Sự khác biệt giữa Rồng và Quỷ—Cánh của loài Rồng—Cuộc chiến trên Thiên quốc—Sự xua đuổi các loài Rắn—Sự tan rã của Rồng—Nguồn gốc thần học của Quỷ—Lý tưởng và thực tại—Giáo điều về Quỷ—Sự tha hóa của các hình tượng lý tưởng—Sự luân hồi của các bóng ma.
Thánh Augustine từng viết: "Tất cả chúng ta không là gì khác ngoài những Ý chí"; ngài nói thêm rằng bản chất của thiên thần tốt và thiên thần xấu là như nhau, chỉ khác nhau ở ý chí. Đồng điệu với quan điểm này, John Beaumont nhận định: "Một khát vọng tốt đẹp trong tâm trí chính là một vị Chúa tốt lành." Và toàn bộ thần thoại về Cái Ác bổ sung thêm rằng: một khát vọng tồi tệ trong tâm trí chính là một Con Quỷ. Mỗi sự nhân hóa một Ý chí độc ác đều nhìn vượt ra ngoài những hiện tượng đau khổ bên ngoài, để hình dung ra một con tim yêu thích điều ác, một linh hồn hướng về sự hiểm ác. Chính tại điểm này, một yếu tố hoàn toàn mới bắt đầu xuất hiện. Cơn đau thể xác vốn do Yêu Ma đại diện một cách ngẫu nhiên, nay được khái quát hóa và tổ chức thành một nguyên lý gây hại nơi loài Rồng, bắt đầu đi vào bóng tối đổ xuống từ ánh sáng đang lên của bản tính đạo đức con người. Con người nhận thức được những đau đớn về đạo đức và tâm linh: chúng vẫn có thể được liên tưởng bằng trí tưởng tượng với những dằn xót thể xác, nhưng những hình phạt thể xác này dần rời khỏi khái niệm trực tiếp, biến mất vào một tương lai xa xăm, và thậm chí còn bị thay thế bởi niệm tưởng về một cái ác được biểu tượng hóa bằng sự khoái lạc.
Sự khác biệt cơ bản giữa một Yêu Ma hay Rồng với một Con Quỷ có thể được nhận diện ở điều này: chúng ta không bao giờ thấy Yêu Ma hay Rồng tự nguyện ban phát sự khoái lạc thể xác hay hạnh phúc cho con người, trong khi phần cốt lõi trong khái niệm về Quỷ lại là việc hắn thường xuyên ban tặng những ân huệ trần thế nhằm làm hỏng bản tính đạo đức của con người.
Quả thực, có những ngoại lệ nghiễm nhiên đối với định lý này xuất hiện ở các loài rồng phước lành (agatho-dragon) mà chúng ta đã xem xét trong chương về Tử xà Basilisk. Nhưng người đọc sẽ nhận thấy rằng, trong các thần thoại đó, không hề có nét ám chỉ nào về một mục đích thâm hiểm đằng sau những điềm lành do các quái vật ngoại lệ ấy mang lại; thực chất chúng là những hình thái của năng lực hiểm ác có ý đồ gây họa nhưng đã bị khuất phục bởi sức mạnh vượt trội của các anh hùng hoặc thánh nhân, và đành gượng ép trở thành kẻ phụng sự cho vinh quang của họ.
Không nghi ngờ gì nữa, con Rồng đã đi theo sự phát triển đạo đức và tôn giáo này trong bản tính nội tại của con người từ rất xa, và cho đến nay vẫn giữ một mối liên hệ phụ thuộc với nó dưới dạng vừa là tù nhân vừa là kẻ cai ngục ở chốn âm phủ. Trong quá trình dài lâu đó, nó đã trải qua những biến đổi nhất định; đặc biệt, đặc tính về đôi cánh của nó, nếu không xuất phát từ niệm tưởng về cuộc chiến chống lại các đấng thiêng liêng hơn, thì dường như cũng được tăng cường rất nhiều từ đó. Đôi cánh ngoại lệ được ban cho các loài rắn trong nghệ thuật Hy Lạp—chẳng hạn như đôi cánh kéo cỗ xe của Demeter và Persephone—chẳng là gì nếu so với đôi cánh phát triển hoàn thiện của con Rồng quy chuẩn trong thời đại Kitô giáo. Đôi cánh như vậy có thể đã được phát triển đôi khi để biểu thị đám mây biết bay, cơn bão phun ra lửa, hoặc để giải thích cách một La Hầu (Ráhu) có thể đuổi theo mặt trời và mặt trăng để nuốt chửng chúng tạm thời trong hiện tượng nhật thực, nguyệt thực. Nhưng đôi cánh này chỉ phát triển đến quy mô quan trọng hơn khi chúng được lồng ghép vào niệm tưởng của người Semite về các tinh linh có cánh cùng các thiên thần hủy diệt, và gắn liền với một cuộc tấn công đầy tham vọng vào thiên quốc cùng những cư dân thần thánh hoặc thiên thần ở đó.
Sách Khải Huyền có viết: "Có một cuộc chiến trên Thiên quốc." Những mô tả truyền thống về cuộc chiến này tuân theo khá sát, về mặt chi tiết kịch tính, các cuộc đấu tranh khác cổ xưa hơn vốn phản ánh cuộc đụng độ của con người với những khắc nghiệt của thiên nhiên. Trong những cuộc đụng độ đó, con người hình dung các vị thần hạ giới để hòa vào trận chiến; nhưng ngay cả ở nơi cuộc chiến lên đến đỉnh điểm, cảnh trí chủ yếu vẫn là mặt đất và các mục tiêu vẫn thuộc về vị thế cùng quyền lực—sự thống trị của Ánh sáng hữu hình được thiết lập trên Bóng tối, hoặc của một chủng tộc tương đối văn minh trên một chủng tộc dã man. Các cuộc chiến giữa Deva và Asura ở Ấn Độ, Dev và Ahura ở Ba Tư, Đức Phật và các loài Naga ở Tích Lan, Garuda và Thần Rắn ở bắc Ấn Độ, các vị thần và Gã khổng lồ Băng giá ở Scandinavia, vẫn chỉ liên quan đến mối quan hệ của con người với hoa trái của đất đai, với cái nóng và giá lạnh, với bóng tối hoặc bão tố và ánh nắng mặt trời.
Nhưng một số cuộc chiến này cuối cùng đã có những biến thể hé lộ xu hướng tâm linh hóa của chúng. Sự khác biệt giữa một huyền thoại tồn tại giữa chúng ta dưới hình thức gần như cổ xưa với chính huyền thoại đó tồn tại dưới dạng một phần mang tính huyền bí sẽ minh họa cho giai đoạn quá độ này. Chẳng hạn, huyền thoại Garuda xua đuổi loài rắn khỏi vương quốc của mình ở Ấn Độ không phải là một huyền thoại mang tính thánh thiện; kẻ tiêu diệt loài rắn này được cho là đã bắt loài bò sát mỗi ngày phải nộp một con để hắn ăn thịt, và truyền thống hợp lý hóa giải thích đây là hành vi ăn thịt người của vị hoàng tử. Việc Đức Phật xua đuổi các Naga hay loài rắn khỏi Tích Lan để ngài có thể hiến dâng hòn đảo đó cho giáo luật thần thánh đã đánh dấu điểm nhấn đạo đức của câu chuyện ngụ ngôn. Việc Thánh Patrick xua đuổi rắn khỏi Ireland là một huyền thoại được hình thành theo tinh thần của lời nguyền rủa dành cho con rắn ở Vườn Địa Bàng; nhưng trong trường hợp này, huyền thoại hiện đại lại mang tính nguyên thủy hơn về mặt đạo đức, và phản ánh gần hơn chiến công của Garuda. Thánh Patrick xua đuổi rắn để biến Ireland thành một thiên đường về mặt thể chất, và thiết lập uy tín của một tông đồ bằng cách thực hiện các dấu hiệu của một người được Chúa Christ chỉ định; và ở điểm này, nó vượt lên trên câu chuyện của Ấn Độ giáo một chút. Trong trường hợp con rắn bị nguyền rủa ở Vườn Địa Bàng, cuộc chiến lại thể hiện một sự đạo đức hóa sâu sắc hơn. Con rắn không xuất hiện ở Vườn Địa Bàng như trong vương quốc của Garuda và Thánh Patrick vì mục đích tàn phá hay gây đau đỡn về thể xác, mà là để ban tặng cho con người một niềm khoái lạc nhằm hướng tới thành công trong một cuộc tranh chấp tiếp theo giữa nó và đấng thần linh. Tuy nhiên, trong huyền thoại Địa Bàng này, cuộc chiến cổ xưa vẫn chưa thực sự được tâm linh hóa; vì kết cục vẫn liên quan, như trong cuộc chiến giữa Deva và Asura, đến việc sở hữu một trái cây kỳ diệu vốn không hề mang lại sự thánh thiện. Đến huyền thoại mang tính khải huyền về cuộc chiến trên thiên quốc, huyền thoại mới thực sự được tâm linh hóa. Kết cục không còn mang tính trần thế, không còn là sự tranh giành quyền lực thuần túy; con Rồng dàn trận chống lại người phụ nữ cùng đứa trẻ, và chống lại "sự cứu rỗi" tâm linh của nhân loại, mà nó là "kẻ tố cáo" và "kẻ lừa gạt".
Chắc chắn không ai có thể bị "lừa gạt" bởi "một con Rồng lớn màu đỏ như lửa, có bảy đầu và mười sừng"! Trong thị ảo ảnh này, con Rồng được đẩy đi xa nhất mà hình giác của nó có thể đạt tới trong việc biểu tượng hóa cái ác. Nuốt chửng đứa trẻ là công việc chính đáng của nó, nhưng với tư cách là "kẻ tố cáo các anh em trước mặt Thiên Chúa ngày đêm", hình dạng quái đản đó chắc chắn không phù hợp với bất kỳ phép tương tự thần thoại nào; và người ta khó có thể hình dung một khuôn mặt như thế lại có khả năng lừa gạt "toàn thể thế giới". Do đó, không có gì kinh ngạc khi sự hiện diện của con Rồng trên thiên quốc chỉ được nhắc đến gắn liền với sự sa ngã của nó khỏi nơi đó. Điều đáng chú ý là đôi cánh đã bị mất trong trận sa ngã này; bởi vì trong khi mối quan hệ "thiên thần" của nó gợi ý về đôi cánh trước đó, thì người phụ nữ lại có thể trốn thoát khỏi quái vật sa ngã nhờ hai đôi cánh được ban cho. Giờ đây mất đi đôi cánh, trở lại làm "con rắn cổ xưa", hình dạng của quái vật không còn thích ứng với cuộc đấu tranh đạo đức và tôn giáo sắp diễn ra. Bởi vì hình dạng của nó đại diện cho một phương thức, và nó có nghĩa là sự hoàn hảo của lực lượng bạo lực thô bạo. Điều đó, quả thực, vẫn còn lại trong phần tiếp theo của huyền thoại tráng lệ này. Giống như trong huyền thoại về Quái vật Hydra, hai cái đầu mọc lên thay thế cho cái đầu bị chặt hạ, thì trong huyền thoại Kitô giáo này, từ quái vật bị lật đổ (từ đây bản thân nó ẩn mình), hai con thú khác nổi lên từ sự truyền cảm hứng của nó—con Thú bảy đầu mười sừng tiếp tục công việc giận dữ và đau đớn; nhưng cũng có một con Thú giống như chiên con, chỉ có hai sừng (ít đáng sợ hơn nhiều), và có khả năng lừa gạt bằng các phép thuật của mình, vì nó thậm chí có thể gọi lửa từ trên trời xuống. Con Rồng-Rắn cổ xưa, sự biểu đạt của nỗi đau tự nhiên, do đó bị rã ra từng mảnh. Phần cũ kỹ hơn của nó ở lại để gây ra hiểm họa và tổn hại; và tiếng kêu cất lên: "Hãy vui mừng đi, hỡi các tầng trời và những ai ở trong đó! Tai họa cho đất và biển! Vì quỷ dữ đã xuống với các ngươi trong sự giận dữ lớn lao, bởi nó biết thời gian của mình chẳng còn bao lăm." Nhưng cũng có một phần giống như chiên con ở nơi nó, và mối quan hệ của nó với con Rồng chỉ được nhận biết qua giọng nói của nó.
Sự tinh tế trong việc tinh chỉnh biểu tượng của nỗi đau bên ngoài để đại diện cho cuộc đấu tranh đạo đức—nơi lực lượng thù địch có thể khoác lên mình những hình thái lừa mị của vẻ đẹp và niềm khoái lạc—chỉ là một minh chứng ấn tượng cho việc chuyển giao các niệm tưởng của con người về cái ác từ bản chất bên ngoài sang bản chất bên trong. Sự chuyển biến này đi từ một nguyên lý gây hại hiểm ác, mang tính định mệnh đối với thể xác sang một nguyên lý cái ác hiểm ác, mang tính định mệnh đối với lương tâm. Yêu Ma mang tính tự nhiên; Rồng mang tính cả vật lý lẫn siêu hình; Quỷ dữ đã và đang mang tính thần học. Trong thần học Ba Tư sơ khai (Zoroastrianism), nơi Quỷ dữ lần đầu tiên xuất hiện với định nghĩa rõ ràng, hắn là kẻ đối đầu với Tâm Tốt Lành, và cuộc chiến giữa hai bên, Ormuzd và Ahriman, là sự tâm linh hóa cuộc chiến giữa Ánh sáng và Bóng tối, Đau khổ và Hạnh phúc trong thế giới bên ngoài. Giống như các thế lực đối lập hữu hình này được cho là cân bằng hoàn hảo với nhau, các yếu tố tâm linh tương ứng của chúng cũng vậy. Hai Tâm trí được mô tả như hai Song sinh.
‘Hai Tinh linh cổ xưa ấy, vốn là cặp song sinh, đã làm cho tỏ tường điều gì là tốt và điều gì là xấu trong tư tưởng, lời nói và hành động. Những ai tốt lành biết phân biệt giữa hai điều đó; còn những kẻ làm điều ác thì không.
Khi hai Tinh linh này đến với nhau, trước tiên họ tạo ra sự sống và sự chết, để rốt cuộc có một cuộc sống khốn cùng nhất cho kẻ xấu, nhưng là sự phước lành cho người tốt.
Trong hai Tinh linh này, kẻ ác đã chọn những hành vi tồi tệ nhất; còn Tinh linh nhân từ, đấng có trang phục là bầu trời bất biến, đã chọn những điều đúng đắn.’
Thuyết siêu hình này tuân theo sát sao các quan sát khoa học sơ khai làm nền tảng cho nó; đó là cái lạnh của giá rét, sự u uất của bóng tối, vết cắn của sự chết, được dịch chuyển thành một trật tự nào đó cho trí tuệ—trí tuệ mà sau khi đi qua hình tượng con Rồng, chúng ta thấy xuất hiện ở con Quỷ Ba Tư này; và phản chiếu lại sắc đen của hắn, vinh quang của nhân cách mà từ đó mọi điều tốt đẹp nảy sinh tỏa sáng trong một vẻ huy hoàng không còn bị làm hoen ố bởi sự liên đới với mặt xấu xa của tự nhiên. Ormuzd được tôn vinh là "cha của thế giới tinh khiết", đấng nâng đỡ "trái đất và mây trời để chúng không sụp đổ", và "đã tạo ra ánh sáng lành và bóng tối, giấc ngủ lành và sự thức tỉnh"; ở mỗi bước đi đều gợi nhớ đến người cha của thế giới ô uế, ánh sáng không lành, bóng tối hoặc giấc ngủ.
Sự hân hoan đi kèm với thị ảo ảnh đầu tiên của con người về một cuộc sống lý tưởng đã thách thức các thực tế mâu thuẫn của bản chất bên ngoài và bên trong. Ngay khi nhìn thấy một hình ảnh tinh khiết hơn của chính mình vươn lên trên bản năng động vật của bản thân, con người không chỉ phải coi bản năng động vật đó là sự xúi giục của quỷ dữ, mà còn phải coi những điều tương tự trong tự nhiên cũng như vậy; và niệm tưởng này sẽ tiến triển song song với việc tạo ra các thần linh tinh khiết mang hình ảnh của cái tôi cao cả hơn đó. Vào thời điểm ấy vẫn chưa có một triết học nào đòi hỏi tính thống nhất trong Vũ trụ, hoặc cấm con người coi là bị nguyền rủa đối với những phần tự nhiên không phù hợp một cách rõ ràng với các lý tưởng của mình.
Ông Edward B. Tylor đã truy nguyên sự phát triển của Thuyết vạn vật hữu linh từ bóng của con người và hơi thở của họ; Sir John Lubbock đã truy nguyên ảnh hưởng của các giấc mơ trong việc hình thành xung quanh con người một thế giới ma quái; ông Herbert Spencer đã đưa ra một phân tích về các quá trình có thể xảy ra mà qua đó môi trường vô hình này được định hình cho khái niệm tâm trí phù hợp với các điều kiện gia đình và xã hội. Nhưng điều cần thiết ở đây là chúng ta phải nhận ra cái bóng đã bước đi cùng bản tính đạo đức, những hơi thở của khát vọng tôn giáo, và những giấc mơ đã đến thăm một người mà ý thức đạo đức của họ thường mâu thuẫn với những ham muốn động vật của mình. Bộ luật được thiết lập vì lợi ích chung, mặc dù nhất thiết phải có mối liên hệ với lương tâm của mỗi cá nhân, lại là một sự hạn chế đối với tự do cá nhân. Cuộc xung đột giữa tính ích kỷ và bổn phận do đó được mở màn; nó tiếp tục trong cuộc đấu tranh giữa "luật trong xác thịt và luật trong tinh thần", điều đã dẫn Thánh Paul đến việc đánh đập thân thể mình để bắt nó phải phục tùng; nó truyền từ thi sĩ La Mã đến người Anh, người đã biến trải nghiệm của mình thành một câu khẩu quyết—
Tôi thấy điều đúng, và tôi chấp thuận nó;
Lên án điều sai, nhưng vẫn cứ lao theo.
Ánh sáng chiếu rọi nó mãnh liệt bao nhiêu, thì cái bóng mà nó đổ xuống bên dưới tất cả những gì nó không thể xuyên qua cũng mãnh liệt bấy nhiêu. Tình yêu điều thiện của người thánh thiện nhất nồng nhiệt bao nhiêu, thì tình yêu điều ác của kẻ thù tâm linh của người đó cũng nồng nhiệt bấy nhiêu. Mái vòm xanh lam hòa quyện với những giấc mơ về sự tinh khiết của người ấy cao bao nhiêu, thì vực thẳm bên dưới bản tính thấp hẹp của người ấy lại sâu bấy nhiêu. Những sự bình đẳng bề ngoài của các hiện tượng, đau đớn và khoái lạc, đối với bản năng động vật của người ấy đã đúc thành khuôn khổ mà các lý thuyết của người ấy về các hiện tượng nội tại và đạo đức phải được đúc vào; và do đó con người—trong một khoảnh khắc uy nghiêm—đã tự nộp mình cho niệm tưởng đáng sợ về một Nguyên lý Tối cao của Sự Xấu xa: bất cứ nơi nào có điều thiện, ở đó có kẻ đối đầu với nó; bất cứ nơi nào có sự thật, ở đó có kẻ phủ nhận nó; không có ánh sáng nào tỏa sáng mà không có sự hiện diện tăm tối muốn dập tắt nó; sự ngây thơ có kẻ tố cáo chính thức, đức hạnh có kẻ cám dỗ điêu luyện, hòa bình có kẻ phá hoại, đức tin có kẻ quấy rầy và nhạo báng. Thậm chí, vào sự nhân hóa này còn được thêm vào đặc điểm cuối cùng của tính chất quỷ quái: một bản chất tìm thấy sự thỏa mãn tối cao của mình trong việc cuối cùng là tra tấn con người vì những tội lỗi do chính hắn xúi giục.
Vẫn còn là một câu hỏi mở về việc liệu người bình thường có thực sự hình dung ra giáo điều thần học này đến mức nào. Mặc dù rất dễ đưa nó thành một phát biểu bằng lời rõ ràng; mặc dù các phép tương tự của tự nhiên dễ dàng cung cấp các lập luận và minh họa cho sự cân bằng giữa ánh sáng và bóng tối đạo đức, tình yêu và sự thù hận; tuy nhiên con người bị giới hạn trong các niệm tưởng chủ quan vào những khả năng của chính mình, và hầu như có thể nói rằng để thực sự tin vào một Con Quỷ tuyệt đối, một người sẽ phải tự mình có tiềm năng trở thành một con quỷ. Nhưng bất kỳ con người nào, bị kích động bởi mong muốn không lý do và không mục đích nhằm gây đau đớn cho người khác, sẽ bị toàn thể coi là điên rồ, huống chi là một kẻ không vì động cơ nào mà vừa làm tha hóa vừa hành hạ người khác.
Ngay cả các phát biểu thần học về nhân cách của Cái Ác, và những gì điều đó ám chỉ, cũng rất hiếm hoi. Phát biểu sau đây đủ dũng cảm để được ghi lại, ngoài tính gợi mở của nó.
"Không thể phủ nhận rằng giống như có một sự truyền cảm hứng của tình yêu thánh thiện, thì cũng có một sự truyền cảm hứng của sự thù hận, hoặc niềm khoái lạc điên cuồng, mà con người tự nộp mình cho những xung năng của sự tàn phá; và khi ngôn ngữ phổ thông nói về sự nhập xác của Satan, về những con quỷ lột xác thành người, thì đằng sau đó ẩn chứa một sự thật nghiêm trọng rằng con người, bằng việc tiếp tục phạm tội, có thể bước qua ranh giới thông thường giữa sự đồi hèn của con người và sự đồi hèn của quỷ dữ, và mở ra trong chính mình một vực thẳm sâu thẳm của sự thù hận vốn, mà không cần bất kỳ sự pha trộn nào của lợi ích cá nhân, tìm thấy sự thỏa mãn của nó trong sự tàn phá và khốn cùng."
Về điều này, có thể nói rằng bình luận phổ biến về các trường hợp loại này được chứa đựng trong chính cụm từ được đề cập, "sự nhập xác"—với ẩn ý rằng sự đồi hèn vô vị lợi như vậy không thể nào xảy ra trong phạm vi trải nghiệm đơn thuần của con người—và, trong thời hiện đại, "sự nhập xác" được điều trị trong các bệnh viện tâm thần. Tuy nhiên, các trạng thái bệnh lý có nhiều cấp độ đa dạng đến mức có khả năng nhiều người đã hình dung ra một Đấng mà trong đó những xung năng tồi tệ nhất của họ không bị kiềm chế, và do đó đã có đủ những sự tiếp cận phổ biến đến một niệm tưởng giàu tính tưởng tượng về một Con Quỷ để cho phép giáo điều thần học, vốn ít người có thể phân tích, tồn tại.
Tuy nhiên, không nên giả định rằng các lý tưởng đạo đức và tâm linh vừa được nhắc đến được đại diện một cách bình thường trong các con Quỷ khác nhau mà chúng ta phải xem xét. Đặc trưng của các sự nhân hóa, cho dù thuộc thiên quốc hay địa ngục, là dần dần thay thế các ý tưởng mà từ đó chúng sinh ra. Giống như trong ngụ ngôn về Agni, người được cho là đã nuốt chửng cha mẹ mình khi mới sinh ra—một ẩn dụ về lửa thiêu rụi hai thanh gỗ tạo ra nó—lich sử tôn giáo cho thấy cả các thần linh và quỷ dữ, bằng ngọn lửa của sự tận tụy hoặc sự thù hận cá nhân mà chúng tạo ra, đã thiêu rụi các ý tưởng khai sinh ra chúng. Khi thay vì các lực lượng vô thức và các quy luật vô hình hoạt động để tạo ra các kết quả gọi là thiện và ác, con người lại nhìn thấy các Ý chí cá nhân lớn lao tham gia vào cuộc xung đột cá nhân, vũ trụ trở thành một chính quyền của cuộc chiến; các ngôi sao trên trời, các thiên thần và các quỷ nhỏ, nam giới và nữ giới, ngay cả cây cối và động vật, đều bị cuốn vào trận chiến, để được xếp hàng ở bên này hoặc bên kia; và trong tinh thần quân sự cùng sự cuồng nhiệt của cuộc đấu tranh, các lý tưởng tâm linh trở nên vô nghĩa bên dưới các đạo quân bóng ma mà chúng gợi ra, giống như những bông hoa cúc và hoa tử đằng mà một đạo quân giẫm đạp trong cuộc diễu binh của mình. Cuối cùng có ít sự khác biệt giữa các đặc điểm đạo đức của các đạo quân tương ứng của Ormuzd và Ahriman, Michael và Satan; chiến lược và sự dã man của họ là như nhau. Bất cứ nơi nào niệm tưởng là về một vũ trụ chia thành các phe phái thù địch, các đam mê thích hợp đều được nhen nhóm, và ở giữa bãi chiến trường, nơi Sự Tàn Bạo và Sự Dịu Dàng gặp nhau, cuối cùng người ta nhìn thấy một con Thú có sừng đối đầu với một con Chiên có sừng. Ở cả hai bên đều là sự tôn vinh chiếc sừng.
Chúng ta chỉ cần nhìn vào kết quả của một Jesus dịu dàng và khiêm nhường thông qua những đòi hỏi cấp thiết của giáo hội chiến đấu để thấy các lực lượng đó mạnh mẽ đến nhường nào. Mặc dù các Kitô hữu cư sĩ có giáo dục thông thường có thói quen hợp lý hóa các giáo điều của họ hết mức có thể, và chú trọng vào các đặc điểm yêu thương và kiên nhẫn của Jesus, nhưng những chiếc sừng được gắn vào trán của đấng đã nói "Hãy yêu kẻ thù của các ngươi" bởi hàng thế kỷ chiến tranh Kitô giáo vẫn còn lại trong Đức Christ của Thần học, và chúng vẫn được trông cậy để khuất phục "kẻ có tội". Trong một gia đình chính thống giáo mà tôi có quen biết, một cậu bé sử dụng những lời lẽ hư hỏng thể hiện sự tức giận đối với bạn chơi đã được nhắc nhở rằng cậu nên giống Đức Christ hơn, "đấng không bao giờ làm hại kẻ thù của mình". "Không," đứa trẻ giận dữ trả lời, "nhưng ngài sắp sửa làm thế đấy."
Nếu trong Yêu Ma Học, chúng ta truy nguyên các cuộc đấu tranh của con người với những trở ngại bên ngoài, và các ảo ảnh mà trong đó những trở ngại này được phản ánh cho đến khi chúng được hiểu hoặc vượt qua, thì giờ đây chúng ta phải xem xét các hình thái ghi lại sự tiến bộ của con người trên một mặt phẳng cao hơn—mặt phẳng của sự phát triển xã hội, đạo đức và tôn giáo. Là sản phẩm sáng tạo của một Thần học thô sơ trong nỗ lực giải thích tình cảm đạo đức, các con Quỷ mà giờ đây chúng ta hướng sự chú ý đến đã nhân lên khi các lợi ích khác nhau của nhân loại đi vào mối quan hệ với lương tâm của họ. Mỗi cấp độ vươn lên của bản tính đạo đức đều được đánh dấu bởi vô số bóng tối mới đổ xuống tâm trí và cuộc sống của con người. Mỗi thiên đường ý tưởng mới đều được nối tiếp bởi một mặt đất mới, nhưng trước khi sự phù hợp này của vật chất với tư tưởng có thể diễn ra, các cuộc đấu tranh phải đến và các yêu ma cũ sẽ được triệu hồi cho dịch vụ mới. Theo thời gian, những điều mới mẻ trở nên cũ kỹ; các vấn đề mới đi qua, chiến trường của chúng trở nên lạnh lẽo; sau đó đàn con của sự mê tín phải bay đến chiến trường tiếp theo nơi có xác chết. Dù bẩn thỉu và tởm lợm như những con kền kền của tâm trí này—những sinh vật của chất thải đạo đức—mỗi con trong số chúng đều là một nhân chứng cho những chiến thắng của nhân loại đối với những cái ác mà chúng che khuất, và cho sự tiến bộ vững chắc của một mặt đất mới không cung cấp cho chúng môi trường sống nào khác ngoài trang sách của nhà khảo cổ học.