Lịch Sử Don Quixote, Phần 1, Trọn Bộ

Lượt đọc: 249 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 23
Những Chuyện Xảy Ra Cho Don Quixote Ở Chốn Sierra Morena, Một Trong Những Cuộc Phiêu Lưu Kỳ Lạ Nhất Được Kể Lại Trong Bộ Sử Chân Thực Này

❊ ❊ ❊

Thấy mình được phục vụ theo cách đó, Don Quixote bảo người giám mã của mình rằng: "Ta vẫn thường nghe người ta nói, hỡi Sancho, rằng làm phúc cho kẻ thô phũ khác nào đổ nước xuống biển. Nếu ta tin lời ngươi thì đã tránh được rắc rối này rồi; nhưng sự thể đã rồi, đành phải kiên nhẫn và coi đó là bài học cho tương lai vậy."

"Ngài mà rút ra bài học thì cũng giống như tôi là người Thổ Nhĩ Kỳ vậy," Sancho đáp lại; "nhưng đúng như ngài nói, tai họa này lẽ ra đã tránh được nếu ngài chịu tin tôi, thì giờ hãy tin tôi đi để tránh một tai họa còn lớn hơn thế nữa. Bởi tôi xin nói cho ngài hay, phép hiệp sĩ chẳng có chút trọng lượng nào trước Thánh Huynh đoàn đâu, và họ chẳng thèm đếm xỉa gì đến tất cả các hiệp sĩ giang hồ trên thế giới này đâu; tôi dám cá là lúc này đây tôi đã nghe thấy tiếng tên bay vù vù bên tai rồi."

"Bản chất ngươi vốn là kẻ hèn nhát, hỡi Sancho," Don Quixote nói, "nhưng để ngươi không nói là ta bướng bỉnh và chẳng bao giờ nghe theo lời khuyên của ngươi, thì lần này ta sẽ nghe lời ngươi và rút lui ra khỏi tầm với của cơn thịnh nộ mà ngươi vô cùng khiếp sợ ấy; nhưng phải với một điều kiện: rằng không bao giờ, dù sống hay chết, ngươi được phép nói với bất kỳ ai rằng ta đã lui bước hoặc tránh xa hiểm họa này vì sợ hãi, mà chỉ vì chiều theo lời nài nỉ của ngươi; bởi nếu ngươi nói khác đi thì ngươi đã nói dối, và từ lúc này cho đến lúc đó, từ lúc đó cho đến lúc này, ta bác bỏ lời ngươi, quả quyết rằng ngươi đã nói dối và sẽ còn nói dối mỗi khi ngươi nghĩ hay thốt ra điều đó. Đừng có cãi lại ta nữa, vì chỉ nghĩ đến cảnh ta đang lùi bước hay tránh xa bất kỳ hiểm họa nào, nhất là hiểm họa lần này – thứ vốn mang theo đôi chút bóng dáng của sự sợ hãi – là ta đã sẵn sàng đứng lỳ tại đây để một mình đối chọi, không chỉ với cái Thánh Huynh đoàn mà ngươi hằng nhắc tới và kính sợ ấy, mà còn với các chi tộc của mười hai chi tộc Israel, Bảy anh em nhà Maccabee, Castor và Pollux, cùng tất cả các huynh đệ đoàn trên thế gian này."

"Thưa ngài," Sancho đáp, "rút lui không phải là chạy trốn, và chẳng có chút khôn ngoan nào trong việc cứ đứng chờ khi hiểm nguy lấn át hy vọng; phận làm người khôn ngoan là phải biết giữ mình hôm nay để đợi ngày mai, chứ không đánh cược tất cả chỉ trong một ngày. Xin thưa với ngài, dẫu tôi chỉ là kẻ quê mùa thô lỗ, tôi cũng láng mang hiểu biết về thứ được gọi là giấy thông hành; vậy ngài đừng hối hận vì đã nghe theo lời tôi, hãy lên lưng Rocinante nếu ngài có thể, còn không thì tôi sẽ giúp ngài; hãy theo tôi, bởi sự khôn ngoan mách bảo rằng lúc này chúng ta cần đôi chân hơn là đôi tay."

Don Quixote trèo lên lưng ngựa mà không đáp lời, và Sancho dẫn đầu con lừa của mình, họ tiến vào một sườn núi của dãy Sierra Morena vốn nằm ngay sát đó. Ý định của Sancho là băng qua toàn bộ ngọn núi rồi đi ra phía El Viso hoặc Almodovar del Campo, ẩn náu vài ngày giữa những mỏm đá để tránh sự lùng sục của Huynh đoàn nếu họ có kéo đến tìm. Hắn càng được củng cố thêm quyết tâm này khi nhận ra số lương thực chở trên lưng lừa đã bình an vô sự sau vụ hỗn chiến với đám nô lệ chèo thuyền – một tình huống mà hắn coi là phép lạ, xét đến thói hôi của và cướp bóc của chúng.

Đêm hôm đó, họ đã tới tận sâu trong lòng dãy Sierra Morena. Tại đây, Sancho thấy việc qua đêm và thậm chí ở lại đây vài ngày là điều khôn ngoan, ít nhất là cho đến khi số lương thực hắn mang theo cạn sạch. Thế là họ hạ trại giữa hai tảng đá lớn và dưới tán vài cây sồi bần. Nhưng định mệnh nghiệt ngã – thứ mà theo quan niệm của những kẻ không có ánh sáng đức tin chân chính vẫn luôn định đoạt, sắp xếp và an bài mọi sự theo cách riêng của nó – lại an bài rằng Gines de Pasamonte, tên gian hoắc lừng danh từng nhờ ơn phước và sự điên rồ của Don Quixote mà được xé xiềng buông tha, vì quá sợ hãi Thánh Huynh đoàn mà hắn có đủ lý do để khiếp sợ, đã quyết định tìm nơi ẩn nấp chốn núi rừng. Nỗi sợ và số phận đã đưa hắn đến đúng cái nơi mà Don Quixote và Sancho Panza vừa đặt chân tới, vừa hay kịp lúc để nhận ra họ và chờ cho họ chìm vào giấc ngủ. Và vì kẻ gian ác thì luôn vô ơn, sự túng quẫn xui khiến làm điều ác, cùng lợi ích trước mắt lấn át mọi lo toan cho tương lai, Gines – kẻ vốn chẳng có lấy một chút lòng biết ơn hay đạo đức – đã quyết định đánh cắp con lừa của Sancho Panza, chẳng màng gì đến con Rocinante vì cho rằng đó là món lợi chẳng thể đem cầm cố hay bán chác gì được. Trong lúc Sancho đang ngủ say, hắn đã dắt trộm con lừa đi, và trước khi trời hửu sáng, hắn đã cao chạy xa bay ngoài tầm với.

Nữ thần Rạng Đông xuất hiện mang theo niềm vui cho mặt đất nhưng lại gieo nỗi buồn cho Sancho Panza, bởi hắn phát hiện ra con Dapple thân yêu đã biến mất. Thấy mình bị tước đoạt mất người bạn đồng hành, hắn cất tiếng cất tiếng kêu than thảm thiết và não nề nhất trên đời, to đến mức Don Quixote giật mình tỉnh giấc trước những tiếng la hét ấy và nghe hắn than thở: "Ôi đứa con ruột thịt của lòng ta, sinh ra ngay tại nhà ta, món đồ chơi của lũ trẻ, niềm vui của vợ ta, nỗi ghen tị của xóm giềng, kẻ gánh vác những nhọc nhằn cho ta, và xét cho cùng, là kẻ nuôi sống một nửa đời ta, bởi với hai mươi sáu đồng maravedis mày kiếm được mỗi ngày, mày đã gánh vác một nửa chi phí của ta."

Khi nghe tiếng khóc than và biết rõ nguyên do, Don Quixote liền dùng những lời lẽ tốt đẹp nhất có thể để an ủi Sancho, nài nỉ hắn hãy kiên nhẫn và hứa sẽ viết cho hắn một tờ hối phiếu ra lệnh giao ba trong số năm con lừa tơ mà ngài có ở nhà cho hắn. Sancho nghe vậy liền thấy được an ủi, lau nước mắt, nức nở kìm lại và gửi lời cảm ơn lòng tốt mà Don Quixote dành cho mình. Về phần Don Quixote, trái tim ngài khôn xiết vui mừng khi bước chân vào miền núi non, bởi nơi đây đối với ngài chính là khung cảnh hoàn hảo cho những cuộc phiêu lưu mà ngài đang hằng tìm kiếm. Chúng gợi nhớ cho ngài về những cuộc phiêu lưu kỳ diệu từng xảy đến với các hiệp sĩ giang hồ trong những chốn hoang vắng và hiểm trở tương tự, và ngài cứ thế tiến bước, miên man suy ngẫm về những điều đó, say đắm và chìm đắm đến mức chẳng còn tâm trí đâu để nghĩ đến chuyện gì khác.

Còn Sancho, giờ đây khi tưởng rằng mình đang du hành ở một vùng đất an toàn, chẳng còn mối bận tâm nào khác ngoài việc thỏa mãn cơn thèm ăn với những phần thức ăn thừa từ chiến lợi phẩm tịch thu của đám giáo sĩ. Thế là hắn lầm lũi bước theo sau chủ nhân, chất đầy trên mình những thứ mà trước kia con Dapple vẫn mang, vừa dọn sạch cái bị đựng đồ vừa nhồi nhét đầy cái bụng. Chừng nào còn đi được theo cách đó, hắn thèm vào mà quan tâm đến việc đụng độ thêm một cuộc phiêu lưu nào khác.

Đang lúc mải miết như vậy, hắn ngẩng đầu lên và thấy chủ nhân của mình đã dừng lại, đang dùng mũi giáo chọc lên một vật cồng kềnh nằm trên mặt đất. Hắn vội vã rảo bước đến bên ngài để giúp đỡ nếu cần thiết, và tới nơi đúng lúc ngài dùng mũi giáo nâng một tấm đệm yên ngựa cùng chiếc túi xách gắn liền với nó lên – một bộ phận đã rách nát và mục rữa một nửa, hay đúng hơn là hoàn toàn. Chúng nặng đến mức Sancho phải phụ một tay mới nhấc lên được, và chủ nhân ra lệnh cho hắn xem bên trong chiếc túi đựng những gì. Sancho liền xốc vác làm theo, và dẫu chiếc túi được khóa kỹ bằng xích và ổ khóa, nhưng do tình trạng mục rách của nó, hắn vẫn có thể nhìn thấy rõ bên trong gồm có bốn chiếc áo sơ mi bằng vải holland thượng hạng và những món đồ lót tinh xảo, sạch sẽ không kém; ngoài ra, trong một chiếc khăn tay, hắn tìm thấy cả một bọc tiền vàng kha khá. Vừa trông thấy chúng, hắn liền thốt lên:

"Tạ ơn ơn trên đã ban cho chúng ta một cuộc phiêu lưu thực sự có giá trị!"

Lục lọi tiếp, hắn tìm thấy một cuốn sổ ghi chép nhỏ được đóng bìa rất sang trọng. Don Quixote liền đòi xem, bảo hắn cứ lấy số tiền kia mà giữ lấy cho riêng mình. Sancho liền chắp tay cảm tạ ân huệ của ngài, dọn sạch đống đồ lót trong túi xách rồi nhét tất cả vào cái bị đựng lương thực. Sau khi suy xét toàn bộ sự việc, Don Quixote nhận xét:

“Ta có cảm giác – và sự việc hẳn phải là như vậy – rằng chắc hẳn có một lữ khách bất hạnh nào đó đã băng qua dãy núi này, rồi bị bọn cướp đường tấn công, sát hại và mang đến chốn thâm sơn cùng cốc này để chôn cất.”

“Không thể thế được,” Sancho đáp, “vì nếu là bọn cướp thì chúng đã chẳng đời nào bỏ lại số tiền này.”

“Ngươi nói đúng,” Don Quixote bảo, “và ta không thể đoán hay giải thích được điều này có nghĩa là gì; nhưng chờ đã; hãy xem trong cuốn sổ tay này có ghi chép điều gì giúp chúng ta lần ra manh mối hay khám phá ra điều mình muốn biết không.”

Ngài mở cuốn sổ ra, và thứ đầu tiên ngài tìm thấy được viết cẩu thả nhưng bằng một nét chữ rất đẹp là một bài thơ xướng họa. Ngài liền đọc lớn lên cho Sancho nghe:

Hỡi Tình Yêu, hoặc thiếu đi trí tuệ,

Hoặc đẩy lòng cay nghiệt đến đỉnh cao,

Hoặc chăng định mệnh buộc ta gánh chịu

Những đớn đau vượt quá mức lỗi lầm.

Nhưng Tình Yêu nếu là một vị thần,

Ắt ngài hiểu hết, và điều chắc chắn

Chẳng thần linh nào yêu sự cay nghiệt;

Thế thì ai ra lệnh buổi hình phạt này

Vừa giam cầm lại vừa đầy đọa tâm can?

Gán cho nàng cái tên Chloe là điều giả dối;

Chẳng sự ác nào chung sống với đức hạnh cao vời;

Và trước Thiên đàng, ta chẳng dám trách than,

Chỉ biết rằng cái chết là định mệnh của ta.

Kẻ nào chẳng hay nguồn cơn căn bệnh lạ

Duy chỉ phép màu mới mong cứu chữa thôi.

"Chẳng thể học hỏi được gì từ mấy vần thơ ấy," Sancho nói, "trừ phi nhờ vào cái manh mối ẩn trong đó, người ta có thể gỡ ra cuộn len của toàn bộ sự việc."

"Manh mối nào cơ chứ?" Don Quixote hỏi.

"Tượng ngài vừa nhắc đến cuộn len trong đó mà," Sancho đáp.

"Ta chỉ nhắc đến cái tên Chloe," Don Quixote giải thích; "và không còn nghi ngờ gì nữa, đó chính là tên của người thiếu nữ mà tác giả bài thơ đang oán thán. Thề có đức tin, hắn hẳn phải là một nhà thơ tài hoa, nếu không thì ta chẳng hiểu gì về nghệ thuật này cả."

"Thế hóa ra ngài cũng am hiểu về thơ ca ư?"

"Còn rành hơn ngươi tưởng," Don Quixote đáp, "rồi ngươi sẽ thấy khi ngươi cầm một bức thư viết bằng thơ từ đầu đến cuối đem trao cho phu nhân Dulcinea del Toboso của ta. Ta muốn cho ngươi biết, hỡi Sancho, rằng tất cả hoặc phần lớn các hiệp sĩ giang hồ thuở xưa đều là những nhà thơ trữ tình vĩ đại và những nhạc sĩ tài ba, bởi cả hai tài năng ấy, hay nói đúng hơn là món quà ban tặng, vốn là đặc ân dành riêng cho các hiệp sĩ giang hồ. Quả thực, những vần thơ của các hiệp sĩ thời xưa thiên về khí phách hơn là sự tao nhã."

"Ngài đọc tiếp đi," Sancho giục, "rồi ngài sẽ tìm thấy thứ gì đó soi sáng cho chúng ta."

Don Quixote lật sang trang và nói: "Đây là văn xuôi, hình như là một bức thư."

“Thư từ giao dịch hả ngài?”

“Ngay từ những dòng đầu tiên, có vẻ đây là một bức thư tình,” Don Quixote đáp.

“Vậy xin ngài đọc lớn lên cho tôi nghe,” Sancho nói, “vì tôi rất thích mấy chuyện tình ái.”

“Ta xin chiều lòng ngươi,” Don Quixote nói, và đọc lớn lên theo yêu cầu của Sancho:

Lời hứa giả dối của em và tai họa chắc chắn của anh đã đưa anh đến một nơi mà tin tức về cái chết của anh sẽ đến tai em trước cả những lời oán thán. Kẻ bội bạc, em đã ruồng bỏ anh để chạy theo một kẻ giàu sang hơn nhưng chẳng hề xứng đáng hơn; thế mà nếu đức sản được trọng vọng như của cải, anh đã chẳng phải ganh tị với vận may của kẻ khác hay khóc thương cho bất hạnh của chính mình. Những gì sắc đẹp của em dựng lên thì hành động của em đã đánh đổ; nhờ nhan sắc ấy anh từng tin em là một thiên thần, nhưng qua hành động anh biết em chỉ là một phàm nhân. Chúc bình yên đến với em – kẻ đã gieo giông bão cho anh, và xin trời cao phù hộ để sự lừa dối của chồng em mãi mãi bị che khuất khỏi mắt em, ngõ hầu em không phải hối hận vì những gì đã làm, và anh không phải gặt hái một sự trả thù mà anh chẳng hề mong muốn.

Đọc xong bức thư, Don Quixote nhận xét: "Chẳng thể thu thập được gì nhiều từ bức thư này ngoài việc người viết nó là một kẻ si tình bị ruồng bỏ." Ngài lật xem gần như toàn bộ các trang trong cuốn sổ và tìm thấy thêm nhiều vần thơ và thư từ nữa – có những bức ngài đọc được, có những bức không; nhưng tất cả đều xoay quanh những lời oán thán, than khóc, ngờ vực, những khát khao và chán ghét, những ân sủng và sự cự tuyệt, cái thì đê mê tột độ, cái thì não nề thảm thiết. Trong lúc Don Quixote miệt mài nghiên cứu cuốn sổ, Sancho cũng săm soi chiếc túi xách, không bỏ sót một góc nào từ chiếc túi cho đến tấm đệm yên mà không sờ soạng, dòm ngó và khám phá, chẳng bỏ qua một đường chỉ nào không rách hay một nhúm len nào không bứt tung ra, sợ rằng có thứ gì lọt lưới vì thiếu cẩn trọng và công sức. Lòng tham của hắn đã bị kích thích mạnh mẽ đến nhường nào khi phát hiện ra số tiền vàng lên tới gần một trăm đồng; và dẫu chẳng tìm thêm được chiến lợi phẩm nào khác, hắn vẫn cảm thấy những cú tung chăn lên trời, những trận nôn mửa vì thuốc linh đan, những trận đòn gậy gẫy, những cú đấm của đám phu xe, cái bị mất, chiếc áo khoác bị trộm, cùng toàn bộ cơn đói khát và mệt mỏi mà hắn phải chịu đựng để phụng sự vị chủ nhân đáng kính đều quá rẻ mạt so với cái giá này. Hắn tự thấy số tài sản trời cho nhận được đã bù đắp cho hắn quá dư dật đối với tất cả những khổ ải ấy.

Vị Hiệp sĩ Mặt Buồn vẫn vô cùng băn khoăn muốn tìm cho ra chủ nhân của chiếc túi xách. Dựa vào bài thơ xướng họa và bức thư, dựa vào số tiền vàng cùng sự tinh xảo của những chiếc áo sơ mi, ngài phỏng đoán rằng hắn hẳn phải là một nhà quý tộc si tình bị sự lạnh lùng và tàn nhẫn của người tình đẩy đến bước đường cùng. Nhưng ngài nhìn quanh chốn hoang vu hiểm trở này mà chẳng thấy bóng người nào để hỏi han, đành phải tiếp tục tiến bước, phó mặc cho con Rocinante tự chọn lấy lối đi – miễn là nó có thể đi qua – với niềm tin đinh ninh rằng giữa chốn hoang dã này, ngài thế nào cũng gặp được một cuộc phiêu lưu kỳ lạ nào đó. Cứ thế tiến bước, mải miết với những suy nghĩ ấy, ngài chợt nhìn thấy trên đỉnh một ngọn đồi hiện ra trước mắt một người đàn ông đang thoăn thoắt nhảy nhót từ tảng đá này sang mỏm đá khác với sự linh hoạt kỳ lạ. Hướng tầm mắt phỏng đoán, ngài thấy hắn mình trần, để râu đen rậm rạp, tóc dài bù xù, chân tay để trần, phần đùi che bằng chiếc quần dường như bằng vải nhung màu vàng sẫm nhưng đã rách rưới tả tơi để lộ làn da ở nhiều chỗ.

Hắn đầu trần, và mặc cho tốc độ di chuyển nhanh chóng như đã miêu tả, Hiệp sĩ Mặt Buồn vẫn quan sát và ghi nhận từng chi tiết nhỏ ấy. Dù đã cố gắng, ngài vẫn không thể bám theo hắn, bởi sức lực yếu ớt của con Rocinante chẳng tài nào vượt qua nổi địa hình gồ ghề hiểm trở như thế, vả lại bản tính của nó vốn chậm chạp và ì ạch. Don Quixote ngay lập tức đi đến kết luận rằng đây chính là chủ nhân của tấm đệm yên và chiếc túi xách, và quyết tâm lên đường tìm kiếm cho bằng được, dẫu có phải lang thang suốt một năm trời trong dãy núi này. Ngài bèn ra lệnh cho Sancho đi đường tắt qua một sườn núi, còn bản thân ngài đi theo sườn bên kia, biết đâu nhờ cách này họ có thể bắt gặp kẻ vừa khuất dạng trước mắt.

“Tôi không làm thế được đâu,” Sancho nói, “bởi cứ hễ rời xa ngài là nỗi sợ lại ngay lập tức bủa vây lấy tôi, tấn công tôi bằng đủ thứ hoảng loạn và tưởng tượng hão huyền; xin ngài hãy ghi nhận cho từ nay trở đi, tôi sẽ không dịch chuyển lấy một phân ra khỏi tầm mắt của ngài nữa.”

“Tùy ý ngươi vậy,” vị Hiệp sĩ Mặt Buồn đáp, “và ta rất vui vì ngươi sẵn sàng dựa dẫm vào lòng dũng cảm của ta – thứ sẽ chẳng bao giờ bỏ rơi ngươi, ngay cả khi linh hồn trong xác ngươi có rời bỏ đi chăng nữa. Giờ thì theo sát phía sau ta thật chậm rãi hết mức có thể, và hãy biến đôi mắt của ngươi thành những ngọn đèn; chúng ta hãy đi vòng qua sườn núi này; biết đâu chúng ta sẽ chộp được kẻ mà ta vừa trông thấy, kẻ mà chắc chắn không ai khác chính là chủ nhân của những thứ chúng ta đã nhặt được.”

Đáp lại điều đó, Sancho bảo: “Sẽ khôn ngoan hơn nhiều nếu chúng ta đừng đi tìm hắn; vì nếu tìm thấy hắn, và ngẫu nhiên hắn chính là chủ sở hữu số tiền kia, hiển nhiên là tôi phải trả lại rồi. Do đó, chi bằng không chuốc lấy cái rắc rối thừa thãi này, tôi cứ giữ lấy nó cho đến khi tìm được cách nào đó ít xía vào chuyện người và tọc mạch hơn để trao trả cho chủ nhân thực sự của nó; và có lẽ lúc đó tôi đã tiêu hết sạch rồi, và nhà vua khi ấy sẽ tha tội cho tôi chăng.”

“Ngươi lầm rồi, hỡi Sancho,” Don Quixote nói, “bởi giờ đây khi chúng ta đã hồ nghi về danh tính chủ nhân và gần như diện kiến hắn trước mặt, chúng ta có nghĩa vụ phải đi tìm và hoàn trả. Nếu chúng ta không gặp được hắn, sự hoài nghi chắc chắn rằng hắn là chủ nhân cũng khiến chúng ta tội lỗi chẳng khác gì khi hắn đứng đây. Thế nên, hỡi bạn Sancho, chớ có bận lòng vì cuộc tìm kiếm này; nếu chúng ta tìm thấy hắn, nỗi lòng của ta sẽ được thảnh thơi.”

Nói đoạn, ngài thúc mạnh cựa vào hông Rocinante, và Sancho lủi thủi theo sau trong tư thế lỉnh kỉnh đồ đạc. Sau khi đi được một quãng vòng qua sườn núi, họ phát hiện nằm trong một khe sâu một con la đã yên cương đầy đủ, nhưng đã chết, bị chó tha ăn một nửa và lũ quạ mổ xé – cảnh tượng càng củng cố thêm hoài nghi rằng kẻ vừa bỏ trốn chính là chủ nhân của con la và tấm đệm yên.

Đang đứng ngắm nghía xác con vật, họ chợt nghe thấy tiếng huýt sáo như của một kẻ chăn cừu đang canh giữ bầy gia súc, và ngay lập tức bên trái họ xuất hiện một đàn dê lớn, theo sau là người chăn dê trên đỉnh núi – một người đàn ông đã lớn tuổi. Don Quixote cất cao giọng gọi với sang, khẩn khoản mời ông ta xuống chỗ họ đứng. Lão ta liền hô lớn hỏi điều gì đã đưa họ đến chốn này – nơi vốn hiếm khi hoặc chưa từng có dấu chân ai đặt đến ngoại trừ bầy dê, lũ sói và các loài dã thú khác quanh quẩn nơi đây. Sancho liền đáp lời, giục lão xuống dưới và họ sẽ giải thích mọi sự cho nghe.

Lão mục đồng bước xuống, khi đến chỗ Don Quixote đang đứng, lão liền nói: "Ta dám cá là các người đang nhìn con la chiến đã chết nằm dưới hũng kia phải không? Thề có đức tin, nó đã nằm đó suốt sáu tháng nay rồi đấy. Nói cho ta nghe xem, các người có tình cờ đụng độ chủ nhân của nó ở quanh đây không?"

“Chúng ta chẳng gặp ai cả,” Don Quixote đáp, “ngoại trừ một tấm đệm yên và một chiếc túi xách nhỏ mà chúng ta nhặt được không xa nơi này là mấy.”

“Tôi cũng tìm thấy nó đấy chứ,” lão chăn dê nói, “nhưng tôi đời nào dám nhúc nhích hay bén mảng tới gần vì sợ gặp vận rủi hoặc bị buộc tội ăn cắp; quỷ sứ vốn xảo quyệt lắm, những thứ cứ mọc lên dưới chân người ta chỉ để làm ta vấp ngã chẳng vì lý do quái quỷ gì.”

“Đúng là điều tôi muốn nói,” Sancho chen vào; “tôi cũng tìm thấy nó, và tôi chẳng dám bén mảng lại gần trong phạm vi một quả ném đá; tôi cứ để mặc nó ở đó và nó nằm nguyên y như cũ, bởi tôi chẳng dại gì rước họa vào thân.”

“Này người anh em thiện lành,” Don Quixote hỏi, “ông có biết ai là chủ nhân của số tài sản này không?”

“Tất cả những gì ta có thể nói với các người,” lão chăn dê đáp, “là cách đây khoảng sáu tháng, hơn kém chi không rõ, có một thanh niên với diện mạo và phong thái của một kẻ có học thức xuất hiện tại một túp lều của người chăn cừu cách đây tầm ba dặm. Cậu ta cưỡi chính con la đang nằm chết ở đằng kia, mang theo tấm đệm yên và chiếc túi xách mà các người vừa bảo là đã nhặt được mà không dám chạm vào. Cậu ta hỏi chúng ta xem vùng nào trong dãy núi này là hiểm trở và heo hút nhất; chúng ta bảo rằng chính là chốn chúng ta đang đứng đây; và quả thực là vậy, vì nếu các người cố tiến thêm nửa dặm nữa, có khi sẽ chẳng tài nào tìm được đường ra. Ta thực sự tự hỏi làm thế nào mà các người lại có thể đến được đây, vì chẳng có lấy một con đường mòn nào dẫn tới chốn này cả. Lại nói, khi nghe câu trả lời của chúng ta, chàng thanh niên liền quay đầu đi về hướng mà chúng ta chỉ dẫn, để lại tất cả chúng ta ngẩn ngơ trước vẻ khôi ngô của cậu ta, đồng thời kinh ngạc trước câu hỏi cùng vẻ vội vã khi thấy cậu ta lao về phía dãy núi. Kể từ đó, chúng ta không còn thấy cậu ta xuất hiện nữa, cho đến vài ngày sau, cậu ta tình cờ chạm mặt một trong số những người chăn cừu của chúng tôi. Chẳng nói chẳng rằng, cậu ta xông đến đấm đá tơi bời rồi quay sang con lừa chở lương thực của chúng tôi, vơ vét sạch sạch bánh mì và phô mai trên đó. Xong xuôi, cậu ta cao chạy xa bay ngược trở lại vào sâu trong núi với tốc độ nhanh đến kinh ngạc.

Khi hay tin, một vài anh em chăn dê chúng tôi đã lên đường lùng sục cậu ta suốt hai ngày liền tại những vùng hẻo lánh nhất của dãy núi này, và cuối cùng tìm thấy cậu ta đang trú ngụ trong hốc của một thân cây sồi bần lớn và dày. Cậu ta bước ra đón chúng tôi với thái độ hết sức ôn hòa; lúc này y phục đã rách tơi tả và khuôn mặt bị mặt trời thiêu đốt, biến dạng đến mức chúng tôi suýt không nhận ra, nếu như những mảnh quần áo dẫu rách rưới nhưng còn sót lại trong ký ức không khẳng định rằng cậu ta chính là kẻ chúng tôi đang tìm kiếm. Cậu ta cúi chào chúng tôi lịch sự, và bằng những lời lẽ gãy gọn, trau chuốt, cậu ta bảo chúng tôi đừng lấy làm lạ khi thấy cậu ta ăn vận thế này, vì đó là việc cậu ta buộc phải làm để chuộc lại tội lỗi do chính những lầm lỗi của bản thân gây ra. Chúng tôi gặng hỏi danh tính nhưng chẳng tài nào moi được gì từ cậu ta; chúng tôi cũng nài nỉ rằng khi nào thiếu thốn lương thực – thứ mà cậu ta không thể sống thiếu – hãy cho chúng tôi biết địa điểm để chúng tôi mang đến với tất cả tấm lòng sẵn sàng và hoan hỉ; hoặc nếu cậu ta không thích thế, ít nhất cũng hãy đến xin chúng tôi chứ đừng dùng vũ lực cướp đoạt từ những người chăn cừu nữa. Cậu ta gửi lời cảm ơn tấm thịnh tình của chúng tôi, cất lời xin lỗi vì vụ tấn công vừa qua, đồng thời hứa từ nay về sau sẽ ngửa tay xin nhân danh Chúa chứ không giở thói bạo lực với bất kỳ ai nữa. Về chỗ ở cố định, cậu ta bảo mình chẳng có nơi nào khác ngoài những chốn mà sự ngẫu nhiên đưa đẩy mỗi khi màn đêm buông xuống. Những lời cậu ta nói kết thúc bằng một tràng khóc nức nở thảm thiết đến mức những kẻ đứng nghe như chúng tôi hẳn phải làm bằng đá mới không khóc theo khi so sánh hình ảnh cậu ta của ngày đầu với hiện tại; bởi như ta đã nói, cậu ta vốn là một thiếu niên tuấn tú, nhã nhặn, và qua ngôn từ lịch thiệp, tao nhã ấy, cậu ta cho thấy mình xuất thân từ dòng dõi quý tộc cao sang. Dẫu chúng tôi chỉ là những gã nhà quê lỗ mãng đứng nghe, nhưng phong thái dịu dàng của cậu ta cũng đủ để làm nổi bật sự cao quý đó.

Nhưng giữa cuộc trò chuyện, cậu ta bỗng ngưng bặt và im lặng, dán chặt mắt xuống mặt đất suốt một lúc lâu trong khi chúng tôi đứng ngây ra chờ đợi xem cơn ngẩn ngơ ấy sẽ dẫn đến đâu, lòng không khỏi dâng lên niềm thương cảm xót xa. Từ hành vi của cậu ta – lúc thì trân trân nhìn đất với đôi mắt mở trừng trừng không chớp lấy một cái, lúc lại nhắm nghiền lại, mím chặt môi và nhướng mày – chúng tôi nhận ra rõ ràng rằng cậu ta đã lên cơn điên dại nào đó. Và chẳng mất bao lâu để chứng minh phỏng đoán của chúng tôi là sự thật, bởi cậu ta đột ngột vùng dậy đầy giận dữ từ mặt đất nơi cậu ta vừa ngã xuống, xông vào kẻ đứng gần nhất với sự cuồng nộ và hung hãn đến mức nếu chúng tôi không kịp xông vào kéo ra, có lẽ cậu ta đã đánh hoặc cắn xé người đó đến chết. Suốt lúc đó, cậu ta tru lên: 'Hỡi tên Fernando bội bạc, chính nơi đây, chính tại nơi này mày sẽ phải đền tội cho những gì mày đã gây ra cho ta; đôi bàn tay này sẽ móc nát trái tim mày – cái ổ chứa mọi sự gian ác, nhưng trên hết là sự lừa lọc và dối trá!' – và cậu ta gào lên thêm những lời khác, tựu trung lại đều là mắng nhiếc cái tên Fernando ấy, buộc tội hắn ta về sự phản trắc và bội bạc.

Chúng tôi đã phải rất vất vả mới tách được cậu ta ra, và chẳng nói thêm lời nào nữa, cậu ta vùng chạy lao đầu vào giữa đám bụi gai rậm rạp khiến chúng tôi chẳng tài nào bám theo nổi. Từ sự việc đó, chúng tôi phỏng đoán rằng cơn điên dại cứ thỉnh thoảng lại tái phát ở cậu ta, và một kẻ tên Fernando nào đó đã gây ra cho cậu ta một nỗi cay đắng tột cùng, đúng như tình trạng thảm hại hiện tại đã minh chứng. Tất cả những điều này càng được xác thực qua những lần sau đó – và số lần ấy không hề ít – khi cậu ta tình cờ cắt ngang đường đi của chúng tôi: lúc thì để xin đám chăn cừu chút thức ăn họ mang theo, lúc thì giật phăng lấy bằng vũ lực; bởi khi cơn điên giật cục kéo đến, dẫu đám chăn cừu có dâng tận tay cậu ta cũng không mòng nhận mà nhất quyết giật lấy bằng những đòn roi bạo lực. Nhưng khi tỉnh táo, cậu ta lại tha thiết xin ăn vì tình yêu thương của Chúa, lịch thiệp, nhã nhặn và đón nhận với biết bao lời cảm ơn cùng những giọt nước mắt nghẹn ngào. Và thưa các ngài, nói thật với các ngài nhé," lão chăn dê tiếp lời, "chính ngày hôm qua, tôi và bốn cậu trai nữa – hai người là đầy tớ của chúng tôi, hai người là bạn tôi – đã quyết tâm lên đường lùng sục cậu ta cho kỳ được, để khi tìm thấy sẽ đưa cậu ta bằng vũ lực hoặc bằng sự đồng thuận về thị trấn Almodovar cách đây tám dặm. Tại đó, chúng tôi sẽ cố gắng chữa chạy cho cậu ta – nếu quả thực căn bệnh ấy còn có thể cứu chữa – hoặc tìm hiểu xem khi tỉnh táo cậu ta là ai, có họ hàng thân thích nào không để chúng tôi báo tin về bất hạnh của cậu ta. Thưa các ngài, đó là tất cả những gì tôi có thể trả lời cho câu hỏi của các ngài; và hãy tin chắc rằng chủ nhân của những món đồ các ngài nhặt được chính là kẻ mà các ngài vừa thấy lướt qua với dáng vẻ lanh lẹ và trần trụi nhường ấy."

Hóa ra Don Quixote trước đó đã kịp miêu tả cách ngài nhìn thấy gã đàn ông nhảy nhót dọc sườn núi, và giờ đây ngài vô cùng kinh ngạc trước những gì nghe được từ lão chăn dê, đồng thời khao khát hơn bao giờ hết được diện kiến kẻ điên bất hạnh ấy. Ngài thầm nhủ trong lòng, y như quyết định ban đầu, rằng sẽ lùng sục khắp mọi ngõ ngách của ngọn núi này, không bỏ sót một xó xỉnh hay hang động nào cho đến khi tìm thấy hắn. Nhưng định mệnh lại khéo an bài mọi chuyện còn tuyệt vời hơn cả mong đợi của ngài, bởi ngay chính khoảnh khắc đó, từ một khe núi vừa hé mở ngay trước mặt họ, chàng thanh niên mà ngài hằng ao ước tìm kiếm đã xuất hiện. Hắn vừa đi vừa lầm bầm lẩm bẩm một mình bằng những câu cú vô nghĩa nếu ở cự ly gần, huống chi là ở khoảng cách xa. Y phục của hắn y hệt như những gì đã được miêu tả, chỉ có điều khi hắn đến gần hơn, Don Quixote nhận ra chiếc áo dúp rách rưới hắn đang mặc đã được thuộc bằng da hổ phách, từ đó ngài suy ra rằng một kẻ mặc trang phục như thế chắc chắn không thể có thân phận thấp kém.

Tiến lại gần họ, chàng thanh niên cất tiếng chào bằng giọng khàn đặc nhưng hết sức lịch thiệp. Don Quixote liền đáp lễ với sự nhã nhặn không kém, ngài xuống ngựa Rocinante, bước đến với phong thái tao nhã, duyên dáng để ôm chầm lấy hắn, và siết chặt hắn trong vòng tay một hồi lâu như thể họ đã là những người quen từ lâu lắm. Về phần chàng thanh niên kia – kẻ mà chúng ta có thể gọi là Gã Rách Rưới Mặt Thảm Hại, tương tự như Don Quixote là Hiệp sĩ Mặt Buồn – sau khi để yên cho ôm, liền đẩy nhẹ ngài ra, đặt hai tay lên vai Don Quixote và trân trân nhìn ngài như thể muốn nhận diện xem có quen biết gì không, lòng kinh ngạc trước khuôn mặt, vóc dáng cùng bộ giáp sắt của Don Quixote chẳng kém gì sự kinh ngạc mà ngài dành cho hắn. Nói tóm lại, người đầu tiên cất tiếng sau cái ôm chính là Gã Rách Rưới, và hắn đã thốt lên những lời sẽ được kể lại ngay sau đây.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.