Tại Tyniec, trong quán trọ mang tên "Con bò rừng đáng sợ" thuộc quyền sở hữu của tu viện, vài người đang ngồi lắng nghe câu chuyện của một binh sĩ vừa từ phương xa tới, kể lại những cuộc phiêu lưu mà ông đã trải qua trong thời gian chiến tranh và trên những chặng đường hành quân.
Ông có bộ râu rậm nhưng hãy còn trẻ, vóc dáng cao lớn suýt sát người khổng lồ nhưng gầy, với bờ vai rộng; mái tóc được búi gọn trong một chiếc lưới trang trí bằng hạt cườm; ông mặc chiếc áo khoác bằng da hằn rõ vết cấn của giáp ngực, thắt lưng nạm những chiếc khuy bằng đồng thau; giắt trong thắt lưng là con dao nằm trong bao sừng, còn bên hông là một thanh gươm ngắn dùng khi đi đường.
Ngồi bên cạnh ông ở chiếc bàn là một thiếu niên tóc dài với vẻ mặt rạng rỡ, rõ ràng là đồng đội của ông, hoặc có lẽ là người mang khiên, bởi cậu ta cũng ăn vận như thể đi đường trong một chiếc áo khoác da tương tự. Phần còn lại của nhóm khách gồm có hai quý tộc đến từ vùng lân cận Krakow và ba thị dân đội những chiếc mũ xếp màu đỏ, với chóp mũ mềm rủ thõng xuống tận khuỷu tay ở hai bên má.
Chủ quán, một người Đức mặc chiếc áo trùm đầu đã phai màu với cổ áo rộng màu trắng, đang múc bia từ thùng rót vào các vại đất nung cho họ, trong lúc chăm chú lắng nghe những câu chuyện binh nghiệp.
Các thị dân còn lắng nghe với sự tò mò lớn hơn thế. Vào thời kỳ này, lòng thù hận từng chia rẽ giới thị dân và tầng lớp hiệp sĩ dưới thời Vua Lokietek đã phai nhạt đi rất nhiều, và giới thị dân lúc bấy giờ tự hào hơn so với những thế kỷ sau. Họ vẫn gọi các hiệp sĩ là *des allerdurchluchtigsten Kuniges und Herren* và họ đánh giá cao sự sẵn lòng *ad concessionem pecuniarum* của họ; thế nên, người ta rất thường bắt gặp các thương gia ngồi uống rượu cùng giới quý tộc trong các quán trọ như những người anh em. Họ thậm chí còn được chào đón nồng nhiệt, bởi vì vốn dĩ có nhiều tiền, họ thường trả tiền thay cho những người có tước hiệu.
Thế nên họ cứ ngồi đó trò chuyện, thỉnh thoảng lại nháy mắt ra hiệu cho chủ quán châm đầy những vại bia.
Thưa ngài hiệp sĩ, ngài đã đi ngoạn cảnh một góc lớn của thế giới rồi đấy! một thương gia lên tiếng.
Không có nhiều người hiện đang đổ về Krakow từ mọi ngả đường mà đã đi được nhiều như thế đâu, vị hiệp sĩ đáp.
Rồi sẽ có rất nhiều người đến nữa thôi, thương gia nọ nói. Sẽ có một bữa yến tiệc lớn và những cuộc vui lớn dành cho nhà vua và vương hậu! Nhà vua đã hạ lệnh treo rèm gấm vàng thêu ngọc trai cho phòng của vương hậu, và dựng một tấm hoàng tán bằng chất liệu y hệt bên trên. Sẽ có những màn giải trí và đấu thương diễn ra mà thế giới chưa từng thấy trước đây.
Bác Gamroth, đừng ngắt lời vị hiệp sĩ, người thương gia thứ hai nói.
Này hiền hữu Eyertreter, tôi đâu có ngắt lời; chỉ là tôi nghĩ ngài ấy cũng sẽ vui khi biết những điều họ đang bàn tán, bởi tôi chắc chắn ngài ấy sẽ đi Krakow. Dù sao thì hôm nay chúng ta cũng không thể vào lại thành phố được nữa, vì họ sẽ đóng cổng thành mất.
Và anh thì nói tới hai mươi từ chỉ để đáp lại một từ. Anh đang già đi đấy, bác Gamroth ạ!
Nhưng tôi vẫn có thể khiêng trọn một súc vải thô ướt đấy thôi.
Ghê thật nhỉ! thứ vải mà người ta có thể nhìn xuyên qua như qua một chiếc rây lọc.
Nhưng cuộc cãi vã tiếp theo đã bị chặn lại bởi vị hiệp sĩ:
Phải, ta sẽ ở lại Krakow vì ta đã nghe nói về các trận đấu thương và ta rất sẵn lòng thử sức mình trên võ đài trong các cuộc so tài; còn cậu thanh niên này, cháu ta, dẫu còn trẻ và mặt hãy còn non choẹt nhưng đã từng chứng kiến nhiều bộ giáp ngực ngã gục trên mặt đất, cũng sẽ bước vào võ đài.
Những vị khách liếc nhìn cậu thanh niên đang cười vui vẻ, rồi vừa giấu mái tóc dài ra sau tai, vừa đưa vại bia lên miệng uống.
Vị hiệp sĩ lớn tuổi nói thêm:
Thậm chí dẫu chúng ta có muốn quay về, thì cũng chẳng còn nơi nào để về nữa.
Sao lại thế được? một quý tộc hỏi.
Các anh ở đâu đến, và người ta gọi các anh là gì?
Ta là Macko xứ Bogdaniec, còn cậu trai này, con trai của em trai ta, gọi là Zbyszko. Hiệu kỳ của chúng ta là Tempa Podkowa, và tiếng hô xung trận của chúng ta là Grady!
Bogdaniec ở đâu vậy?
Chà! Thưa đại huynh, hỏi rằng nó *từng* ở đâu thì đúng hơn, vì nó không còn nữa rồi. Trong cuộc chiến giữa phe Grzymalczyk và phe Nalencz, Bogdaniec đã bị thiêu rụi, và chúng ta bị cướp sạch mọi thứ; gia nhân thì bỏ trốn cả. Chỉ còn trơ lại mảnh đất trống, bởi vì ngay cả những nông dân trong vùng cũng hoảng sợ chạy vào rừng. Cha của cậu trai này đã gầy dựng lại cơ ngơi; nhưng vào năm sau, một trận lụt đã cuốn trôi tất cả. Rồi em trai ta qua đời, và sau cái chết của nó, ta ở lại với đứa trẻ mồ côi. Khi đó ta nghĩ: 'Mình không thể cứ ở lại thế này mãi!' Ta nghe nói về cuộc chiến mà Jasko xứ Olesnica — người được Vua Wladyslaw phái đến Wilno sau khi phái Mikolaj xứ Moskorzowo — đang chiêu mộ binh lính. Ta quen biết một vị viện phụ đáng kính, Janko xứ Tulcza, người mà ta đã thế chấp đất đai để lấy số tiền cần thiết mua áo giáp và ngựa cho một chuyến viễn chinh. Còn thằng bé mới mười tuổi, ta cho cưỡi một con ngựa tơ và chúng ta lên đường tìm Jasko xứ Olesnica.
Cùng với một đứa trẻ ư?
Hồi đó nó thậm chí chưa phải là thiếu niên, nhưng nó đã có sức mạnh từ nhỏ. Khi lên mười, nó thường chống nỏ xuống đất, tì vào ngực rồi quay cò cọc. Không một tên lính Anh nào mà ta từng thấy ở Wilno có thể làm tốt hơn thế.
Nó khỏe đến thế cơ à?
Nó thường mang mũ giáp cho ta, và khi qua tuổi mười ba, nó cũng có thể mang cả ngọn giáo của ta nữa.
Các anh hẳn đã phải chiến đấu rất nhiều ở trỏng!
Là vì Witold. Hoàng tử khi ấy đứng về phía Hiệp sĩ Thánh chiến, và năm nào họ cũng tổ chức một chiến dịch đánh vào Litva, tiến sát tận Wilno. Đủ loại người đi theo họ: người Đức, người Pháp, người Anh — những kẻ giương cung giỏi nhất — người Séc, người Thụy Sĩ và người xứ Burgundia. Họ đốn hạ rừng rậm, thiêu rụi các lâu đài trên đường tiến quân và cuối cùng tàn phá Litva bằng lửa và gươm giáo thê thảm đến mức những người dân sinh sống ở vùng đất đó chỉ muốn rời đi tìm một vùng đất khác, tận cùng thế giới, thậm chí giữa bầy con của Belial, miễn là ở thật xa người Đức.
Chúng tôi nghe đồn ở đây rằng người Litva muốn mang theo vợ con để bỏ đi, nhưng chúng tôi không tin.
Còn ta thì đã tận mắt chứng kiến. Hây! Nếu không nhờ Mikolaj xứ Moskorzowo, nhờ Jasko xứ Olesnica, và chẳng phải khoe khoang gì, nếu không nhờ chính chúng ta, thì giờ này đã chẳng còn cái gọi là Wilno nữa.
Chúng tôi biết chứ. Các anh đã không đầu hàng lâu đài.
Đúng thế. Và giờ hãy chú ý những gì ta sắp nói, bởi ta có kinh nghiệm trong các vấn đề quân sự. Người xưa thường nói: 'Litva cuồng nộ' — và điều đó hoàn toàn đúng! Họ chiến đấu giỏi, nhưng không thể địch lại các hiệp sĩ trên chiến trường rộng lớn. Khi ngựa của người Đức sa lầy trong đầm lầy, hoặc khi có một khu rừng rậm rạp — thì lại là chuyện khác.
Người Đức là những chiến binh giỏi! các thị dân thốt lên.
Họ đứng sừng sững như một bức tường, người sát người, trong bộ giáp sắt. Họ tiến lên trong một đội hình khít khao. Họ tấn công, và người Litva bị đánh cho tan tác như cát bụi, hoặc phải phủ phục sát đất để rồi bị dẫm đạp dưới chân. Không chỉ có người Đức trong hàng ngũ của họ, vì người từ mọi quốc gia đều phục vụ dưới trướng Hiệp sĩ Thánh chiến. Và họ vô cùng dũng cảm! Thường thì trước trận chiến, một hiệp sĩ sẽ cúi gập người, giương ngọn giáo, và lao một mình vào chống lại cả một đạo quân.
Chúa ơi! Gamroth thốt lên. Và trong số họ, ai là những chiến binh giỏi nhất?
Còn tùy. Dùng nỏ thì giỏi nhất là người Anh, kẻ có thể bắn thủng xuyên qua một bộ giáp và ở khoảng cách một trăm bước sẽ không bao giờ bắn trượt một con bồ câu. Người Séc thì chém bằng rìu cực kỳ khủng khiếp. Dùng gươm lớn hai tay thì người Đức là giỏi nhất. Người Thụy Sĩ rất thích dùng chùy sắt giáng xuống mũ giáp đối phương, nhưng những hiệp sĩ vĩ đại nhất lại là những người đến từ nước Pháp. Họ chiến đấu trên lưng ngựa lẫn khi đi bộ, và trong lúc đó họ sẽ thốt ra những lời lẽ vô cùng dũng mãnh, dẫu vậy các anh sẽ chẳng hiểu nổi, vì đó là một thứ ngôn ngữ quá đỗi kỳ lạ. Họ là những con người sùng đạo. Họ chỉ trích chúng ta thông qua người Đức. Họ bảo rằng chúng ta đang bảo vệ những kẻ ngoại đạo và người Thổ Nhĩ Kỳ chống lại cây thánh giá, và họ muốn chứng minh điều đó bằng một cuộc tỉ thí hiệp sĩ. Và một phán quyết của Chúa như thế sắp sửa diễn ra giữa bốn hiệp sĩ từ phía họ và bốn hiệp sĩ từ phía chúng ta, và họ sẽ chiến đấu tại triều đình của Waclaw, vị vua người La Mã và người Séc.
Đến đây, sự tò mò tăng vọt trong lòng những người quý tộc và thương gia đến mức họ vươn dài cổ về phía Macko xứ Bogdaniec và hỏi dồn:
Thế những hiệp sĩ từ phía chúng ta là ai? Nói mau đi! Macko đưa vại bia lên miệng, uống một ngụm rồi đáp:
Ấy, đừng có lo lắng thay cho họ. Có Jan xứ Wloszczowa, quan trấn thủ Dobrzyn; có Mikolaj xứ Waszmuntow; có Jasko xứ Zdakow và Jarosz xứ Czechow: toàn là những hiệp sĩ lừng lẫy và những tráng sĩ kiên cường. Dù họ chọn thứ vũ khí nào đi nữa — gươm hay rìu — thì cũng chẳng có gì là lạ lẫm với họ cả! Sẽ rất đáng để mắt phàm được chứng kiến và tai phàm được lắng nghe — bởi như ta đã nói, dẫu anh có dùng chân dằn cổ một tên người Pháp xuống, hắn ta vẫn sẽ đáp lại bằng những lời lẽ hào hiệp. Thế nên, có Chúa và Thánh Giá phù hộ, họ có thể dùng lời nói áp đảo chúng ta, nhưng các hiệp sĩ của chúng ta sẽ đánh bại họ.
Đó sẽ là niềm vinh quang, nếu Chúa ban ơn phước cho chúng ta, một quý tộc nói.
Và cả Thánh Stanislaw nữa! người kia tiếp lời. Rồi quay sang Macko, hắn hỏi dồn:
Nào! Kể thêm cho chúng tôi nghe đi! Anh vừa ca ngợi người Đức cùng những hiệp sĩ khác vì họ dũng mãnh và dễ dàng chinh phục Litva. Chẳng lẽ họ không gặp nhiều khó khăn hơn với các anh sao? Họ có sẵn sàng tiến đánh các anh không? Mọi chuyện diễn ra thế nào? Hãy ca ngợi các hiệp sĩ của chúng ta đi chứ.
Nhưng hiển nhiên Macko xứ Bogdaniec không phải kẻ khoác lác, bởi ông đáp lại một cách khiêm tốn:
Những kẻ vừa từ xứ lạ trở về thì sẵn sàng tấn công chúng ta ngay; nhưng sau khi thử sức một hai lần, chúng tấn công với ít sự tự tin hơn, bởi người của chúng ta vốn dẻo dai và chúng thường nhiếc móc chúng ta về sự lì lợm đó: 'Chúng mày,' bọn chúng thường nói, 'coi thường cái chết, nhưng lại giúp đỡ tụi Xô-ra-xê (Saracen), và tụi mày sẽ bị nguyền rủa vì điều đó.' Và mối thù hằn chết chóc trong chúng ta càng lớn dần, bởi lời lăng mạ của chúng hoàn toàn không đúng sự thực! Nhà vua và vương hậu đã làm lễ rửa tội cho người Litva và bất cứ ai ở đó đều cố gắng tôn thờ Chúa Cứu Thế, dẫu không phải ai cũng biết cách làm thế nào. Và người ta cũng biết rằng, vị chúa thượng nhân ái của chúng ta, khi ở nhà thờ lớn Plock họ xô ngã tượng quỷ, đã hạ lệnh cho họ phải đặt một ngọn nến trước mặt nó — và các tu sĩ buộc phải can gián ngài rằng không nên làm thế. Vậy thì trách làm sao được một kẻ phàm phu thường dân! Thế nên rất nhiều người trong số họ tự nhủ:
'Vị *kniaz* ra lệnh cho chúng ta chịu phép rửa tội, thế là ta đã chịu phép rửa; ngài ra lệnh cúi đầu trước Chúa Cứu Thế, và ta đã cúi đầu; nhưng cớ gì ta phải tiếc một miếng phô mai nhỏ dành cho những lão quỷ thần ngoại đạo xưa cũ, hay cớ gì ta không ném cho chúng vài củ cải; cớ gì ta không hớt bọt bớt từ vại bia dâng lên chúng? Nếu ta không làm thế, thì ngựa của ta sẽ chết; hoặc bò của ta sẽ ngã bệnh, hoặc sữa của chúng sẽ hóa thành máu — hay sẽ có rắc rối gì đó với vụ mùa.' Và rất nhiều kẻ trong số họ vẫn làm thế, và họ bị nghi ngờ. Nhưng họ làm điều đó vì sự dốt nát và nỗi sợ hãi trước bọn quỷ. Những con quỷ ấy sống sung sướng hơn vào thuở xa xưa. Chúng từng có những khu rừng riêng của mình và được nhận những con ngựa mà chúng cưỡi làm vật cúng tế. Nhưng ngày nay, những khu rừng đã bị đốn hạ và chúng chẳng còn gì để ăn — trong các thành phố tiếng chuôngnhà thờ vang lên, thế nên lũ quỷ phải trốn vào những chốn rừng sâu nước độc, và chúng hú lên vì cô độc ở đó. Nếu một người Litva bước vào rừng, chúng liền kéo áo da cừu của anh ta và bảo: 'Hãy cho tao!' Vài người trong số họ chịu dâng cỗ, nhưng cũng có những cậu trai gan dạ không chịu cho và thế là bọn quỷ liền tóm lấy họ. Một cậu trai đã nhét đầy đậu vào một cái bàng quang bò và ngay lập tức ba trăm con quỷ đã chui vào trong đó. Cậu ta bèn dùng một cái chốt bằng gỗ thanh lương trà bịt kín chiếc bàng quang lại, mang chúng đến Wilno và bán cho các tu sĩ dòng Phanxicô với giá hai mươi *skojec* — cậu ta làm thế để tiêu diệt những kẻ thù của danh xưng Chúa Cứu Thế. Ta đã tận mắt nhìn thấy chiếc bàng quang đó; một thứ mùi hôi thối kinh khủng bốc lên từ đó, bởi vì chính bằng cách ấy, những linh hồn dơ bẩn đó đã tỏ bày nỗi sợ hãi trước nước thánh.
Và ai đã đếm chúng, để mà anh biết có đúng ba trăm con quỷ? thương gia Gamroth hỏi một cách ranh mãnh.
Chính người Litva đã đếm chúng, khi anh ta nhìn thấy chúng chui vào bàng quang. Hiển nhiên là chúng ở trong đó, bởi người ta có thể nhận ra từ mùi hôi thối, và chẳng ai dại dột rút cái chốt ra để đếm lại cả.
Thật là kỳ lạ, đúng là những điều kỳ lạ! một quý tộc thốt lên.
Ta đã thấy rất nhiều điều kỳ lạ lớn lao, bởi vì mọi thứ ở xứ đó đều khác thường. Bọn họ lông lá rậm rạp và hầu như chẳng có vị *kniaz* nào chải tóc; họ sống bằng củ cải nướng, món mà họ thích hơn bất kỳ thức ăn nào khác, vì họ bảo sự dũng mãnh bắt nguồn từ việc ăn chúng. Họ sống trong những khu rừng cùng với gia súc và loài rắn; họ chẳng hề kiêng khem chuyện ăn uống hay chầu chực. Họ coi thường những người đàn bà đã có chồng nhưng lại vô cùng tôn kính các thiếu nữ, những người mà họ cho là sở hữu sức mạnh lớn lao. Họ bảo rằng nếu một thiếu nữ xoa bóp cho một người đàn ông bằng những chiếc lá khô, cơn đau bụng sẽ dứt ngay lập tức.
Thật đáng để bị đau bụng đấy, nếu phụ nữ ở đó đẹp! Bác Eyertreter thốt lên.
Hãy hỏi Zbyszko về chuyện đó xem, Macko xứ Bogdaniec đáp.
Zbyszko cười sảng khoái đến mức chiếc ghế dài bắt đầu rung lên bần bật dưới thân cậu.
Cũng có những người đẹp chứ, cậu nói. Ryngalla thực sự rất quyến rũ.
Ryngalla là ai thế? Nói mau!
Sao cơ? Các người chưa từng nghe nói về Ryngalla á? Macko hỏi.
Chúng tôi chưa từng nghe lấy một chữ.
Cô ấy là em gái của Witold, và là vợ của Henryk, Hoàng tử xứ Mazowsze.
Anh đừng có đùa! Hoàng tử Henryk nào cơ? Chỉ có duy nhất một Hoàng tử xứ Mazowsze, vị giám mục đắc cử xứ Plock, nhưng ngài ấy đã qua đời cơ mà.
Chính là ngài ấy. Ngài mong chờ một sự chuẩn chuẩn từ Rome, nhưng thần chết đã ban cho ngài sự chuẩn chuẩn của riêng ngài, bởi rõ ràng hành động của ngài đã không làm đẹp lòng Chúa. Jasko xứ Olesnica đã phái ta mang thư cho Hoàng tử Witold, vào lúc Hoàng tử Henryk, người đắc cử xứ Plock, được nhà vua phái đến Ryterswerder. Vào thời điểm đó, Witold đã chán ngấy chiến tranh, bởi ông không thể chiếm được Wilno, và vua của chúng ta cũng đã chán ngấy những người anh em của mình cùng thói ăn chơi sa đọa của họ. Nhà vua nhận thấy Witold khôn ngoan và thông minh hơn những người anh em của mình, bèn phái vị giám mục đến gặp ông, thuyết phục ông rời bỏ Hiệp sĩ Thánh chiến và quay về triều cống, đổi lại ngài hứa sẽ phong ông làm cai trị xứ Litva. Witold, vốn dĩ luôn thích sự đổi thay, liền vui vẻ lắng nghe sứ đoàn. Khi ấy cũng có những buổi yến tiệc và đấu thương. Vị giám mục đắc cử đã leo lên lưng ngựa, dẫu các giám mục khác không chuẩn y điều đó, và trên võ đài, ngài đã thể hiện sức mạnh hiệp sĩ của mình. Tất cả các hoàng tử xứ Mazowsze đều rất khỏe mạnh; ai cũng biết rõ rằng ngay cả những thiếu nữ mang dòng máu đó cũng có thể dễ dàng bẻ gãy móng ngựa. Lúc đầu vị hoàng tử hất văng ba hiệp sĩ khỏi yên ngựa; lần thứ hai ngài hất văng năm người. Ngài hất văng cả ta khỏi yên ngựa, và ngay từ đầu cuộc giao tranh, con ngựa của Zbyszko lồng lên khiến cậu ta bị hất ngã. Vị hoàng tử đã nhận tất cả các giải thưởng từ tay của nàng Ryngalla xinh đẹp, người mà ngài đã quỳ gối trước mặt trong bộ giáp trọn vẹn. Họ yêu nhau say đắm đến mức trong các bữa tiệc, các vị *clerici* phải kéo ngài ra khỏi người cô ấy bằng cách nắm lấy tay áo, còn anh trai cô, Witold, thì phải kiềm chế cô ấy lại. Vị hoàng tử nói: 'Ta sẽ tự ban sự chuẩn chuẩn cho chính mình, và giáo hoàng, nếu không phải vị ở Rome, thì sẽ là vị ở Avignon, sẽ chuẩn nhận nó, nhưng ta phải cưới cô ấy ngay lập tức — nếu không ta sẽ phát điên lên mất!' Đó là một tội lỗi lớn trước mặt Chúa, nhưng Witold không dám chống lại ngài, bởi ông không muốn làm phật lòng sứ thần — và thế là đám cưới đã diễn ra. Sau đó họ đến Suraz, rồi tới Sluck, để lại nỗi buồn vô hạn cho cậu thanh niên Zbyszko này, người — theo phong tục của người Đức — đã chọn Công chúa Ryngalla làm người tình trong mộng và đã thề nguyền lòng trung thành vĩnh cửu với cô ấy.
Chà! Zbyszko đột ngột cắt lời, đúng là thế thật. Nhưng sau đó người ta đồn rằng Ryngalla hối hận vì đã làm vợ của vị giám mục đắc cử (bởi vì ngài, dẫu đã kết hôn, vẫn không muốn từ bỏ phẩm hàm tu sĩ của mình) và cảm thấy rằng ân phước của Chúa không thể ngự trị trên một cuộc hôn nhân như thế, nên cô ta đã đầu độc chồng mình. Khi nghe điều đó, tôi đã nhờ một vị ẩn sĩ sùng đạo sống không xa Lublin giải trừ cho tôi lời thề đó.
Hắn ta là ẩn sĩ đấy, Macko vừa cười vừa đáp, nhưng có sùng đạo không cơ chứ? Ta chẳng biết; chúng ta đến gặp hắn vào ngày thứ Sáu, và hắn đang dùng rìu chặt xương gấu, mút tủy kêu rộp rộp đến mức phát ra âm thanh trong cổ họng.
Nhưng ngài ấy bảo tủy xương không phải là thịt, hơn nữa ngài ấy đã nhận được phép làm điều đó, bởi vì sau khi mút tủy, ngài ấy thường có những khải tượng kỳ diệu trong giấc ngủ và ngày hôm sau ngài ấy có thể tiên tri cho đến tận trưa.
Thôi đi, thôi đi! Macko đáp. Và nàng Ryngalla xinh đẹp giờ là một góa phụ, biết đâu cô ta sẽ gọi con vào hầu hạ đấy.
Có gọi cũng vô ích, bởi vì con sẽ chọn một người quý phái khác để phục vụ cho đến chết, và rồi con sẽ tìm một người vợ.
Trước tiên con phải tìm được thắt lưng của một hiệp sĩ đã chứ.
Ối dào! Sẽ có đầy rẫy các cuộc đấu thương. Và trước thời điểm đó nhà vua sẽ chẳng phong tước hiệp sĩ cho bất kỳ ai đâu. Con có thể đọ sức với bất kỳ kẻ nào. Vị hoàng tử đã chẳng thể hất ngã con, nếu con ngựa của con không lồng lên.
Sẽ có những hiệp sĩ ở đây giỏi hơn con đấy.
Đến đây, những người quý tộc bắt đầu la lớn:
Lạy Chúa nhân từ! Ở đây, trước mặt vương hậu, sẽ không chiến đấu những kẻ tầm thường như ngươi, mà chỉ có những hiệp sĩ lừng danh nhất trên thế giới. Sẽ chiến đấu ở đây là Zawisza xứ Garbow và Farurej, Dobko xứ Olesnica, Powala xứ Taczew, Paszko Zlodzie xứ Biskupice, Jasko Naszan và Abdank xứ Gora, Andrzej xứ Brochocice, Krystyn xứ Ostrow, và Jakob xứ Kobylany! Ngươi có thể đem gươm của mình ra đọ với gươm của những người mà cả các hiệp sĩ ở đây, lẫn triều đình Séc hay triều đình Hungary đều không thể sánh vai? Ngươi đang nói nhảm gì thế? Ngươi giỏi hơn họ chắc? Ngươi bao nhiêu tuổi rồi?
Mười tám, Zbyszko đáp.
Bất kỳ ai trong số họ cũng có thể bóp bẹp ngươi giữa những ngón tay.
Rồi chúng ta sẽ thấy.
Nhưng Macko lên tiếng:
Ta nghe nói nhà vua đã thưởng hậu hĩnh cho những hiệp sĩ trở về từ cuộc chiến Litva. Nói xem nào, các anh thuộc về chốn này; điều đó có thật không?
Đúng vậy, sự thật là thế! một quý tộc đáp. Sự hào phóng của nhà vua đã nổi danh khắp thế giới; nhưng bây giờ sẽ rất khó để tiếp cận ngài, bởi vì khách khứa đang ùn ùn kéo đến Krakow; họ đến để kịp dự lễ sinh nở của vương hậu và lễ rửa tội, mong tỏ lòng thành kính với chúa thượng của chúng ta và tiến hành triều cống ngài. Vua Hungary đang đến; họ bảo hoàng đế La Mã cũng sẽ có mặt ở đây, và vô số vương công, bá tước cùng hiệp sĩ sẽ kéo đến bởi chẳng một ai trong số họ muốn ra về với hai bàn tay trắng. Người ta thậm chí đồn rằng chính Giáo hoàng Boniface cũng sẽ tới, bởi ngài cũng cần sự ân chuẩn và giúp đỡ từ chúa thượng của chúng ta để chống lại kẻ địch ở Avignon. Thế nên giữa chốn đông đúc như vậy, việc yết kiến nhà vua sẽ vô cùng khó khăn; nhưng nếu ai đó có thể diện kiến ngài và quỳ rạp dưới chân ngài, thì ngài sẽ hào phóng ban thưởng cho kẻ nào xứng đáng.
Vậy thì ta sẽ quỳ xuống trước ngài, bởi ta đã phục vụ đủ rồi, và nếu có một cuộc chiến khác, ta sẽ lại lên đường. Chúng ta đã thu được một ít chiến lợi phẩm, và chúng ta không nghèo; nhưng ta đang già đi, và khi người ta đã già, khi sức lực đã rời bỏ xương cốt, người ta chỉ mong có được một góc nhỏ yên bình.
Nhà vua rất vui mừng khi gặp lại những người từ Litva trở về cùng Jasko xứ Olesnica; và hiện giờ họ đang mở tiệc linh đình lắm.
Các anh thấy đấy, lúc đó ta chưa trở về; ta vẫn còn ở chiến trường. Các anh biết đấy, người Đức đã phải chịu trận vì cuộc hòa hoãn giữa nhà vua và *Kniaz* Witold. Vị hoàng tử đã mưu trí lấy lại được đám con tin, rồi lao vào tấn công người Đức! Ông tàn phá, thiêu rụi lâu đài và tàn sát các hiệp sĩ cùng rất nhiều thường dân. Người Đức muốn trả thù, và Swidrygello cũng vậy, kẻ đã chạy sang phe chúng. Lại một cuộc viễn chinh lớn nữa được phát động. Đại Thượng sư Kondrat đích thân dẫn theo một đạo quân lớn; chúng vây hãm Wilno, dùng các cỗ tháp để phá hủy lâu đài; chúng cũng cố chiếm thành bằng mưu kế — nhưng không thành công! Trên đường rút lui, số lượng tử trận nhiều đến mức thậm chí một nửa số chúng cũng không tài nào trốn thoát nổi. Khi đó chúng ta đã tấn công Ulrich von Jungingen, em trai của Đại Thượng sư, kẻ đang giữ chức quan trấn thủ ở Swabja. Nhưng viên quan trấn thủ đã khiếp sợ vị *kniaz* và tháo chạy. Chính vì cuộc tháo chạy đó mà có được hòa bình, và giờ họ đang xây dựng lại thành phố. Một vị tu sĩ đạo hạnh, kẻ có thể đi chân trần trên sắt nung, đã tiên tri kể từ dạo đó rằng chừng nào thế giới này còn tồn tại, sẽ chẳng có tên lính Đức nào xuất hiện dưới tường thành Wilno nữa. Và nếu đúng là như vậy, thì đó là công trạng của đôi tay nào?
Nói đoạn, Macko xứ Bogdaniec xòe rộng đôi bàn tay to lớn lực lưỡng của mình ra; những người khác bắt đầu gật đầu tỏ ý tán đồng:
Đúng, đúng thế! Những điều ông ấy nói hoàn toàn đúng! Phải!
Nhưng cuộc trò chuyện tiếp theo bị cắt đứt bởi những tiếng động lọt qua khung cửa sổ vốn đã được tháo bỏ màng bàng quang ra vì đêm nay trời ấm áp và quang đãng. Từ đằng xa, tiếng đàn rộn rã, tiếng hát, tiếng cười và tiếng hý của ngựa vang lên. Họ vô cùng ngạc nhiên vì trời đã khá muộn. Chủ quán vội vã chạy ra sân quán trọ, nhưng trước khi những vị khách kịp uống cạn vại bia đến giọt cuối cùng, hắn đã quay lại và la lớn:
Có một đoàn tùy tùng hoàng gia đang tới!
Chỉ một khoảnh khắc sau, ở khung cửa xuất hiện một tên hầu mặc áo khoác màu xanh và đội chiếc mũ xếp màu đỏ. Hắn dừng lại, liếc nhìn những vị khách, rồi khi nhận ra chủ quán, hắn cất giọng:
Hãy lau chùi bàn ghế và chuẩn bị đèn đóm; Công chúa Anna Danuta sẽ ghé trọ ở đây đêm nay.
Nói dứt lời, hắn bước lui ra. Trong quán trọ bỗng nhao lên một hồi hỗn loạn; chủ quán gọi các gia nhân của mình, trong khi những vị khách nhìn nhau với vẻ ngạc nhiên tột độ.
Công chúa Anna Danuta, một thị dân lên tiếng, bà ấy là con gái của Kiejstut, vợ của Janusz xứ Mazowsze. Bà ấy đã ở Krakow hai tuần, nhưng sau đó đã đi Zator để thăm Hoàng tử Waclaw, và giờ thì đang quay trở lại.
Bác Gamroth, thị dân kia nói, chúng ta ra kho thóc ngủ trên đống cỏ khô thôi; đoàn người này cao sang quá, tụi mình với không tới đâu.
Ta chẳng ngạc nhiên gì khi họ đi đường vào ban đêm, Macko nói, bởi ban ngày trời quá ư oi bức; nhưng sao họ lại ghé vào quán trọ khi tu viện ở gần thế cơ chứ?
Đến đây ông quay sang Zbyszko:
Chính là em ruột của nàng Ryngalla xinh đẹp đấy; con hiểu chứ?
Và Zbyszko đáp:
Hẳn là có rất nhiều quý bà xứ Mazowsze đi cùng ngài ấy đây, hây!