Vì bà Dale, người của Ngôi Nhà Nhỏ, vốn không phải là một người họ Dale từ trong trứng nước, nên chẳng có lý do gì bắt buộc người ta phải tìm kiếm những nét tính cách đặc trưng của dòng họ Dale ở bà. Những nét đặc trưng ấy có lẽ cũng không mấy nổi bật ở các cô con gái của bà, những người thừa hưởng từ mẹ nhiều hơn là từ cha về mặt đó; nhưng một nhà quan sát tinh ý vẫn có thể nhận ra các cô thiếu nữ ấy mang dòng máu Dale. Họ kiên định, có lẽ là bướng bỉnh, thỉnh thoảng hơi khắt khe trong cách đánh giá, và có xu hướng cho rằng việc mang họ Dale là một điều rất to tát, dù chẳng hay lớn tiếng khoe khoang về điều đó. Nhưng họ đồng thời cũng có một niềm kiêu hãnh cao đẹp hơn thế, thứ đã truyền lại cho họ như một di sản từ người mẹ.
Bà Dale quả thực là một người phụ nữ kiêu hãnh — không phải vì bà có bất cứ thứ gì thuộc về bản thân để mà tự hào. Về gia thế, bà thua kém chồng rất nhiều, bởi ông nội của bà hầu như chẳng là ai cả. Của hồi môn của bà khá lớn so với địa vị của bà trong xã hội, và hiện nay bà vẫn chủ yếu sống bằng nguồn thu nhập từ đó; thế nhưng số tiền ấy chẳng đủ để mang lại chút kiêu hãnh nào của sự giàu sang. Và bà từng là một mỹ nhân; theo gu thẩm mỹ của tôi, thì bây giờ vẫn rất đáng yêu; nhưng chắc chắn ở vào độ tuổi này, khi đã là một góa phụ suốt mười lăm năm qua với hai cô con gái lớn, bà chẳng mảy may tự hào về nhan sắc của mình. Bà cũng chẳng hề có chút ý thức kiêu hãnh nào về việc mình là một quý bà. Rằng bà là một quý bà, từ trong ra ngoài, từ đỉnh đầu cho đến gót chân, trong tâm hồn, trong trái tim và trong trí tuệ, một quý bà bởi sự giáo dục và một quý bà bởi bản chất, lại thêm cả sự quý phái bẩm sinh dẫu cho có chút thiếu sót về phần người ông nội — điều này tôi xin khẳng định như một sự thật — meo periculo. Và bác địa chủ, dù chẳng mấy mặn mà gì với bà, cũng đã công nhận điều này và đối xử với bà về mọi mặt như người ngang hàng với mình.
Nhưng hoàn cảnh của bà lại đòi hỏi bà hoặc phải vô cùng kiêu hãnh, hoặc là phải hết sức nhún nhường. Bà nghèo, thế nhưng các con gái của bà lại sinh hoạt trong một tầng lớp vốn dĩ chỉ dành cho con gái của những kẻ giàu có. Chúng có được vị trí ấy nhờ là cháu gái của người chủ đất độc thân ở Allington, và với tư cách là cháu gái của ông, bà cảm thấy chúng có quyền đón nhận sự che chở và lòng tốt của ông mà không làm tổn hại đến lòng tự trọng của cả bà lẫn chúng. Bà sẽ làm tròn rất kém bổn phận của một người mẹ nếu để bất kỳ niềm kiêu hãnh cá nhân nào đứng vào giữa các con mình và những lợi thế ở đời mà người bác có thể dành cho chúng. Vì lợi ích của các con, bà đã nhận lời cho mượn ngôi nhà đang ở và quyền sử dụng rất nhiều tiện ích thuộc về người anh chồng; nhưng về phần riêng mình, bà chẳng nhận bất cứ thứ gì. Cuộc hôn nhân của bà với Philip Dale từng không được người anh chồng là bác địa chủ ưa thích, và khi Philip còn sống, bác địa chủ vẫn tiếp tục cho thấy tình cảm của ông đối với vấn đề này là không thể thay đổi. Chúng chưa bao giờ thay đổi; và giờ đây, dẫu cho người anh chồng và cô em dâu đã là hàng xóm sát vách suốt bao nhiêu năm, sống có thể nói là gần như trong cùng một gia đình, họ chưa bao giờ trở thành bạn bè. Chưa từng có một lời tranh cãi nào giữa họ. Họ gặp nhau luôn miệng. Bác địa chủ đã vô thức hình thành một sự tôn trọng sâu sắc dành cho người góa phụ của em trai mình. Người góa phụ cũng đã tự thừa nhận sự chân thành trong tình cảm mà người bác dành cho các con gái mình. Thế nhưng họ chưa bao giờ xích lại gần nhau như những người bạn. Về các vấn đề tiền bạc của riêng mình, bà Dale chưa bao giờ thốt lấy một lời với bác địa chủ. Về những dự định của ông đối với các cô gái, bác địa chủ chưa bao giờ hé răng nửa lời với người mẹ. Và cứ thế, họ đã và đang sống ở Allington.
Cuộc sống mà bà Dale trải qua không hẳn là một cuộc sống dễ dàng — không hề thiếu đi những nỗ lực đầy đau đớn từ phía bà. Có thể nói triết lý sống của bà là thế này: bà tự vùi mình đi để các con gái có thể sống thật đàng hoàng ngẩng mặt với đời. Và để thực hiện triết lý ấy, bà bắt buộc phải kiềm chế mọi lời phàn nàn hay biểu hiện bứt rứt trước mặt các con. Cuộc sống ngẩng mặt với đời của chúng sẽ chẳng thể tốt đẹp nếu chúng hiểu rằng người mẹ, trong cuộc sống âm thầm dưới đáy xã hội này của bà, đang phải chịu đựng bất kỳ sự hy sinh nào vì chúng. Chúng cần phải nghĩ rằng việc hái đậu trong chiếc mũ trùm đầu đi nắng, hay những giờ đọc sách dài bên lò sưởi của chính bà, và những khoảng thời gian cô độc chìm trong suy tư, là những điều đặc biệt hợp với sở thích của bà. "Mẹ không thích đi chơi xa." "Con nghĩ mẹ chẳng thấy vui ở đâu ngoài phòng khách nhà mình cả." Tôi không nói rằng các cô con gái được dạy để thốt ra những lời như thế, nhưng chúng được dạy để có những suy nghĩ dẫn đến những lời lẽ ấy, và trong những ngày đầu bước chân ra xã hội, chúng thường nói về mẹ mình như thế. Thế rồi một thời gian chẳng lâu sau đó đã đến với chúng — người này trước người kia sau — thời điểm mà chúng nhận ra sự thật không phải thế, đồng thời thấu hiểu tất cả những gì mẹ chúng đã phải chịu đựng vì hạnh phúc của chúng.
Và kỳ thực, bà Dale hoàn toàn có thể giữ được tâm hồn trẻ trung như chúng. Bà cũng có thể chơi bóng gỗ croquet, có thể đùa giỡn với chiếc cào cỏ khô, có thể hân hoan bên chú ngựa nhỏ của mình, ừ thì, và có thể lắng nghe những lời tán gẫu vụn vặt từ vị A-pô-lô này hay vị A-pô-lô khác, nếu bà nghĩ rằng mọi thứ đều cho phép làm thế. Phụ nữ ở tuổi bốn mươi không vì thế mà biến thành những kẻ chán ghét loài người già cõi, hay những nhà luân lý nghiêm nghị cứng nhắc theo kiểu thần Ra-da-man-thu-s*, tỏ ra thờ ơ trước những niềm vui của trần thế — không đâu, ngay cả khi họ là những góa phụ. Có những kẻ cho rằng giai đoạn tâm lý của họ phải là như thế. Tôi xin tuyên bố thẳng thắn là tôi không nghĩ vậy. Tôi muốn phụ nữ, và cả đàn ông nữa, hãy cứ trẻ trung chừng nào họ còn có thể. Không phải là một người phụ nữ nên tự khai giảm tuổi của mình so với cuốn sổ gia đình của cha cô ấy. Hãy để người phụ nữ ở tuổi bốn mươi tự nhận mình bốn mươi; nhưng nếu cô ấy có thể giữ được sự trẻ trung trong tâm hồn ở tuổi bốn mươi, thì hãy cứ thể hiện điều đó ra.
Tôi nghĩ rằng bà Dale đã sai. Bà đáng lẽ nên tham gia cùng nhóm người trên bãi cỏ chơi croquet, thay vì cứ nán lại giữa những giàn đậu với chiếc mũ trùm đầu đi nắng, nếu bà làm theo lời khuyên của tôi. Chẳng có một lời nào được nói ra giữa bốn con người ấy mà bà không nghe thấy. Những giàn đậu ấy chỉ cách bãi cỏ bằng một bức tường thấp và vài khóm cây bụi. Bà lắng nghe, không phải với tư cách của một kẻ đa nghi, mà đơn giản chỉ là của một người mang tình yêu thương. Giọng nói của các con gái rất đỗi thân thương đối với bà, và âm thanh trong trẻo vang vọng như tiếng chuông bạc từ giọng nói của Lily ngọt ngào bên tai bà chẳng khác nào âm nhạc của các vị thần. Bà nghe thấy hết những chuyện về phu nhân Hartletop, và rùng mình trước lời châm chọc táo bạo của Lily. Rồi bà nghe Lily nói rằng mẹ sẽ ở nhà để ăn đậu, và tự nhủ với một nỗi buồn rằng đó chính là số phận của bà trong cuộc đời này.
"Đứa con gái yêu dấu — và lẽ ra phải thế chứ!"
Suy nghĩ của bà cứ thế trôi đi. Và rồi, khi tai bà đã bắt được âm thanh của chúng lúc chúng bước qua chiếc cầu nhỏ sang phần đất bên kia, bà quay trở lại băng qua bãi cỏ để về nhà với gác tay đầy đồ đạc, rồi ngồi phịch xuống bậc cửa sổ phòng khách, phóng tầm mắt ra ngắm nhìn những đóa hoa mùa hè ngọt ngào cùng thảm cỏ mượt mà trước mặt.
Chẳng phải Thượng Đế đã quá nhân ái khi đặt để bà vào nơi này sao? Chẳng phải những giề mối cuộc đời bà đã được gieo ở những chốn nên thơ đó sao? Chẳng phải bà đã rất hạnh phúc với các con gái của mình — những đứa trẻ ngọt ngào, đầy yêu thương, đáng tin và biết tin tưởng hay sao? Đã đành là người bạn đời của bà, nửa kia tuyệt vời nhất của chính bà, phải rời bỏ bà khi tuổi đời còn quá trẻ, và nguồn cội của mọi niềm vui thanh tao cứ thế bị khép lại đối với bà, thế chẳng phải là một hồng ân khi giữa cơn tang gia bối rối, rất nhiều điều đã được thực hiện để làm dịu đi số phận cuộc đời bà và ban cho nó sự duyên dáng cùng nét đẹp đó sao? Mọi chuyện là thế đấy, bà tự biện luận với chính mình, và rồi bà lại tự thừa nhận rằng bản thân chẳng hề hạnh phúc. Bà đã hạ quyết tâm, như chính bà từng tự nhủ bao lần, là phải vứt bỏ những trò trẻ con, thế mà giờ đây bà lại thổn thức khôn nguôi vì những thứ mà bà đã tự tay gạt bỏ ấy. Ngay lúc ngồi đây, bà vẫn có thể nghe thấy giọng Lily khi chúng đi qua khóm cây bụi — nghe được ngay cả khi chẳng có đôi tai nào của người mẹ có thể phân biệt nổi âm thanh đó. Giờ đây, khi những chàng trai trẻ ấy đang ở Ngôi Nhà Lớn, thật tự nhiên khi các con gái của bà cũng có mặt ở đó. Bác địa chủ sẽ chẳng đời nào mời các chàng trai trẻ đến ở cùng nếu bàn tiệc của ông không có bóng hồng của các tiểu thư tô điểm. Còn phần bà — bà thừa biết chẳng ai cần sự hiện diện của mình ở đó cả. Thỉnh thoảng bà vẫn phải đến, vì nếu không đi, sự tồn tại của chính bà sẽ trở thành một điều kỳ quặc đáng khó chịu. Nhưng chẳng còn lý do nào khác để bà nhập bọn cùng họ cả; và việc tham gia cũng chẳng mang lại cho bà niềm vui hay giúp bà ban phát niềm vui nào. Cứ để các con gái của bà ăn từ bàn tiệc của bác chúng và uống chung chén rượu với ông. Chúng được chào đón nồng nhiệt từ tận đáy lòng để làm điều đó. Còn đối với bà, chẳng có sự chào đón nồng nhiệt nào như thế ở Ngôi Nhà Lớn — hay ở bất kỳ ngôi nhà nào khác, hay trên bất kỳ bàn tiệc nào khác!
"Mẹ sẽ ở nhà để ăn đậu."
Và rồi bà lặp lại những lời mà Lily vừa nói, ngồi thừ ở đó, tỳ củ chỏ lên đầu gối và chống cằm lên bàn tay.
"Thưa phu nhân, chị đầu bếp hỏi chúng con có thể lấy đậu để bóc chưa ạ?" và thế là dòng suy tư của bà bị cắt đứt.
"Thưa phu nhân,
chúng con có thể lấy đậu để bóc chưa ạ?"
Bấm để PHÓNG TO

Thế là bà Dale đứng dậy và giao lại chiếc giỏ. "Chị đầu bếp biết các cô chủ sắp ăn tối ở Ngôi Nhà Lớn chứ?"
"Dạ biết, thưa phu nhân."
"Chị ấy không cần bận tâm chuẩn bị bữa tối cho ta đâu. Ta sẽ uống trà sớm." Và thế là, suy cho cùng, bà Dale đã không thực hiện cái nhiệm vụ đặc biệt được dành riêng cho mình ấy.
Nhưng bà nhanh chóng tự bươn chải với một nhiệm vụ khác. Khi một gia đình ba người phải sống bằng khoản thu nhập ba trăm một năm, mà dẫu thế vẫn làm ra vẻ ta đây hay bước chân vào giới thượng lưu, họ buộc phải hết sức để tâm đến những tiểu tiết vụn vặt, dẫu cho gia đình ấy chỉ toàn là nữ nhi đi nữa. Điều này bà Dale ý thức rất rõ, và vì bà thích các con gái mình trông thật tươm tất, mới mẻ và xinh xắn trong trang phục của chúng, nên rất nhiều giờ đồng hồ dài đằng đẵng đã được dồn cho sự chăm chút ấy. Bác địa chủ thường gửi khăn choàng cho chúng vào mùa đông, từng tặng chúng áo quần mặc khi cưỡi ngựa, và gửi cả lụa nâu từ Luân Đôn xuống để may váy — khổ nỗi số lượng lại hạn chế đến mức việc may cho ra hai chiếc váy từ xấp vải ấy vượt quá khả năng của bất kỳ người phụ nữ nào, và những bộ trang phục bằng lụa nâu ấy đã trở thành một nỗi nhức nhối từ ngày đó cho tới tận bây giờ — bởi bác địa chủ có một trí nhớ rất tốt trong những chuyện như thế và luôn hào hứng muốn nhìn thấy thành quả từ sự rộng lượng của mình. Tất cả những điều này không nghi ngờ gì nữa là một sự trợ giúp lớn, nhưng giả sử bác địa chủ đem số tiền mà ông bỏ ra để mua những thứ ấy trao thẳng thành tiền mặt cho các cháu gái, thì lợi ích mang lại còn lớn hơn nhiều. Dẫu thế đi nữa, các cô gái lúc nào cũng trông thật tươm tất, mới mẻ và xinh xắn, bản thân chúng cũng chẳng lấy làm lười biếng trong chuyện đó; nhưng người thợ may chính của chúng lại chính là người mẹ. Và giờ đây, bà bước lên phòng chúng, lấy ra những chiếc váy bằng vải muslin, và — nhưng có lẽ, tôi không nên kể những chuyện thầm kín thế này chứ! — dẫu vậy, bà chẳng hề cảm thấy hổ thẹn với công việc của mình, khi bà sai người mang lên một chiếc bàn ủi nóng, rồi tự tay mình ủi phẳng những nếp nhăn, tạo nếp gấp hoàn hảo cho những đường viền nhún bèo, đính một chiếc ruy băng mới vào chỗ cần thiết, và kiểm tra để mọi thứ đều đâu ra đấy. Đàn ông chẳng mảy may suy nghĩ xem người ta phải chịu đựng biết bao nhiêu công sức loại này để làm vui mắt họ, dẫu cho điều đó chỉ kéo dài chưa đầy một tiếng đồng hồ.
"Ồ! Mẹ ơi, mẹ thật tốt quá," Bell thốt lên khi hai cô con gái bước vào, vừa đúng lúc kịp sửa soạn để quay lại bữa tối.
"Mẹ lúc nào cũng tốt cả," Lily nói. "Ước gì, mẹ ơi, con có thể làm những điều tương tự cho mẹ thường xuyên hơn," rồi cô hôn má mẹ. Nhưng bác địa chủ rất nghiêm khắc về giờ giấc ăn uống, thế nên chúng vội vã thay trang phục và lại quả quyết bước đi qua khu vườn, người mẹ đi cùng chúng đến tận chiếc cầu nhỏ.
"Bác con hình như không tỏ ra bực bội vì việc ta không đến đấy chứ?" bà Dale hỏi.
"Bọn con đã gặp bác đâu, thưa mẹ," Lily đáp. "Bọn con đi tuốt xuống tận những cánh đồng phía dưới, và quên bén mất là mấy giờ rồi."
"Con không nghĩ là bác Christopher có mặt ở quanh khu nhà, nếu không bọn con đã gặp bác ấy rồi," Bell nói.
"Nhưng con thì đang bực mình với mẹ đấy, mẹ ạ. Không phải thế sao, Bell? Mẹ thật quá tệ khi cứ ở lì một mình một cõi ở đây mà không chịu đến đó."
"Chắc là mẹ thích ở nhà hơn là lên Ngôi Nhà Lớn," Bell dịu dàng nói; và khi nói, cô đang cầm lấy tay mẹ.
"Thôi nào; chào các con nhé. Mẹ sẽ đợi các con về khoảng từ mười đến mười một giờ. Nhưng đừng có vội vã nếu bên ấy vẫn còn đang vui." Và thế là chúng đi, người góa phụ lại thui thủi một mình. Con đường mòn từ cây cầu chạy thẳng lên phía sau của Ngôi Nhà Lớn, thế nên trong chốc lát bà vẫn có thể nhìn thấy chúng đang tung tăng rảo bước gần như chạy. Rồi bà nhìn thấy tà váy của chúng phấp phới khi chúng rẽ ngoặt lên những bậc thềm sân hiên. Bà không bước ra khỏi cái hốc nhỏ giữa những tán lá nguyệt quế đang bao quanh mình, sợ rằng ai đó sẽ nhìn thấy bà khi đang dõi theo các con. Nhưng khi cái vạt váy muslin hồng cuối cùng đã khuất hẳn khỏi tầm mắt, bà lại thấy chạnh lòng vì mình không được phép đi theo chúng. Dẫu vậy, bà vẫn đứng đó mà chẳng tiến thêm một bước nào. Bà không đời nào để cho lão Hopkins đi loanh truyền chuyện bà đứng rình các con gái đi từ nhà mình sang nhà của người anh chồng. Chẳng đời nào cái đầu óc của lão Hopkins có thể hiểu được lý do tại sao bà lại dõi theo chúng.
"Nào các cô cháu, các cháu đến muộn quá đấy. Ta cứ nghĩ mẹ các cháu đáng lẽ phải đến cùng các cháu chứ," bác Christopher nói. Và đó chính là bản tính của con người ấy. Nếu tự nhận thức được mong muốn của chính mình, ông chắc chắn phải thừa nhận rằng ông cảm thấy thoải mái hơn khi bà Dale vắng mặt. Ông thấy mình thực sự là người làm chủ tuyệt đối và cảm thấy ấm cúng hơn khi ngồi vào bàn ăn của chính mình mà không có sự hiện diện của bà. Thế nhưng ông lại thường xuyên biến việc bà không đến thành một nỗi ấm ức và tự mình tin vào cái sự ấm ức ấy.
"Con nghĩ là mẹ mệt," Bell nói.
"Hừm. Từ nhà này sang nhà kia đâu có xa xôi gì cho cam. Nếu ta cứ tự nhốt mình lại mỗi khi mệt mỏi — Thôi kệ đi. Chúng ta đi ăn tối nào. Cơn-x-bi*, cháu dẫn cháu lơi Lilian của ta nhé." Và rồi, đưa cánh tay mình cho Bell vịn, ông bước thẳng về phía phòng ăn.
"Nếu ông ấy còn dám quở trách mẹ thêm lần nữa, con sẽ bỏ về ngay," Lily thì thầm với người bạn đồng hành của mình; qua đó có thể thấy rằng họ đã trở nên vô cùng thân thiết suốt một ngày dài đằng đẵng quây quần bên nhau.
Bà Dale, sau khi đứng lặng trên cầu một lúc, liền quay vào nhà để uống trà. Liệu bà đã dùng món sườn cừu thay thế hay thịt giăm bông nướng cho món vịt quay kèm đậu xanh vốn được chuẩn bị sẵn cho bữa tối gia đình hay không, chúng ta sẽ không đi sâu tìm hiểu tường tận. Tuy nhiên, chúng ta có thể mường tượng ra rằng bà chẳng hề dồn chút tâm huyết hay sự thèm ăn đặc biệt nào vào bữa tối cô quạnh ấy. Bà cầm theo một cuốn sách khi ngồi xuống — có lẽ là một cuốn tiểu thuyết, bởi bà Dale không phải là người quá cao ngạo để từ chối tiểu thuyết — và đọc lướt qua một hai trang trong lúc nhấp ngụm trà. Nhưng cuốn sách nhanh chóng bị gạt sang một bên, chiếc khay đựng đĩa thức ăn đã nguội lạnh bị bỏ mặc, và bà ngả người ra sau chiếc ghế quen thuộc, nghĩ về bản thân, về các con gái, và nghĩ cả về việc cuộc đời mình sẽ ra sao nếu người đàn ông ấy còn sống — người từng yêu thương bà chân thành trong suốt khoảng thời gian ngắn ngủi họ sống bên nhau.
Bản tính của người nhà Dale là vô cùng trước sau như một trong việc yêu ghét. Tình cảm mà người chồng quá cố dành cho bà chưa từng dao động — đến mức ông đã cãi nhau với anh trai mình vì người anh không chịu thốt ra những lời lẽ tình cảm huynh đệ dành cho vợ ông; thế nhưng, dẫu vậy, hai anh em họ vẫn luôn yêu thương nhau suốt đời. Đã bao nhiêu năm trôi qua kể từ những biến cố ấy, thế nhưng những cảm xúc ấy vẫn y nguyên. Khi mới chuyển đến Allington, bà từng hạ quyết tâm lấy cho bằng được sự quý mến của bác địa chủ, nhưng giờ đây bà đã thừa biết rằng chuyện đó là bất khả thi; trên thực tế, bà chẳng còn chút mong cầu nào về điều đó nữa. Bà Dale không phải là tuýp phụ nữ mềm yếu đôi khi thưa với Chúa rằng họ có thể yêu bất kỳ ai. Đã từng có lúc bà có thể cảm dành tình cảm cho người anh chồng — một tình cảm, và sự gắn bó khắng khít, chu đáo như tình chị em; nhưng giờ đây bà không thể làm thế được nữa. Ông đã lạnh lùng với bà, và một mực cự tuyệt những bước tiến thân thiện của bà. Tính đến nay đã là bảy năm chẵn; và trong suốt những năm tháng ấy, bà Dale chí ít cũng lạnh lùng với ông y như cách ông đối xử với bà.
Nhưng tất cả những điều này thật khó lòng chịu đựng nổi. Việc các con gái yêu mến người bác không chỉ là điều hợp lý, mà còn là điều đáng mong đợi về mọi mặt. Ông không lạnh lùng với chúng. Đối với chúng, ông rộng lượng và đầy ân cần. Nếu chỉ vì bà biến mất khỏi cõi đời này, ông chắc chắn sẽ đón chúng về nhà như con đẻ, và chúng sẽ xuất hiện trước thiên hạ với tư cách là những đứa con nuôi danh chính ngôn thuận của ông. Chẳng phải sẽ tốt hơn biết mấy nếu bà cứ biến mất khỏi nơi này sao?
Chỉ trong những tâm trạng u ám nhất, câu hỏi này mới tự xuất hiện trong tâm trí bà, để rồi sau đó bà lại tự xốc lại tinh thần, dõng dạc đáp trả bằng một sự phẫn nộ chống lại nỗi yếu đuối bệnh hoạn của chính mình. Sẽ chẳng tốt đẹp gì nếu bà rời xa các con gái — dẫu cho người bác của chúng có là một người bác tốt gấp hai lần đi nữa; dẫu cho, nhờ sự vắng mặt của bà, chúng có thể trở thành những người thừa kế toàn bộ vùng Allington. Chẳng phải việc có một người mẹ ở ngay bên cạnh là điều tối quan trọng đối với chúng trên đời này sao? Và khi bà tự đặt ra câu hỏi bệnh hoạn ấy — một câu hỏi đầy tội lỗi theo như lời bà tự phán xét — chẳng phải bà thừa biết rằng chúng yêu thương bà hơn bất kỳ thứ gì trên đời này, và sẽ thà chọn những âu yếm cùng sự chăm sóc của mẹ hơn là sự giám hộ của bất kỳ người bác nào, dẫu cho dinh cơ của ông ta có vĩ đại đến đâu chăng nữa? Cho đến lúc này, chúng vẫn yêu bà hơn tất cả. Còn những thứ tình cảm khác, nếu nó có xuất hiện, bà sẽ chẳng mảy may ganh tỵ. Và nếu nó thực sự đến, và mang theo hạnh phúc, liệu có khi nào vẫn còn một buổi hoàng hôn rực rỡ chờ đợi bà ở cuối con đường đời? Nếu chúng kết hôn, và nếu những người chồng của chúng chấp nhận tình yêu, tình bạn cùng sự kính trọng của bà, biết đâu bà vẫn có thể thoát khỏi cái lạnh giá tựa cõi chết của Ngôi Nhà Lớn ấy, và tìm thấy hạnh phúc trong một ngôi nhà nhỏ xinh xắn nào đó, nơi thỉnh thoảng bà có thể bước ra để đến với những người thực sự chào đón bà. Có một vị bác sĩ nọ, sống không xa Allington là mấy, tận Guestwick, từng khiến bà có lần mỉm cười nghĩ rằng ông có thể lấp vào vị trí của một người con rể — đáng để yêu quý biết bao. Cô con gái xinh đẹp, điềm đạm Bell của bà có vẻ rất thích người đàn ông ấy; và ông ấy rõ ràng còn làm được nhiều điều hơn là chỉ tỏ ra thích cô. Thế nhưng giờ đây, đã mấy tuần trôi qua, niềm hy vọng ấy, hay đúng hơn là ý nghĩ ấy, đã phai nhạt dần. Bà Dale chưa từng gặng hỏi con gái về vấn đề này; bà không phải là kiểu người hay thắc mắc những chuyện như thế. Thế nhưng trong suốt một hoặc hai tháng qua, bà đã nhìn thấy với một nỗi buồn rằng Bell tỏ ra lạnh nhạt với người đàn ông mà mẹ cô hằng nâng niu.
Mải miết chìm trong những suy nghĩ ấy, buổi tối dài trôi qua lúc nào không hay, và vào lúc mười một giờ, bà nghe thấy tiếng bước chân đang tới gần băng qua khu vườn. Bọn trẻ chắc chắn đã tiễn các cô con gái về nhà; và khi bà bước ra từ khung cửa sổ phòng khách vẫn đang để ngỏ, bà nhìn thấy tất cả bọn chúng đang đứng giữa bãi cỏ.
"Kia kìa mẹ," Lily nói. "Mẹ ơi, anh Crosbie muốn chơi croquet dưới ánh trăng kìa."
"Mẹ không nghĩ là ánh sáng ngoài kia đủ để chơi đâu," bà Dale nói.
"Ánh sáng thế là quá đủ đối với anh ấy rồi," Lily bảo, "vì anh ấy chơi hoàn toàn bất chấp cả mấy cái vòng; phải thế không anh Crosbie?"
"Phải công nhận là ánh sáng chơi croquet quá tuyệt vời ấy chứ," anh Crosbie ngước nhìn vầng trăng sáng rực lên tiếng; "hơn nữa đi ngủ sớm vào giờ này thì thật là ngớ ngẩn."
"Đúng vậy, đi ngủ sớm thì ngớ ngẩn thật," Lily phụ họa; "nhưng ở vùng quê thì người ta ngớ ngẩn sẵn rồi, anh biết đấy. Chơi bida, món mà anh có thể chơi thâu đêm dưới ánh đèn hơi gas, rõ ràng là tuyệt hơn nhiều phải không?"
"Mũi tên của cô bắn lạc đi một cách thảm hại rồi đấy, tiểu thư Dale ạ, vì tôi chưa bao giờ cầm cơ bida bao giờ; cô phải sang bàn về bida với anh họ của cô mới đúng."
"Bernard chơi bida cừ lắm phỏ?" Bell hỏi.
"À, thỉnh thoảng tôi vẫn chơi; trình độ cũng xấp xỉ trình độ chơi croquet của Crosbie vậy. Nào Crosbie, chúng ta về nhà hút xì-gà thôi."
"Đúng thế," Lily nói; "và rồi, anh biết đấy, những kẻ ngớ ngẩn như chúng tôi có thể đi ngủ. Mẹ ơi, ước gì nhà mình có một căn phòng hút thuốc nhỏ cho bọn con. Con không thích bị coi là ngớ ngẩn chút nào đâu." Và thế là họ chia tay — mấy cô con gái bước vào nhà, còn hai chàng trai quay ngược trở lại băng qua bãi cỏ.
"Lily, cục cưng của mẹ," bà Dale nói khi tất cả đã quây quần trong phòng ngủ của bà, "mẹ thấy con có vẻ hơi quá khắt khe với anh Crosbie đấy."
"Con bé cứ bép xép kiểu ấy suốt cả buổi tối," Bell thêm vào.
"Chí ít thì tụi con cũng là những người bạn rất tốt của nhau mà," Lily phân bua.
"Ồ, rất tốt là đằng khác!" Bell châm chọc.
"Thôi nào Bell, cậu đang ghen tị đấy nhé; cậu biết thừa là mình đang ghen tị còn gì." Rồi, nhận ra chị mình đang hơi bực bội, cô bước đến ôm hôn chị. "Con bé không bị coi là ghen tị đâu; phải không mẹ?"
"Mẹ không nghĩ là nó đáng bị như thế," bà Dale đáp.
"Này nhé, mẹ đừng có nghĩ là con có dụng ý gì khi nói thế nha," Lily phân trần. "Cứ làm như con quan tâm đến anh Crosbie bằng một cọng bơ ấy không bằng."
"Tớ cũng chẳng thèm quan tâm, Lily ạ."
"Đương nhiên là cậu không rồi. Nhưng con thì rất quan tâm đến anh ấy đấy, mẹ ạ. Anh ấy đúng là một chàng A-pô-lô cực kỳ dễ thương. Con sẽ luôn gọi anh ấy là A-pô-lô; Phổ-bớt A-pô-lô! Và khi con vẽ chân dung anh ấy, anh ấy sẽ cầm một chiếc vồ trong tay thay vì cây cung. Thề có Chúa là con phải mang ơn Bernard rất nhiều vì đã kéo anh ấy xuống vùng này; và con thật sự ước gì anh ấy không phải rời đi vào ngày kia."
"Ngày kia cơ à!" bà Dale thốt lên. "Chẳng đáng để lặn lội đến đây chỉ vì hai ngày ngắn ngủi."
"Vâng, chẳng bõ chút nào — làm xáo trộn mọi nếp sinh hoạt tĩnh lặng của nhà mình chỉ vì một khoảng thời gian ngắn củn cỡn như thế — đến cả thời gian để đếm mấy tia hào quang của anh ấy mà người ta cũng không cho."
"Nhưng anh ấy bảo có lẽ anh ấy sẽ ghé lại," Bell nói.
"Ít ra chúng ta vẫn còn niềm hy vọng đó," Lily tiếp lời. "Bác Christopher đã mời anh ấy quay lại đây khi anh ấy được nghỉ phép dài hạn. Lần này chỉ là một kỳ nghỉ ngắn thôi. Anh ấy sướng hơn cái cậu Johnny Eames tội nghiệp nhiều. Johnny Eames chỉ có đúng một tháng, trong khi anh Crosbie có hẳn hai tháng bất cứ lúc nào anh ấy thích, và nhìn chung thì quanh năm suốt tháng anh ấy chẳng khác nào chúa tể của chính mình."
"Và bác Christopher đã mời anh ấy xuống đây để đi săn vào tháng Chín," Bell nói.
"Và mặc dù anh ấy chưa nhận lời sẽ đến, nhưng con nghĩ là anh ấy có ý đó," Lily nói. "Chúng ta vẫn còn niềm hy vọng đó, mẹ ạ."
"Thế thì con sẽ phải vẽ thần A-pô-lô cầm một cây súng thay vì chiếc vồ đấy."
"Đó chính là điều tồi tệ nhất đấy, mẹ ạ. Tụi con sẽ chẳng gặp được mấy mặt anh ấy hay cả Bernard nữa. Chắc họ không cho tụi con theo vào rừng làm chân xua đuổi chim thú đâu nhỉ?"
"Các con mà đi thì làm ồn quá chẳng ích gì đâu."
"Thế ạ? Con tưởng những người xua đuổi thú phải la hét vào lũ chim chứ. Con sẽ rất chán ngấy cái việc la hét vào mặt đám chim chóc ấy, thế nên con nghĩ tốt nhất là cứ ở nhà lo chuyện váy vác cho lành."
"Con rất hy vọng anh ấy sẽ quay lại, bởi vì bác Christopher có vẻ rất quý anh ấy," Bell nói.
"Không biết một quý ông nào đó ở Guestwick có vui mừng khi anh ấy đến không cơ chứ," Lily lấp lửng. Và ngay khi thốt ra những lời đó, cô liếc nhìn chị mình và nhận ra mình đã làm tổn thương Bell.
"Lily, cái miệng của con dạo này nói năng bạt mạng quá đấy," bà Dale quở trách.
"Con có ý gì đâu nào, Bell," Lily thanh minh. "Con xin lỗi."
"Chẳng có gì đáng bận tâm cả," Bell lạnh lùng đáp. "Chỉ là Lily cứ thích nói năng không suy nghĩ gì hết." Và rồi cuộc trò chuyện khép lại, chẳng còn ai nói thêm điều gì ngoại trừ những chuyện liên quan đến việc thay đồ đi ngủ và vài câu chào tạm biệt cuối cùng. Nhưng hai cô con gái ở chung một phòng, và khi cánh cửa phòng khép lại, Bell đã bóng gió nhắc lại chuyện vừa xảy ra với một chút sắc bén.
"Lily, em đã hứa với chị rồi cơ mà," cô nói, "rằng em sẽ không bao giờ nói thêm bất cứ điều gì về bác sĩ Crofts nữa cơ mà."
"Em biết là em có hứa, và em đã sai lè ra rồi. Chị tha lỗi cho em nhé, Bell; và em sẽ không tái phạm nữa đâu — nếu như em có thể kìm được."
"Lại còn không kìm được nữa chứ, Lily!"
"Nhưng em thật sự không hiểu tại sao em lại không được nhắc đến anh ấy — chỉ là không được cười cợt chị thôi mà. Trong số tất cả những người đàn ông em từng thấy trong đời, anh ấy là người em thích nhất. Và nếu không vì em thương chị hơn thương chính bản thân mình, thì có lẽ trong thâm tâm em đã hờn trách chị vì đã cướp đi của anh ấy——"
"Lily, thế em vừa hứa cái gì nào?"
"Vâng; thì qua đêm nay vậy. Và em chẳng hiểu tại sao chị cứ phải quay lưng lại với anh ấy cơ chứ."
"Chị chưa từng quay lưng lại hay đứng về phía anh ấy cả."
"Chẳng có cái sự lấp lửng nào ở đây sất. Anh ấy sẵn sàng dâng cả bàn tay trái nếu chị chịu nở một nụ cười với anh ấy đấy. Hoặc là tay phải cũng được — và đó chính là điều em rất muốn thấy; thế nên chị cứ nghe cho thủng tai đi."
"Em biết là mình đang nói nhảm rồi đấy."
"Thì em thích thấy cảnh đó thật mà. Cả mẹ chắc chắn cũng muốn thế nữa; dẫu cho em chưa từng nghe mẹ thốt ra một lời nào về anh ấy. Trong suy nghĩ của em, anh ấy là kẻ tuyệt vời nhất mà em từng thấy. Cái anh A-pô-lô Crosbie thì bõ bèn gì so với anh ấy chứ? Thôi được rồi, vì chuyện này làm chị không vui, em sẽ không bao giờ thốt ra nửa lời về anh ấy nữa."
Khi Bell chúc em gái ngủ ngon với một cử chỉ tình cảm có lẽ còn nồng nhiệt hơn mọi ngày, rõ ràng là những lời nói cùng giọng điệu hăng hái của Lily đã phần nào làm cô thấy vui lòng, bất chấp việc chúng đi ngược lại với yêu cầu mà cô vừa đưa ra. Và Lily thừa thừa biết là như thế.