được ngọn ngành, bà hoàn toàn có quyền nổi giận với tôi. Tôi thực sự có ý định làm ăn đàng hoàng mà, anh Eames; tôi thề là có."
"Cô Spruce rồi sẽ nghĩ lại thôi."
Anh chẳng thể hình dung nổi những gì tôi phải gánh chịu đâu. Chẳng có lấy một ai trả tiền trọ cho sòng phẳng — ngoại trừ cô ấy và anh ra. Cô Spruce đúng là vững chãi như Ngân hàng Anh quốc vậy."
"E rằng dạo này con cũng chẳng được sòng phẳng cho lắm đâu, thưa bà Roper."
"Ơ hay, anh sòng phẳng mà. Tôi chẳng màng dăm ba đồng chẵn lẻ nhiều ít vào cuối quý, miễn là tôi chắc chắn cuối cùng mình sẽ nhận được tiền. Lão hàng thịt — hắn nắm rõ tính nết khách trọ nhà tôi chẳng kém gì tôi đâu — nếu tiền chắc chắn sẽ trả, hắn sẵn sàng đợi; nhưng đời nào hắn chịu đợi mấy kẻ như vợ chồng nhà Lupex, thứ tiền nong mù mịt chẳng thấy tăm hơi đâu. Lại còn cái cậu Cradell nữa chứ; anh có tin nổi không, cái gã đó đang nợ tôi tận hai mươi tám bảng đấy!"
"Hai mươi tám bảng cơ á!"
"Vâng, thưa anh Eames, hai mươi tám bảng Anh đàng hoàng! Hắn ta đúng là một tên ngốc. Toàn bộ số tiền đó đã bị nhà Lupex vét sạch vào túi. Tôi thừa biết. Hắn chẳng hề đả động gì đến chuyện trả nợ hay dọn đi. Rồi đây tôi sẽ bị bỏ lại với độc nhất cái thân hắn và vợ chồng nhà Lupex trên cổ; và khi đó mấy tay thừa phát nha cứ việc kéo đến tịch thu từng cây gỗ trong cái nhà này. Tôi cũng chẳng buồn hé răng ngăn cản đâu." Nói đoạn, bà ngả người phịch xuống chiếc ghế bành bọc lông ngựa cũ kỹ và buông thả bản thân vào nỗi sầu muộn đàn bà.
"Con nghĩ chắc con phải lên lầu chuẩn bị cho bữa tối đây," Eames nói.
"Và anh vẫn nhất định phải dọn đi khi trở về ư?" bà Roper hỏi.
"Vâng, thưa bà, e rằng con buộc phải đi. Con muốn báo trước để bà chuẩn bị tinh thần một tháng tính từ hôm nay. Dĩ nhiên con vẫn sẽ trả tiền thuê nhà đầy đủ cho tháng đó."
"Tôi nào có muốn trục lợi gì từ anh; thực lòng là không. Nhưng tôi thực sự hy vọng anh sẽ để lại đồ đạc ở đây. Anh cứ việc lấy chúng bất cứ lúc nào anh muốn. Nếu lão Chumpend mà biết cả anh và cô Spruce đều dọn đi, thể nào hắn cũng sẽ lùng sục đòi tiền tôi cho bằng được." Lão Chumpend chính là người bán thịt. Nhưng Eames chẳng đưa ra câu trả lời nào trước lời khẩn nài thảm thiết ấy. Chuyện cậu có thể gửi lại đôi bốt cũ ở Burton Crescent trong một hai tuần tới hay không, hoàn toàn tùy thuộc vào thái độ tiếp đón của Amelia Roper tối nay.
Khi cậu bước xuống phòng khách, chẳng có ai ở đó ngoài cô Spruce. "Một ngày đẹp trời, thưa cô Spruce," cậu chào.
"Vâng, thưa anh Eames, ở London thế này là đẹp trời rồi; nhưng anh có thấy không khí miền quê dễ chịu lắm không?"
Cho tôi xin cái cảnh phố xá tấp nập này đi," Johnny đáp, trong thâm tâm vẫn muốn nói vài lời tốt đẹp vớt vát cho bà Roper tội nghiệp nếu có thể.
"Anh còn trẻ, anh Eames ạ; nhưng tôi thì chỉ là một bà già lụ khụ. Khác biệt lớn lắm chứ," cô Spruce nói.
"Cũng chẳng khác là mấy," Johnny đáp với ý định tỏ ra lịch thiệp. "Chắc cô cũng chẳng thích cảnh buồn tẻ hiu hắt hơn tôi là bao."
"Tôi thích sống sao cho đẻ đàng danh dự cơ, anh Eames ạ. Xưa nay tôi vẫn luôn sống đàng hoàng," cô Spruce hạ thấp giọng gần như thì thầm, lo lắng liếc mắt ngó chừng xem cánh cửa đã bị ai đứng nghe lén hay chưa.
"Con tin chắc bà Roper là một người rất đàng hoàng."
"Vâng; bà Roper thì đàng hoàng rồi, anh Eames; nhưng ngặt nỗi trong nhà này có một vài kẻ mà — Xùy-xùy-xùy!" Và cụ già đưa ngón tay lên đặt hờ bên môi. Cánh cửa đột ngột bật mở và mụ Lupex uyển chuyển bơi vào phòng.
"Dạo này thế nào rồi cô Spruce? Tôi dám cá là lúc nào cô cũng đến sớm nhất. Chắc là để tranh thủ độc chiếm mấy anh chàng thanh niên nhà mình đây mà, tôi đóan thế đấy. Hôm nay ngoài thành phố có tin tức gì mới không hỡi anh Eames? Ở vị trí của anh bây giờ đương nhiên là nắm bắt hết mọi tin tức sốt dẻo rồi."
"Sir Raffle Buffle vừa sắm một đôi bốt mới. Tôi không dám chắc chắn một trăm phần trăm, nhưng tôi đoán thế qua khoảng thời gian mất nguyên buổi sáng để lão xỏ chân vào."
"Chà! Giờ thì anh lại bắt đầu trêu chọc người ta rồi đấy. Đàn ông các anh hễ cứ phất lên một chút là hay có cái thói ấy lắm. Lúc đó thì các phụ nữ chúng tôi chẳng có giá trị gì để trò chuyện nữa, họa chăng chỉ để làm trò đùa cợt mà thôi."
"Tôi thà trò chuyện với cô Lupex còn hơn là ngồi buôn chuyện với Sir Raffle Buffle."
"Anh nói thế nào ấy chứ. Nhưng tụi tôi là đàn bà con gái thừa sức hiểu những lời tán tỉnh kiểu đó có ý nghĩa gì — phải không nào cô Spruce? Một người phụ nữ đã kết hôn được năm năm tròn — hay nói đúng hơn là sáu năm — thì chẳng còn trông mong gì nhiều sự chú ý từ phía các chàng trai trẻ nữa. Và dù ngày trước lúc bước chân vào hôn nhân tôi còn rất trẻ — trẻ về tuổi tác ấy mà — nhưng tôi đã chứng kiến quá nhiều và nếm trải đủ đường để mà chẳng còn non dại trong tâm hồn nữa." Mụ nói điều này gần như bằng giọng thì thầm; nhưng cô Spruce đã nghe thấy trọn vẹn, và điều đó càng củng cố thêm niềm tin đinh đóng cột của bà rằng cái nhà trọ ở Burton Crescent này không còn chút uy tín đàng hoàng nào nữa.
Tôi chẳng biết hồi đó cô thế nào, thưa cô Lupex," Eames nói; "nhưng bây giờ trông cô vẫn đủ trẻ trung để làm bất cứ chuyện gì."
"Anh Eames ạ, tôi sẵn sàng bán rẻ những năm tháng thanh xuân còn sót lại của mình — bán với giá cực kỳ rẻ mạt — miễn là tôi có thể chắc chắn về —"
"Chắc chắn điều gì cơ, thưa cô Lupex?"
"Sự chung thủy trọn vẹn của duy nhất một người mà tôi yêu thương. Đó là tất cả những gì cần thiết cho hạnh phúc của một người phụ nữ."
"Thế còn anh Lupex —"
"Lupex! Thôi nào, xuỵt, quên hắn đi. Lẽ ra tôi không nên để cảm xúc lấn át mình như thế. Kìa bạn của anh, cậu Cradell đến kìa. Anh có biết đôi khi tôi tự thắc mắc không hiểu anh tìm thấy điểm gì ở con người đó để mà gắn bó thân thiết đến thế." Cô Spruce đã thu gọn tất cả vào mắt và tai, và quả quyết hạ ình dọn đến hai căn phòng nhỏ xíu ở Dulwich.
Chẳng có nổi một lời nào được trao đổi giữa Amelia và Eames trước bữa tối. Amelia vẫn một mực dán mắt chăm chú vào Cradell, và Johnny thừa hiểu rằng mũi tên ấy, nếu cần dùng đến, sẽ là một thứ vũ khí vô cùng lợi hại. Họ nhìn thấy bà Roper đang ngồi thẫn thờ ở vị trí quen thuộc tại bàn ăn, và Eames tinh ý nhận ra những vết tích còn hằn lại từ những giọt nước mắt của bà. Người phụ nữ tội nghiệp! Có lẽ chẳng có hoàn cảnh nào trên đời này lại éo le và khó nhọc hơn tình cảnh của bà! Suốt ngày cứ phải chèo kéo người khác trả tiền trọ mà họ cứ khất lần khất lữa; rồi lại bị chủ nợ buông lời thúc giục siết nợ món tiền mà bà chẳng cách nào xoay sở nổi; khao khát giữ gìn sự đoan chính vì bản chất của nó, nhưng lại buộc phải ngậm ngùi thừa nhận rằng đó là thứ xa xỉ vượt quá tầm với; đành ngậm đắng nuốt cay dung túng cho những kẻ trơ trẽn vô lại vì chút lợi lộc mọn, để rồi cuối cùng chẳng thu được đồng nào mà còn nếm trải cảm giác phá sản vì chính sự dung túng ấy! Biết bao nhiêu những người đàn bà như bà Roper cứ trượt dốc và tàn lụi dần qua năm tháng, chẳng ai hay biết họ dạt về phương trời nào! Người ta phảng phất tưởng tượng ra hình ảnh họ đây đó ở những góc phố với chiếc mũ rách bươm và tà áo mỏng tang, trên vai vắt vẻo mảnh khăn choàng cũ rích sờn rách, ánh mắt vẫn phảng phất nỗi hoài niệm mờ nhạt về một thời quá vãng đàng hoàng xa xôi. Họ đảo đôi mắt lo âu ngóng trộng khắp các ngả đường như thể đang săn tìm những vị khách trọ mới. Làm sao họ kiếm nổi mẩu bánh mì qua ngày và bát trà loãng tội nghiệp — bát trà loãng nhạt thếch đôi khi bỏ thêm chút rượu gin trị giá dăm xu, nếu ơn trên rủ lòng thương! Bà Roper thấm thía hơn ai hết trạng thái khốn cùng ấy, và giờ đây, người phụ nữ tội nghiệp đang nơm nớp lo sợ bản thân cũng sắp rơi xuống vũng lầy đó dưới sự tiếp sức của nhà Lupex. Trong bữa ăn hôm nay, bà lặng lẽ xẻ từng phần thịt và phân phát những lát thịt cho vị khách tốt tính sắp dọn đi lẫn những vị khách xấu tính bám trụ lại với một sự thờ ơ vô cảm. Bày tỏ lòng tốt với vị khách này hay tỏ thái độ khó chịu với vị khách khác vào lúc này còn có ích gì nữa cơ chứ? Cứ để họ ăn miếng thịt cừu đi — cả những kẻ chịu trả tiền lẫn những kẻ quỵt sờ sờ ra đó. Bà sẽ chẳng còn cơ hội xẻ thịt thêm mấy khúc đùi cừu nào nữa trong cái nhà này đâu, nếu lão Chumpend thực hiện đúng mọi lời đe dọa mà lão đã tru tréo vào mặt bà sáng nay.
Độc giả có lẽ vẫn còn nhớ căn phòng nhỏ phía sau phòng ăn. Trong những trang trước, tác giả từng mô tả về cuộc trò chuyện riêng tư diễn ra giữa Amelia và người tình của ả. Chính tại căn phòng đó, mọi cuộc gặp gỡ kín đáo của nhà trọ bà Roper đều diễn ra. Một căn phòng chuyên dùng cho các cuộc gặp riêng tư là điều không thể thiếu trong bất kỳ hộ gia đình đông đúc phức tạp nào. Nếu một người đàn ông sống độc thân với vợ, anh ta muốn trò chuyện ở đâu cũng được. Con cái dù đã lớn khôn cũng hiếm khi tạo ra nhu cầu thiết yếu về một căn phòng chuyện trò riêng, dẫu rằng đôi khi nhu cầu ấy xuất hiện nếu các cô con gái đến tuổi cập kê và có tư tưởng độc lập. Nhưng khi cơ cấu gia đình trở nên rối rắm hơn thế này, nếu có thêm một gã thanh niên ngoài luồng dọn vào ở trọ, hoặc một bà cô đến sống chung, hay những đứa con đã trưởng thành của người vợ trước can thiệp vào nếp sống gia đình, thì một không gian riêng tư như thế trở thành thứ tối quan trọng không thể thiếu. Chẳng người phụ nữ nào dám nhận khách trọ mà lại thiếu đi một căn phòng như vậy; và nhà bà Roper có một phòng hệt thế, vô cùng nhỏ bé và tối tăm ẩm thấp, nhưng vẫn đủ dùng — nằm lọt thỏm ngay phía sau phòng ăn và đối diện với lối cầu thang xuống nhà bếp. Ngay sau bữa tối, Amelia được gọi giật giọng ra đó. Ả vừa mới tẽn tò ngồi kẹt giữa mụ Lupex và cô Spruce — chuẩn bị sẵn sàng tinh thần chiến đấu với mụ Lupex vì cái tội cứ lì lợm ở lại, và chiến đấu với cô Spruce vì cái tội dọn đi — thì bị cô con gái hầu bàn réo gọi.
"Cô Mealyer, cô Mealyer — xuỵt — xuỵt — xuỵt!" Và Amelia ngoảnh đầu nhìn lại, bắt gặp một bàn tay đỏ phều đang khua khoắn vẫy gọi mình. "Hắn đang đứng dưới ấy kìa," Jemima vừa lướt đến thầm thì ngay khi cô chủ nhỏ vừa bước tới, "và muốn gặp cô có chuyện cực kỳ cơ mật đấy."
"Gã nào thế?" Amelia thì thầm gặng hỏi.
"Thì còn ai vào đây nữa, anh Heames chứ ai. Cô đừng có dại dột mà dây dưa gì với cái gã còn lại nhé cô Mealyer, ơn trời xin cô đừng; hắn ta chẳng tốt lành gì đâu; thật đấy."
Amelia đứng khựng lại giây lát ngay trên chiếu nghỉ cầu thang, đắn đo tự hỏi không biết nên nhận lời gặp mặt hay từ chối cho xong. Mục đích của ả có hai; — hay đúng hơn, mục đích của ả mang tính hai mặt. Đương nhiên ả rất sốt sắng muốn đẩy John Eames vào chân tường đến mức tuyệt vọng; nhưng đồng thời cũng muốn dùng thêm vài thủ đoạn tinh vi để chắc chắn tóm được Cradell phòng hờ trường hợp sự tuyệt vọng của Eames không mang lại hiệu quả nhanh chóng như ý muốn. Ả hoàn toàn đồng tình với đánh giá của Jemima ở đại cục, nhưng chưa đến mức cực đoan cho rằng Cradell hoàn toàn vô dụng. Cứ nhắm Eames trước đã nếu có thể; nhưng cũng phải giữ sẵn chiếc phao cứu sinh thứ hai phòng khi Eames bất thành. Cô gái tội nghiệp! Để đi đến quyết định này, ả đã phải trải qua không ít dằn vặt đớn đau. Ả có một trái tim, và với chút sức mọn mà trái tim ấy ban cho, ả thực lòng yêu John Eames. Nhưng cuộc đời đã đối xử quá đỗi khắc nghiệt với ả; xô đẩy ả không thương tiếc từ góc này sang góc khác; đe dọa tước đoạt đi của ả những niềm vui ít ỏi mà ả đang tận hưởng, hệt như tình thế hiện tại. Khi một cô gái lâm vào hoàn cảnh ngặt nghèo như thế, ả chẳng còn đủ xa xỉ tâm trí mà quan tâm đến tiếng gọi của trái tim nữa. Ả suýt nữa thì quyết định phớt lờ không gặp Eames trong lần này, nghĩ rằng việc từ chối đó có thể đẩy Eames vào đường cùng, đồng thời cũng nhớ ra rằng Cradell đang có mặt trong nhà và thế nào cũng sẽ đánh hơi được vụ này.
"Hắn đang đứng đợi dưới đó kìa, cô Mealyer. Sao cô cứ chần chừ mãi không xuống đi?" rồi Jemima giật giật tay cô chủ nhỏ.
"Tôi đang xuống đây," Amelia đáp. Và với những bước đi đầy kiêu hãnh, ả rảo bước xuống phòng dưới để tham gia cuộc gặp mặt định mệnh.
"Cô ấy đây rồi, thưa anh Heames," con nhỏ hầu bàn cất giọng. Và thế là Johnny lại thấy mình đứng trơ trọi một mình với người tình.
Anh cho gọi tôi xuống có việc gì, thưa anh Eames?" ả hất mặt sang một bên, quay ngoắt hướng khác không thèm nhìn thẳng vào cậu và cất giọng đon đả. "Tôi đang bận trên lầu, nhưng nghĩ lại thấy không xuống gặp anh thì bất lịch sự quá, nhất là khi anh cho người gọi đích danh tôi khẩn thế cơ mà."
"Vâng, thưa cô Roper, quả thực tôi có việc rất hệ trọng muốn gặp cô."
"Ôi trời đất ơi!" ả thốt lên, và cậu hiểu rõ mồn một tiếng kêu ấy ám chỉ việc cậu đã cố tình lược bỏ cách gọi tên thân mật quen thuộc.
"Tôi đã gặp mẹ cô trước bữa tối, và tôi đã thông báo với bà ấy rằng ngày kia tôi sẽ dọn đi vắng."
"Chuyện đó tụi tôi thừa biết rồi; — đến nhà bá tước chứ gì!" Và cái đầu ả lại hất lên một nhịp nữa.
"Và tôi cũng nói với bà ấy rằng tôi đã quyết định không quay lại Burton Crescent nữa."
"Cái gì! Rời khỏi hẳn cái nhà này luôn ư!"
"Chà; vâng. Đàn ông đôi khi cũng phải thay đổi chỗ ở chứ cô."
"Và anh định dọn đi đâu hả John?"
"Chuyện đó thì hiện tại tôi chưa xác định rõ."
"Nói thật cho tôi biết đi John; có phải anh chuẩn bị kết hôn không? Có phải anh — đang — sắp lấy — cái cô ả đó — món đồ thừa của anh Crosbie không? Tôi đòi anh phải trả lời thẳng thắn ngay lập tức. Anh có định cưới cô ta không?"
Cậu đã tự nhủ rất kiên quyết rằng bất cứ điều gì ả thốt ra cũng không được phép làm mình nổi giận, nhưng khi nghe ả hằn học chì chiết về "món đồ thừa của Crosbie", cậu bỗng thấy việc kìm nén cơn giận khó khăn hơn bao giờ hết. "Tôi không đến đây," cậu điềm đạm đáp, "để bàn luận về bất cứ ai ngoài chúng ta."
"Cái chiêu bài đánh trống lảng đó không qua mắt được tôi đâu thưa ngài. Anh đừng có hòng giở cái thói trăng hoa khốn nạn ấy ra với bất kỳ cô gái nào — ôi, John!" Rồi ả trừng mắt nhìn cậu ra điều không biết nên nhào tới cắn xé phủ lấp nụ hôn hay nhào tới cào cấu giật tóc bứt tai cho bõ giận.
"Tôi thừa nhận mình đã cư xử không đúng mực," cậu mở lời.
"Ôi, John!" và ả lắc đầu ngao ngán. "Vậy ý anh là muốn tuyên bố rằng anh sẽ cưới con ả đó chứ gì?"
"Tôi chẳng hề có ý định nói thế. Tôi chỉ muốn thông báo rằng tôi sắp dọn đi khỏi Burton Crescent mà thôi."
"John Eames, không hiểu anh nghĩ cuộc đời mình rồi sẽ ra cái thá gì nữa đây! Anh trả lời tôi đi; anh đã từng hứa với tôi chưa — một lời hứa rành mạch, hết lần này đến lần khác, hay là chưa?"
"Tôi không nhớ có lời hứa rành mạch nào —"
"Thôi đi, thôi đi! Tôi cứ nghĩ anh là một trang nam nhi dám làm dám chịu và không bao giờ nuốt lời. Tôi đã lầm tưởng như thế đấy. Tôi cứ nghĩ anh sẽ chẳng đời nào đẩy một tiểu thư khuê cát vào cái đường cùng phải lôi cả những bức thư cũ ra để chứng minh rằng những gì cô ấy trông đợi hoàn toàn chính đáng! Anh không nhớ ư? Thế mà anh dám thốt ra câu đó sau bao nhiêu chuyện xảy ra giữa chúng ta! John Eames!" Và một lần nữa, ả lại chực lao bổ vào cậu.
"Tôi đã bảo là tôi thừa nhận mình cư xử tệ bạc rồi cơ mà. Còn muốn tôi phải nói gì nữa đây?"
"Còn muốn nói gì nữa ư? Ôi, John! Sao anh lại mở miệng hỏi một câu trơ trẽn thế hở giời! Nếu anh thực sự là một người đàn ông đích thực thì anh thừa biết phải nói những gì chứ. Nhưng khốn nỗi mấy tay thư ký riêng các anh sinh ra vốn đã ngấm sẵn máu lừa lọc, đúng là bản tính khó dời. Dù sao đi nữa, tôi khinh anh — thực sự khinh bỉ anh đấy. Tôi khinh."
"Nếu cô đã khinh bỉ tôi đến thế, chi bằng chúng ta bắt tay nhau rồi dứt khoát chia tay ngay tại đây cho xong chuyện. Tôi dám cá thế là thượng sách. Đương nhiên chẳng ai thích bị người ta khinh miệt cả; nhưng đôi khi sự tình ép buộc người ta chẳng thể khác được." Nói rồi cậu chìa tay ra về phía ả.
"Và đây sẽ là đoạn kết cho tất cả mọi chuyện sao?" ả vừa thốt lên vừa rụt rè đưa tay nắm lấy tay cậu.
"Chà, vâng; chắc là thế rồi. Cô vừa bảo tôi là kẻ đáng khinh cơ mà."
"Lẽ ra anh không nên đối xử phũ phàng với một đứa con gái nghèo khổ chỉ vì dăm ba câu nói lúc giận hờn — nhất là khi cô ấy đang phải chịu đựng những đày đọa thế này! Chỉ cần anh nghĩ lại thôi — nghĩ xem tôi đã mòn mỏi ngóng chờ những gì!" Và đến lúc này Amelia bắt đầu sụt sùi khóc nức nở, ngả đầu ra chiều sắp ngã quỵ vào lòng cậu.
"Nói ra sự thật vẫn hơn mà," cậu điềm tĩnh nói; "phải không nào?"
"Nhưng sự thật đâu có phải thế."
"Nhưng đó chính là sự thật. Tôi không thể làm khác được. Cố chấp như thế chỉ chuốc lấy tàn phá bản thân tôi và cả cô nữa, và chúng ta sẽ chẳng bao giờ có được hạnh phúc đâu."
"Tôi sẽ hạnh phúc — hạnh phúc viên mãn là đằng khác." Khoảng khắc ấy, những giọt nước mắt của cô gái tội nghiệp là hoàn toàn chân thật và những lời bộc bạch chẳng hề mang chút mưu mô xảo quyệt nào. Dẫu chỉ trong chớp nhoáng phút giây, trái tim ả — trái tim bằng xương bằng thịt — đã được phép lên tiếng chi phối.
"Chuyện đó không thể thành hiện thực được đâu Amelia. Cô không chúc tôi một câu từ biệt hay sao?"
"Vĩnh biệt," ả thì thầm, ngả người sát vào ngực cậu.
"Tôi thực lòng hy vọng cô sẽ được hạnh phúc," cậu dịu dàng nói. Và rồi, vòng tay ôm lấy vòng eo thon thả của ả, cậu cúi xuống đặt lên môi ả một nụ hôn — hành động mà quả thực lúc đó cậu không nên làm chút nào.
Khi cuộc gặp gỡ khép lại, cậu lẩn nhanh ra ngoài khu quảng trường, sải bước qua những dãy nhà Woburn Square, Russell Square và Bedford Square — hướng thẳng về phía trung tâm sầm uất của London, trong lòng dâng trào cảm giác phơi phới nhẹ nhõm như thể vừa khải hoàn chiến thắng. Cậu đã rũ bỏ sạch sẽ mọi rắc rối ngổn ngang, và giờ đây, cậu đã sẵn sàng cất lên khúc ca tình yêu dành riêng cho Lily.