Lịch Sử Don Quixote, Phần 1, Trọn Bộ

Lượt đọc: 199 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 13
Kết Thúc Câu Chuyện Về Nữ Mục Đồng Marcela, Cùng Với Các Sự Kiện Khác

❊ ❊ ❊

Trời vừa hửng sáng qua những khung ban công phía đông, năm trong số sáu người chăn dê đã đến đánh thức Don Quixote. Họ báo rằng nếu ngài vẫn giữ ý định đi dự đám tang nổi tiếng của Chrysostom, họ sẵn sàng làm bạn đồng hành. Vẳng nghe điều vừa ý, Don Quixote lập tức đứng dậy, giục Sancho yên cương ngựa giừa cho nhanh chóng; và chẳng mấy chốc, tất cả cùng lên đường. Đi chưa được một phần tư dặm, tại ngã ba đường, họ thấy sáu người chăn dê đang tiến về phía mình. Những người này mặc áo da cừu đen, đầu đội vòng nguyệt quế kết bằng cây bách và trúc đào đắng. Mỗi người tay cầm một cây gậy nhựa cứng cáp. Đi cùng họ còn có hai vị quý tộc cưỡi ngựa, vận trang phục du hành lịch sự, theo sau là ba người hầu đi bộ. Khi gặp nhau, họ lịch sự chào hỏi. Qua dăm câu hỏi han về hướng đi của mỗi bên, họ biết rằng tất cả đều chung đích đến là nơi diễn ra đám tang, thế là họ quyết định cùng nhau đi tiếp.

Một trong hai vị quý tộc cưỡi ngựa quay sang nói với bạn đồng hành: “Thưa Señor Vivaldo, theo tôi, sự chậm trễ vì ghé qua đám tang kỳ lạ này rất đáng giá. Chắc chắn nó phải vô cùng đặc biệt, cứ nhìn vào những điều kỳ lạ mà mấy bác chăn dê đã kể cho chúng ta nghe về người mục đồng đã khuất và nữ hung thủ ấy thì biết.”

Vivaldo đáp: “Tôi cũng nghĩ vậy, và dù có phải hoãn lại không chỉ một ngày mà tận bốn ngày, tôi cũng chẳng ngại ngần chi.”

Don Quixote liền hỏi họ đã nghe được những gì về Marcela và Chrysostom. Vị lữ khách nọ trả lời rằng ngay sáng hôm ấy, khi gặp những người chăn dê trong trang phục tang tóc này, họ đã gặng hỏi lý do. Một người trong nhóm đã kể lại tường tận về nhan sắc cùng tính cách kỳ lạ của một nữ mục đồng tên là Marcela, về tình yêu của biết bao kẻ theo đuổi nàng, cũng như cái chết của chàng Chrysostom mà họ đang đi đưa tang. Tóm lại, vị lữ khách thuật lại toàn bộ những gì Pedro đã kể cho Don Quixote nghe trước đó.

Câu chuyện đó khép lại, và người có tên là Vivaldo chủ động khơi mпон chuyện khác. Ông hỏi Don Quixote lý do vì sao lại mang giáp trụ đầy đủ khi đi qua một vùng đất thái bình như thế này. Don Quixote đáp rằng: “Bản chất sự nghiệp của ta không cho phép ta ăn mặc theo bất kỳ cách nào khác. Cuộc sống nhàn hạ, thú vui và sự nghỉ ngơi chỉ dành cho những kẻ chăn gấm rủ làu nơi cung đình; còn gian khổ, sóng gió và binh đao sinh ra là dành riêng cho những ai mà thế giới gọi là hiệp sĩ giang hồ — mà ta, dẫu tài hèn đức mọn, cũng là người khiêm nhường nhất trong số đó.”

Vừa nghe những lời này, tất cả liền đinh ninh rằng ngài bị điên. Để kiểm chứng và xem dạng thức điên rồ ấy ra sao, Vivaldo tiếp tục hỏi thế nào là hiệp sĩ giang hồ.

Don Quixote điềm nhiên đáp: “Các vị chưa từng đọc những biên niên sử và tích truyện của nước Anh, nơi ghi chép lại chiến công lừng lẫy của Vua Arthur — người mà ở xứ Castila chúng ta, dân gian vẫn quen gọi là Vua Artus — hay sao? Xoay quanh vị vua này, có một truyền thuyết cổ xưa được cả vương quốc Đại Anh thừa nhận rộng rãi rằng ngài thực ra chưa chết, mà đã bị phù phép biến thành một con quạ, rồi sẽ có ngày trở lại trị vì để khôi phục vương quốc và vương trượng của mình. Chính vì niềm tin ấy mà từ xưa đến nay, chẳng ai có thể tìm thấy một người Anh nào dám giết một con quạ cả! Thuở thời vua hiền ấy, hội hiệp sĩ Bàn Tròn lừng lẫy đã được thiết lập, và mối tình giữa Don Lancelot xứ Hồ với Hoàng hậu Guinevere cũng diễn ra y như những gì sách vở ghi chép, với bà mai mối kiêm tâm phúc là phu nhân Quintanona vô cùng đáng kính. Từ điển tích đó mới sinh ra khúc ca dao vô cùng nổi tiếng và lan rộng khắp Tây Ban Nha chúng ta rằng —

Chẳng hề có vị hiệp sĩ nào

Được phu nhân nâng giấc yêu kiều,

Như ngài Lancelot dũng mãnh biết bao

Lúc từ nước Anh trở về đây —

cùng toàn bộ diễn biến ngọt ngào và say đắm trong những chiến công tình ái lẫn binh đao của ngài. Kể từ thời đó, hội hiệp sĩ cứ thế nhân rộng và lan tỏa ra nhiều vùng đất khác nhau trên thế giới. Trong hàng ngũ ấy, nổi danh lừng lẫy với những chiến tích phi thường là dũng tướng vĩ đại Amadis xứ Gauls cùng toàn bộ con cháu hậu duệ đến đời thứ năm; vị anh hùng Felixmarte xứ Hircania; ngài Tirante el Blanco chưa bao giờ được ca tụng cho đủ; và ngay trong thời đại chúng ta đây, hầu như ai cũng từng thấy, từng nghe và từng trò chuyện với vị hiệp sĩ bách chiến bách thắng Don Belianis xứ Hy Lạp. Thưa các vị, đó chính là hiệp sĩ giang hồ, và những gì ta vừa nhắc đến chính là luật lệ hiệp sĩ của họ. Như ta đã nói, dẫu chỉ là một kẻ tội lỗi, ta đã thụ giáo và dấn thân vào con đường ấy. Những gì các vị hiệp sĩ tiền bối tôn thờ, ta cũng tôn thờ; và vì thế, ta lang thang qua những chốn hoang vu heo hút này để tìm kiếm hiểm nguy, tâm hồn kiên định dâng hiến thân xác và gươm giáo đối đầu với những thử thách hiểm nghèo nhất mà vận mệnh có thể giáng xuống, nhằm che chở cho những kẻ yếu mềm và khốn khó.”

Qua những lời ấy, các lữ khách đã hoàn toàn xác tín rằng Don Quixote thực sự mất trí và nắm rõ hình thái điên rồ đang chi phối ngài. Họ ngạc nhiên khôn tả, y như cảm giác của bất cứ ai mới lần đầu tiếp xúc với ngài. Vivaldo, vốn là một người vô cùng sắc sảo và linh hoạt, muốn nhân cơ hội này để khơi gợi thêm những điên rồ của Don Quixote nhằm rút ngắn chặng đường ngắn ngủi dẫn đến ngọn núi — nơi diễn ra tang lễ. Ông liền nói: “Thưa ngài Hiệp sĩ giang hồ, ngài dường như đã chọn một trong những nghề nghiệp kham khổ nhất trần đời, tưởng chừng như các tu sĩ dòng Carthusian cũng chẳng khắc khổ đến thế.”

Don Quixote đáp: “Khắc khổ thì có lẽ bằng, nhưng có thiết yếu cho đời hay không thì ta rất nghi ngờ. Nói cho phải lẽ, người lính tuân lệnh thiên tử làm việc chẳng kém gì vị chủ soái ban hành mệnh lệnh ấy. Ý ta muốn nói là: các giáo sĩ trong cảnh yên bình thanh tịnh thường cầu nguyện Thiên đàng ban phúc cho thế gian, nhưng chính chúng ta — những người lính và hiệp sĩ — mới là kẻ biến những lời cầu nguyện ấy thành hiện thực. Chúng ta bảo vệ thế gian bằng sức mạnh của cánh tay và lưỡi gươm bén ngót, chẳng nương náu dưới mái tranh mà phải đương đầu giữa trời quang mây tạt, hứng chịu những tia nắng thiêu đốt của mùa hè và cái lạnh cắt da của mùa đông. Cứ thế, chúng ta là sứ giả của Chúa trên trần thế, là cánh tay thực thi công lý của Ngài. Và vì chiến sự cùng mọi hệ lụy của nó đòi hỏi mồ hôi, công sức và sự nhọc nhằn tột độ, nên suy cho cùng, những ai lấy binh nghiệp làm lẽ sống chắc chắn phải chịu đựng nhiều gian khổ hơn những kẻ ngồi trong chốn thanh bình cầu nguyện cho người nghèo khó. Ta không có ý nói, và trong đầu cũng chưa từng nghĩ rằng, đạo của hiệp sĩ giang hồ lại cao cả hơn tu sĩ trong tu viện; ta chỉ muốn đúc kết từ chính những gì bản thân đang trải nghiệm rằng: con đường này chắc chắn nhọc nhằn hơn, lắm gian truân hơn, đói khát hơn, khốn cùng hơn, rách rưới và nhếch nhác hơn; bởi xưa nay chẳng có hiệp sĩ giang hồ nào lại không phải nếm trải trăm cay đắng trong đời. Và nếu vài người trong số họ nhờ sức mạnh gươm giáo mà leo lên ngôi hoàng đế, thì thưa rằng họ đã phải trả giá đắt đỏ biết bao bằng máu và mồ hôi. Giả sử những ai đạt đến đỉnh cao ấy mà không nhờ có các pháp sư hay hiền triết trợ giúp, thì tham vọng của họ hẳn đã tiêu tan và hy vọng đã phải chuốc lấy thất bại hoàn toàn.”

Vị lữ khách đáp lại: “Đó cũng là ý kiến của riêng tôi; nhưng ngặt nỗi, giữa vô vàn điều, có một điểm ở các hiệp sĩ giang hồ khiến tôi thấy rất sai trái: đó là khi chuẩn bị dấn thân vào một cuộc phiêu lưu vĩ đại và hiểm nghèo — nơi cái chết cận kề trong thấy — họ chẳng bao giờ nhớ đến việc phó thác bản thân cho Chúa, như bổn phận của mọi Kitô hữu chân chính trong cơn hoạn nạn; trái lại, họ lại phó thác tâm hồn cho các vị nương tử của lòng mình với lòng sùng kính cứ như thể những người đẹp ấy là thần linh vậy. Điều này ngó bộ phảng phất hơi hướng ngoại đạo.”

Don Quixote nghiêm giọng đáp: “Thưa ngài, điều đó tuyệt đối không thể bỏ qua, và một hiệp sĩ giang hồ sẽ mang nhục nếu hành xử khác đi. Bời vì trong luật lệ hiệp sĩ, có một thông lệ quen thuộc rằng: khi chuẩn bị bước vào một đại sự binh đao, vị hiệp sĩ nào có hình bóng nương tử trong tâm trí sẽ phải hướng ánh mắt về phía nàng đầy dịu dàng và đắm say, tựa như đang khẩn nài nàng ban ơn che chở cho hiểm họa sắp đương đầu. Dù chẳng ai nghe thấy, ngài ấy vẫn buộc phải lẩm bẩm qua kẽ răng, thành kính phó thác linh hồn cho người thương. Lịch sử đã ghi lại vô số dẫn chứng như thế. Song, không vì thế mà họ quên phó thác bản thân cho Chúa, bởi vẫn sẽ còn đủ thời gian và cơ hội để làm điều đó ngay trong lúc giao chiến.”

Vị lữ khách vẫn vặn lại: “Dẫu vậy, tôi vẫn còn đôi điều hoài nghi. Bởi tôi từng đọc nhiều tích truyện kể rằng hai hiệp sĩ giang hồ cãi vã, lời qua tiếng lại rồi cơn giận bốc lên, họ liền quay đầu ngựa phóng ra một khoảng đất trống. Thế rồi, chẳng cần lôi thôi gì thêm, họ thúc ngựa lao vào nhau hết tốc lực. Ngay giữa lúc phóng nước đại ấy, họ mới tranh thủ phó thác cho người thương của mình. Kết cục thường thấy của cuộc đụng độ là một kẻ ngã lộn nhào qua mông ngựa, bị ngọn giáo của đối phương đâm thấu ngực; còn kẻ kia thì phải bám chặt lấy bờm ngựa mới mong khỏi rơi xuống đất. Tôi tự hỏi trong một tình huống chớp nhoáng như thế, người xấu số kia lấy đâu ra thời gian mà phó thác cho Chúa? Giá như những lời họ dành để tưởng nhớ nương tử giữa đường đua ấy được chuyển hóa thành bổn phận của một tín đồ Kitô giáo thì có ích hơn biết bao. Hơn nữa, tôi tin chắc rằng không phải mọi hiệp sĩ giang hồ đều có nương tử để mà gởi gắm tâm can, bởi đâu phải ai cũng vướng bận chuyện yêu đương.”

Don Quixote quả quyết: “Điều đó là bất khả! Ta khẳng định rằng chẳng thể có chuyện một hiệp sĩ giang hồ lại không có nương tử, vì đối với họ, việc yêu đương cũng tự nhiên và tất yếu như bầu trời phải có các vì sao vậy. Chẳng có cuốn sử sách nào ghi nhận sự tồn tại của một vị hiệp sĩ giang hồ mà lại không vướng vòng tình ái. Đơn giản vì nếu không có tình yêu, người ta sẽ không được công nhận là một hiệp sĩ chân chính mà chỉ là kẻ mạo danh, kẻ đột nhập vào thành trì hiệp sĩ không bằng cửa chính, mà trèo qua tường hệt như một tên trộm cướp mà thôi.”

Vị lữ khách liền nói: “Tuy nhiên, nếu nhớ không lầm, tôi từng đọc rằng Don Galaor — người em trai của dũng tướng vĩ đại Amadis xứ Gauls — chưa từng có một bóng hồng đặc biệt nào để phó thác tâm sự, vậy mà ông ấy vẫn được kính trọng và là một hiệp sĩ vô cùng dũng mãnh và lừng danh đấy thôi.”

Don Quixote đáp ngay: “Thưa ngài, một cánh én lẻ loi đâu làm nên mùa xuân. Hơn nữa, ta thừa biết vị hiệp sĩ đó thực chất đang chìm đắm trong một mối tình bí mật vô cùng sâu đậm; vả chăng, thói quen say đắm bất cứ người đẹp nào lọt vào mắt xanh vốn là bản năng thiên bẩm mà ông ấy không tài nào kìm chế được. Nhưng tóm lại, rõ mười mươi là ông ấy vẫn tôn thờ một người duy nhất làm nữ chúa lòng mình, người mà ông vô cùng thành kính và kín đáo gởi gắm tâm tư, bởi ông vốn kiêu hãnh là một hiệp sĩ kín miệng.”

Vị lữ khách nhân đó bèn nói: “Thế thì, nếu chuyện yêu đương là bắt buộc đối với mọi hiệp sĩ giang hồ, ta hoàn toàn có thể suy đoán rằng ngài cũng đang vướng vào lưới tình, vì ngài thuộc hội đoàn ấy. Và nếu ngài không tự hào là kín tiếng như Don Galaor, xin ngài — nhân danh tất cả những người có mặt ở đây lẫn danh nghĩa của chính tôi — hãy rộng lòng cho chúng tôi biết tên tuổi, quê quán, dòng dõi và nhan sắc của vị nương tử ấy. Chắc chắn nàng sẽ vô cùng diễm phúc khi cả thế giới hay tin nàng được yêu thương và phụng sự bởi một vị hiệp sĩ đường bẩy như ngài.”

Nghe đến đây, Don Quixote thở dài một tiếng thật sâu rồi cất lời: “Ta không thể khẳng định chắc chắn rằng kẻ thù ngọt ngào của ta có vui mừng hay không khi thiên hạ biết ta đang phụng sự nàng. Ta chỉ có thể trả lời câu hỏi đầy nhã ý của các vị rằng: tên nàng là Dulcinea, quê ở El Toboso — một ngôi làng thuộc xứ La Mancha. Dòng dõi của nàng ít nhất cũng phải bậc công chúa, bởi nàng chính là nữ vương và nương tử của đời ta; còn nhan sắc thì siêu phàm tuyệt đỉnh, bởi mọi mỹ từ tưởng tượng và bất khả thi mà các nhà thơ gán cho người thương của họ đều hội tụ trọn vẹn nơi nàng. Tóc nàng là vàng ròng, trán nàng là cánh đồng Elysian, lông mày là dải cầu vồng, đôi mắt tựa vầng thái dương, má hồng như đóa hoa hồng, môi thắm tựa san hô, hàm răng ngọc ngà châu báu, cổ trắng ngực ngà, tay ngọc ngà tựa ngà voi, da trắng hơn tuyết. Còn những gì sự đoan trang che khuất khỏi tầm mắt, ta tin chắc và hình dung rằng chỉ có lý trí mới có thể ca ngợi chứ chẳng tài nào so sánh nổi.”

Vivaldo gặng hỏi: “Chúng tôi rất muốn biết gia thế, họ hàng và nguồn cội của nàng.”

Don Quixote đáp: “Nàng không xuất thân từ dòng dõi Curtii, Caii hay Scipios cổ đại của Roma, chẳng phải dòng Colonnas hay Orsini thời hiện đại, cũng chẳng thuộc họ Moncadas hay Requesenes xứ Catalonia, hay họ Rebellas và Villanovas xứ Valencia; không phải Palafoxes, Nuzas, Rocabertis, Corellas, Lunas, Alagones, Urreas, Foces hay Gurreas xứ Aragon; không phải Cerdas, Manriques, Mendozas hay Guzmans xứ Castile; không phải Alencastros, Pallas hay Meneses xứ Bồ Đào Nha; mà nàng xuất thân từ dòng họ El Toboso xứ La Mancha — một dòng tộc dẫu còn mới mẻ, nhưng đủ sức trở thành nguồn cội dòng máu cao quý cho cả những gia tộc lừng lẫy nhất trong các thời đại mai sau. Và xin đừng ai tranh cãi với ta về điều này, ngoại trừ điều kiện mà Zerbino từng đặt dưới chân chiến lợi phẩm vũ khí của Orlando rằng:

Chớ ai dám động đến đây

Trừ phi dám đấu một phen với chàng Roland tài ba.”

Vị lữ khách liền thưa: “Dù gia phả nhà tôi thuộc dòng Cachopins xứ Laredo, tôi cũng không dám sánh với dòng tộc El Toboso xứ La Mancha ấy đâu; ngặt nỗi, phải thú thực là cho đến nay tôi chưa từng nghe qua cái họ nào như vậy.”

Don Quixote ngạc nhiên: “Sao cơ? Chưa từng nghe qua bao giờ ư?”

Những người còn lại trong đoàn vẫn chăm chú lắng nghe cuộc trò chuyện giữa hai người, và ngay cả những bác chăn dê cũng nhận ra Don Quixote thực sự đã mất trí đến mức độ nào. Chỉ có một mình Sancho Panza là đinh ninh những lời chủ nhân nói đều là sự thật, bởi lão hiểu rõ ngài và đã quen biết ngài từ thủa lọt lòng. Điều duy nhất khiến lão khó lòng tin nổi chính là câu chuyện về tiểu thư quyền quý Dulcinea del Toboso, vì dẫu sống ngay sát vách El Toboso, lão chưa từng nghe ngóng được bất kỳ cái tên hay vị công chúa nào như thế. Vừa đi vừa trò chuyện rôm rả như thế, họ bỗng thấy từ khe núi giữa hai ngọn núi cao đổ xuống khoảng hai mươi người chăn dê. Tất cả đều mặc áo da cừu lông đen, đội những vòng hoa kết bằng cây thủy tùng và cây bách — mà lát sau họ mới nhận ra. Sáu người trong số đó đang khiêng một chiếc cáng được phủ kín bằng đủ loại hoa và cành lá. Thấy vậy, một trong những người chăn dê liền nói: “Những kẻ đang tới kia là người khiêng thi hài Chrysostom, và chân ngọn núi này chính là nơi chàng dặn dò họ chôn cất.” Thế là họ vội vã rảo bước đến nơi, vừa đúng lúc đoàn người kia đặt chiếc cáng xuống đất. Bốn người trong số họ tay cầm cuốc sắc đang bắt đầu đào huyệt ngay cạnh một tảng đá rắn chắc. Họ lịch sự chào hỏi lẫn nhau; rồi Don Quixote cùng những người đồng hành tiến lại kiểm tra chiếc cáng. Trên đó, được phủ dưới lớp hoa tươi, là một thi thể nam nhân mặc trang phục người chăn dê, thoạt nhìn độ chừng ba mươi tuổi, dù đã lìa đời nhưng vẫn phảng phất nét mặt khôi ngô và dáng vẻ hào hoa thuở sinh thời. Xung quanh thi hài trên cáng đặt vài cuốn sách cùng mấy xấp giấy cả mở lẫn gấp. Những người đứng xem, những kẻ đang đào huyệt và tất cả những ai có mặt đều giữ một sự im lặng lạ thường, cho đến khi một trong những người khiêng xác cất lời với người bên cạnh: “Anh Ambrosio, hãy xem kỹ xem đây có phải là nơi Chrysostom từng nói không, vì anh rất muốn những gì chàng dặn dò trong di chúc phải được tuân thủ nghiêm ngặt.”

Ambrosio đáp: “Chính là nơi này, bởi đã bao lần người bạn bất hạnh của tôi kể cho tôi nghe về vận rủi cay đắng của chàng tại chốn này. Chàng bảo đây là nơi chàng lần đầu chạm mặt kẻ thù truyền kiếp của nhân loại, cũng là nơi đầu tiên chàng thổ lộ nỗi lòng kính yêu thành khẩn với nàng. Và chính tại đây, cuối cùng Marcela đã lạnh lùng cự tuyệt, đẩy bi kịch cuộc đời khốn khổ của chàng đến hồi kết. Tại chốn này, để tưởng nhớ những tai ương tột cùng ấy, chàng ao ước được vùi chôn vào chốn quên lãng vĩnh hằng.” Đoạn, quay sang Don Quixote và các lữ khách, chàng tiếp lời: “Thưa các vị, thi hài mà các vị đang nhìn với ánh mắt đầy trắc ẩn kia từng là chốn trú ngụ của một linh hồn được Thiên đàng ban cho kho tàng phú quý vô biên. Đó là xác của Chrysostom — người có trí tuệ vô song, lịch thiệp không ai bì kịp, phong thái nhã nhặn chẳng ai sánh bằng, một con phượng hoàng trong tình bạn, hào phóng không biên giới, trang nghiêm mà chẳng ngạo mạn, vui tươi mà không hề dung tục; tóm lại, chàng đứng đầu trong mọi đức tính tốt đẹp và chẳng nhường bước bất cứ ai về phần bất hạnh. Chàng yêu sâu đậm nhưng bị căm ghét, chàng tôn thờ nhưng bị hắt hủi, chàng theo đuổi một mãnh thú, chàng nài nỉ một khối cẩm thạch, chàng rượt đuổi ngọn gió, kêu gào giữa chốn hoang vu, phụng sự một sự vô ơn; và phần thưởng nhận lại chính là cái chết giữa độ tuổi xuân xanh, bị cướp đoạt bởi một nữ mục đồng mà chàng từng khao khát khắc ghi vào cõi nhớ của nhân loại. Những xấp giấy các vị đang thấy kia sẽ chứng minh điều đó một cách rành mạch, nếu như chàng không nghiêm cấm tôi đem chúng ném vào lửa đỏ sau khi đã hạ thổ thi hài chàng.”

Vivaldo liền can thiệp: “Anh còn xử tệ và tàn nhẫn với chúng hơn cả chủ nhân của chúng nữa, bởi việc tuân theo di nguyện của một kẻ đưa ra yêu cầu hoàn toàn phi lý là điều không đúng đắn cũng chẳng phải lẽ. Hoàng đế Augustus xưa kia nếu cứ để những di huấn mà đấng tối cao Mantuan gởi gắm trong di chúc được thực thi thì đâu có được. Thế nên, thưa Señor Ambrosio, trong lúc anh hạ thổ thi hài người bạn mình, xin đừng đày đọa trước tác của chàng vào cõi quên lãng. Vì dẫu chàng viết nên chúng trong nỗi đắng cay tâm khảm, anh cũng không việc gì phải mù quáng tuân theo. Ngược lại, hãy cứu rỗi những trang giấy ấy để sự tàn nhẫn của Marcela mãi mãi trường tồn, làm lời răn đe cho muôn đời sau, cảnh tỉnh mọi người lánh xa và tránh rơi vào hiểm cảnh tương tự. Bản thân tôi cùng tất cả những ai có mặt ở đây đều đã tường tận câu chuyện về người bạn si tình bạc mệnh của anh; chúng tôi cũng hiểu tình bạn thắm thiết của anh, nguyên nhân cái chết của chàng, lẫn những di huấn chàng để lại vào phút cuối đời. Từ câu chuyện buồn bã ấy, người ta có thể thấy rõ sự tàn nhẫn của Marcela, tình yêu sâu sắc của Chrysostom, lòng trung thành của anh, cùng kết cục đang chờ đợi những kẻ liều lĩnh bước lên con đường mà niềm đam mê điên cuồng mở ra trước mắt. Đêm qua, chúng tôi hay tin Chrysostom qua đời và được an táng tại đây; vì sự hiếu kỳ lẫn lòng trắc ẩn, chúng tôi đã rẽ khỏi lộ trình để đến tận mắt chứng kiến điều từng làm thổn thức trái tim mình. Vì lòng trắc ẩn ấy và mong muốn được sẻ chia nỗi đau nếu có thể, chúng tôi khẩn khoản cầu xin anh — hỡi Ambrosio kính mến, hoặc ít nhất là cá nhân tôi nài xin anh — thay vì đốt bỏ những trang giấy kia, hãy rộng lòng cho phép tôi mang đi một vài bản.”

Chẳng đợi người chăn dê kịp đáp lời, ông đã chìa tay lấy ngay mấy tờ giấy nằm gần nhất. Thấy vậy, Ambrosio đành nói: “Nể tình nhã ý của ngài, tôi xin thỏa thuận yêu cầu đối với những tờ ngài đã lấy; nhưng đừng mong tôi buông tha phần còn lại để đem đốt.”

Vivaldo nóng lòng muốn biết nội dung trong giấy, bèn mở ngay một tờ ra và thấy tựa đề ghi rõ: “Khúc ca Tuyệt vọng”.

Nghe thấy thế, Ambrosio bèn nói: “Đó chính là trang giấy cuối cùng mà kẻ bất hạnh ấy viết nên. Và để ngài thấy những giông bão cuộc đời đã đẩy chàng đến bước đường cùng nào, xin hãy đọc lớn lên cho mọi người cùng nghe, vì chúng ta còn đủ thời gian chờ đợi khi mộ phần chưa được đào xong.”

Vivaldo đáp: “Tôi xin vâng lời rất đỗi sẵn lòng.” Và vì tất cả những người đứng xung quanh ai nấy đều tò mò khát khao lắng nghe, họ liền xúm lại gần ông. Vivaldo cất cao giọng đọc, và nội dung hiện lên như sau.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.