Một sự kiện giờ đây đã xảy ra, khiến mọi vấn đề khác đều lu mờ và trở nên mất hết tầm quan trọng. Khoảng chập tối ngày hai mươi mốt tháng Sáu, tin tức về cơn trọng bệnh đột ngột của hoàng hậu lan truyền khắp lâu đài. Giám mục Wysz cùng các y bác sĩ túc trực trong phòng ngự giá suốt đêm. Ai nấy đều hay tin hoàng hậu đối mặt với nguy cơ sinh non. Ngay trong đêm ấy, quan trấn thủ Krakow là Jasko Topor xứ Tenczyn đã phái một sứ giả đến cấp báo cho nhà vua đang vắng mặt.
Hôm sau, tin dữ lan đi khắp thành phố và vùng phụ cận. Hôm đó là Chủ nhật, vì vậy các nhà thờ đều đông nghịt người. Mọi nghi ngờ không còn nữa. Sau buổi lễ, khách khứa, các hiệp sĩ đến tham dự lễ hội, cùng giới quý tộc và thị dân đều kéo vào lâuđài; các phường hội và hội đoàn rợp cờ hoa tuôn ra đường. Từ ngọ trở đi, những đám đông vô kể vây kín đồi Wawel, nhưng trật tự vẫn được duy trì nhờ đội cung thủ của nhà vua. Thành phố gần như vắng lặng; từng đoàn nông dân ùn ùn tiến về lâu đài để dò la tin tức sức khỏe của vị hoàng hậu kính yêu. Cuối cùng, tại cổng chính, các giám mục, quan trấn thủ xuất hiện cùng các giáo sĩ kinh tài, các triều thần và hiệp sĩ. Họ hoà vào dòng người để thông báo tình hình, nhưng đồng thời ngăn cấm mọi biểu hiện vui mừng quá khích bởi điều đó có thể ảnh hưởng xấu đến hoàng hậu đang bệnh nặng. Họ loan báo cho tất cả rằng hoàng hậu đã hạ sinh một tiểu công chúa. Tin này sưởi ấm trái tim mọi người, nhất là khi họ biết rằng dẫu sinh non, hiện không có nguy hiểm nào đe dọa cả mẹ lẫn con. Mọi người bắt đầu tản ra vì lệnh cấm hò hét gần khu vực lâu đài, dẫu ai nấy đều khao khát tỏ bày niềm vui sướng. Thế là các đường phố trong thành nhanh chóng lấp đầy người, những khúc ca khải hoàn cùng tiếng reo hò vang dội khắp mọi ngóc ngách.
Họ chẳng lấy làm thất vọng vì hạ sinh một tiểu công chúa.
"Chẳng lẽ việc vua Louis không có con trai và Jadwiga trở thành nữ vương của chúng ta là điều bất hạnh ư? Nhờ cuộc hôn nhân với Jagiello, sức mạnh của vương quốc đã được nhân đôi. Điều đó sẽ lặp lại một lần nữa. Tìm đâu ra một nữ thừa kế giàu có hơn hoàng hậu của chúng ta chứ? Chẳng có hoàng đế La Mã hay vị vua nào sở hữu một lãnh địa bao la hay một lực lượng hiệp sĩ hùng hậu đến thế! Sẽ có một cuộc cạnh tranh khốc liệt giữa các vị quân vương vì tay nàng; những kẻ quyền lực nhất sẽ phải cúi đầu trước quốc vương và hoàng hậu của chúng ta; họ sẽ đến Krakow, và chúng ta, những thương gia, sẽ hưởng lợi từ điều đó; biết đâu những lãnh địa mới ở Bohemia hay Hungary sẽ được sáp nhập vào vương quốc của chúng ta."
Các thương gia bàn tán với nhau như thế, và niềm vui trong lòng họ lớn dần lên từng phút. Họ mở tiệc tùng trong các dinh thự lẫn quán trọ. Quảng trường ngập tràn lồng đèn và đuốc hoa. Gần như suốt đêm, cả thành phố chìm trong không khí sôi động và náo nhiệt.
Sáng hôm sau, họ nhận thêm tin tức từ lâu đài.
Họ nghe rằng linh mục Giám mục Peter đã làm lễ rửa tội cho đứa trẻ trong đêm. Vì điều này, họ đâm ra lo lắng rằng tiểu công chúa có thể không được khỏe mạnh. Nhưng những phụ nữ lớn tuổi từng trải trong thành đã viện dẫn một vài trường hợp tương tự, khi mà các sơ sinh trở nên cứng cáp ngay sau lễ rửa tội. Nhờ vậy, họ tự an ủi bằng niềm hy vọng ấy; sự vững dạ của họ càng được củng cố thêm nhờ chính cái tên được đặt cho tiểu công chúa.
"Cả Bonifacius lẫn Bonifacia đều không thể chết ngay sau lễ rửa tội; đứa trẻ mang cái tên ấy được định sẵn để làm nên những chuyện lớn lao," họ bảo nhau. "Trong những năm đầu đời, đặc biệt là những tuần lễ đầu tiên, đứa trẻ không thể làm điều gì sai trái hay tốt lành được."
Thế nhưng, ngày hôm sau, những tin tức xấu từ lâu đài dội về liên quan đến đứa trẻ lẫn người mẹ khiến cả thành phố chấn động. Suốt cả ngày hôm ấy, các nhà thờ đông nghẹt người chẳng khác nào tuần đại xá. Những lễ vật cầu an dâng lên cho sức khỏe của hoàng hậu và tiểu công chúa vô cùng nhiều. Người ta có thể thấy những bác nông dân nghèo dâng lên dăm hạt lúa, con cừu, con gà, dăm chùm nấm khô hay giỏ hạt dẻ. Lại có những lễ vật hào phóng từ giới hiệp sĩ, thương gia và thợ thủ công. Họ cử sứ giả đến những nơi từng hiển linh. Các nhà chiêm tinh tra cứu các vì sao. Ngay tại Krakow, người ta cho tổ chức rất nhiều cuộc rước kiệu. Tất cả các phường hội và hội đoàn đều tham gia. Cả một đoàn rước của trẻ thơ cũng được tổ chức vì mọi người tin rằng những sinh linh ngây thơ ấy sẽ dễ bề thấu đến lòng nhân thứ của Chúa. Dòng người mới tiếp tục tuôn qua các cổng thành.
Cứ thế, ngày qua ngày trôi qua trong tiếng chuông chiêng vang vọng không dứt, trong tiếng ồn ào của đám đông chen chúc ở các nhà thờ, trong những cuộc rước kiệu và lời kinh nguyện. Nhưng khi tuần lễ khép lại mà vị hoàng hậu kính yêu cùng đứa trẻ vẫn sống, niềm hy vọng bắt đầu nhen nhóm trong tim người dân. Họ thấy thật vô lý nếu Chúa lại tước đoạt khỏi vương quốc vị hoàng hậu đã cống hiến quá nhiều, để rồi buộc nàng phải bỏ dở bao nhiêu công việc còn dang dở. Các học giả nhắc nhở nhau nàng đã làm được nhường nào cho các trường học; giới giáo sĩ ca tụng những gì nàng làm cho vinh quang của Chúa; các nhà chính trị gia nhắc đến công lao gìn giữ hòa bình giữa các minh chủ Thiên Chúa giáo; các nhà luật học nhắc đến công lý; còn người nghèo khó nhớ ơn những gì nàng dành cho kẻ bần hàn. Chẳng ai có thể tin rằng một sinh mệnh tối quan trọng đối với vương quốc và toàn nhân loại ấy lại phải đoản mệnh.
Trong khi đó, vào ngày mười ba tháng Bảy, những hồi chuông tang tóc vang lên báo hiệu sự ra đi của đứa trẻ. Người dân lại tràn ra đường phố, nỗi bất an lại bủa vây lấy họ. Đám đông lại vây quanh đồi Wawel để dò hỏi tình hình sức khỏe của hoàng hậu. Nhưng giờ đây, chẳng còn ai mang tin vui bước ra nữa. Ngược lại, nét mặt của các bậc quyền quý khi bước vào lâu đài hay lúc quay về thành phố đều tối tăm, và mỗi ngày trôi qua lại càng thêm ảm đạm. Người ta truyền tai nhau rằng linh mục Stanislaw xứ Skarbimierz, bậc thầy khoa học tự do tại Krakow, không rời nửa bước bên hoàng hậu, người ngày ngày đều chịu lễ thánh thể. Họ cũng kể rằng sau mỗi lần chịu lễ, căn phòng của nàng lại ngập tràn ánh sáng thiên đàng. Vài người đã nhìn thấy điều đó qua khung cửa sổ; nhưng cảnh tượng ấy lại làm những trái tim hết lòng tôn kính vị phu nhân phải khiếp sợ; họ e rằng đó là điềm báo cõi vĩnh hằng đã bắt đầu gọi tên nàng.
Nhưng không phải ai cũng tin rằng thảm kịch ấy sẽ xảy ra; họ tự trấn an bằng niềm hy vọng rằng công lý trên trời sẽ thỏa mãn với một nạn nhân duy nhất. Thế nhưng vào sáng thứ Sáu, ngày mười bảy tháng Bảy, tin tức lan truyền trong dân chúng rằng hoàng hậu đang hấp hối. Tất cả mọi người đổ xô về Wawel. Thành phố hoang vắng; ngay cả những bà mẹ bồng con nhỏ cũng chen chúc hướng về các cổng lâu đài. Các cửa hàng đóng cửa; chẳng ai màng nấu nướng. Mọi hoạt động kinh doanh ngưng trệ; xung quanh đồi Wawel chỉ là một biển người bồn chồn, hoảng sợ nhưng chìm trong im lặng.
Cuối cùng, vào giờ thứ mười ba tính từ ngọ, tiếng chuông trên ngọn tháp nhà thờ lớn vang lên. Ban đầu họ chưa hiểu ngay ý nghĩa của nó; nhưng lòng người đâm ra bất an. Mọi cái đầu và mọi ánh mắt đều hướng về ngọn tháp treo chiếc chuông tang; những âm thanh sầu thảm ấy chẳng mấy chốc được lặp lại bởi những tiếng chuông khác trong thành phố: từ nhà thờ dòng Phanxicô, nhà thờ Chúa Ba Ngôi, cho đến nhà thờ Đức Bà. Cuối cùng thì người dân cũng hiểu ra; nỗi kinh hoàng và niềm đau đớn khôn tả bóp nghẹt tâm can họ. Chẳng mấy chốc, một lá cờ đen lớn thêu hình đầu lâu xuất hiện trên đỉnh tháp. Khi ấy, mọi ngờ vực tan biến: hoàng hậu đã phó linh hồn về với Chúa.
Dưới chân những bức tường thành, tiếng gào thét và tiếng khóc của hàng trăm con người hòa lẫn vào âm hưởng u sầu của tiếng chuông. Kẻ gục xuống đất, người tự xé rách quần áo hay cào cấu khuôn mặt mình; số khác ngẩn ngơ nhìn vào những bức tường trong sự sững sờ câm lặng. Vài người rên rỉ; số khác giơ cao đôi tay hướng về phía nhà thờ cùng căn phòng của hoàng hậu để cầu xin một phép màu và lòng xót thương từ Chúa. Nhưng đâu đó cũng vang lên những giọng điệu giận dữ, trong cơn tuyệt vọng suýt chút nữa đã phạm vào tội lộng ngôn:
"Tại sao họ lại cướp đi vị hoàng hậu thân yêu của chúng ta? Thế những cuộc rước kiệu, những lời cầu kinh và tiếng van xin của chúng ta rốt cuộc để làm gì? Những lễ vật bằng vàng bằng bạc của chúng ta đã được nhận lấy mà chúng ta chẳng hề nhận lại được gì! Họ chỉ biết lấy đi chứ chẳng cho lại thứ gì cả!" Nhiều người khác vừa khóc vừa lặp đi lặp lại: "Giê-su! Giê-su! Giê-su!" Đám đông muốn tràn vào lâu đài để được nhìn ngắm gương mặt của hoàng hậu thêm một lần nữa.
Họ không được phép làm thế; bù lại, người ta hứa rằng thi hài nàng sẽ sớm được quàn trong thánh đường để bất cứ ai cũng có thể đến chiêm bái và cầu nguyện cạnh nàng. Thế là khi chiều xuống, những con người đau khổ bắt đầu quay trở về thành phố, vừa đi vừa thì thầm về những khoảnh khắc cuối đời của hoàng hậu, về tang lễ sắp tới cùng những phép lạ sẽ hiển hiện bên thân thể và phần mộ của nàng. Vài người còn quả quyết rằng ngay sau khi an táng, hoàng hậu sẽ được phong thánh, và khi có kẻ bày tỏ hoài nghi về việc ấy, nhiều người liền nổi giận đe dọa sẽ lặn lội đến tận chỗ Giáo hoàng ở Avignon.
Một nỗi buồn ảm đạm bao trùm lấy thành phố lẫn toàn cõi vương quốc, không chỉ đè nặng lên tầng lớp bình dân mà lên tất cả mọi người; vì sao may mắn của vương quốc đã lụi tàn. Ngay cả với nhiều bậc quý tộc, vạn vật trước mắt cũng hóa một màu đen tối. Họ bắt đầu tự hỏi mình và hỏi nhau điều gì sẽ xảy ra tiếp theo đây; liệu nhà vua có còn quyền ở lại cai trị đất nước sau khi hoàng hậu qua đời, hay ngài sẽ quay về Litwa và hài lòng với ngai vị phó vương? Vài người phỏng đoán — và tương lai đã chứng minh nhận định của họ hoàn toàn chính xác — rằng chính nhà vua cũng sẽ chủ động rút lui; và trong kịch bản ấy, các đại công quốc sẽ ly khai khỏi vương miện, người Litwa sẽ tái diễn các cuộc tấn công nhắm vào cư dân trong vương quốc. Các Hiệp sĩ Thánh chiến sẽ càng thêm mạnh mẽ; hoàng đế La Mã và quốc vương Hungary sẽ uy quyền hơn; để rồi vương quốc Ba Lan, dẫu hôm qua hãy còn là một trong những cường quốc hùng mạnh nhất, nay sẽ lụi tàn và ô nhục.
Đối với giới thương gia — những người vừa vươn tay ra được những vùng đất hoang vu rộng lớn tại Litwa và Nga — việc tiên lượng những tổn thất to lớn đã thôi thúc họ thành tâm khấn nguyện với mong mỏi Jagiello sẽ tiếp tục ngự trị trên ngai vàng. Dù vậy, họ vẫn dự báo một cuộc chiến tranh với Giáo đoàn sắp xảy ra. Ai nấy đều biết rằng chỉ có hoàng hậu mới kìm hãm nổi cơn thịnh nộ của ngài. Người ta nhớ lại một dịp trước kia, khi tỏ thái độ phẫn nộ trước lòng tham lam và sự bòn rút của các Hiệp sĩ Thánh chiến, nàng từng tiên tri trong một thị kiến: "Chừng nào ta còn sống, ta sẽ ghìm chặt tay chồng ta và cơn giận chính đáng của ngài; nhưng hãy nhớ rằng sau khi ta qua đời, hình phạt cho tội ác của các ngươi sẽ giáng xuống đầu tất cả."
Trong sự kiêu ngạo và u mê, họ chẳng màng sợ hãi chiến tranh, vì mường tượng rằng sau khi hoàng hậu mất, sức hút từ lòng đạo hạnh của nàng sẽ không còn kiềm tỏa khát vọng giàu sang của các chí nguyện quân từ phương Đông nữa, và khi ấy hàng vạn chiến binh từ Đức, Burgundy, Pháp cùng các xứ sở khác sẽ gia nhập hàng ngũ Hiệp sĩ Thánh chiến.
Cái chết của Jadwiga là một biến cố trọng đại đến mức sứ thần Liechtenstein không thể chờ đợi thêm phản hồi từ nhà vua đang vắng mặt; ông ta lập tức khởi hành đến Marienburg để thông báo càng sớm càng tốt cho đại sư phụ và hội đồng tu viện về tin tức hệ trọng và mang màu sắc đe dọa ấy.
Các sứ thần Hungary, Áo và Bohemia nối gót theo sau hoặc cử người mau chóng phi mã về báo tin cho quân vương của họ. Jagiello quay về Krakow trong nỗi tuyệt vọng tột cùng. Ban đầu, ngài tuyên bố với các triều thần rằng ngài không muốn cai trị vương quốc nếu thiếu hoàng hậu và sẽ trở về Litwa. Về sau, vì quá đau buồn, ngài rơi vào trạng thái đờ đẫn đến mức chẳng thể màng tới bất cứ quốc sự nào, cũng chẳng đáp lời bất kỳ câu hỏi nào. Đôi lúc ngài tự trách móc giận dữ vì đã rời đi để rồi lỡ mất khoảnh khắc hoàng hậu vĩnh biệt cõi đời, không kịp nghe những lời trăn trối và tâm nguyện cuối cùng của nàng. Mọi lời an ủi từ Stanislaw xứ Skarbimierz và Giám mục Wysz rằng cơn bệnh của hoàng hậu đến quá đột ngột, và theo lẽ thường thì ngài vẫn có dư dã thời gian để đi và về nếu việc sinh nở diễn ra đúng kỳ hạn, đều trở nên vô nghĩa. Những lời ấy chẳng thể mang lại cho ngài sự khuây khỏa; chúng không xoa dịu được nỗi đau đang xé lòng. "Ta chẳng là vị vua nào nếu không có nàng," ngài đáp lại giám mục; "ta chỉ là một kẻ tội nhân đang sám hối, và chẳng gì có thể an ủi được ta!" Nói đoạn, ngài cúi đầu nhìn xuống đất và chẳng ai có thể ép ngài thốt lên dù chỉ một lời.
Trong khi đó, công tác chuẩn bị cho tang lễ của hoàng hậu chiếm trọn tâm trí tất cả mọi người. Từ khắp nơi trên đất nước, những dòng người đông đúc gồm quý tộc, bậc tôn quý và dân nghèo đang đổ về Krakow. Thi hài hoàng hậu được đặt trên một bệ cao trong nhà thờ lớn, được bố trí khéo léo sao cho phần đầu quan tài — nơi đặt đầu hoàng hậu — cao hơn hẳn phần còn lại. Sự sắp đặt chủ ý ấy nhằm giúp mọi người có thể dễ dàng chiêm ngưỡng dung nhan hoàng hậu. Trong thánh đường, những lời kinh nguyện vang lên không ngớt; hàng ngàn ngọn nến sáp cháy rực quanh cỗ quan tài. Dưới ánh nến lung linh giữa muôn đóa hoa, nàng nằm đó thanh bình và mỉm cười, tựa như một đóa hồng huyền diệu. Người dân nhìn thấy ở nàng hình bóng của một vị thánh; họ lũ lượt dẫn theo những kẻ bị quỷ ám, những đứa trẻ tật nguyền và đau yếu đến bên nàng. Thỉnh thoảng trong nhà thờ lại vang lên tiếng kêu thảng thốt của một người mẹ khi nhận ra sắc hồng đã trở lại trên gương mặt đứa con bệnh tật, hoặc tiếng reo vui của một người liệt bại bỗng chốc được chữa lành. Khi ấy, những trái tim phàm trần lại rung lên thổn thức, và tin tức lan đi khắp vòm nhà thờ, lâu đài và thành phố, thu hút ngày một đông đảo những mảnh đời bất hạnh chỉ còn biết trông chờ vào phép màu cứu rỗi.