Và giờ đây chúng ta hãy quay lại Allington. Cùng buổi sáng mang đến cho John Eames hai bức thư được nhắc tới ở chương áp chót, cũng mang đến Đại Trạch, cùng với những thư từ khác, một bức thư dành riêng cho Adolphus Crosbie. Thư do một nữ bá tước gửi đến, viết trên loại giấy hồng thơm ngát, viền kem sang trọng, trang trí bằng một chiếc mũ miện và những chữ cái viết tắt lồng vào nhau đầy vẻ độc đáo. Nói chung, bức thư toát lên vẻ thời thượng và hấp dẫn, và Adolphus Crosbie hoàn toàn không thấy phiền lòng khi nhận nó.
Courcy Castle, tháng Chín, 186—.
Anh Crosbie thân mến,—Chúng tôi vừa nghe tin về anh từ vợ chồng Gazebee. Họ mới đến chỗ chúng tôi và kể rằng anh đang ẩn dật tại một ngôi làng duyên dáng, nơi mà ngoài những điều thú vị khác, còn có các nàng tiên gỗ và tiên nước, những người đang chiếm phần lớn thời gian của anh. Vì điều này hoàn toàn phù hợp với sở thích của anh, nên dù có thế nào tôi cũng không nỡ làm phiền; nhưng nếu anh có khi nào dứt ra khỏi những lùm cây và đài phun nước ở Allington, chúng tôi sẽ rất hân hạnh được chào đón anh ở đây, mặc dù anh sẽ thấy chúng tôi thật kém phần lãng mạn so với chốn Cực Lạc gần đây của anh.
Phu nhân Dumbello sắp đến chỗ chúng tôi, tôi biết cô ấy là người rất được anh yêu mến. Hay là ngược lại, và anh là người được cô ấy sủng ái? Tôi đã có lời mời Phu nhân Hartletop, nhưng bà không thể rời xa vị hầu tước tội nghiệp, người mà như anh biết đấy, sức khỏe rất yếu. Công tước hiện không có mặt ở Gatherum, nhưng dĩ nhiên, ý tôi không phải là việc đó có liên quan gì đến việc Phu nhân Hartletop thân yêu không thể đến với chúng ta. Tôi tin rằng nhà chúng ta sẽ đông đủ khách, và cũng sẽ không thiếu các nàng tiên, dù tôi e rằng họ không thuộc loại tiên gỗ hay tiên nước. Margaretta và Alexandrina đặc biệt muốn anh đến, vì chúng nói anh rất tài giỏi trong việc khuấy động bầu không khí để mọi người đều vui vẻ. Nếu anh có thể dành cho chúng tôi một tuần trước khi quay về gánh vác việc nước, xin hãy cố gắng sắp xếp nhé.
Thân thiết của anh,
Rosina De Courcy.
Nữ bá tước De Courcy là một người bạn cũ của anh Crosbie; nghĩa là, theo kiểu bạn bè quen thuộc trong thế giới mà anh vẫn sống. Anh đã biết bà được sáu, bảy năm nay, và từng quen thói lui tới tất cả các buổi dạ vũ ở London của bà, nhảy múa với các cô con gái của bà ở mọi nơi bằng một thái độ vô cùng nhã nhặn và hòa nhã. Nhờ mối quan hệ gia đình lâu năm, anh vốn thân thiết với ông Mortimer Gazebee — dù chỉ là một luật sư thuộc tầng lớp danh giá hơn — người đã cưới cô con gái lớn của nữ bá tước và hiện đang ngồi ghế Nghị viện đại diện cho thành phố Barchester, nơi nằm gần Courcy Castle. Và để nói thẳng thắn sự thật ngay lúc này, anh Crosbie vốn có quan hệ rất thân thiết với các con gái của Phu nhân De Courcy, các tiểu thư Margaretta và Alexandrina — có lẽ đặc biệt thân thiết với người sau hơn, dẫu tôi không muốn độc giả vì thế mà nghĩ rằng đã từng có điều gì vượt quá tình bạn tồn tại giữa họ.
Crosbie không hề đả động gì đến bức thư vào sáng hôm đó; nhưng trong ngày, hoặc có lẽ khi nằm suy nghĩ về vấn đề này trên giường, anh đã quyết định sẽ nhận lời mời của Phu nhân De Courcy. Không chỉ vì anh rất vui được gặp lại vợ chồng Gazebee, hay vui mừng được ở chung một mái nhà với bậc thầy về nghệ thuật thượng lưu thời thượng là Phu nhân Dumbello, hay vui vì nối lại tình bạn với các tiểu thư Margaretta và Alexandrina. Nếu anh cảm thấy hoàn cảnh đính ước với Lily đòi hỏi anh phải ở lại bên cô cho đến hết kỳ nghỉ, anh đã có thể gạt bỏ nhà De Cources mà chẳng mảy may do dự. Nhưng anh tự nhủ rằng đã đến lúc anh nên dứt ra khỏi Lily; hoặc có lẽ anh tự nhủ rằng sẽ tốt cho Lily nếu anh rời xa cô. Anh không được phép dạy cô nghĩ rằng họ chỉ cần sống trong ánh mắt của nhau suốt những tháng ngày, hay thậm chí những năm tháng, trước khi lễ đính hôn của họ có thể thành hiện thực. Anh cũng không được phép để cô cho rằng dù là anh hay cô thì chỉ nên dựa dẫm vào người kia để tìm kiếm niềm vui và lẽ sống cho cuộc đời. Bằng cách này, anh tự biện minh cho mình một cách rất hợp lý trong tâm trí, và không mấy khó khăn để quyết định rằng anh sẽ đến Courcy Castle, đắm mình trong ánh hào quang thời thượng sẽ tụ họp ở đó. Sự tẻ nhạt êm đềm bên ngọn lửa sưởi của chính mình rồi sẽ sớm đến với anh thôi!
“Anh nghĩ anh sẽ rời đi vào thứ Tư, thưa bác,” Crosbie nói với bác điền chủ trong bữa sáng ngày Chủ nhật.
“Rời đi vào thứ Tư sao!” bác điền chủ nói, với một quan niệm xưa cũ rằng những người đã đính hôn với nhau nên ở bên nhau chừng nào hoàn cảnh còn cho phép. “Có chuyện gì không ổn à?”
“Ồ, không có gì ạ! Nhưng mọi thứ rồi cũng phải có lúc kết thúc; và vì anh phải ghé thăm một vài nơi trước khi quay lại thành phố, anh đi vào thứ Tư cũng tiện. Thật ra, anh đã kéo dài thời gian hết mức có thể rồi.”
“Từ đây cháu sẽ đi đâu?” Bernard hỏi.
“À, tình cờ là chỉ sang hạt bên cạnh thôi, đến Courcy Castle.” Và sau đó không ai nói thêm lời nào về chuyện này tại bàn ăn sáng nữa.
Họ đã có thói quen tụ họp vào các sáng Chủ nhật trước giờ đi lễ nhà thờ, trên bãi cỏ thuộc Tiểu Trạch, và hôm nay ba người đàn ông cùng đi bộ xuống thì thấy Lily và Bell đã đợi sẵn ở đó. Họ thường có dư ra vài phút trong những dịp như thế trước khi bà Dale giục họ đi qua nhà để đến nhà thờ, và lần này cũng vậy. Vào những lúc như thế, bác điền chủ thường đứng giữa thảm cỏ, quan sát cơ ngơi của mình, ngắm nghía từng bụi cây, khóm hoa và cây ăn quả xung quanh; bởi vì bác chưa từng quên rằng tất cả đều là của mình, và thường tận dụng cơ hội này vì những ngày khác bác hiếm khi xuống đây ngắm cảnh. Nhìn qua cửa sổ trong lúc đang thắt dải nón, bà Dale có cảm giác như mình đọc được suy nghĩ của bác, và lại thấy tiếc nuối vì hoàn cảnh buộc bà phải mang ơn bác sự giúp đỡ ấy. Nhưng thực ra, bà không hề biết hết những gì bác suy nghĩ trong những khoảnh khắc như vậy. “Nó là của mình,” bác tự nhủ khi phóng tầm mắt nhìn quanh chốn bình yên ấy. “Nhưng thật tốt khi chúng được tận hưởng nó. Cô ấy là góa phụ của em trai ta, và con bé được chào đón;—rất hoan nghênh.” Tôi nghĩ rằng nếu hai con người ấy hiểu rõ hơn về trái tim và tâm trí của nhau, có lẽ họ đã yêu quý nhau hơn nhiều.
Và rồi Crosbie nói với Lily về dự định của mình. “Vào thứ Tư á!” cô nói, mặt tái đi vì xúc động khi nghe tin này. Anh đã nói một cách đột ngột, có lẽ không nghĩ rằng tin tức ấy lại tác động mạnh mẽ đến cô đến vậy.
“Ừ, đúng vậy. Anh đã viết thư cho Phu nhân De Courcy và hẹn ngày thứ Tư. Anh đâu thể cứ phớt lờ tất cả mọi người, và có lẽ—”
“Ồ, không! Và Adolphus, anh đừng nghĩ là em tiếc rẻ thời gian anh đi. Chỉ là mọi thứ có vẻ đường đột quá; phải vậy không anh?”
“Em thấy đấy, anh đã ở đây hơn sáu tuần rồi.”
“Vâng; anh đã rất chu đáo. Nghĩ lại xem, sáu tuần qua thật tuyệt làm sao! Em tự hỏi không biết sự khác biệt đối với anh có lớn như đối với em không. Em đã ngừng làm một con sâu non và bắt đầu hóa thành bướm rồi.”
“Nhưng em không được làm bướm khi đã kết hôn đâu đấy, Lily.”
“Không; không phải theo nghĩa đó. Ý em là vị trí thực sự của em trên thế giới này — thứ mà em vẫn thầm hy vọng mình sinh ra là để đón nhận — chỉ thực sự mở ra khi em biết anh và biết rằng anh yêu em. Nhưng mẹ đang gọi chúng ta kìa, và phải qua nhà thờ thôi. Đi vào thứ Tư ư! Thế thì chỉ còn ba ngày nữa thôi sao!”
“Ừ, đúng ba ngày,” anh nói, vừa đỡ tay cô bước qua nhà ra ngoài đường lớn.
“Và khi nào thì chúng ta mới gặp lại nhau?” cô hỏi khi họ đến nghĩa trang nhà thờ.
“À, ai mà biết được lúc này? Chúng ta phải hỏi vị Chủ tịch Ủy ban xem ông ấy có cho phép anh đi nữa hay không đã.” Thế là không ai nói thêm gì nữa, tất cả cùng theo chân bác điền chủ bước qua hiên nhỏ để vào chiếc ghế pew gia tộc rộng lớn nơi họ cùng ngồi. Tại đây, bác điền chủ chiếm một góc quen thuộc mà bác đã ngồi kể từ khi cha bác qua đời, và từ đó bác cất tiếng đọc các câu đáp ca thật to và rõ ràng — to và rõ đến mức viên thư ký giáo xứ chẳng tài nào bì kịp, dù hắn vẫn cố gắng cất giọng tranh đua. “Lão điền chủ cứ muốn làm điền chủ, rồi làm cả mục sư lẫn thư ký, mọi thứ luôn; lão ta cứ thế đấy,” kẻ thư ký tội nghiệp thường phàn nàn khi gặp phải sự bất công mà hắn phải chịu đựng.
Nếu những lời cầu nguyện của Lily bị ngắt quãng bởi nỗi buồn mới mơi, tôi nghĩ lỗi lầm đó của cô sẽ được tha thứ. Dĩ nhiên là cô đã biết Crosbie không định ở lại Allington lâu hơn nữa. Cô biết rõ chẳng kém gì anh ngày chính xác mà kỳ nghỉ phép của anh kết thúc, và giờ giấc mà anh phải có mặt để bước vào phòng làm việc tại Văn phòng Ủy ban Tổng hợp. Cô đã tự nhủ rằng anh sẽ ở lại với họ cho đến hết kỳ nghỉ, và giờ đây cô cảm thấy hụt hẫng như một cậu học sinh bỗng nghe tin sét đánh ngang tai ngay trước ngày hẹn, rằng tuần lễ nghỉ cuối cùng của mình đã bị tước đoạt. Nỗi ấm ức ấy sẽ chẳng là gì nếu cô được biết từ trước; nhưng cậu học sinh nào có thể chịu đựng nổi cú sốc khi sự mất mát lên đến hai phần ba số tài sản còn lại của mình? Lily không hề trách móc người yêu. Cô thậm chí không nghĩ rằng đáng lẽ anh phải ở lại. Cô không cho phép bản thân nghi ngờ rằng anh có thể đề xuất điều gì đó không phải phép. Nhưng cô cảm nhận sâu sắc sự mất mát của mình, và hết lần này đến lần khác, khi quỳ xuống cầu nguyện, cô lén lau đi giọt nước mắt rưng rưng nơi khóe mi.
Crosbie cũng đang bận tâm về chuyến đi của mình nhiều hơn mức nên có trong bài giảng của mục sư Boyce. “Nghe ngài ấy giảng thật dễ hiểu,” bà Hearn thường nhận xét về người kế nhiệm chồng mình. “Chẳng tốn mấy công sức để theo kịp những lý lẽ của ngài.” Có lẽ anh chàng Crosbie lại thấy việc đó khó khăn hơn bà Hearn, và sẽ tập trung tâm trí vào bài giảng hơn nếu lý lẽ sâu sắc hơn một chút. Thật là cực khổ khi phải lắng nghe một kẻ chẳng nói nên hồn điều gì. Trong dịp này, Crosbie hoàn toàn phớt lờ sự cần thiết đó và dồn tâm trí để cân nhắc xem mình nên nói gì với Lily trước khi ra đi. Anh nhớ rất rõ những lời ngắn ngủi mà anh từng thốt lên trong sự nồng nhiệt thuở ban đầu của tình yêu, khi khẩn khoản xin được ấn định một ngày sớm cho lễ cưới của họ. Và anh cũng nhớ Lily đã uyển chuyển đồng ý ra sao. “Chỉ xin anh đừng để nó diễn ra quá sớm,” cô đã nói vậy. Giờ đây, anh phải rút lại những gì đã nói. Anh phải biện bạch chống lại chính những lời cầu xin của mình, và giải thích cho cô hiểu rằng anh muốn hoãn đám cưới lại thay vì thúc bách nó — một nhiệm vụ mà tôi cho rằng hẳn luôn tồi tệ đối với bất kỳ người đàn ông nào đã đính hôn. “Mình cứ làm quách nó đi cho xong,” anh tự nhủ, cúi gập đầu vào tay để chào kết thúc bài giảng của mục sư Boyce.
Vì chỉ còn lại ba ngày, quả thực tốt hơn là anh nên giải quyết việc này ngay lập tức. Thấy rằng Lily không có của hồi môn, cô không thể công bằng mà phàn nàn về một cuộc đính hôn kéo dài. Đó là lý lẽ mà anh tự biện minh trong đầu. Nhưng anh cũng thường xuyên tự nhủ rằng cô sẽ có lý do chính đáng để phàn nàn nếu cô bị để lại trong sự mơ hồ về vấn đề này một ngày nào đó mà không có lý do. Tại sao anh lại dại dột thốt ra những lời vội vã ấy trong cơn say tình, tự đẩy mình vào mọi thứ rắc rối như một cậu học sinh, hay một kẻ như Johnny Eames cơ chứ? Thật là một tên ngốc khi đã không tự chủ và điềm tĩnh — đã không nghĩ trước đến tất cả những gì mà một Adolphus Crosbie cần phải lưu tâm! Và rồi ý nghĩ chợt lóe lên trong đầu rằng không biết có phải mình đã hoàn toàn biến thành một thằng ngốc trong chuyện này không. Và khi đưa tay cho Lily bên ngoài cửa nhà thờ, anh nhún vai khi ngẫm nghĩ điều đó. “Giờ thì quá muộn rồi,” anh tự nhủ; rồi quay người lại và thốt lên vài lời yêu thương ngọt ngào với cô. Adolphus Crosbie là một người thông minh; và anh cũng muốn trở thành một người chân thành — chỉ là những cám dỗ về sự giả dối có quá lớn đối với anh hay không mà thôi.
“Lily,” anh nói với cô, “em có muốn đi dạo ngoài đồng sau bữa trưa không?”
Đi dạo ngoài đồng với anh ư! Dĩ nhiên là cô muốn rồi. Chỉ còn lại ba ngày ngắn ngủi, chẳng lẽ cô không dâng hiến mọi khoảnh khắc thời gian của mình cho anh nếu anh chịu nhận hay sao? Và rồi họ ăn trưa tại Tiểu Trạch, bà Dale đã hứa sẽ tham gia bữa tối tại nhà bác điền chủ. Bác điền chủ không ăn trưa, viện cớ rằng bản thân bữa trưa là một điều không tốt. “Ông ấy có thể ăn trưa ở nhà ông ấy,” bà Dale sau đó nói với Bell. “Và tôi đã bắt gặp ông ấy uống một ly sherry bao nhiêu lần rồi.” Nghĩ đến điều đó, bà Dale tự chuẩn bị bữa tối cho riêng mình. Nếu anh rể không chịu ăn ở bàn của bà, thì bà cũng chẳng buồn ăn ở nhà ông.
Và rồi chỉ trong chốc lát, Lily đã đội chiếc mũ phớt thay cho chiếc nón đi lễ nhà thờ trang nghiêm mà Crosbie vẫn hay chê bai bằng cái đặc quyền của kẻ si tình, hoàn toàn yên tâm rằng anh có thể chê chiếc nón thoải mái miễn là anh khen chiếc mũ. “Chỉ còn ba ngày,” cô vừa nói vừa cùng anh rảo bước nhanh qua thảm cỏ. Nhưng cô nói bằng một giọng điệu chẳng hề phàn nàn — dường như chỉ muốn nói rằng — vì khoảng thời gian tốt đẹp quá ngắn ngủi, họ phải tận dụng tối đa nó. Còn lời khen ngợi nào ngọt ngào hơn thế đối với một người đàn ông? Còn sự nịnh hót nào đáng thỏa mãn hơn? Mọi thiên đường trần thế của em đều ở bên anh; và giờ đây, để tận hưởng những tháng ngày hiện tại này, em chỉ còn lại ba ngày thiên đường! Nào, đi thôi; em sẽ tận dụng tối đa hạnh phúc mà mình được ban cho. Crosbie cảm nhận được tất cả những gì cô cảm nhận và nhận thức được mức độ món nợ mà anh đang nợ cô. “Anh sẽ quay lại đây một ngày vào dịp Giáng sinh, dù chỉ là một ngày,” anh tự nhủ. Sau đó anh nghĩ rằng vì đó là dự định của mình, có lẽ anh nên mở lời cuộc trò chuyện hiện tại bằng một lời hứa hẹn như thế.
“Đúng vậy, Lily; bây giờ chỉ còn ba ngày nữa thôi. Nhưng anh tự hỏi — anh đoán là tất cả các em đều sẽ ở nhà vào dịp Giáng sinh chứ?”
“Ở nhà vào dịp Giáng sinh ư? — dĩ nhiên chúng em ở nhà rồi. Ý anh không lẽ anh sẽ đến thăm chúng em sao!”
“Ừ; anh nghĩ anh sẽ đến, nếu các em cho phép.”
“Ồ! Thế thì khác hẳn rồi. Để em xem nào. Tính ra chỉ còn ba tháng nữa thôi. Và có anh ở đây vào ngày Giáng sinh! Em thà có anh vào ngày đó còn hơn bất kỳ ngày nào khác trong năm.”
“Anh chỉ ở lại được một ngày thôi, Lily. Anh sẽ đến ăn tối vào đêm Giáng sinh và phải đi vào ngày hôm sau.”
“Nhưng anh sẽ đến thẳng nhà chúng ta chứ!”
“Nếu em có thể nhường cho anh một căn phòng.”
“Dĩ nhiên là được rồi. Bây giờ cũng vậy mà. Chỉ là khi anh đến, anh biết đấy—” Rồi cô ngước lên nhìn mặt anh và mỉm cười.
“Khi anh đến, anh là bạn của bác điền chủ và em họ của em, hơn là của riêng em. Nhưng giờ mọi chuyện đã khác rồi.”
“Vâng; giờ anh là bạn của em — bạn riêng của em. Từ nay và mãi mãi em sẽ là người bạn thân thiết nhất của riêng anh; — phải thế không, Adolphus?” Và rồi cô bắt anh lặp lại lời hứa mà anh đã trao cho cô biết bao lần.
Đến lúc này họ đã qua khỏi khuôn viên của Đại Trạch và ra đến cánh đồng. “Lily,” anh nói, có vẻ khá đột ngột, khiến cô cảm nhận qua thái độ của anh rằng sắp có điều gì quan trọng được thốt lên; “Anh muốn nói vài điều với em về — công việc.” Và anh cười nhẹ khi thốt lên từ cuối cùng, khiến cô hoàn toàn hiểu rằng anh đang không thực sự thoải mái.
“Dĩ nhiên là em sẽ nghe rồi. Và, Adolphus, xin anh đừng lo lắng về em. Ý em là, đừng nghĩ rằng em không thể chịu đựng được những lo âu và phiền muộn. Em có thể chịu đựng bất cứ điều gì miễn là anh yêu em. Em nói vậy vì sợ rằng lúc nãy mình có vẻ phàn nàn về việc anh đi. Em không có ý đó đâu.”
“Anh chưa bao giờ nghĩ em phàn nàn cả, người yêu dấu. Không gì có thể tuyệt vời hơn con người em vào mọi lúc và trong mọi hoàn cảnh. Người đàn ông nào mà không vừa ý em thì chắc chắn quá khó tính rồi.”
“Nếu em chỉ có thể làm anh hài lòng—”
“Em làm anh hài lòng trong mọi chuyện. Lily thân yêu, anh nghĩ mình đã tìm thấy một thiên thần khi tìm thấy em. Nhưng bây giờ là về công việc này. Có lẽ anh nên kể cho em nghe mọi thứ thì hơn.”
“Ồ, vâng, hãy kể cho em nghe mọi thứ đi.”
“Nhưng rồi em không được hiểu lầm anh đấy nhé. Và nếu anh có nói về tiền bạc, em đừng cho rằng nó liên quan gì đến tình yêu của anh dành cho em.”
“Em chỉ ước vì anh mà em không phải là một đứa nghèo kiết xác như thế này.”
“Ý anh muốn nói là thế này, nếu anh có vẻ lo lắng về tiền bạc, em tuyệt đối không được nghĩ rằng sự lo lắng đó có bất kỳ liên quan nào đến tình cảm của anh dành cho em. Anh vẫn sẽ yêu em nhiều như thế, và vẫn mong chờ hạnh phúc khi được cưới em như thế, dù em giàu hay nghèo. Em hiểu chứ?”
Cô không hoàn toàn hiểu anh; nhưng cô chỉ siết nhẹ tay anh để khích lệ anh nói tiếp. Cô đoán rằng anh định nói với mình điều gì đó về lối sống tương lai của họ — điều gì đó mà anh cho rằng cô nghe xong có lẽ sẽ không vui, và cô quyết định cho anh thấy rằng cô sẽ đón nhận nó một cách vui vẻ.
“Em biết đấy,” anh nói, “anh đã nóng lòng thế nào để đám cưới của chúng ta không bị trì hoãn. Dĩ nhiên đối với anh, chẳng có gì quan trọng hơn lúc này là được gọi em là của riêng mình càng sớm càng tốt.” Đáp lại lời tỏ tình nhỏ nhoi đó, cô chỉ siết nhẹ tay anh một lần nữa, bởi đây là vấn đề mà bản thân cô không có nhiều điều để nói.
“Dĩ nhiên là anh phải rất nóng lòng, nhưng anh thấy việc đó không hề dễ dàng như mình tưởng.”
“Em biết anh đã nói gì rồi, Adolphus. Em đã nói là chúng ta nên đợi thì hơn. Em chắc chắn mẹ cũng nghĩ vậy. Và nếu bây giờ chúng ta có thể thỉnh thoảng gặp anh—”
“Đó là điều hiển nhiên rồi. Nhưng, như anh đang nói — Để anh xem nào. Đúng vậy, — tất cả sự chờ đợi đó sẽ là không thể chịu nổi đối với tôi. Thật là một điều phiền toái cho một người đàn ông khi đã quyết định một việc trọng đại như hôn nhân mà không thể thực hiện sự thay đổi đó ngay lập tức, nhất là khi anh ta chuẩn bị rước về nhà một thiên thần nhỏ bé như em,” và khi anh thốt ra những lời yêu thương ấy, cánh tay anh lại ôm lấy vòng eo cô; “nhưng—” rồi anh dừng lại. Anh muốn cô hiểu rằng sự thay đổi ý định này xuất phát từ thái độ sai lầm bất ngờ của bác cô. Anh muốn cô biết chính xác tình hình sự việc; rằng anh từng được cho hay bác cô sẽ cho cô một chút của hồi môn; rằng anh đã thất vọng, và anh có quyền cảm thấy sự thất vọng đó một cách sâu sắc; và chính vì cú giáng vào kỳ vọng ấy, anh phải hoãn đám cưới lại. Nhưng anh cũng muốn cô hiểu rằng điều đó không hề làm phai mờ tình yêu của anh dành cho cô; rằng anh không hề đánh đồng cô với lỗi lầm của bác mình. Tất cả những điều này anh rất thiết tha truyền đạt cho cô, nhưng anh không biết phải nói sao cho người ta khỏi thấy chướng tai, và để bản thân không bị mang tiếng là kẻ vụ lợi. Anh đã bắt đầu bằng tuyên bố sẽ kể hết mọi chuyện; nhưng thỉnh thoảng, nhiệm vụ kể cho ai đó nghe mọi thứ không hề dễ dàng chút nào. Có những chuyện cứ khăng khăng không chịu hé môi.
“Ý anh là, người yêu dấu ơi, anh không đủ khả năng để kết hôn ngay lập tức.”
“Vâng; đúng là thế. Anh cứ nghĩ mình đủ khả năng, nhưng—”
Liệu có người đàn ông nào đang yêu mà lại tìm thấy khả năng nói với người phụ nữ mình yêu rằng anh ta vô cùng thất vọng khi phát hiện ra cô ấy chẳng có một xu dính túi hay không? Nếu có, tôi dám chắc lòng can đảm của hắn ta còn lớn hơn cả tình yêu. Crosbie thấy mình không thể thốt nên lời và tự thấy mình bị đối xử bất công vì khó khăn đó. Sự trì hoãn mà anh định bắt cô phải chịu đựng, theo cảm nhận của anh, là do bác điền chủ gây ra chứ không phải do anh. Anh đã sẵn sàng làm tròn bổn phận của mình, chỉ cần bác điền chủ chịu làm tròn phần việc đáng lẽ thuộc về bác. Bác điền chủ đã không làm thế; và vì vậy, anh cũng không thể — chưa thể. Lẽ công bằng đòi hỏi tất cả những điều này phải được thấu hiểu; nhưng khi cất lời kể lể, anh nhận ra câu chuyện không tài nào vào khuôn phép nổi. Anh đành phó mặc sự việc và gánh chịu sự bất công, tự an ủi bản thân bằng ý nghĩ rằng ít ra anh cũng đang hành xử đúng đắn trong chuyện này.
“Nó sẽ không làm em buồn đâu, Adolphus.”
“Thật thế không?” anh nói. “Còn về phần anh, anh thú nhận mình không thể chịu đựng sự chậm trễ này với một thái độ dửng dưng như thế.”
“Không đâu anh yêu; nhưng anh không nên hiểu lầm em,” cô nói, dừng lại và quay mặt đối diện với anh trên lối đi. “Em đoán là theo thông lệ, em phải phản đối và bảo rằng em thà chờ đợi còn hơn. Các tiểu thư thường được mong đợi sẽ nói thế. Nếu anh đang giục em cưới ngay, chắc chắn em sẽ nói thế rồi. Nhưng giờ thì, như thế này đây, em sẽ thành thật hơn. Em chỉ có một ước nguyện duy nhất trên đời, đó là được làm vợ anh — được sẻ chia mọi thứ cùng anh. Càng đến với nhau sớm bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu — ít nhất là đối với em. Nào, thế đã làm anh thỏa mãn chưa?”
“Lily của riêng anh, của riêng anh!”
“Vâng, Lily của riêng anh. Anh sẽ chẳng có lý do gì để nghi ngờ em cả, người yêu dấu ạ. Nhưng em không mong chờ mình sẽ có được mọi thứ chính xác theo ý muốn. Em xin nhắc lại, em sẽ không đau khổ khi phải chờ đợi. Làm sao em có thể buồn khi cảm thấy chắc chắn về tình yêu của anh? Lúc nãy em đã hụt hẫng khi anh nói rằng mình sắp đi; và em sợ là mình đã bộc lộ điều đó. Nhưng những điều nhỏ nhặt ấy đôi khi lại khó bề chịu đựng hơn những chuyện lớn lao.”
“Đúng vậy; rất đúng.”
“Nhưng chúng ta còn ba ngày nữa, và em định sẽ tận hưởng chúng thật trọn vẹn! Và rồi anh sẽ viết thư cho em; rồi anh sẽ đến vào dịp Giáng sinh. Và năm tới, khi có kỳ nghỉ, anh sẽ lại xuống thăm chúng ta; phải thế không anh?”
“Em hoàn toàn có thể tin chắc điều đó.”
“Và cứ thế thời gian sẽ trôi qua cho đến khi anh thấy thuận tiện để đến rước em. Em sẽ không buồn đâu.”
“Dù sao thì anh cũng sẽ là kẻ thiếu kiên nhẫn.”
“À, đàn ông lúc nào chẳng thiếu kiên nhẫn. Em đoán đó là một trong những đặc quyền của họ. Và em không nghĩ rằng một người đàn ông bao giờ có được sự thỏa mãn chắc chắn và trọn vẹn khi biết mình được yêu như cảm giác của một thiếu nữ. Anh là chú chim do chính tay em bắn hạ; và sự bảo đảm về chiến thắng đó là quá đủ cho hạnh phúc của em rồi.”
“Em đã hạ gục anh rồi, và thừa biết anh chẳng thể đứng dậy nổi nữa.”
“Em chẳng biết nổi dậy hay không đâu. Em sẽ để anh đứng dậy nhanh thôi, nếu anh muốn thế.”
Cách anh đưa ra lời đoan chắc đầy yêu thương rằng anh không hề muốn thế, chưa bao giờ và sẽ không bao giờ muốn thế, độc giả có thể dễ dàng hiểu được. Và rồi anh nghĩ rằng tốt hơn là cứ để những vấn đề tiền bạc đó ở nguyên hiện trạng của chúng. Mục đích thực tế của anh là thuyết phục cô rằng hoàn cảnh chung của họ chưa cho phép kết hôn ngay; và về điều đó, cô đã hoàn toàn hiểu anh. Có lẽ, trong ba ngày tới, cơ hội nào đó sẽ xuất hiện để giải thích toàn bộ sự việc cho bà Dale. Dù sao đi nữa, anh đã tuyên bố mục đích của mình một cách chân thật, và chẳng ai có thể trách cứ anh được.
Ngày hôm sau, tất cả cùng cưỡi ngựa đến Guestwick — đoàn người gồm hai cô gái, cùng với Bernard và Crosbie. Mục tiêu của họ là thực hiện hai chuyến thăm — một tới vị đồng minh quý tộc vô cùng cao sang của họ, Phu nhân Julia De Guest; và một tới người bạn khiêm nhường hơn nhưng được biết tới nhiều hơn, bà Eames. Vì Guestwick Manor nằm trên đường họ vào thị trấn, họ tiến hành nghi lễ trang trọng hơn trước. Bá tước De Guest hiện tại, em trai của Phu nhân Fanny — người từng bỏ trốn cùng Thiếu tá Dale — là một nhà quý tộc chưa kết hôn, người dường như chỉ cống hiến hết mình cho việc gây giống gia súc. Và vì ông gây giống những loại gia súc rất tốt, tìm thấy niềm thỏa mãn vô bờ bến trong công việc đó, dốc toàn bộ sinh lực vào đó và tránh xa mọi con đường tội lỗi nổi cộm, phải công nhận rằng ông không phải là một thành viên tồi của xã hội. Ông là một người theo trường phái Tory già dặn, kiên định, người luôn trao ủy quyền của mình vào tay lãnh tụ đảng; và hiếm khi tự mình bén mảng tới thủ đô trừ khi có dịp triển lãm gia súc gọi tên. Ông là một người thấp, mập mạp, má đỏ hây hây và mặt tròn vo; thường được trông thấy cho đến tận giờ ăn tối trong một chiếc áo khoác đi săn cũ kỹ, quần chẽn, bít tất và đi những đôi giày rất dày. Ông thường sống ở ngoài trời và gần như vĩ đại không kém trong việc bảo tồn thú săn so với việc gây giống bò. Ông nắm rõ từng sào đất trong điền trang của mình, và từng cái cây trên đó, thấu đáo như một quý bà nắm rõ những món đồ trang trí trong phòng khách của mình. Không có một khoảng hở nào trên hàng rào mà ông không nhớ rõ tọa độ chính xác, không có con đường nào quanh co mà ông không thể kể rành mạch lý do tại sao và như thế nào. Trong những năm tuổi trẻ, ông là một người nghèo về mặt thu nhập — rất nghèo, xét đến việc ông là một bá tước. Nhưng hiện tại ông không hề là một kẻ khốn cùng, sau khi đã học được bài học từ sự khốn khổ của cha và ông nội mình, và học cách sống trong khả năng tài chính của mình. Giờ đây, khi đang bước vào sườn dốc cuộc đời, người ta nói rằng ông đang trở nên giàu có, và ông có sẵn tiền mặt để tiêu — một vị thế mà không một Lãnh chúa De Guest nào có được trong suốt nhiều thế hệ qua. Cha và ông nội ông vốn nổi tiếng là những kẻ tiêu pha hoang phí; và giờ đây người ta đồn rằng vị bá tước này là một kẻ keo kiệt. Vẻ bề ngoài của ông chẳng có mấy nét quý tộc; nhưng ai nghĩ rằng vì thế mà lòng kiêu hãnh về địa vị không gắn chặt với tâm hồn ông thì đã lầm to. Tước hiệu bá tước của ông có từ thời Vua John, và ở nước Anh chỉ có đúng ba vị lãnh chúa có sắc phong trước ông. Ông biết rõ những đặc quyền nào thuộc về mình nhờ dòng máu quý tộc, và không đời nào chịu bớt đi một chút nào. Ông không lớn tiếng đòi hỏi chúng. Khi đi qua cuộc đời, ông chẳng phất cờ rầm rộ bên trái hay bên phải để loan báo rằng Bá tước De Guest đang tới. Khi bày biện bàn tiệc đón bạn bè, điều mà ông chỉ làm vào những dịp hiếm hoi, ông tiếp đãi họ một cách giản dị, với vẻ lịch sự nhẹ nhàng, tẻ nhạt và mang phong cách cổ điển. Chúng ta có thể nói rằng, nếu được đối xử đúng mực, vị bá tước chưa từng giẫm đạp lên ai. Nhưng nếu bị đối xử tồi, ông có thể nổi giận một cách đầy oai nghiêm; và nếu bị tấn công, ông có thể tự bảo vệ mình trước toàn thế giới. Ông thừa hiểu mình là một bá tước chính hiệu, quanh quẩn bên đàn gia súc với đôi ủng lấm bùn và đôi má đỏ hây hây, chẳng khác nào khi đang lấp lánh những ngôi sao trong các buổi lễ nghi hoàng gia cao quý giữa các bậc đế vương tại Westminster; — à không, thậm chí còn là một bá tước đậm chất hơn bất kỳ kẻ nào dùng tước vị quý tộc của mình cho những mục đích phô trương. Khốn thay cho kẻ nào nhầm lẫn chiếc áo khoác cũ kỹ ấy với dấu hiệu của sự suy thoái nông thôn! Thỉnh thoảng lại có một gã xui xẻo nào đó phạm phải sai lầm đó, và phải chịu sự trừng phạt một cách vô cùng khó chịu.
Sống cùng vị bá tước là một người em gái chưa chồng, Phu nhân Julia. Cha của Bernard Dale, vào thời trẻ, đã bỏ trốn với một người em gái, nhưng chưa từng có người cầu hôn nào may mắn đủ sức thuyết phục Phu nhân Julia bỏ trốn cùng mình. Do đó, bà vẫn sống trong cảnh độc thân phúc đức, với tư cách là nữ chủ nhân của Guestwick Manor; và với tư thế đó, bà chẳng hề đánh giá thấp cái vị thế cao cả mà định mệnh kêu gọi bà phải gánh vác. Bà là một phụ nữ lớn tuổi tẻ nhạt, buồn tẻ, đức hạnh, người tự hào vô hạn vì đã ở lại trong ngôi nhà thời tuổi trẻ suốt mọi ngày tháng, có lẽ quên mất, trong những năm tháng tuổi cao sức yếu hiện tại, rằng những cám dỗ rời bỏ nó vốn chẳng hề mạnh mẽ hay đông đúc. Bà thường nhắc đến người em gái Fanny với chút ít khinh miệt, như thể người phụ nữ tội nghiệp đó đã tự hạ thấp bản thân khi kết hôn với một người em trai. Bà rất kiêu hãnh về địa vị của chính mình giống như vị bá tước người anh, nhưng sự kiêu hãnh đó được duy trì với nhiều vẻ bề ngoài hơn và ít tinh thần quý tộc bên trong hơn. Dường như vẫn chưa đủ với bà khi thế giới biết rằng bà là một De Guest, và vì thế bà đã mang những thói quen phô trương nhỏ nhặt cùng những điệu bộ trịch thượng khiến bà chẳng lấy gì làm nổi tiếng với những người láng giềng.
Mối quan hệ giữa Guestwick Manor và Allington không mấy thường xuyên hay thân mật. Ngay sau vụ bỏ trốn của Phu nhân Fanny, hai gia đình đã đồng ý thừa nhận mối quan hệ họ hàng với nhau và cho thế giới biết rằng họ vẫn giữ quan hệ thân hữu. Hoặc là con đường đó là cần thiết đối với họ, hoặc là con đường ngược lại, để thiên hạ biết họ là kẻ thù. Tình bạn ít phiền toái hơn, và vì thế hai gia đình thỉnh thoảng ghé thăm nhau và thết đãi nhau những bữa tối khoảng một lần một năm. Vị bá tước coi bác điền chủ là một kẻ đã phản bội chính trị, và qua đó đánh mất sự tôn trọng đáng lẽ dành cho một đại địa chủ thế tập; còn bác điền chủ thì hay chê bai vị bá tước là kẻ chẳng hiểu gì về thế giới bên ngoài. Tại Guestwick Manor, Bernard được coi là người khá được cưng chiều. Cậu thực chất là họ hàng, mang trong dòng máu huyết thống của nhà De Guest, và cậu càng được cưng chiều hơn vì là người thừa kế của Allington, và vì dòng máu nhà Dale thậm chí còn cổ xưa hơn cả dòng quý tộc mà cậu có họ hàng. Khi Bernard lên làm điền chủ, khi ấy quả thực quan hệ giữa Guestwick Manor và Allington có thể trở nên thắm thiết; trừ phi, người thừa kế của bá tước và người thừa kế của điền chủ lại có thêm nguyên nhân mới gây bất hòa giữa họ.
Họ bắt gặp Phu nhân Julia đang ngồi một mình trong phòng khách, và giới thiệu ông Crosbie với bà theo đúng nghi thức. Thực tế về việc đính hôn của Lily dĩ nhiên đã được đồn tới dinh thự, và ai nấy đều ngầm hiểu rằng vị hôn phu tương lai nay được đưa đến để cho người ta ngắm nghía và phê chuẩn. Phu nhân Julia nhún gối chào cực kỳ kiểu cách, và bày tỏ niềm hy vọng rằng người bạn trẻ của bà sẽ được hạnh phúc trong lĩnh vực cuộc sống mà Thượng đế đã vui lòng kêu gọi cô dấn thân vào.
“Hy vọng là thế, thưa Phu nhân Julia,” Lily nói với một nụ cười nhẹ; “dù sao thì em cũng định thử xem sao.”
“Tất cả chúng ta đều thử, cô ạ, nhưng nhiều người trong chúng ta thất bại trong việc thử với đầy đủ nghị lực quyết tâm. Chỉ bằng cách làm tròn bổn phận, chúng ta mới có thể hy vọng được hạnh phúc, dù là trong đời sống độc thân hay hôn nhân.”
“Cô Dale có ý định trở thành một con rồng hoàn hảo trong việc thực hiện bổn phận của mình,” Crosbie nói.
“Một con rồng!” Phu nhân Julia nói. “Không; tôi hy vọng cô Lily Dale sẽ không bao giờ biến thành một con rồng.” Và rồi bà quay sang người cháu trai của mình. Có lẽ nên nói thẳng ra là bà chưa bao giờ tha thứ cho ông Crosbie vì sự suồng sã trong cách diễn đạt mà anh vừa dùng. Anh chỉ mới có mặt trong phòng khách của Guestwick Manor vỏn vẹn hai phút, và việc anh bàn chuyện rồng rắn là hoàn toàn không phải phép. “Bernard,” bà nói, “hôm qua ta nhận được thư từ mẹ cháu. Ta e rằng bà ấy có vẻ không được khỏe cho lắm.” Và thế là diễn ra một cuộc trò chuyện nhỏ, chẳng mấy thú vị giữa người dì và người cháu về tình hình sức khỏe chung của Phu nhân Fanny.
“Em không biết dì lại không khỏe thế đấy,” Bell nói.
“Bà ấy không ốm,” Bernard nói. “Bà ấy chẳng bao giờ ốm cả; nhưngặt một nỗi bà ấy cũng chẳng bao giờ khỏe.”
“Dì cháu,” Phu nhân Julia nói, dường như lồng thêm một chút mỉa mai vào giọng điệu khi lặp lại từ đó — “dì cháu chưa bao giờ tận hưởng sức khỏe tốt kể từ khi rời khỏi ngôi nhà này; nhưng chuyện đó đã lâu lắm rồi.”
“Lâu lắm rồi,” Crosbie nói, vốn không quen bị bỏ mặc ngồi lặng thinh trên ghế. “Cháu đấy, Dale, dù sao đi nữa chắc cũng khó mà nhớ được.”
“Nhưng tôi thì nhớ,” Phu nhân Julia nói, ngẩng cao đầu. “Tôi nhớ khi chị Fanny của tôi được công nhận là mỹ nhân của cả vùng. Đó là một món quà nguy hiểm, nhan sắc ấy.”
“Rất nguy hiểm,” Crosbie nói. Thế là Lily lại bật cười, và Phu nhân Julia càng tỏ ra tức giận hơn nữa. Gã đàn ông gớm ghiếc nào thế này mà những người láng giềng của bà lại định rước vào tận tâm can họ! Nhưng bà từng nghe nói về ông Crosbie trước đây, và ông Crosbie cũng từng nghe nói về bà.
“Nhân tiện đây, thưa Phu nhân Julia,” anh nói, “tôi nghĩ mình có quen một vài người bạn rất thân của ngài.”
“Bạn rất thân là một từ mang trọng lượng lớn. Tôi không có nhiều bạn rất thân đâu.”
“Ý tôi là gia đình Gazebee. Tôi từng nghe Mortimer Gazebee và Phu nhân Amelia nhắc đến ngài.”
Nghe vậy, Phu nhân Julia liền thú nhận rằng bà có biết nhà Gazebee. Ông Gazebee, bà nói, là một người thuở trẻ thiếu thốn nhiều bề, dẫu vậy ông vẫn là một người rất đáng kính. Hiện ông đang ngồi trong Nghị viện, và bà hiểu rằng ông đang tự chứng tỏ mình là một người hữu ích. Thời điểm đó bà không hoàn toàn tán thành cuộc hôn nhân của Phu nhân Amelia, và bà đã nói thế với người bạn rất thâm tình của mình là Phu nhân De Courcy; nhưng — Và rồi Phu nhân Julia nói rất nhiều lời ca ngợi ông Gazebee, dường như cốt để kết luận rằng: ông ấy là một kiểu người xuất sắc, hoàn toàn ý thức được vinh dự quá lớn mà người con gái của bá tước — người đã cưới ông — ban ơn cho mình, và hoàn toàn nhận thức rõ rằng ngay cả cuộc hôn nhân đó cũng không thể đưa ông lên ngang hàng với họ hàng bên vợ, thậm chí là với chính vợ mình. Và rồi chuyện hé lộ ra rằng trong tuần tới, Phu nhân Julia sẽ có buổi gặp gỡ gia đình Gazebee tại Courcy Castle.
“Tôi rất lấy làm vui mừng khi nghĩ rằng mình sẽ có vinh dự được gặp lại ngài ở đó,” Crosbie nói.
“Thế ư!” Phu nhân Julia thốt lên.
“Tôi sẽ đi Courcy vào thứ Tư. E rằng thời gian đó quá sớm để tôi có thể kịp phục vụ quý phu nhân.”
Phu nhân Julia ngẩng cao đầu, từ chối sự hộ tống mà ông Crosbie vừa ngỏ ý. Bà lấy làm tiếc khi hay tin vị hôn phu của Lily Dale lại là bạn thân của bạn mình, và bà đặc biệt đau lòng khi biết anh sắp đến nhà người bạn đó. Đó là nỗi buồn đối với bà, và bà thể hiện rõ điều đó. Crosbie cũng lấy làm tiếc khi biết Phu nhân Julia sẽ là bạn đồng hành cùng khách trú tại Courcy Castle; nhưng anh không hề biểu lộ ra ngoài. Anh không bày tỏ gì ngoài những nụ cười và sự tự chúc mừng lịch sự về vấn đề này, giả vờ rằng anh rất vui mừng khi được tái ngộ Phu nhân Julia; nhưng thực ra, anh sẵn sàng đánh đổi rất nhiều nếu có thể nghĩ ra bất kỳ mưu mẹo nào để giữ vị phu nhân ấy ở lại nhà.
“Đúng là một mụ già đáng sợ,” Lily nói khi họ cưỡi ngựa quay ngược đại lộ trở về. “Em xin lỗi nhé, Bernard; vì dẫu sao bà ấy cũng là dì của anh.”
“Đúng vậy; bà ấy là dì của anh; và dù anh không mấy quí mến gì bà, anh phản đối việc gọi bà là một mụ già đáng sợ. Bà chưa từng sát hại ai, cướp của ai, hay giật bồ của người phụ nữ nào khác.”
“Em đoán thế,” Lily nói.
“Chắc chắn bà ấy cầu nguyện rất thành kính,” Bernard nói tiếp, “và bố thí tiền cho người nghèo, và sẵn sàng hy sinh bất kỳ mong muốn nào của bản thân ngày mai cho ước nguyện của anh trai mình. Anh công nhận là bà ấy xấu xí, trịch thượng, và là phụ nữ mà lại để một chòm râu đen dài trên môi trên thì không nên chút nào.”
“Em chẳng thèm bận tâm đến bộ râu của bà ấy đâu,” Lily nói. “Nhưng sao bà ấy lại bảo em phải làm tròn bổn phận? Em đâu có đến đó để nghe giảng đạo.”
“Và sao bà ấy lại nói nhan sắc là nguy hiểm cơ chứ?” Bell nói. “Dĩ nhiên tất cả chúng ta đều hiểu ý bà ấy là gì rồi.”
“Em chẳng hiểu bà ấy có ý gì sất,” Lily nói; “và bây giờ em vẫn không hiểu.”
“Anh nghĩ bà ấy là một phụ nữ quyến rũ, và anh sẽ đặc biệt lịch thiệp với bà ấy ở nhà Phu nhân De Courcy,” Crosbie nói.
Và cứ thế, vừa ném những lời chê bai cay nghiệt về phía người phụ nữ độc thân tội nghiệp mà họ vừa từ biệt, họ vừa tiến vào Guestwick, và lại xuống ngựa trước cửa nhà bà Eames.